1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới

52 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 840,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HUỲNH THỊ THANH TRÚCĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA SÁU CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM GÂY BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT SỪNG VÀNG CHÂU PHI TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Trang 1

HUỲNH THỊ THANH TRÚC

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA SÁU CHỦNG

VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM GÂY

BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT SỪNG VÀNG

CHÂU PHI TRONG ĐIỀU KIỆN

NHÀ LƯỚI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: NÔNG HỌC

2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 2

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: NÔNG HỌC

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA SÁU CHỦNG

VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM GÂY

BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT SỪNG VÀNG

CHÂU PHI TRONG ĐIỀU KIỆN

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

-

Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học, với đề tài:

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA SÁU CHỦNG

VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM GÂY

BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT SỪNG VÀNG

CHÂU PHI TRONG ĐIỀU KIỆN

NHÀ LƯỚI

Do sinh viên Huỳnh Thị Thanh Trúc thực hiện

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Cán bộ hướng dẫn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Huỳnh Thị Thanh Trúc

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài:

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA SÁU CHỦNG

VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM GÂY

BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT SỪNG VÀNG

CHÂU PHI TRONG ĐIỀU KIỆN

NHÀ LƯỚI

Do sinh viên Huỳnh Thị Thanh Trúc thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:…

Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:

Cần Thơ, ngày…… tháng …… năm 2014 Thành viên Hội đồng ……… ……… ………

DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 6

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

I Lý lịch sơ lược

Họ và tên: Huỳnh Thị Thanh Trúc Giới tính: Nữ Ngày, tháng, năm sinh: 08/12/1993 Dân tộc: Kinh Nơi sinh: Xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Con ông: Huỳnh Thanh Thêm

Trường: Tiểu học “D” Kiến An

Địa chỉ: Xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Thời gian: 2004 – 2008

Trường: Trung học Cơ sở Kiến An

Địa chỉ: Xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Thời gian: 2008 – 2011

Trường: Trung học Phổ thông Nguyễn Hữu Cảnh

Địa chỉ: Thị Trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

4 Đại học

Thời gian: 2011 – 2015

Trường: Đại học Cần Thơ

Địa chỉ: Đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ

Chuyên ngành: Nông học (Khóa 37)

Ngày… tháng… năm 2014

Huỳnh Thị Thanh Trúc

Trang 7

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng!

Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

- PGS TS Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong công việc nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này

- ThS Võ Thị Bích Thủy đã đóng góp những ý kiến xác thực góp phần hoàn chỉnh luận văn

- Cố vấn học tập Nguyễn Lộc Hiền đã quan tâm và dìu dắt lớp tôi hoàn thành tốt khóa học

- Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông nghiệp và Sinh học

Ứng dụng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học

Chân thành cảm ơn!

- Chị Nguyễn Thị Vẽ và chị Lý Hương Thanh lớp Cao học Trồng trọt

khóa 18 đã giúp tôi hoàn thành số liệu và chỉnh sửa luận văn

- Anh Toàn, Hạc, cùng các bạn Trinh, Xương, Nhung, Kiều Anh, Hậu, Lợi, Thư, Rẻ, Phát và Sơn đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện

Trang 8

HUỲNH THỊ THANH TRÚC, 2014 “Đánh giá khả năng gây hại của sáu

chủng vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt Sừng

Vàng Châu Phi trong điều kiện nhà lưới” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Nông

Học, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ, 32 trang Cán bộ hướng dẫn PGS TS Trần Thị Ba và ThS Võ Thị Bích Thủy -

TÓM LƯỢC

Đề tài được thực hiện tại nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa Nông nghiệp

và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ từ tháng 07 – 11/2013 nhằm

chọn ra những chủng Vi khuẩn Ralstonia solanacearum phát triển phổ biến và có

khả năng gây hại nghiêm trọng trên ớt Sừng Vàng Châu Phi Qua đó, thấy được mức độ ảnh hưởng của các chủng vi khuẩn này lên các chỉ tiêu sinh trưởng của cây (chiều cao cây, số lá, đường kính gốc thân); Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 lặp lại gồm 7 nghiệm thức là 6 chủng Vi khuẩn

Ralstonia solanacearum và 1 nghiệm thức đối chứng không chủng bệnh

Kết quả thí nghiệm cho thấy tất cả các nghiệm thức điều biểu hiện bệnh với tỉ lệ và chỉ số khá cao nhưng không đồng đều giữa các nghiệm thức chủng bệnh (tỉ lệ bệnh dao động từ 56 – 100%; tương ứng cấp độ bệnh 0,72 – 3,20; thời

điểm 32 ngày sau khi chủng), trừ nghiệm thức đối chứng hoàn toàn không xuất

hiện bệnh Tỉ lệ bệnh héo xanh cao nhất thuộc về chủng 2 và 5 (đạt 100% bắt

đầu từ thời điểm 22 ngày sau khi chủng) Các chủng vi khuẩn 2, 4 và 5 có chỉ số

bệnh héo xanh cao nhất (2,56 – 3,20 thời điểm 32 ngày sau khi chủng) Sinh trưởng (chiều cao thân chính, số lá, đường kính gốc thân) của ớt Sừng Vàng Châu Phi bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi chủng vi khuẩn 2

