1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012

70 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN MINH TÂNẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP BẦU NHẬT, MƯỚP VÀ BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO VỤ HÈ THU 2012 Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT Cần Thơ, 2013... Luận v

Trang 1

NGUYỄN MINH TÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP BẦU NHẬT, MƯỚP VÀ BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO

VỤ HÈ THU 2012

Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT

Cần Thơ, 2013

Trang 2

Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP BẦU NHẬT, MƯỚP VÀ BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO

VỤ HÈ THU 2012

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS VÕ THỊ BÍCH THỦY MSSV: 3103364

Lớp: Trồng Trọt K36

Cần Thơ, 2013

Trang 3

ii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng Trọt, với đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP BẦU NHẬT, MƯỚP VÀ BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO,

VỤ HÈ THU 2012

Do sinh viên Nguyễn Minh Tân thực hiện

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần thơ, ngày… tháng… năm 2013

Cán bộ hướng dẫn

Trang 4

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Cần thơ, ngày… tháng… năm 2013 Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Tân

Trang 5

iv

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng Trọt với đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP BẦU NHẬT, MƯỚP VÀ BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH

TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO,

VỤ HÈ THU 2012

Do sinh viên Nguyễn Minh Tân thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp :

………

………

………

………

Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:………

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013 Thành viên Hội đồng Thành viên 1 Thành viên 2 Thành viên 3 ……… ……… ………

DUYỆT KHOA

Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 6

v

TIỂU SỬ CẢ NHÂN

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:

Nơi sinh: huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng

Địa chỉ liên lạc: số 90, tổ 6 ấp An Định, thị Trấn Kế Sách, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:

Năm 1998 đến 2003: học cấp 1, tại trường Tiểu học Kế Sách 1

Năm 2003 đến 2007: học cấp 2, tại trường THCS Kế Sách 2

Năm 2007 đến 2010: học cấp 3, tại trường THPT Kế Sách 3

Năm 2010 đến 2014: sinh viên ngành Trồng Trọt khóa 36, Khoa Nông nghiệp và SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ

Cần thơ, ngày tháng năm 2013

Người khai

Nguyễn Minh Tân

Trang 7

vi

LỜI CẢM TẠ Kính dâng!

Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng và dạy dỗ con khôn lớn nên người

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

- PGS.TS Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý

và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này

- ThS Võ Thị Bích Thủy đã đóng góp những ý kiến quý báu, xác thực góp phần hoàn chỉnh luận văn

- Cố vấn học tập thầy Lê Vĩnh Thúc đã quan tâm và dìu dắt lớp tôi hoàn thành tốt khóa học

- Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng đã tận tình truyền đạt nhiều kiến thức trong suốt khóa học

Chân thành cảm ơn!

Anh Phan Ngọc Nhí, chị Lý Hương Thanh lớp Cao học Trồng trọt K18 đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng về nội dung lẫn hình thức để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Anh Toàn, chị Thảo cùng các bạn Phương, Chơn, Hớn, Luân, Tiên, Trâm, Giang, Vinh, Nhã, Hồng, Nhung, Dung, Tường, tập thể các bạn trong nhà lưới rau

và các bạn lớp Trồng trọt K36 đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Thân gửi về!

Các bạn của tôi những lời chúc sức khỏe và thành công trong tương lai!

Nguyễn Minh Tân

Trang 8

Kết quả cho thấy tỉ lệ sống sau ghép ở nghiệm thức ghép gốc mướp có tỉ lệ sống là 91,30% và bầu Nhật 86,42% cao hơn ghép gốc bình bát dây 56,96% Cây ghép sau khi trồng ra đồng sinh trưởng và phát triển tương đối tốt, tuy nhiên dưa leo ghép gốc bầu Nhật có đường kính gốc và ngọn tăng trưởng không đồng đều dẫn đến sinh trưởng kém về chiều dài thân, số lá và chồi Năng suất dưa leo không ghép đạt 23,81 tấn/ha, dưa leo ghép bầu Nhật là 11,95 tấn/ha, dưa leo ghép mướp là 26,26 tấn/ha và dưa leo ghép bình bát dây là 20,87 tấn/ha

Trang 9

viii

MỤC LỤC

Tóm lược vii

Mục lục viii

Danh sách chữ viết tắt x

Danh sách bảng xi

Danh sách hình xii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Nguồn gốc, giá trị sử dụng và tình hình sản xuất dưa leo 2

1.1.1 Nguồn gốc lịch sử 2

1.1.2 Giá trị sử dụng 2

1.1.3 Tình hình sản xuất 2

1.2 Đặc tính thực vật và điều kiện ngoại cảnh cây dưa leo 3

1.2.1 Đặc tính thực vật 3

1.2.2 Điều kiện ngoại cảnh 4

1.3 Vai trò của gốc ghép 5

1.4 Cơ sở khoa học của việc ghép và ảnh hưởng của gốc ghép đến ngọn ghép 6

1.5 Khái quát về một số gốc ghép trên dưa leo 8

1 5.1 Gốc bầu Nhật 8

1 5.2 Gốc mướp 8

1 5.3 Gốc bình bát dây 8

1.6 Một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng về gốc ghép bầu bí 9

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 12

2.1 Phương tiện 12

2.1.1 Địa điểm và thời gian 12

2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn 12

2.1.3 Vật liệu thí nghiệm 12

2.2 Phương pháp 13

2.2.1 Bố trí thí nghiệm: 13

Trang 10

ix

2.2.2 Kỹ thuật canh tác 14

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 17

2.2.4 Phân tích số liệu 18

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

3.1 Ghi nhận tổng quát 19

3.2 Tỉ lệ sống sau ghép 19

3.3 Tình hình sinh trưởng 19

3.3.1 Chiều dài thân chính 19

3.3.2 Số lá trên thân chính 21

3.3.3 Số chồi trên cây 21

3.3.4 Đường kính gốc ghép 22

3.3.5 Đường kính ngọn ghép 23

3.3.6 Tỉ số đường kính gốc/ngọn ghép 24

3.3.7 Kích thước trái dưa leo 25

3.4 Thành phần năng suất và năng suất 26

3.4.1 Trọng lượng trái và trọng lượng toàn cây 26

3.4.2 Trọng lượng toàn cây 26

3.4.3 Số trái/cây và số trái thương phẩm/cây 26

3.4.4 Trọng lượng trái trên cây 27

3.4.5 Năng suất trái 28

3.4.6 Số lần thu hoạch 29

3.5 Chỉ tiêu về phẩm chất trái 30

3.5.1 Độ cứng 30

3.5.2 Độ Brix 30

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32

4.1 Kết luận 32

4.2 Đề nghị 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33 PHỤ CHƯƠNG

Trang 11

x

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

ĐHCT: Đại học Cần Thơ

NSKT: Ngày sau khi trồng

ĐC: Đối chứng - Dưa leo không ghép

DL/BN: Dưa leo ghép gốc Bầu Nhật

DL/M: Dưa leo ghép gốc Mướp

DL/BBD: Dưa leo ghép gốc Bình bát dây

Trang 12

xi

DANH SÁCH BẢNG

2.1 Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho dưa leo tại khu thực nghiệm

Khoa NN & SHƯD, Đại học Cần Thơ (tháng 6-8/2012) 16 3.1 Tỉ lệ sống (%) của dưa leo qua 10 ngày sau khi ghép tại trại thực

nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012) 19 3.2 Đường kính gốc ghép dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn

khảo sát tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT

3.3 Đường kính ngọn ghép dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn

khảo sát tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT

3.4 Tỉ số đường kính gốc/ngọn ghép dưa leo ở các nghiệm thức qua các

giai đoạn khảo sát tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường

3.5 Kích thước trái (cm) của cây dưa leo ở các nghiệm thức tại trại thực

nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012) 25 3.6 Trọng lượng trái (g) và trọng lượng toàn cây của cây dưa leo ghép ở

các nghiệm thức tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường

3.7 Độ cứng (kgf/cm 2 ) và Độ Brix (%) của trái dưa leo ghép ở các nghiệm

thức tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng

Trang 13

xii

DANH SÁCH HÌNH

2.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm từ tháng 6-8/2012 tại

TP.Cần Thơ (Đài Khí tượng thủy văn TP.Cần Thơ, 2012) 12

3.1 Chiều dài và tốc độ tăng trưởng thân chính của dưa leo ở các nghiệm

thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực nghiệm Khoa NN &

3.2 Số lá thân chính dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát

tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng

3.3 Số chồi dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại

thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012) 22 3.4 Số trái trên cây-Số trái thương phẩm trên cây dưa leo ở các nghiệm

thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực nghiệm Khoa NN &

3.5 Trọng lượng trái và trọng lượng trái thương phẩm/cây dưa leo ở các

nghiệm thức tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT

3.6 Năng suất trái dưa leo ở các nghiệm thức tại trại thực nghiệm Khoa

NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012) 29 3.7 Số lần thu hoạch dưa leo ở các nghiệm thức tại trại thực nghiệm Khoa

NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012) 30

Trang 14

trong nhӳQJORҥLUDXăQWUiLWUX\ӅQWKӕQJGӉWUӗQJWKӡLJLDQVLQKWUѭӣQJQJҳQFyQăQJVXҩWYà giá trӏNLQKWӃFDROjFk\WKѭѫQJPҥLTXDQWUӑQJGѭӟLQKLӅXhình thӭF QKѭ ăQ WѭѫL ÿyQJ KӝS PXӕL FKXD PXӕL PһQ « ÿӗQJ WKӡL FKӭDnhiӅXKjPOѭӧQJ YLWDPLQYà khoáng chҩWQrQWKѭӡQJ ÿѭӧFVӱGөQJUӝQJUãi trong các bӳDăQKàng ngày cӫDPӛLJLDÿình Tuy nhiên, viӋFFDQKWiFGѭDOHRliên tөFWUên mӝWQӅQÿҩWÿã tҥRÿLӅXNLӋQFKRVkXEӋQKSKát triӇQÿһFELӋWOà OѭX WӗQ PҫP EӋQK WURQJ ÿҩW Oàm ҧQK KѭӣQJ ÿӃQ VLQK WUѭӣQJ Yj QăQJ VXҩW ӣ

nhӳQJYQJFKX\rQFDQKGѭDOHR7URQJNKLÿyYLӋFVӱGөQJWKXӕFEҧRYӋWKӵF

vұWOҥLNK{QJPDQJOҥLKLӋXTXҧJk\WӕQNpPYà ô nhiӉPP{LWUѭӡQJ*KpSOà

mӝWWURQJ nhӳQJELӋQSKiSKӳXKLӋXJL~SFk\WUӗQJWăQJQăQJVXҩWWăQJNKҧQăQJFKӕQJFKӏXYӟLQKӳQJÿLӅXNLӋQEҩWOӧLFӫDP{LWUѭӡQJPà vүQJLӳÿѭӧFÿһFWtQKGLWUX\ӅQFӫDFk\JLӕQJEDQÿҫX1Jày nay, ghép trong sҧQ[XҩWUDXOà

mӝWELӋQSKiSNƭWKXұWÿѭӧFVӱGөQJphәELӃQӣQKLӅXQѭӟFWUên thӃJLӟLӢViӋW1DPFiFQJKLên cӭXYӅJKpSÿã ÿѭӧFiSGөQJQKѭGѭDKҩXJKpSJӕFEҫX

bí, cà chua ghép gӕFFà tím,…ÿã ÿҥWÿѭӧFQKӳQJKLӋXTXҧQKҩWÿӏQKWX\QKLên

vүQFKѭDFyQKLӅXQJKLên cӭXYӅJӕFJKpSWUrQGѭDOHR&KtQKYì vk\ÿӅWài

“ҦQK KѭӣQJ FӫD JӕF JKpS EҫX 1KұW PѭӟS Yà bình bát dây ÿӃQ VLQK WUѭӣQJYjQăQJVXҩWFӫDGѭDOHRYө+è Thu 2012”ÿѭӧFWKӵFKLӋQQKҵP

mөFÿtFK tìm ra gӕFJKpSWKtFKKӧSYӟLQJӑQGѭDOHRÿӇWăQJNKҧQăQJVLQKWUѭӣQJYjWăQJQăQJVXҩW

Trang 15

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Nguồn gốc, giá trị sử dụng và tình hình sản xuất dưa leo

1.1.1 Nguồn gốc lịch sử

Dưa leo có tên khoa học là Cucumis sativus L., tên tiếng Anh là Cucumber, thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) Dưa leo có nguồn gốc ở Ấn Độ giữa vịnh Bengal

và dãy Hymalayas cách nay hơn 3.000 năm, sau đó được mang đi dọc theo hướng

phía Tây Châu Á, Châu Phi và miền Nam Châu Âu (Trần Thị Ba và ctv., 1999) Theo Mai Thị Phương Anh và ctv (1996) cây dưa leo được các nhà khoa học xác

nhận có nguồn gốc ở Việt Nam và tồn tại ở nước ta hàng nghìn năm nay Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam giáp Lào là nơi phát sinh cây dưa leo vì ở đây còn tồn tại các dạng dưa leo hoang dại (Valipop, 1926 G Taracanov, 1968 trích bởi Trần

Khắc Thi và ctv., 2008)

1.1.2 Giá trị sử dụng

Dưa leo là loại rau ăn trái chứa hàm lượng vitamin và khoáng chất cao nên rất được ưa chuộng ở các nước có khẩu phần ăn giàu năng lượng (Trần Thị Ba và

ctv., 1999) Hàm lượng protein dưa leo cao nhất (0,7 mg/100 g trọng lượng tươi)

trong họ bầu bí (Trần Thế Tục, 2000) Trong trái dưa leo chứa 95,23% nước và trong 100g dưa leo tươi chứa 15 calories, 0,65 mg protein, 16 mg calcium, 13 mg magnesium, 24 mg phosphorus, 147 potassium, 2 mg sodium, 0,2 mg zinc, 105 IU vitamin A, 0,027 mg vitamin B1, 0,033 mg vitamin B2, 0,04 mg vitamin B6, 2,8

mg vitamin C, 16,4 µg vitamin K và 0,03 mg vitamin E,… (Nguồn USDA National Nutrient Database for Standard Reference, Release 25)

Theo Đường Hồng Dật (2003) cho rằng về mặt Đông y, dưa leo vị ngọt, tính hàn có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, lợi tiểu, chữa phù thủng, kiết lị ở trẻ em Trái dưa leo còn dùng làm thuốc trong các trường hợp sốt nhẹ, nhiễm độc đau bụng, thống phong, tạng khớp, bệnh sỏi và nhiễm trực khuẩn E.coli (Võ Văn Chi, 2003)

1.1.3 Tình hình sản xuất

Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005) cho rằng dưa leo là một trong những cây rau quan trọng nhất, được xếp thứ tư chỉ sau cà chua, bắp cải và củ hành Hiện nay dưa leo được trồng khắp nơi ở các nước từ Châu Á, Châu Phi đến

630 vĩ Bắc (Tạ Thu Cúc, 2005) Theo số liệu thống kê của FAO năm 2012 diện tích trồng dưa leo trên thế giới là khoảng 2 triệu hecta, năng suất đạt 31,67 tấn/ha, sản lượng đạt 67,44 triệu tấn Trong đó, Trung Quốc là nước có diện tích trồng và sản lượng dưa leo cao nhất thế giới, kế đến là Thổ Nhĩ Kì

Trang 16

Ở nước ta, cây dưa leo được trồng khắp các vùng từ Bắc đến Nam, là cây rau quan trọng ở các vùng chuyên canh (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007) Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005) vùng trồng dưa leo tập trung chủ yếu ở Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Phú Thọ, Vĩnh Phúc,

Hà Nội và một số tỉnh Duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ Ở Đồng bằng sông Cửu Long dưa leo được trồng rất phổ biến, đặc biệt là vùng rau Sóc Trăng, An

Giang (Trần Thị Ba và ctv., 1999)

1.2 Đặc tính thực vật và điều kiện ngoại cảnh cây dưa leo

1.2.1 Đặc tính thực vật

*Rễ: theo Trần Thị Ba và ctv (1999) rễ dưa leo phát triển yếu nhất so với

các cây trong họ bầu bí Rễ chỉ phân bố ở tầng đất mặt 30-40 cm Khả năng sinh trưởng và phát triển của bộ rễ phụ thuộc vào giống, điều kiện đất đai, giai đoạn sinh trưởng và điều kiện bảo quản hạt (Trần Khắc Thi và ctv., 2008)

*Thân: dưa leo là cây thân thảo hằng niên, thân dài trung bình 1-3 m, có

nhiều tua cuốn để bám khi bò Chiều dài thân cũng tùy thuộc vào điều kiện canh tác

và giống Thân tròn hay có góc cạnh, có lông ít hay nhiều tùy thuộc vào giống Các giống canh tác ngoài đồng thường dài từ 0,5-2 m; giống trồng trong nhà kính có thể

dài 5 m; sự phân nhánh của dưa còn tùy thuộc nhiệt độ ban đêm (Trần Thị Ba và

ctv., 1999) Thân chính thường phân nhánh, cũng có nhiều giống dưa leo hoàn toàn

không phân nhánh (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)

*Lá: gồm có lá mầm và lá thật, 2 lá mầm mọc đối xứng qua trục thân Hai lá

mầm dạng hình trứng, là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và dự đoán tình hình sinh trưởng của cây (Tạ Thu Cúc, 2005) Lá thật là lá đơn, to mọc cách trên thân, dạng lá hơi tam giác với cuống lá rất dài 5-15 cm; rìa lá nguyên hoặc có răng cưa Lá trên

cùng của cây cũng có kích thước và hình dáng thay đổi (Trần Thị Ba và ctv., 1999)