Trang 9

MỤC LỤC

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP iv

LỜI CẢM TẠ v

TÓM LƯỢC vi

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH HÌNH ix

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Tổng quan về cây ớt 2

1.1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại và công dụng của ớt 2

1.1.2 Đặc tính thực vật 3

1.1.3 Điều kiện ngoại cảnh 4

1.1.4 Phân loại ớt cay 5

1.1.5 Một số khó khăn trong sản xuất ớt 6

1.2 Bệnh héo xanh trên ớt do vi khuẩn Ralstonia solanacearum 7

1.2.1 Bệnh héo xanh và thiệt hại 7

1.2.2 Triệu chứng 8

1.2.3 Tác nhân gây bệnh 8

1.2.4 Đặc điểm sinh học 9

1.2.5 Sự xâm nhiễm, phát sinh bệnh, khả năng lây lan, lưu tồn và biện pháp phòng trị 9

1.3 Một số kết quả nghiên cứu về bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia

solanacearum gây ra 11

1.3.1 Trong nước 11

1.3.2 Trên thế giới 11

1.4 Khái quát về nhà màng (Nhà lưới lợp nóc ni lông) 12

1.4.1 Lợi ích của nhà màng 12

1.4.2 Hạn chế của nhà màng 13

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 14

2.1 Phương tiện 14

2.1.1 Địa điểm và thời gian 14

2.1.2 Vật liệu 14

2.2 Phương pháp 14

2.2.1 Bố trí thí nghiệm 14

2.2.2 Kỹ thuật gieo trồng 15

Trang 10

2.2.3 Lây bệnh nhân tạo trong nhà lưới 16

2.2.4 Chỉ tiêu theo dõi 17

2.2.5 Phân tích số liệu 19

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 20

3.1 Ghi nhận tổng quát 20

3.2 Tình hình diễn biến bệnh héo xanh trên Ớt Sừng Vàng Châu Phi 20

3.2.1 Tỉ lệ bệnh héo xanh 20

3.2.2 Chỉ số bệnh héo xanh 21

3.3 Đặc tính nông học của ớt Sừng Vàng Châu Phi 24

3.3.1 Chiều cao thân chính 24

3.3.2 Số lá trên cây 25

3.3.3 Đường kính gốc thân 27

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 29

4.1 Kết luận 29

4.2 Đề nghị 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30 PHỤ CHƯƠNG

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

2.1 Bố trí thí nghiệm trên ớt Sừng Vàng Châu Phi tại nhà lưới Rau

sạch, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT (tháng 07 – 11/2013)

15

2.2 (a) Ớt Sừng Vàng Châu Phi chuẩn bị chủng bệnh thời điểm 25 ngày

sau khi gieo

(b) Chủng huyền phù vi khuẩn xung quanh gốc ớt

17

2.3 Cấp độ bệnh héo xanh trên ớt Sừng Vàng Châu Phi: (a) Cấp độ 1,

(b) Cấp độ 2, (c) Cấp độ 3, (d) Cấp độ 4, (e) Cấp độ 5

18

3.1 Tỉ lệ bệnh (%) héo xanh của các chủng vi khuẩn trên ớt Sừng Vàng

Châu Phi qua các thời điểm khảo sát

21

3.2 Chỉ số bệnh héo xanh của các chủng vi khuẩn trên ớt Sừng Vàng

Châu Phi qua các thời điểm khảo sát

3.4 Chiều cao cây (cm) của ớt Sừng Vàng Châu Phi trên các nghiệm

thức chủng bệnh qua các thời điểm khảo sát

3.6 Số lá (lá/cây) của ớt Sừng Vàng Châu Phi trên các nghiệm thức

chủng bệnh qua các thời điểm khảo sát

26

3.7 Đường kính gốc thân (cm) của ớt Sừng Vàng Châu Phi trên các

nghiệm thức chủng bệnh qua các thời điểm khảo sát

27

Trang 13

MỞ ĐẦU

Bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia Solanacearum gây ra là một trong

những loại bệnh phổ biến và gây hại nghiệm trọng trên cây ớt Bệnh làm cây chết hàng loạt nhất là trong giai đoạn ra hoa và đậu trái non Đây là loại bệnh hại quan trọng và điển hình nhất đối với các cây họ cà và các loại cây trồng cạn ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và những vùng có khí hậu ấm áp trên thế giới… Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều và nhất là vùng đồng bằng

sông Cửu Long – là một trong những vùng phân bố chính của loài Ralstonia Solanacearum Việc phòng trị chúng thường rất khó khăn vì đây là loài bán ký

sinh điển hình, đa ký chủ, phân bố ở những vùng sinh thái khác nhau, có phạm vi hoạt động rộng trên nhiều ký chủ và lưu tồn rất hữu hiệu trong đất (Nguyễn Văn

Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003) Hơn nữa, Vi khuẩn Ralstonia Solanacearum phát

triển trên rất nhiều chủng và phân bố ở những vùng trồng ớt khác nhau như tỉnh

Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long và Kiên Giang với các mức độ gây hại khác

nhau đã làm cho việc phòng trị bệnh héo xanh trên ớt trở nên khó khăn hơn Vì thế, trong những năm gần đây diện tích trồng ớt, đặc biệt là ớt Sừng Vàng Châu

Phi – giống ớt mẫn cảm nhiều với vi khuẩn Ralstonia Solanacearum ngày càng

bị thu hẹp dần, sinh trưởng và năng suất ớt thường bị hạn chế bởi nhiều yếu tố Trong đó, tính đa dạng về chủng loài vi khuẩn là một trong những nguyên nhân chính làm cho việc phòng trị bệnh héo xanh trở nên khó khăn hơn

Chính vì vậy, đề tài “Đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi

khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt Sừng vàng Châu

Phi trong điều kiện nhà lưới” được thực hiện tại nhà lưới nghiên cứu rau sạch

Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ từ tháng 07 – 11/2013 nhằm chọn ra các chủng vi khuẩn phát triển phổ biến và có khả năng gây hại nghiêm trọng trên ớt Sừng Vàng Châu Phi, làm tiền đề cho các nghiên cứu về sử dụng gốc ghép khác nhau trên ngọn ớt Sừng Vàng Ngoài ra, thí nghiệm còn xác định được mức độ gây hại của từng chủng vi khuẩn lên sinh trưởng (chiều cao cây, số lá, đường kính gốc) của ớt Sừng Vàng Châu Phi, làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo Thêm vào đó việc kiểm soát mức độ gây bệnh của sáu chủng vi khuẩn được chủ động hơn, có phương pháp xử lý phù hợp với từng chủng bệnh, giảm thiểu tối đa thiệt hại do bệnh héo xanh gây ra

Trang 14

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây ớt

1.1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại và công dụng của ớt

Nguồn gốc: Cây ớt có tên khoa học là Capsicum frutescens L., thuộc họ

cà (Solanaceae), có nguồn gốc từ Mexico, Trung và Nam Mỹ (Mai Thị Phương

Anh, 1999) Theo Bosland (1996), cây ớt được thuần hóa cách đây 7.000 năm nhưng theo tài liệu nghiên cứu của Nguyễn Việt Thắng và Trần Khắc Thi (1997), cây ớt được thuần hóa và trồng ở châu Âu, Ấn Độ cách đây hơn 500 năm từ một

loài ớt cay hoang dại ở Nam Mỹ

Phân bố: Ớt được trồng nhiều ở các nước châu Phi, khu vực Đông và

Nam châu Á (Võ Văn Chi, 2005) Ớt ngọt thường được trồng nhiều ở Trung và Nam Mỹ, Peru, Boolivia, Costa Rica, Mehico và hầu hết các nước châu Âu, ở châu Á ớt ngọt thường được trồng nhiều ở Hồng Kông và Ấn Độ (Mai Thị Phương Anh, 1999) Ớt cay được trồng phổ biến ở Ấn Độ, Châu Phi và các nước

nhiệt đới khác (Đường Hồng Dật, 2003)

Phân loại: Theo Mai Thị Phương Anh (1999), ớt có 5 loài được trồng chủ

yếu và có đến 50 thứ khác nhau cùng một loài (Võ Văn Chi, 2005) Ớt được phân loại theo đặc điểm trái, màu sắc, hình dáng, kích thước và mục đích sử dụng

(Bosland, 1996) Ở Việt Nam, ớt có 4 nhóm phổ biến: Ớt C chinense hay ớt

kiểng thường dùng trang trí, không cay, có rất nhiều màu, trái to, nhỏ, hay tròn

như cà hay hình giọt nước; ớt hiểm – ớt Thái Lan – ớt Chili – ớt C frutescens là

loại ớt cay có 3 màu trắng, đỏ và vàng trên cùng một cây; ớt Đà Lạt (ớt tây) chỉ lấy vỏ, không ăn hạt, trái màu xanh hoặc đỏ; ớt Sừng Trâu là loại phổ biến nhất hiện nay được sử dụng trong hầu hết cách chế biến Theo Nonnecke (1989), ớt có thể chia thành 2 nhóm: Ớt ngọt và ớt cay dựa vào lượng capsaicinoid – chất

quyết định tính cay có trong trái ớt

Công dụng: Ớt là cây rau ăn trái có giá trị cao, cả thị trường trong nước

và xuất khẩu (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo Trần Tú Ngà (1994), ớt được

sử dụng như cây thực phẩm và cây gia vị có giá trị, vì chứa nhiều vitamin nhất trong các loại rau, nhất là vitamin C và provitamin A (caroten), ngoài ra còn có vitamin B1, B2, P Trong 100 g ớt, trung bình có 94 g nước; 1,3 g protid; 5,7 g glucid; 1,4 g chất xơ; 250 mg vitamin C; 100 mg carotene và 29 – 30 calo (Võ

loại alkaloid có vị cay, gây cảm giác ngon miệng khi ăn, kích thích quá trình tiêu

hóa (Mai Thị Phương Anh, 1999)