*Hoa: đơn tính đồng chu hay biệt chu Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay

riêng biệt; hoa đực mọc thành cụm từ 5-7 hoa; dưa leo cũng có hoa lưỡng tính Có giống trên cây có cả ba loại hoa và có giống chỉ có một loại hoa trên cây Hoa có màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước khi hoa nở Các giống dưa leo trồng ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long thường ra hoa sớm, bắt đầu rừ nách lá thứ 4-5 trên thân chính, sau đó hoa sẽ nở liên

tục trên thân chính và nhánh (Trần Thị Ba và ctv., 1999) Theo Phạm Hồng Cúc và

ctv (2001), sự biến dị về tình trạng giới tính ở dưa leo rất rộng, đó là đặc tính thích

nghi mạnh của cây trong điều kiện môi trường Nói chung, điều kiện ngày dài, nhiệt

độ cao và các điều kiện bất lợi khác làm cho cây làm nhiều hoa đực Ngoài ra, tỉa

Trang 17

nhánh, sử dụng kích thích sinh trưởng và chế độ phân bón có thể ảnh hưởng đến sự biến đổi giới tính của cây Các dạng cây có giới tính khác nhau ở dưa leo được nghiên cứu và tạo lập để sử dụng trong chọn tạo giống lai Theo Tạ Thu Cúc (2005)

sự xuất hiện của hoa cái sớm hay muộn phụ thuộc vào nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, chất dinh dưỡng và nồng độ CO2

*Trái và hạt: trái lúc còn non có gai xù xì, khi trái lớn gai từ từ mất đi Màu

trái từ xanh đậm đến xanh nhạt, đôi khi trên vỏ có các đường vân (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007) Trái dưa leo thuôn dài có 3 múi, hạt đính vào giá noãn Hình dạng, khối lượng, độ dài, màu sắc trái khác biệt rất lớn, sự khác biệt

đó phụ thuộc chủ yếu vào giống Mặt khác, đường kính trái là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng trái dưa leo và giá trị sử dụng (Tạ Thu Cúc, 2005) Trái tăng trưởng nhanh tùy theo giống, có thể thu trái từ 8-10 ngày sau khi hoa nở Phẩm chất trái phụ thuộc vào độ chặt của thịt trái, chiều dày vỏ và thịt trái, hương vị trái,… Hạt có màu trắng ngà, trọng lượng 1.000 hạt từ 20-30 g, trung bình có từ

200-500 hạt/trái (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)

1.2.2 Điều kiện ngoại cảnh

*Nhiệt độ: dưa leo thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm Nhiệt độ tối

thích cho sự tăng trưởng là 300C về ban ngày và ban đêm là 18-210C (Nguyễn Xuân Giao, 2012) Đây là loại cây ưa nhiệt, hạt có thể nảy mầm ở nhiệt độ 12-130C và nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển là 25-300C (Nguyễn Thị Hường, 2004)

*Ánh sáng: dưa leo ưa sáng ngày ngắn, cây thích hợp cho sự sinh trưởng và

phát dục ở độ dài chiếu sáng 10-12 giờ/ngày, cường độ ánh sáng trong phạm vi

15.000-17.000 lux (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996) Theo Trần Thị Ba và ctv

(1999) nhận định vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long dưa leo dễ dàng ra hoa trái quanh năm Ánh sáng nhiều làm trái lớn nhanh, chất lượng trái tốt Trong điều kiện ngày ngắn dưa leo thường cho nhiều trái (Nguyễn Xuân Giao, 2012)

*Ẩm độ và nước: yêu cầu về độ ẩm đất của dưa leo rất lớn 85-95% đứng đầu

họ bầu bí do bộ rễ dưa leo chỉ phát triển ở tầng đất mặt nên yêu cầu nước rất cao, nhất là thời kỳ phát triển trái Dưa leo ở các thời kỳ khác nhau yêu cầu về lượng nước khác nhau: hạt nảy mầm yêu cầu lượng nước 50% trọng lượng hạt, thời kỳ cây con thân lá và bộ rễ phát triển còn yếu lượng nước tiêu hao ít nên yêu cầu nước có

mức độ, thời kỳ ra hoa đến thu trái yêu cầu nước lớn nhất (Trần Thị Ba và ctv., 1999) Theo Mai Thị Phương Anh và ctv (1996) dưa leo chịu hạn rất yếu, thiếu

nước cây sinh trưởng yếu và tích lũy lượng cucurbitaxina là chất gây đắng trong trái

Trang 18

*Đất và dinh dưỡng: dưa leo sinh trưởng thích hợp trên đất giàu dinh dưỡng,

thoát thủy tốt và pH trong khoảng 6,5-7,5 (Nguyễn Xuân Giao, 2012) Đất trồng dưa leo có yêu cầu nghiêm khắc do bộ rễ phát triển yếu, sức hấp thụ bộ rễ lại kém, nếu gặp hạn hay úng hoặc nồng độ phân cao dễ làm bộ rễ dưa vàng khô thâm đen,

vì thế đất trồng phải có thành phần cơ giới nhẹ như cát pha, đất thịt nhẹ có nhiều

chất hữu cơ (Trần Thị Ba và ctv., 1999)

Việc cung cấp dinh dưỡng đầy đủ có lợi cho sự ra hoa cái nhưng việc bón nhiều đạm làm cho cây tăng trưởng nhanh và ra nhiều hoa đực (Phạm Hồng Cúc và

ctv., 2001) Ở thời kỳ đầu sinh trưởng cây cần nhiều đạm và lân, cuối thời kỳ sinh

trưởng cây không cần nhiều đạm, nếu giảm lần bón đạm sẽ tăng thu hoạch một cách

rõ rệt (Tạ Thu Cúc, 2005) Khi cây dưa leo phân nhánh và kết trái thì cây cần nhiều

kali (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001) Theo nghiên cứu của Trần Khắc Thi và ctv

(2008) cho rằng kali thích hợp cho ra hoa đực Bên cạnh đạm, lân, kali các nguyên

tố vi lượng như Bo, kẽm, mangan, đồng, molipden cũng có vai trò quan trọng làm thay đổi tỉ lệ hoa đực, hoa cái

1.3 Vai trò của gốc ghép

Việc sử dụng phương pháp ghép sẽ tránh được những bệnh từ đất, chống lại những bất lợi của môi trường và cải thiện chất lượng sản phẩm Ghép một chồi ngọn vào một gốc kháng bệnh có thể cung cấp một cây trồng kháng bệnh mà không cần lai tạo để sàng lọc và lựa chọn tính kháng vào một cây trồng Hơn nữa, ghép còn chống lại những tác nhân gây bệnh mới và trong thời gian ngắn cung cấp nhiều cây trồng với chi phí thấp và kiểm soát bệnh từ đất nhanh hơn so với các giống kháng mới (Lê Thị Thủy, 2000) Theo Echebarria (2001) nhận định ghép không làm ảnh hưởng đến chất lượng, hương vị, kích thước và hình dạng của trái Tuy nhiên, theo Davis và Perkins-Veazie (2005), ghép có thể tăng cường khả năng chịu stress phi sinh học, tăng năng suất, kéo dài thời gian thu hoạch và cải thiện chất lượng Sự kết hợp giữa gốc-ngọn ghép đã ảnh hưởng đến pH, hương vị, đường, màu sắc, carotenoid và kết cấu của trái Gốc ghép khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng dưa leo như hình dạng trái, kết cấu và màu sắc thịt trái, độ cứng, hàm lượng vitamin C

và chất rắn hòa tan

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng RNA, ptotein và các phân tử nhỏ, một số truyền tín hiệu gây ra, có thể duy chuyển từ gốc ghép đến ngọn ghép, trực tiếp ảnh

hưởng đến sinh lý ngọn (Davis và ctv., 2008) Theo Trần Văn Hòa và ctv (2000)

cho rằng phần gốc ghép và chồi ghép đều có khả năng sinh tồn khác nhau, bổ sung

hổ trợ lẫn nhau tạo thành một tổ hợp cộng sinh hữu cơ và dựa vào nhau để tồn tại và một thể thống nhất Bộ rễ của cây làm gốc hút nước và chất khoáng, đồng thời tạo

Trang 19

ra các acid hữu cơ, acid amin cung cấp cho thân, cành, lá của phần ghép phía trên Ngược lại, những vật chất được đồng hóa từ phần phía trên ngọn ghép qua các hoạt động quang tổng hợp cung cấp trở lại cho bộ rễ Ngoài ra, tỉ lệ ra hoa, đậu trái, sức kháng lại sâu bệnh,…của các tổ hợp ghép còn chịu ảnh hưởng của phần chồi và gốc ghép (Lê Chí Hùng, 2005) Cây ghép có khả năng chịu úng, chịu hạn và chịu phèn tốt do bộ rễ của cây làm từ gốc ghép được tuyển chọn từ cây hoang dại có khả năng sinh trưởng rất khỏe (Oda, 2002)

1.4 Cơ sở khoa học của việc ghép và ảnh hưởng của gốc ghép đến ngọn ghép

Theo Phạm Văn Côn (2007) ghép là một phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách đem gắn một phần của cây giống (gọi là cành ghép) sang một cây khác (gọi là gốc ghép), thông qua việc áp sát mô phân sinh ngang (tượng tầng) để tạo nên một cây mới (sống cộng sinh) giữ được những đặc tính di truyền của cây giống ban đầu và những đặc tính chống chịu quý của gốc ghép Cơ chế của ghép cây có thể được hiểu như sau: đầu tiên là sự kết hợp giữa phần tượng tầng gốc ghép và ngọn ghép, sự đáp ứng của vết thương, sự thành lập cầu callus và cuối cùng

là sự sửa chữa vết thương (Nguyễn Bảo Toàn, 2007) Sau khi áp sát hai phần tượng tầng gốc và cành ghép lại với nhau thì trước tiên những tế bào bị thương tổn của hai mặt cắt hình thành lớp ngăn cách màu nâu, sau đó các tế bào nhu mô dưới lớp phân cách này phân chia rất nhanh hình thành mô liên hợp giữa gốc và ngọn ghép, đồng thời lớp ngăn cách dần dần biến mất Các tế bào mới sản sinh ở mô liên hợp liên hệ với nhau bằng những đường ống qua vách tế bào, các chất nguyên sinh đồng hóa lẫn nhau, do đó chất dinh dưỡng của gốc ghép chuyển lên ngọn ghép và ngược lại chất dinh dưỡng từ ngọn ghép cũng được chuyển về gốc ghép Những tế bào mới sinh của gốc ghép tương ứng với mạch dẫn của ngọn ghép phân hóa thành mô tế bào mạch dẫn, cứ như thế các tế bào của gốc và ngọn ghép có mối liên hệ tương ứng với nhau và hình thành một cơ thể sống cộng sinh (Phạm Văn Côn, 2007) Trong quá trình ghép tượng tầng của gốc ghép và ngọn ghép tiếp xúc nhau, nhờ sự hoạt động và tái sinh của tượng tầng mà gốc ghép gắn liền nhau Sau khi được gắn liền các mô mềm chỗ tiếp xúc giữa gốc ghép và ngọn ghép do tượng tầng sinh ra phân hóa thành các hệ thống mạch dẫn, do đó nhựa nguyên và nhựa luyện giữa gốc ghép và ngọn ghép được thông nhau được (Trần Thế Tục, 1998)

Theo Lâm Ngọc Phương (2006) cho rằng gốc ghép và ngọn ghép có thể ảnh hưởng với nhau theo nhiều cách Gốc ghép ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của ngọn ghép, đến sự ra hoa kết trái của các cây ghép, đến khả năng chống chịu của các cây ghép như chịu hạn, chịu úng, chịu rét, kháng bệnh Nhiều nghiên cứu thực nghiệm

đã chứng tỏ có những ảnh hưởng đến ngọn ghép như thay đổi kiểu sắp xếp lá, kiểu

Trang 20

phân cành, màu sắc lá và thời gian rụng lá Cây ghép cũng có số trái/cây cao hơn (5,25 lần), trái lớn hơn và cho năng suất (56,92 tấn/ha) cao hơn cây không ghép (3,5 lần)

Phần trăm tổng số chất hòa tan (TTS %) của cây ghép cao hơn có ý nghĩa so với không ghép Nói chung gốc ghép có thể ảnh hưởng lên cành ghép và tạo nên những biến đổi về kích thước của cây, kích thước, màu sắc lá và trái, hình dạng ngoài của cây, thời kì nở hoa thời gian sống hàm lượng chất dinh dưỡng và chất sinh trưởng Trong chừng mực nào đó cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và tính kiên định đối với bệnh tật ảnh hưởng của gốc ghép lên cành ghép, thân cành ghép cung cấp dinh dưỡng cho sự phát triển của bộ rễ gốc ghép Vì vậy mức độ sinh trưởng của thân cành ghép có mối tương quan thuận đến sự phát triển gốc ghép Tuy nhiên ảnh hưởng của cành ghép lên gốc ghép ít được thể hiện rõ rệt hơn Tóm lại khả năng tiếp hợp cành ghép, gốc ghép, kĩ thuật ghép, thời vụ, chăm sóc bảo vệ cây sau khi ghép đều góp phần quyết định đến sự thành công của việc ghép (Lâm Ngọc Phương, 2006)

Gốc và ngọn có sự kết hợp chặc chẽ hay không là do sức tiếp hợp và mối liên

hệ dẫn truyền của chúng quyết định, gốc và ngọn hình thành lớp tiếp hợp càng chặt chẽ, chất dinh dưỡng càng đầy đủ thì sự kết hợp càng được củng cố, sự trao đổi chất dinh dưỡng giữa gốc và ngọn càng dễ dàng Vì vậy, trong khi ghép cần phải chú ý làm cho cành ghép thật áp sát với gốc ghép trong một thời gian nhất định Cành ghép chịu ảnh hưởng của gốc ghép về một số mặt như: tuổi thọ dài hay ngắn, phân hóa mầm hoa sớm hay muộn, thế sinh trưởng mạnh hay yếu, tính chống chịu cao hay thấp,…nhưng không làm thay đổi bản chất di truyền của cây làm ngọn ghép Gốc càng khỏe, càng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai của địa phương thì cây ghép sinh trưởng càng tốt và tuổi thọ kéo dài (Phạm Văn Côn, 2007)

Theo Phạm Văn Côn (2007) mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép được thể hiện ở sức tiếp hợp của chúng Thông thường sức tiếp hợp giữa gốc và ngọn ghép được đánh giá bằng tỉ số tiếp hợp T

Trang 21

T > 1 : cây ghép có hiện tượng chân voi (gốc lớn hơn thân), cây ghép vẫn sinh trưởng bình thường Tuy nhiên, T càng gần 1 thì càng tốt hơn T càng xa 1 T càng xa 1 thế sinh trưởng của ngọn ghép yếu hơn gốc ghép, biểu hiện cây ghép hơi cằn cỗi, chậm lớn, lá hơi vàng, phần gốc ghép vỏ nứt nhiều

T < 1 : cây ghép có hiện tượng chân hương (gốc nhỏ hơn thân) Thế sinh trưởng của ngọn mạnh hơn gốc Phần ngọn bị nứt vỏ nhiều hơn gốc, cây ghép sinh trưởng kém dần, tuổi thọ kém

1.5 Khái quát về một số gốc ghép trên dưa leo

1 5.1 Gốc bầu Nhật

Bầu Nhật có tên khoa học là Cucurbita ficifolia được nhập từ Nhật do công

ty Kurume phân phối Trái giống như bình rượu (phình to phía đuôi thắt eo ở phần đầu), trái to có màu trắng hay sọc xanh, chứa nhiều hạt, kích thước 30-50 cm, cho từ 200-400 kg/ha hạt (Kurume Vegetable Breeding Co, 1996 trích bởi Lê Đông Phương, 2008)

1 5.2 Gốc mướp

Mướp hay mướp hương, mướp gối có tên khoa học là Luffa aegyptiaca hay

Luffa cylindrical (tên cũ), là một loài thuộc chi Mướp (Luffa), tên tiếng anh là Smooth Luffa hay Egyptian Luffa thuộc họ bầu bí dưa (Cucurbitaceae) Đây là cây

bản dị của Bắc Phi Mướp là một loại cây thân thảo dạng dây leo, có nhiều tua cuốn, phân cành mạnh Lá mọc cách, dạng tim, có 5-7 thùy có răng nhỏ xung quanh Hoa đơn tính, các hoa đực tập trung thành chùm dạng thùy, các hoa cái mọc đơn độc (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007) Thân có màu xanh lục nhạt, tiết diện đa giác, có 5 gân dọc, có lông ngắn rải rác màu trắng Trái dạng hình thoi hay hình trụ, màu xanh lục, dài 0,3-0,9 m Trên vỏ trái có 10 đường gân dọc màu xanh đậm và những đốm màu đen Hạt mướp hình trứng, 2 đầu tròn, màu đen, dài 1-1,2

cm, có rìa (Thái Hà và Đặng Mai, 2011)

1 5.2 Gốc bình bát dây

Bình bát dây, mảnh bát, hoa bát hay lá bát có tên khoa học là Coccinia

grandis (L.) Voigt hay Coccinia grandis cordifolia L Cogn, là một loài thuộc chi Coccinia, tên tiếng anh là Ivy gourd, baby gourd hay baby water melon thuộc họ

bầu bí dưa (Cucurbitaceae) được biết từ Châu Phi tới Châu Á bao gồm Ấn Độ,

Phitippines, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia,Thái Lan, Việt Nam và vùng lãnh thổ phía Bắc nước Úc (Pier, 2011) Tại Haiwaii nước Mỹ, bình bát dây được khai báo là