Trang 15

Theo y học cổ truyền, ớt có vị cay, nóng có tác dụng tán hàn, tiêu thực, giảm đau… Dân gian dùng nó để chữa đau bụng do lạnh, tiêu hóa kém, đau khớp, dùng ngoài chữa rắn rết cắn Trong y học hiện đại, chất capsaicine trong ớt kích thích não sản xuất ra endorphin có tác dụng giảm đau, ngăn ngừa bệnh tim nhờ một số hoạt chất giúp máu lưu thông, ớt còn ngăn ngừa tình trạng huyết áp tăng (Đỗ Mỹ Linh, 2008) Một số loài ớt vì có hình dạng trái độc đáo và màu sắc tươi sáng đã được sử dụng rộng rãi như là cây kiểng (Eshbaugh, 1993) Theo

Bosland et al (1994), một nhóm nhỏ của ớt được dùng làm kiểng và có thể ăn

được vì có hình dạng trái khác thường nhiều màu sắc, có tất cả các màu của cầu

vồng, thường hiển thị 4 hoặc 5 màu sắc trái cùng lúc trên cùng 1 cây (trích dẫn bởi Bosland, 1996)

1.1.2 Đặc tính thực vật

Ớt là cây ngày trung bình phát triển tốt trên đất thoát nước tốt, tơi xốp, pH

từ 4,3 – 9,7 Là loại cây không thích bóng râm, cây sẽ không phát triển khi nhiệt

độ dưới 7o

C (Center for New Crops and Plant Products, 2002) Ớt sẽ cho năng

khi gieo (CABI, 2001) Trong điều kiện thuận lợi, ớt có thể sống khoảng 2 năm (Bosland and Votava, 2000)

Rễ: Ớt có rễ trụ nhưng khi cấy rễ phân nhánh mạnh và cây phát triển

thành rễ chùm, phân bố trong vùng đất cày là chính (Phạm hồng Cúc và ctv.,

2001) Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), rễ có nhiệm vụ chống đỡ, hút và vận chuyển nước, chất dinh dưỡng Hình dạng rễ do đặc tính di truyền

quyết định và bị ảnh hưởng bởi môi trường đất Theo Mai Văn Quyền và ctv

(2007), rễ thường ăn nông, phân thành nhiều rễ phụ, vì vậy cây ớt không chịu

được úng, có thể chịu được nóng nhưng chịu hạn trung bình

Thân: Ớt là cây bụi thân gỗ 2 lá mầm, thân thường mọc thẳng, đôi khi có

thể gặp các dạng (giống) có thân bò, nhiều cành, chiều cao trung bình 0,5 – 1,5 m (Mai Thị Phương Anh, 1999) Khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4 – 5 cạnh, có nhiều lông hoặc không lông Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện canh tác và giống (Phạm Hồng Cúc và

ctv., 2001) Theo nhận định của Mai Văn Quyền và ctv (2000) cũng cho thấy

rằng ớt phân cành, phân nhánh nhiều và chiều cao cây khác nhau thường phụ

thuộc vào đặc tính giống

Lá: Ớt có lá đơn mọc xoắn trên thân chính (Mai Thị Phương Anh, 1999),

đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến

lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông (Phạm Hồng

Cúc và ctv., 2001) Số lá trên cây quyết định diện tích lá tổng cộng trên cây

Trang 16

Chức năng chủ yếu của lá là quang hợp và thoát hơi nước (Lê Văn Hòa và

Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Hoa: Ớt ra hoa, trái hầu như quanh năm, nhiều nhất là vào mùa hạ (Lê

Quang Long, 2006) Các hoa hoàn thiện và trái thường được sinh đơn độc trên từng nách lá, có thể mọc thẳng đứng hoặc buông thõng Hoa thường có màu

trắng, một số giống có màu sữa, xanh lam và tím (Mai Thị Phương Anh, 1999) Trái: Trái ớt thuộc loại trái mọng, có rất nhiều hạt với thịt trái nhăn và

chia làm 2 ngăn Các giống ớt khác nhau có kích thước trái, hình dạng, độ nhọn, màu sắc, độ cay và độ mềm của thịt trái rất khác nhau Trái chưa chín có màu xanh hoặc tím, trái chín có màu đỏ, da cam, vàng, nâu, màu kem hoặc tím (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo Đường Hồng Dật (2003), trên cây ớt có nhiều lứa

trái, có trái đang chín, có trái già và có cả trái còn non

Hạt: Theo Mai Thị Phương Anh (1999), hạt ớt có dạng thận và màu vàng

rơm, chỉ có hạt của loài C pubescens có màu đen Hạt có chiều dài khoảng 3 – 5

mm Một gam hạt ớt ngọt có khoảng 160 hạt, còn ớt cay khoảng 220 hạt, để

trồng 1 ha ớt cần khoảng 400 gam hạt

1.1.3 Điều kiện ngoại cảnh

Theo nhận định của Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), sản lượng, phẩm chất

và thời gian thu hoạch của rau (ớt là loại rau ăn trái) là kết quả của mối tương quan phức tạp giữa cây trồng và điều kiện môi trường; còn tính chất, tốc độ tăng trưởng và phát triển của cây rau tùy thuộc vào tính di truyền thực vật và điều kiện môi trường Trong đó ánh sáng và nhiệt độ là 2 yếu tố môi trường quan trọng nhất