Trang 22

một loại cỏ dại độc hại (Plants, 2011) Tác hại của nó đến môi trường là che phủ lên cây rậm rạp và giết chết thảm thực vật bên dưới (NMC Crees, 2011)

Ở nước ta cây mọc từ Quảng Ninh, Nam Hà, Ninh Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng vào tới An Giang Mọc hoang trên nương rẫy,

bờ rào, lùm bụi từ vùng thấp tới vùng cao 1500 m Cây thân thảo nhẵn và mảnh, mọc leo cao, đôi khi dài hơn 5 m Lá hình 5 cạnh, có răng, rộng 5-8 cm, hình tim ở gốc, rất nhẵn, chia 5 thùy hình tam giác, có mũi nhọn cứng; tua cuốn đơn Ra hoa kết quả gần như quanh năm Hoa đực và hoa cái giống nhau, mọc đơn độc hay xếp lại hai cái một ở nách lá, có cuống dài 2 cm Quả hình trứng ngược hoặc thuôn, dài

5 cm, rộng 2,5 cm, khi chín có màu đỏ, thịt quả đỏ và chứa nhiều hạt Hạt màu vàng nâu kích thước 6-7 mm Tất cả các bộ phận của cây đều có ích (Nguồn Vietgle Tri thức Việt-Trung tâm tri thức và cộng đồng học tập)

1.6 Một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng về gốc ghép bầu bí

Việc sử dụng gốc ghép kháng bệnh trên cây rau đã được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Tây Ban Nha, Ý, Đài Loan,… (Besri, 2001 trích bởi Trần Thị Ba, 2010)

Ghép dưa là biện pháp hữu hiệu và kinh tế nhất để có thể trồng dưa liên tục

mỗi năm mà cây con không bị chết héo do nấm Fusarium Dưa ghép trên gốc bầu bí

dưa là kỹ thuật trồng phổ biến ở các nước tiên tiến (Phạm Hồng Cúc, 2003) Theo

Konishi và ctv (1994) ở Nhật Bản mục đích của việc ghép trên dưa chuột để tăng cường tính chống chịu với bệnh héo Fusarium, gốc bí ngô Cucurbita moschata được áp dụng đầu tiên, sau này được ghép trên gốc bầu Cucurbita ficiflolia để chống chịu với lạnh, theo đó ghép trên gốc bí Cucurbita không chỉ chống chịu được với bệnh héo Fusarium, bệnh thối rễ do Phytopthora mà còn chịu được cả nóng và

lạnh Năm 1930, người ta cũng dụng gốc bầu hoặc gốc bí để làm gốc ghép, tuy nhiên kết quả cho thấy gốc bầu tương thích nhanh hơn sau khi ghép Phương pháp này mở ra một hướng đi mới để phòng trừ các bệnh từ đất đối với cây rau, bởi vì 68% các trường hợp bị bệnh của rau là bắt nguồn từ đất (Takahashi, 1984 trích bởi

Đỗ Thị Huỳnh Lam, 2006)

Ở các vùng miền Bắc Nhật Bản, người dân thường sử dụng giống bầu nậm

(Lagernaria) để làm gốc ghép cho dưa hấu và theo Kobayashi (1988) thì gốc bầu

giúp vỏ dưa hấu mỏng hơn, tăng hàm lượng đường nhiều hơn gốc ghép là bí ngô Trong khi đó dưa thơm được ghép trên rất nhiều loài bầu bí nhưng rất hiếm khi

ghép trên bầu trắng (Benicasa hispida) (Lê Thị Thủy, 2000) Nhờ việc sử dụng

giống bầu làm gốc ghép cho cây dưa hấu mà diện tích dưa hấu ở Nhật Bản tăng

Trang 23

59% năm 1930 so với 1929 Hơn thế nữa, công nghệ này đã được người dân ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) ứng dụng để cứu nguy cho 5.000 ha dưa hấu bị bệnh héo

Fusarium (He, 1983 trích bởi Lê Đông Phương, 2008)

Theo nghiên cứu của Yetiser và Sari (2000) thì khả năng sống sót của dưa ghép trên gốc bí thấp nhất (65%) trong khi ghép trên gốc bầu thì có tỉ lệ sống sót cao (95%), dưa ghép khi trồng ngoài đồng có trọng lượng trái tăng 148%; trọng lượng khô tăng 42-180%; số lượng và kích thước lá tăng 58-100% so với cây trồng bình thường (Đỗ Thị Huỳnh Lam, 2006) Cây ghép sẽ giữ được những đặc tính của giống muốn nhân, tăng sự hấp thu nước, chất dinh dưỡng và rút ngắn thời gian chọn giống, chống lại những bất lợi của môi trường (Lê Thị Thủy, 2000) Khi nghiên cứu các tổ hợp gốc ghép khác nhau, Oda (1995), còn nhận thấy mùi vị, độ Brix của trái dưa hấu trở nên tốt hơn do ghép cây dưa hấu trên gốc bầu so với gốc bí (Nguyễn Minh Phú, 2007)

Theo Lê Thị Thủy (2000) việc ghép cà chua cũng bắt đầu nghiên cứu từ năm

1999 tại viện nghiên cứu Rau quả Hà Nội đến năm 2002-2003 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam tiếp tục nghiên cứu (Trần Thị Ba, 2010) Cũng theo Trần Thị Ba (1999) người dân tỉnh Sóc Trăng (xã Mỹ Tâm, huyện Mỹ Tú) cũng đã

áp dụng dưa hấu ghép trong sản xuất đại trà hơn 20 năm

Ở nước ta, “Bầu Sao” thường được chọn làm gốc ghép vì có khả năng tăng trưởng mạnh, bộ rễ rất phát triển, ăn lan rộng, có khả năng ra nhiều rễ bất định ở đốt (Phạm Hồng Cúc, 2003) Theo Trần Thế Tục (1998), gốc ghép ảnh hưởng đến khả năng chống chịu của cây ghép, ảnh hưởng đến tính chịu hạn, chịu úng, chịu bệnh của thân ghép Mức độ sinh trưởng của thân, cành ghép có mối tương quan thuận đến sự phát triển của bộ rễ gốc ghép Theo Lê Thị Thủy (2000), sử dụng gốc bầu

(Cucurbita ficifolia) làm gốc ghép cho dưa hấu sẽ chịu được nhiệt độ thấp Nông

dân các tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang đã ghép dưa hấu để phòng chống

bệnh héo rũ do nấm Fusarium Oxysporium (Ngô Quang Vinh và ctv., 2006)

Theo Đỗ Thị Huỳnh Lam (2006) khi ghép trên ngọn dưa lê thì gốc ghép bầu Nhật có sức sinh trưởng mạnh, tỉ lệ sống cao sau khi ghép (84,3%), tăng chiều dài

và số lá trên thân, trọng lượng trái 0,86 kg/trái và năng suất 11,2 tấn/ha cao nhất, ít

bị bệnh chết cây (5,21%) và độ ngọt cao (Brix = 11,63%)

Kết quả nghiên cứu tại trường Đại Học Cần Thơ cho thấy tỉ lệ sống của cây con dưa hấu ghép khá cao, thấp nhất (70%) ở gốc ghép bí Nhật và cao tương đương nhau ở gốc ghép bầu Nhật và bầu địa phương (85-87%) Bầu Nhật 1 và bí Nhật là các giống bầu và bí đỏ của Nhật chuyên dùng làm gốc ghép, đã thương mại hóa do

Trang 24

công ty Kurume cung cấp, có đặc tính kháng bệnh héo rũ do nấm Fusarium, dễ đậu

trái và tăng năng suất hơn dưa trồng không ghép mà vẫn giữ nguyên chất lượng trái dưa hấu trong khi dưa hấu ghép gốc bầu địa phương thì kết trái kém hơn Trong mùa mưa dầm, trồng dưa hấu ghép bầu Nhật 3 và bầu địa phương tại thị xã Bạc Liêu cho năng suất cao nhất (15,02-15,19 tấn/ha) và thấp nhất ở gốc ghép bí Nhật,

kế đến là đối chứng nhưng độ Brix cao nhất ở gốc ghép bầu Nhật 3 (10,3%) (Trần Thị Ba, 2010)

Một kết quả nghiên cứu khác gần đây của trường Đại Học Cần Thơ về “Ảnh hưởng của 5 loại gốc ghép họ bầu bí dưa đến khả năng kháng bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum trên dưa leo” cho thấy tỉ lệ sống sau khi ghép của các nghiệm thức là khá cao Ở giai đoạn 6 và 9 ngày sau khi ghép nghiệm thức dưa leo ghép gốc mướp có tỉ lệ sống cao hơn (93,75 và 92,86%, tương ứng) các nghiệm thức ghép gốc còn lại Bên cạnh đó, tỉ lệ cây bệnh và cấp bệnh của nghiệm thức không ghép luôn cao hơn nghiệm thức ghép gốc Tỉ lệ cây bệnh của nghiệm thức đối chứng không ghép qua 34 ngày chủng bệnh là 100% trong khi đó các nghiệm thức ghép gốc dao động từ 0-4,44% Tương tự, qua 34 ngày sau khi chủng bệnh cấp bệnh của nghiệm thức đối chứng không ghép đạt tối đa (cấp 4-cây chết hoàn toàn) trong khi

đó cấp bệnh của các nghiệm thức có sử dụng gốc ghép dao động từ 1,12 (cấp cây khỏe mạnh) Điều này cho thấy các loại gốc ghép đươc sử dụng trong thí nghiệm có khả năng giúp dưa leo chống chịu tốt đối với bệnh héo rũ do nấm

1-Fusarium oxysporum Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Lê Văn Mắc

(2007) và Trần Thị Hồng Thơi (2008) cho rằng khi sử dụng gốc ghép đã làm tăng

đáng kể khả năng kháng bệnh do nấm Fusarium oxysporum trên dưa hấu.