Ánh sáng: Ánh sáng cần thiết cho cây vì là nguồn năng lượng cho quang

tổng hợp, thời gian chiếu sáng hay độ dài ngày cũng ảnh hưởng lên sự ra hoa kết

trái của cây (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001) Trong từng loại rau khác nhau thì

yêu cầu về cường độ ánh sáng cũng khác nhau Ở phần lớn các loại rau, cường độ

ánh sáng tối hảo khoảng 20.000 – 30.000 lux (Mai Thị Phương Anh và ctv.,

1996) Theo Mai Thị Phương Anh (1999), ớt là cây ưa ánh sáng ngày ngắn, nếu chiếu sáng 9 – 10 giờ sẽ kích thích sinh trưởng, tăng sản phẩm khoảng 21 – 24%

và tăng chất lượng trái Thiếu ánh sáng, nhất là vào thời điểm ra hoa sẽ làm giảm

tỉ lệ đậu trái của cây (Nguyễn Việt Thắng và Trần Khắc Thi, 1997) Ớt chịu điều kiện che rợp đến 45%, nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ

(Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)

Nhiệt độ: Ớt được xếp vào nhóm rau chịu ấm (Trần Thị Ba và ctv., 1999)

Nhiệt độ thích hợp để cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng năng suất, tăng số trái

Trang 17

thương phẩm là 20 – 30oC đối với ớt cay và 20 – 25oC đối với ớt ngọt Nhiệt độ thấp (8 – 15oC) làm giảm tỉ lệ đậu trái, giảm kích thước và dạng trái (Mai Thị

tỉ lệ đậu trái thấp (Đường Hồng Dật, 2003)

Ẩm độ: Ẩm độ ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và phát triển của cây;

ẩm độ thích hợp thì cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh và ngược lại Ớt

rất thích hợp với thời tiết ấm, ẩm nhưng trong điều kiện khô hạn sẽ kích thích quá trình chín của trái Ớt là cây chịu hạn, ẩm độ đất thấp không ảnh hưởng đến

tỉ lệ đậu trái nhưng tăng tỉ lệ rụng trái Tốt nhất duy trì ẩm độ đồng ruộng khoảng

70 – 80% (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo Đường Hồng Dật (2003) vào thời

kì ra hoa và đậu trái, ẩm độ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng và chất lượng trái Độ ẩm thấp (dưới 70%) trái hay bị cong và vỏ trái

không mịn, độ ẩm quá cao (trên 80%) làm cho bộ rễ phát triển kém, cây còi cọc Đất: Theo Trần Thế Tục (2002), ớt không kén đất; đất bãi, đất đồi, đất

giồng đều trồng được ớt Đất phù hợp nhất để trồng được ớt là đất thịt nhẹ, giàu vôi, có độ màu mỡ, thoát nước, giãi nắng, có pH khoảng 5,5 – 7; nên chọn đất nhiều mùn, thoát nước, vụ trước không trồng các cây cùng họ như cà các loại, ớt

các loại (Mai Thị Phương Anh, 1999)

Nước: Theo Mai Thị Phương Anh (1999), ớt cay là cây chịu hạn và sợ

úng Tùy điều kiện đất đai cần đảm bảo tưới nước đầy đủ mỗi ngày trong mùa nắng để ớt phát triển tốt, mùa mưa phải đảm bảo thoát nước tốt (Phạm Hồng Cúc

và ctv., 2001)

Chất dinh dưỡng: Lượng phân bón cho cây ớt nên tùy thuộc vào điều

kiện, độ màu mỡ của đất Theo khuyến cáo của trung tâm rau châu Á, lượng phân

Thủy, 2000); còn theo khuyến cáo của Phạm Hồng Cúc và ctv (2001): 0 – 200

cần chú ý bón phân cân đối các loại phân hóa học (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo Trần Thị Ba (1998), cây ớt rất nhạy cảm với triệu chứng thiếu canxi, biểu hiện là thối đít trái hay còn gọi là mày ốc Vì vậy cần phải bón lót vôi bột và bổ

ngày/lần từ lúc trái non phát triển (trích dẫn bởi Võ Thị Bích Thủy, 2000)

1.1.4 Phân loại ớt cay

Ớt Sừng (Capsicum annuum Conoidis Lin): Cây cao khoảng 80 – 100 cm,

có khả năng phân cành mạnh, số quả trên cây nhiều Trái màu đỏ tươi, đầu nhọn, trái hơi cong Giống này có thời gian sinh trưởng ngắn (110 – 115 ngày tùy vụ trồng), trái dài 10 – 12 cm, đường kính 1 – 1,5 cm, màu đỏ tươi khi chín Thời

Trang 18

gian thu trái 35 – 40 ngày, năng suất 8 – 12 tấn/ha Tỉ lệ chất khô 21 – 22% Nếu trồng riêng rẽ trong vườn có thể sống và cho trái từ 2 – 3 năm (Trần Khắc Thi, 2000) Giống này phân biệt chủ yếu là dạng trái dài và trái cong gồm hai loại là Sừng trâu xanh và Sừng trâu trắng Ớt Sừng trâu xanh là loại ớt có đầu nhọn, không dài, khi còn non có màu xanh, ít cay Ớt Sừng trâu trắng: Khi còn non có

màu trắng, trái rất to, có vị cay (Mai Văn Quyền và ctv., 2007)

Ớt Hiểm (Ớt chỉ thiên – Capsicum frutescent): Lá hơi nhỏ, cây thấp cao

trung bình 70 – 80 cm, có khả năng phân cành rất mạnh Thời gian sinh trưởng

150 – 180 ngày Năng suất bình quân từ 7 – 10 tấn/ha Cây khỏe, trái nhỏ, khi còn non trái ăn xanh rất thơm, giòn Khi trái chín ớt ngả sang màu vàng cam đỏ, hơi mềm Ớt hiểm cũng có 2 loại: một loại khi còn non màu trắng và một loại khi còn non màu xanh Điểm đặc biệt nhất của giống ớt này là trái tuy nhỏ nhưng rất say Một cây tới hàng trăm trái, dễ trồng, chịu hạn chịu nóng giỏi (Trần Khắc

Thi, 2000)

Ớt Chìa Vôi: Có chiều cao 50 – 80 cm, phân cành mạnh, số trái trên cây

150 – 200 trái Trái tương đối nhỏ, hình dạng quăn queo và nhiều hạt, ớt này chủ yếu để chế biến ớt bột, thời gian sinh trưởng là 120 – 160 ngày, năng suất bình

quân 5 – 7 tấn/ha

1.1.5 Một số khó khăn trong sản xuất ớt

Sâu hại

Sâu ăn tạp (Spodoptera litura Fab): Ở vườn ươm, cây con hay ruộng

ớt mới trồng, sáng thăm đồng thấy cây con bị cắn ngang thân hay ăn trụi lá; ở

ruộng ớt đã tốt, thấy lá bị ăn còn trơ cành, đó là do sâu ăn tạp phá hoại Sâu ăn thủng lá có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt cây con sau đó sâu chui vào sống trong đất ẩn dưới các kẻ nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất (Mai Văn Quyền và

ctv., 2000)

Sâu xanh đục trái (Heliothis almigera Hubner): Sâu ở phía ngoài thò

đầu vào bên trong phá hoại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, đụt thủng trái

từ khi còn xanh cho đến lúc gần chín làm thối trái (Phạm Hồng Cúc và ctv.,

2001)

Rầy mềm (Aphis gossypii Glover) và Bù lạch (Thrips palmi Karny):

Rầy chích hút làm lá đọt xoăn, cây chùng lại, còn gây hiện tượng lá bị nhỏ, dày cứng (Mai Thị Phương Anh, 1997) Rầy còn là tác nhân truyền bệnh virus cho cây Bù lạch chích cho nhựa cây chảy ra để hút ăn, lá bị bù lạch gây hại sẽ quăn queo, lá non bị biến dạng và bị cong xuống phía dưới Đọt non bị tấn công không phát triển dài ra được mà chùng lại, bù lạch còn truyền bệnh khảm do virus làm

Trang 19

vàng và xoăn lá, cây không chết, ra hoa nhưng không cho trái (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)

Bệnh hại

Bệnh thán thư hay đốm trái (Colletotrichum spp.): Bệnh thường gặp

trong giai đoạn trái già cho đến chín hoặc trái non của những giống mẫn cảm

(Nguyễn Thị Hường, 2004), làm trái mất thương phẩm (Phạm Hồng Cúc và ctv.,

2001) Đây là bệnh nguy hiểm gây thối trái hàng loạt và thường xuất hiện vào các tháng nóng, ẩm (tháng 5; 6; 7) trong năm (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo

Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), vết bệnh lúc đầu hình tròn, úng nước, hơi lõm

xuống, sau đó lan dần ra, tâm vết bệnh có màu nâu đen viền màu nâu xám, bên trong có nhiều vòng đồng tâm và có những chấm nhỏ li ti màu đen nhô lên cao

Bệnh khảm: Do virus, côn trùng chích hút như rầy mềm, bù lạch gây

ra Bệnh thường làm lá đọt nhỏ, xoắn lại, lá không phát triển, lóng ngắn, cây trở nên giòn dễ gãy; bệnh nặng cây còi cọc, hoa bị vàng nhỏ và rụng, cây rất ít trái, trái nhỏ và vặn vẹo; cuối cùng cây có thể bị chết (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)

Bệnh héo cây con (Rhizoctonia solani, Phythophthora sp., Pythium

sp.): Vết bệnh thường xuất hiện ở phần thân ngay trên mặt đất, nấm tấn công vào gốc làm gốc cây bị thối nhũn và cây bị gãy gục, phần cây bên trên vết bệnh vẫn

còn tươi xanh, sau đó cây mới bắt đầu héo (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)