Kết quả nghiên cứu bước đầu khảo sát sự tương thích của bảy loại bầu bí dưa ghép trên gốc bình bát dây vụ Hè Thu 2010 của Nguyễn Thanh Thức (2011) cho thấy tỉ lệ sống của dưa lê, dưa hấu, mướp, bí đỏ hạt đậu và bầu hồ lô đều trên 75% Trong khi đó, tỉ lệ sống của dưa leo và khổ qua thì tương đối thấp (62,97% và 57,45%, tương ứng)

Trang 25

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Phương tiện

2.1.1 Địa điểm và thời gian

- Địa điểm: Trại thực nghiệm Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ (Khoa NN & SHƯD)

- Thời gian: từ tháng 6 đến tháng 8/2012 (vụ Hè Thu)

2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn

Thí nghiệm được tiến hành vào giữa mùa mưa (tháng 6-8/2012), lượng mưa trung bình là 120,1 mm, cao nhất vào tháng 6 (136,5 mm) và thấp nhất vào tháng 8 (90,7 mm), nhiệt độ dao động từ 27,6-27,90C, trung bình là 27,770C Ẩm độ dao động từ 83-84% (Hình 2.1)

Hình 2.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm từ tháng 6-8/2012 tại TP.Cần Thơ

(Đài Khí tượng thủy văn TP.Cần Thơ, 2012)

2.1.3 Vật liệu thí nghiệm

- Giống:

* Ngọn ghép dưa leo TN123 F1: do công ty giống cây trồng Trang Nông phân phối, sinh trưởng mạnh, trồng được quanh năm, trái suôn đẹp (dài 16 cm, đường kính 4 cm), màu xanh vừa Ruột nhỏ, ăn giòn, ngọt, trái nặng 150-160g

Thời gian thí nghiệm

Nhiệt độ (ºC) Ẩm độ (%) Lượng mưa (mm)

136,5 133,1

90,7

Trang 26

* Gốc Bầu Nhật: do công ty Kurume phân phối, trái giống như bình rượu (phình to phía đuôi thắt eo ở phần đầu), trái to có màu trắng hay sọc xanh, chứa nhiều hạt, kích thước 30-50 cm, cho từ 200-400 kg/ha hạt

* Gốc mướp: là giống địa phương, loại cây thân thảo dạng dây leo, có nhiều tua cuốn, phân cành mạnh Lá mọc cách, dạng tim, có 5-7 thùy có răng nhỏ xung quanh Hoa đơn tính, các hoa đực tập trung thành chùm dạng thùy, hoa cái mọc đơn độc Trái dạng hình thoi hay hình trụ, màu xanh lục Trên vỏ trái có 10 đường gân dọc màu xanh đậm và những đốm màu đen Hạt mướp hình trứng, 2 đầu tròn, màu đen, dài 1-1,2 cm

* Gốc bình bát dây: là giống mọc hoang dại, loại cây thân thảo nhẵn và mảnh, mọc leo cao, đôi khi dài hơn 5 m Lá hình 5 cạnh, có răng, rộng 5-8 cm, hình tim ở gốc, rất nhẵn, chia 5 thùy hình tam giác, có mũi nhọn cứng; tua cuốn đơn Ra hoa kết trái quanh năm, hoa đực và hoa cái giống nhau Quả hình trứng ngược hoặc thuôn, dài 5 cm, rộng 2,5 cm, khi chín có màu đỏ và thịt quả đỏ chứa nhiều hạt Cây mọc hoang trên nương rẫy, bờ rào, lùm bụi, ra hoa kết trái quanh năm

- Phân bón: NPK 16-16-8-13S, phân hữu cơ

- Thuốc bảo vệ thực vật: Basudin 10H, Antracol Zinc ++, Acti No Vate 1SP, Biffiny 400SC, Dylan, Radient, Nafat, , Nyro, Tomato Plus

- Dụng cụ đo: thước dây, thước kẹp, cân, Brix kế, máy đo độ cứng STATO

- Dụng cụ ghép: lưỡi lam, cồn 700, băng keo non, ghim, ống mũ

- Vật liệu khác: khay ươm, chậu nhựa, rổ nhựa, lưới làm giàn, dây chì,

- Màng phủ nông nghiệp 1,2 m gồm 2 mặt màu đen và xám bạc

2.2 Phương pháp

2.2.1 Bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức với 4 lần lặp lại Bốn nghiệm thức là:

1 Dưa leo không ghép (ĐC)

2 Dưa leo ghép trên gốc Bầu Nhật (DL/BN)

3 Dưa leo ghép trên gốc Mướp (DL/M)

4 Dưa leo ghép trên gốc Bình bát dây (DL/BBD)

Diện tích thí nghiệm là 100 m2

Trang 27

Hạt bình bát dây: được ngâm bằng nước lạnh trong 1 giờ, đem ươm vào khay (gồm đất, xơ dừa và phân dơi), chờ cho cây lên khoảng 2,5 cm thì đem trồng vào ly (gồm đất, tro trấu) Khi cây được 2-3 lá (25 ngày sau khi ủ) thì chuẩn bị ngọn ghép

- Ngọn ghép:

Dùng cát sạch rãi lên rỗ nhựa một lớp dầy 3 cm (sao cho mặt cát bằng phẳng), phun nước cho đủ ẩm Sau đó rãi đều hột dưa leo đã ngâm ủ lên bề mặt cát

và dùng cát lắp lên hột dưa leo một lớp khoảng 1 cm Bắt đầu ghép khi cây bầu có

lá thật đầu tiên, có 5-6 lá thật với cây mướp và khi cây dưa vừa rơi vỏ hạt (4 ngày sau khi ngâm ủ hạt)

- Kĩ thuật ghép:

+ Gốc bầu Nhật dùng phương pháp ghép ghim theo Trần Thị Ba (2010): loại

bỏ lá thật (lá nhám) đầu tiên của cây bầu bằng lưỡi lam chỉ chừa hai lá mầm Dùng que ghim ghim vào đỉnh cây bầu ở vị trí gần lá mầm, xéo gốc khoảng 300-400 xuyên qua đỉnh cây bầu, giữ que ghim tại đỉnh Dùng lưỡi lam cắt bỏ phần gốc thân dưa leo một góc 300-400 sát dưới lá mầm Rút que ghim trên đỉnh bầu, đặt ngay ngọn dưa leo lên gốc ghép sao cho mặt cắt áp sát vào thân và hai tử diệp của ngọn dưa leo vuông gốc với hai lá mầm của gốc ghép (Hình 2.2)

+ Gốc mướp và bình bát dây: dùng phương pháp ghép nối ống cao su theo Trần Thị Ba (2010): Gốc ghép và ngọn ghép được cắt xéo khoảng 450 (vị trí cắt là ở trên hai lá mầm đối với gốc ghép), dùng ống ghép cao su chuyên dụng cố định mặt tiếp xúc giữa gốc ghép và ngọn ghép (chú ý: hai mặt cắt phải tiếp xúc với nhau, mặt tiếp xúc càng lớn càng tốt)

Trang 28

thân dưa leo một góc 40 0 sát dưới lá mầm (d) Rút que ghim và đặt ngọn dưa leo lên gốc ghép (e) Mặt cắt áp sát vào thân và hai tử diệp của ngọn dưa leo vuông gốc với hai lá mầm của gốc ghép (f) Cây ghép hoàn chỉnh

+ Chăm sóc sau ghép: để cây ghép vào chỗ mát và kín gió 3 ngày, dùng bình phun sương để ngọn ghép không bị héo Vào ngày thứ 4 cho cây ra nắng nhẹ 30 phút và vài giờ trong ngày thứ 5 và 6, đến ngày thứ 7 thì cho ra nắng hoàn toàn Khi cây ghép có lá thật thì đem trồng (12 ngày sau khi ghép)

* Chuẩn bị cây con không ghép: dưa leo sau khi ngâm hạt trong nước 1 giờ, tiến hành gieo trong khay Khi cây con ra lá thật (7 ngày sau khi gieo) thì phun thuốc ngừa sâu, bệnh sau đó đem ra đồng trồng

- Làm đất: liếp cao trung bình 35 cm, rộng 0,85 m và lối đi 0,8 m, sử dụng màng phủ nông nghiệp khổ rộng 1,2 m, phủ kín chân liếp Bón phân lót và tưới thật ướt mặt liếp trước khi đậy màng phủ, gieo cây con không ghép trong khay ươm khoảng 7 ngày rồi đem trồng, lúc đó cây ghép trong ly đã 12 ngày sau khi ghép

- Trồng cây: cây con được trồng với khoảng cách 0,45 m và trồng lúc chiều mát Tưới đẫm nước trước khi đem cây con ra trồng, đục lỗ sâu 5 cm và đường kính

Trang 29

10 cm theo khoảng cách cây Đặt cây con trồng theo hàng và lấp đất lại (mật độ khoảng 15.000 cây/ha)

Hình 2.3 Cây con trước khi trồng (a) Cây con dưa leo không ghép (b) Dưa leo ghép trên gốc bầu

Nhật (c) Dưa leo ghép trên gốc mướp (d) Dưa leo ghép trên gốc bình bát dây

- Bón phân: loại, lượng và thời kỳ bón phân được trình bày ở Bảng 2.1

Bảng 2.1 Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho dưa leo tại khu thực nghiệm Khoa NN

& SHƯD, Đại học Cần Thơ (tháng 6 - 8/2012)

(kg) Bón lót

Bón thúc (20 NSKT)

Bón nuôi trái (35 NSKT)

Còn lại 100 kg NPK 16-16-8-13S chia làm nhiều lần tưới (3 ngày/lần) từ 45 ngày đến cây tàn

NSKT: ngày sau khi trồng

Trang 30

- Tưới nước: tưới nhiều nhất trong thời kỳ thu trái rộ; thoát nước tốt trong mùa mưa

- Phòng trừ sâu bệnh hại chính:

+ Bù lạch, rầy mềm, rầy phấn trắng, dòi đục lòn lá: phát hiện sớm, luân phiên

thay đổi thuốc trừ sâu thế hệ mới

+ Bệnh héo cây con, thán thư, đốm phấn, héo rũ (chạy dây), sương mai

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi

* Ghi nhận: ngày gieo, ngày trồng, ngày trổ hoa đầu tiên (50% số cây có hoa đầu tiên nở), ngày thu hoạch đầu tiên, số lần thu hoạch, thời gian kéo dài thu hoạch

* Chỉ tiêu tăng trưởng: quan sát cố định 8 cây/lô, cố định 15 ngày lấy 1 lần

- Chiều dài của dây chính: dùng thước dây đo từ cổ lá tử diệp đến đỉnh sinh trưởng của dây chính

- Số lá trên dây chính: đếm từ lá thật đầu tiên đến lá ngọn cuối cùng (những

lá có chiều dài phiến lá ≥ 2 cm trên dây chính) Tiến hành đo đếm ở các giai đoạn

15, 30, 45 NSKT

- Số chồi trên dây chính: đếm tất cả các chồi trên thân chính

- Đường kính gốc và ngọn ghép (cm): dùng thước kẹp đo 2 cạnh thẳng góc phía trên vết ghép 2 mm đối với cây còn nhỏ và 1 cm khi cây lớn (đối với đường kính gốc ghép) Phía trên vết ghép 2 mm lúc cây còn nhỏ và 1 cm khi cây lớn (đối với đường kính ngọn ghép) vào thời điểm 10, 30, 40 và 60 NSKT Sau đó tỉnh tỉ số tương thích

- Kích thước trái (cm): dùng thước kẹp đo chiều dài và đường kính lớn nhất của trái lúc thu hoạch rộ (28 NSKT), rồi lấy giá trị trung bình (10 trái/nghiệm thức)

* Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất

- Trọng lượng trái (g/trái): cân ngẫu nhiên trọng lượng 10 trái ở lần thu hoạch

rộ (28 NSKT), cân riêng từng trái trên lô và tính giá trị trung bình

- Số trái trên cây (trái/cây): đếm toàn bộ trái trên cây bao gồm trái thương phẩm (suông đẹp không sâu bệnh) và trái không thương phẩm (những trái bị sâu bệnh, méo mó) ở tất cả các lần thu hoạch

- Trọng lượng trái trên cây (kg/cây): cân toàn bộ trái trên cây (thương phẩm

và không thương phẩm) ở tất cả các lần thu hoạch

Trang 31

- Trọng lượng toàn cây (kg/cây): cân toàn bộ cây (rễ, thân, lá, trái) trên từng

lô khi kết thúc thu hoạch

- Năng suất (tấn/ha): tổng trọng lượng trái và trọng lượng trái thương phẩm thu được qua các lần thu hoạch ở các lô, rồi quy ra năng suất (tổng và thương phẩm) trên 1 ha và tỉ lệ giữa năng suất thương phẩm/năng suất tổng

- Số lần thu hoạch: đếm từ lần thu hoạch đầu tiên đến lần thu cuối cùng

* Một vài chỉ tiêu về chất lượng trái (mỗi nghiệm thức khảo sát 10 trái cho một lần lặp lại):

- Độ cứng của trái (kgf/cm2): được xác định bằng máy đo độ cứng SATO (FRUIT PRESSURE TEASTER FT327) Đo ở vị trí đầu trái, giữa trái và cuối trái, sau đó tính trung bình để có trị số chung của trái

- Độ Brix (%): được xác định bằng Brix kế, phần ăn được của trái được

nghiền để lấy dịch trái nhỏ lên Brix kế sau đó đọc kết quả hiện trên máy đo Đo ngẫu nhiên 3 trái/lô tại thời điểm thu hoạch rộ, rồi lấy giá trị trung bình

2.2.4 Phân tích số liệu

- Nhập số liệu bằng Microsoft Office Excel

- Dùng chương trình SPSS 16.0 để phân tích thống kê số liệu thí nghiệm

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ghi nhận tổng quát

Thí nghiệm được thực hiện trên nền đất đã trồng qua một vụ dưa leo trước

đó Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 6-8 thời tiết tương đối thuận lợi cho sự phát triển của dưa leo, ít sâu bệnh hại và cho thu hoạch vào giai đoạn 23 NSKT Trong

đó, nghiệm thức dưa leo ghép gốc mướp phát triển thân lá mạnh, có bộ lá xanh tốt,

ra hoa cái đầu tiên trong tất cả các nghiệm thức (khoảng 18 ngày ra hoa 50%) cho trái sớm nhất và thời gian thu hoạch kéo dài khoảng 26 lần Giai đoạn đầu, dưa leo ghép gốc bình bát dây sinh trưởng chậm nhưng về sau cây phát triển mạnh và năng suất cao

3.2 Tỉ lệ sống sau ghép

Ở 10 NSKGh tỉ lệ sống của dưa leo ghép cao ở gốc mướp (91,30%), kế đến

là bầu Nhật (86,42%), thấp là gốc ghép bình bát dây (56,96%) Điều này cho thấy khả năng tiếp hợp giữa gốc mướp và bầu Nhật với ngọn dưa leo là cao, gốc bình bát dây là thấp Tỉ lệ này cũng phù hợp với nghiên cứu Lê Huỳnh Thái Như (2012) gốc bầu (81,2%) cao hơn gốc bình bát dây (70,4%) Tuy nhiên, theo Trần Kim Cương (2003) tỉ lệ sống sau ghép của cây còn phụ thuộc vào tình trạng cây ghép, thao tác ghép và điều kiện chăm sóc cây sau khi ghép Cũng theo Phan Ngọc Nhí (2013) cho rằng tỉ lệ sống sau ghép là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc tuyển chọn gốc ghép sau này

Bảng 3.1 Tỉ lệ sống (%) của dưa leo qua 10 ngày sau khi ghép tại trại thực nghiệm

Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012)

3.3.1 Chiều dài thân chính

Chiều dài thân chính của dưa leo ở các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở giai đoạn 15 và 30 NSKT (Hình 3.1 và Phụ bảng 1.1) Vào giai đoạn này ĐC không ghép có chiều dài thân chính dài hơn (78,23 và 225,28 cm

Trang 33

tương ứng) 2 nghiệm thức ghép gốc mướp và bình bát dây Giai đoạn 45 và 60 NSKT các nghiệm thức khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống kê Giai đoạn

60 NSKT chiều dài thân chính biến thiên từ 282,58-289,30 cm Vậy, gốc ghép đã không làm ảnh hưởng đến chiều dài thân chính của dưa leo Sự khác biệt ở giai đoạn đầu có thể giải thích là do giai đoạn đầu gốc ghép và ngọn ghép chưa tương thích nhau, cây ghép đang trong giai đoạn phục hồi