Bệnh héo chết cây (Ralstonia solanacearum): Đầu tiên các lá ngọn bị

héo vào buổi trưa, và tươi lại vào buổi chiều mát, sau vài ngày cây bệnh chết hẳn,

không còn khả năng phục hồi, bộ rễ không phát triển (Phạm Hồng Cúc và ctv.,

2001)

1.2 Bệnh héo xanh trên ớt do vi khuẩn Ralstonia solanacearum

1.2.1 Bệnh héo xanh và thiệt hại

Bệnh héo xanh là một trở ngại lớn cho việc canh tác các cây thuộc họ cà của vùng ôn đới và nhiệt đới Bệnh đã gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng trên khoai tây, thuốc lá, cà chua ở vùng Đông Nam nước Mỹ, Indonesia, Braxin, Colombia, Nam Phi Tại Philippin, 1966 – 1968, bệnh gây thiệt hại 15% trên cây

cà chua, 10% trên cà tím và ớt, 2 – 5% trên thuốc lá (Nelson,2004) Ở Peru, một nửa đồn điền chuối bị nhiễm bệnh, sự lây lan nhanh chống của mầm bệnh đã đe dọa phá hủy toàn bộ nền nông nghiệp ở đây (Lemesa, 2006) Ở nhiều vùng sản xuất cà chua trên thế giới, bệnh héo xanh vi khuẩn đã gây hại khá nghiêm trọng

đến năng suất, có khi tới 95%

Trang 20

1.2.2 Triệu chứng

Triệu chứng thường biểu hiện ngay sau khi vi khuẩn thâm nhập vào cây

Ở cây bị bệnh, ban ngày vào lúc trời nắng, lá mất màu nhẵn bóng, tái xanh, héo

cụp xuống Ở giai đoạn cây con nhiễm bệnh thường làm toàn bộ lá héo rũ nhanh chóng, lá xanh gục xuống, cây chết nhanh Còn ở giai đoạn trưởng thành triệu chứng thường biểu hiện ở những lá phía trên ngọn trước Ở 1 – 2 ngày đầu cây có thể phục hồi lại được vào lúc trời mát và ban đêm, nhưng sau 2 – 3 ngày những

lá héo không thể phục hồi lại được, toàn cây bị héo rồi chết, rễ có màu nâu đen

và thối (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Theo Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng (2003), bệnh thường gây hại nặng và nghiêm trọng nhất là ở giai đoạn cây ra hoa đến hình thành quả non Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1999),

vi khuẩn gây hại mạnh trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao, đặc biệt là trên đất trồng ớt liên tục nhiều năm và pH thấp Ở cây bệnh vỏ thân ở phía dưới sát gốc

xù xì, cắt ngang thân thấy bó mạch dẫn hóa màu nâu hoặc nâu đen, khi ấn mạnh gần miệng cắt có thể thấy dịch nhờn vi khuẩn tiết ra màu trắng sữa

1.2.3 Tác nhân gây bệnh

Ralstonia solanacearum là nguyên nhân gây ra bệnh héo xanh (Smith, 1986; Hayward và Hartman, 1994; Yabuuchi và ctv., 1995) Đây là một tác nhân

gây bệnh có nguồn gốc từ đất, là một nhân tố giới hạn chính trong sự sản xuất

Đặc điểm phân loại của vi khuẩn Ralstonia

Theo Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân (1999), cho đến nay việc phân loại chúng thường dựa vào hai cơ sở phân loại khác nhau:

Nòi: Dựa trên phạm vi ký chủ được chia làm 5 loại:

vùng địa lý khác nhau, đặc biệt trên các cây như họ đậu, họ cà… Vi khuẩn

Ralstonia thường gây hại ở những vùng có nhiệt độ ấm áp và gây hại nặng ở

những vùng cận nhiệt đới

chuối lá, chuối sợi

gây hại ở những vùng có nhiệt độ thấp hơn và những vùng có vĩ độ cao

Dòng: Dựa vào đặc tính sinh lý, sinh hóa khác nhau của các mẫu phân

lập, 5 biovar có thể nhận dạng dựa vào khả năng sử dụng và oxi hóa 3

Trang 21

disaccharides (lactose, maltose, cellobiosezo và 3 loại rượu (mannitol, dulcitol, sorbitol)

Đặc điểm hình thái và khuẩn lạc: Vi khuẩn Ralstonia solanacearum có

hình gậy hoặc hình que, ngắn, là loại vi khuẩn gram âm Trên môi trường nhân tạo khuẩn lạc màu trắng kem nhẵn bóng và nhày Trên môi trường TZC khuẩn lạc giữa màu hồng, rìa trắng Vi khuẩn có thể sống lâu trong đất, trong tàn dư cây

bệnh, cỏ dại… (Chu Thị Thơm và ctv., 2005)

1.2.3 Đặc điểm sinh học

Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1999), vi khuẩn xâm nhập vào cây qua rễ, gốc, thân, qua vết thương, lỗ hở tự nhiên, do côn trùng, kỹ thuật chăm sóc… Sau khi xâm nhập vào rễ, vi khuẩn lan theo bó mạch dẫn, sinh sản phát triển, sản sinh ra các men, độc tố dẫn đến phá hủy các mô tế bào, tắc nghẽn mạch dẫn làm cản trở sự vận chuyển nước, chất dinh dưỡng và nhựa trong cây, dẫn tới cây héo rũ nhanh và chết (Đỗ Tấn Dũng, 2001) Để xác định chính xác có thể dung dao sắc cắt ngang thân cho vào cốc nước trong Một lát sau, tại vết cắt có thấy dịch vi khuẩn màu trắng chảy ra (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2002) Bệnh phát sinh phát triển mạnh và gây tác hại lớn trong điều kiện nhiệt độ cao,

ẩm độ cao, mưa gió nhiều Bệnh thường phát sinh nhiều trên chân đất cát pha,

thịt nhẹ và trên đất đã nhiễm bệnh (có nhiều tàn dư, nguồn bệnh từ vụ trước, năm trước) (Đỗ Tấn Dũng, 2001) Bệnh thường xảy ra vào lúc cây đang tăng trưởng,

ra hoa và đậu trái, xuất hiện rải rác trên một số cây hay từng đám trên ruộng, gây hại nhanh chóng trong điều kiện nhiệt độ cao và ẩm độ đất cao (Phạm Hồng Cúc, 1999) Vi khuẩn gây hại ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây, nhưng nghiêm trọng nhất là thời kỳ ra hoa và đậu trái (Tạ Thu Cúc, 2002)

1.2.4 Sự xâm nhiễm, phát sinh bệnh, khả năng lây lan, lưu tồn và biện pháp phòng trị

Sự xâm nhiễm và phát sinh bệnh: Ghi nhận của Phạm Văn Kim (2000),

bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum có thể xâm nhiễm và gây hại

bằng cách sau:

to) làm tăng độ nhờn của nước và muối khoáng do rễ hấp thu, từ đó làm giảm

đáng kể lượng nước và muối khoáng cung cấp cho phần trên của cây và làm cho

cây héo chết

trong mạch gỗ, bị giữ lại và làm nghẽn mạch gỗ, từ đó nước và muối khoáng

Trang 22

không di chuyển được lên phía trên để cung cấp đầy đủ cho phần trên của cây, cây cũng sẽ héo rồi chết

Theo Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân (1999), thì sau khi xâm nhiễm vào,

vi khuẩn lan rộng theo bó mạch xylem, sinh trưởng phát triển, sinh sản ra men,

độc tố dẫn đến sự phá hủy tế bào, tắc nghẽn mạch dẫn gây cản trở mạch dẫn

nước, chất dinh dưỡng và nhựa cây gây héo nhanh và chết Nghiên cứu về mặt sinh học phân tử, các dòng vi khuẩn có tính độc quyết định bởi các gen độc hrp

Vi khuẩn xâm nhiễm vào rễ, thân cuống lá và qua vết thương cơ giới hoặc những vết thương do côn trùng gây ra… Vi khuẩn cũng có thể xâm nhập vào các bó mạch xylem, sinh sản phát triển trong đó sinh ra các men pectinaza và cenllulaza

để phân hủy mô, sinh ra các độc tố ở dạng exopolysaccarit (EPS) và

lipopolysccarit (LPS) làm tắc mạch dẫn cản trở vận chuyển nước và nhựa trong cây làm cây héo nhanh chóng (Cook, Secqueira, 1991 trích bởi Lê Lương Tề và

Vũ Triệu Mân, 1999)

Khả năng lây lan và lưu tồn: Bệnh gây hại trên 278 loài cây thuộc trên

44 họ thực vật khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là các cây có ý nghĩa kinh tế cao như: Cà chua, khoai tây, thuốc lá, ớt, cà, lạc, vừng, hồ tiêu, đậu tương, dâu

tằm, chuối… (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1999) Theo Bentley và ctv (2003) một số ký chủ chính là: Cà chua (Lycopersicon esculentum), thuốc lá (Nicotiana tabacum), cà tím (Solanum melongena), khoai tây (Solanum tuberosum), chuối (Musa spp.)… Ký chủ phụ: Gừng (Zingiber officinale), thầu dầu (Ricinus communis), lạc (Arachis hypogaea), ớt (Capsicum annuum), khoai

sọ (Colocasia esculenta), cây nghệ (Curcuma longa), cây bông (Gossypium), cây cao su (Hevea brasiliansis), khoai lang (Ipomoea batatas)… Bệnh héo xanh vi

khuẩn lan truyền trên đồng ruộng từ cây này sang cây khác, từ vùng có ổ bệnh sang các vùng xung quanh bằng nhiều con đường khác nhau: nhờ nước tưới, nước mưa, không khí, truyền lan qua hạt giống nhiễm bệnh Ngoài ra, bệnh có thể truyền lan qua tuyến trùng nốt sần hại rễ và qua các