Về tốc độ tăng trưởng thân chính của dưa leo ở các giai đoạn không đều nhau Giai đoạn 15-30 NSKT tốc độ tăng trưởng mạnh nhất đạt 8,08 cm/ngày Điều

này cũng phù hợp với nhận định của Trần Thị Ba và ctv (1999) giai đoạn 15-30

NSKT là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tích lũy nhiều dinh dưỡng cho giai đoạn

ra hoa kết trái Cũng theo Tạ Thu Cúc (2005) ở thời kỳ này chiều dài thân chính tăng vượt trội so với thời kỳ cây con, sự khác biệt về chiều dài thân chính phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác Tốc độ tăng trưởng chậm và giảm dần vào giai đoạn 30-45 NSKT (4,43 cm/ngày), có thể do cây đang tập trung dinh dưỡng để nuôi trái Giai đoạn 45-60 NSKT cây tăng trưởng chậm (2,84 cm/ngày)

Hình 3.1 Chiều dài và tốc độ tăng trưởng thân chính của dưa leo ở các nghiệm thức qua các

giai đoạn khảo sát tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012)

Trang 34

3.3.2 Số lá trên thân chính

Số lá trên thân chính của dưa leo giữa các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở các giai đoạn khảo sát trừ giai đoạn 45 NSKT (Hình 3.2 và Phụ bảng 1.2) Giai đoạn 15 NSKT nghiệm thức ĐC và DL/BN có số lá cao hơn (12,23 và 11,23 lá, tương ứng) hai nghiệm thức còn lại Giai đoạn 30 NSKT nghiệm thức ĐC có số lá cao hơn (26,2 lá) các nghiệm thức ghép gốc Đến giai đoạn 45 NSKT số lá trên thân chính của dưa leo ở các nghiệm thức khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống kê dao động từ 32,68-36,33 lá Vậy gốc ghép đã không làm thay đổi số lá trên thân chính của dưa leo Sự khác biệt ở giai đoạn này cũng được giải thích tương tự như chiều dài thân chính Cũng theo Trần Thị Ba (1999) số lá nhiều hay ít phụ thuộc vào mỗi loại giống, số lá trên thân chính có ý nghĩa to lớn trong việc quang hợp tạo vật chất nuôi trái

Hình 3.2 Số lá thân chính dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực

nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012)

3.3.3 Số chồi trên cây

Nhìn chung số chồi trên thân chính của dưa leo ở các nghiệm thức khác biệt

có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở các giai đoạn khảo sát ngoại trừ giai đoạn 45 NSKT (Hình 3.3 và Phụ bảng 1.3) Giai đoạn 15-30 NSKT nghiệm thức ĐC có số chồi cao nhất (4,83 và 9,70 chồi, tương ứng) cao hơn ba nghiệm thức ghép gốc còn lại Giai đoạn 45 NSKT chồi trên thân chính của dưa leo ở các nghiệm thức khác

Trang 35

biệt không ý nghĩa qua phân tích thống kê dao động từ 6,93-10,75 chồi Vậy gốc ghép đã không làm ảnh hưởng đến số chồi của cây dưa leo Kết quả này cũng phù hợp với chiều dài thân chính cây dưa leo Điều này có thể giải thích là do giai đoạn 15-30 NSKT cây dưa leo ghép gốc chưa phát huy khả năng đâm chồi, đến giai đoạn sau gốc ghép đã phát huy được và đã bắt kịp cây không ghép

Hình 3.3 Số chồi dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực nghiệm

Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012)

3.3.4 Đường kính gốc ghép

Đường kính gốc của dưa leo ở các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê qua các giai đoạn 10-30 NSKT (Bảng 3.2) Ở giai đoạn 10 NSKT nghiệm thức DL/BN và ĐC có đường kính gốc cao nhất (0,87 và 0,80 cm, tương ứng), thấp nhất là DL/M (0,40 cm) Giai đoạn 30 NSKT nghiệm thức ĐC có đường kính gốc cao nhất (1,28 cm), thấp nhất là nghiệm thức DL/M (0,77 cm ) Giai đoạn đầu đường kính gốc ghép ở nghiệm thức DL/M là thấp nhất, tuy nhiên đến giai đoạn 40 NSKT đường kính gốc ghép đã cho thấy ưu thế của mình và tăng lên vượt trội để bắt kịp các nghiệm thức còn lại Giai đoạn 40-60 NSKT đường kính gốc thân dưa leo khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống kê và dao động từ 1,39-1,45 cm ở giai đoạn 60 NSKT Theo Phạm Văn Côn (2007) gốc ghép là bộ phận hút nước và chất dinh dưỡng cung cấp cho ngọn ghép Gốc ghép càng khỏe, càng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai thì cây ghép sinh trưởng càng tốt,

... nghiệm thức là:

1 Dưa leo không ghép (ĐC)

2 Dưa leo ghép gốc Bầu Nhật (DL/BN)

3 Dưa leo ghép gốc Mướp (DL/M)

4 Dưa leo ghép gốc Bình bát dây (DL/BBD)

Diện tích... 2.3 Cây trước trồng (a) Cây dưa leo không ghép (b) Dưa leo ghép gốc bầu

Nhật (c) Dưa leo ghép gốc mướp (d) Dưa leo ghép gốc bình bát dây

- Bón... lệ sống dưa leo ghép cao gốc mướp (91,30%),

là bầu Nhật (86,42%), thấp gốc ghép bình bát dây (56,96%) Điều cho thấy khả tiếp hợp gốc mướp bầu Nhật với dưa leo cao, gốc bình bát dây thấp

Ngày đăng: 17/09/2015, 16:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  2.1  Tình  hình  thời  tiết  trong  thời  gian  thí  nghiệm  từ  tháng  6-8/2012  tại  TP.Cần  Thơ - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
nh 2.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm từ tháng 6-8/2012 tại TP.Cần Thơ (Trang 25)
Hình 2.2 Kỹ thuật ghép dưa leo  (a) Chuẩn bị ngọn ghép trong rọ (b) Gốc bầu Nhật (c) Cắt bỏ phần gốc - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Hình 2.2 Kỹ thuật ghép dưa leo (a) Chuẩn bị ngọn ghép trong rọ (b) Gốc bầu Nhật (c) Cắt bỏ phần gốc (Trang 28)
Hình 2.3 Cây con trước khi trồng (a) Cây con dưa leo không ghép (b) Dưa leo ghép trên gốc bầu - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Hình 2.3 Cây con trước khi trồng (a) Cây con dưa leo không ghép (b) Dưa leo ghép trên gốc bầu (Trang 29)
Bảng 2.1  Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho dưa leo tại khu thực nghiệm Khoa NN - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Bảng 2.1 Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho dưa leo tại khu thực nghiệm Khoa NN (Trang 29)
Hình 3.1 Chiều dài và tốc độ tăng trưởng thân chính của dưa leo ở các nghiệm thức qua các - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Hình 3.1 Chiều dài và tốc độ tăng trưởng thân chính của dưa leo ở các nghiệm thức qua các (Trang 33)
Hình 3.2 Số lá thân chính dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Hình 3.2 Số lá thân chính dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực (Trang 34)
Hình 3.3 Số chồi dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực nghiệm - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Hình 3.3 Số chồi dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực nghiệm (Trang 35)
Bảng 3.2 Đường kính gốc ghép dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Bảng 3.2 Đường kính gốc ghép dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát (Trang 36)
Bảng 3.5  Kích thước trái (cm) của dưa  leo  ở  các nghiệm thức tại trại thực nghiệm - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Bảng 3.5 Kích thước trái (cm) của dưa leo ở các nghiệm thức tại trại thực nghiệm (Trang 38)
Bảng  3.4  Tỉ  số  đường  kính  gốc/ngọn  ghép  dưa  leo  ở  các  nghiệm  thức  qua  các  giai - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
ng 3.4 Tỉ số đường kính gốc/ngọn ghép dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai (Trang 38)
Hình  3.4  Số  trái  và  số  trái  thương  phẩm  trên cây  dưa  leo  ở  các  nghiệm  thức  tại  trại  thực - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
nh 3.4 Số trái và số trái thương phẩm trên cây dưa leo ở các nghiệm thức tại trại thực (Trang 40)
Hình 3.5 Trọng lượng trái và trọng lượng trái thương phẩm/cây dưa leo ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Hình 3.5 Trọng lượng trái và trọng lượng trái thương phẩm/cây dưa leo ở các nghiệm thức (Trang 41)
Hình  3.7  Số  lần  thu  hoạch  dưa  leo  ở  các  nghiệm  thức  tại  trại  thực  nghiệm  Khoa  NN  &amp; - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
nh 3.7 Số lần thu hoạch dưa leo ở các nghiệm thức tại trại thực nghiệm Khoa NN &amp; (Trang 43)
Bảng 3.7 Độ cứng (kgf/cm 2 ) và Độ Brix (%) của trái dưa leo ghép ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của gốc ghép bầu nhật, mướp và bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ hè thu 2012
Bảng 3.7 Độ cứng (kgf/cm 2 ) và Độ Brix (%) của trái dưa leo ghép ở các nghiệm thức (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm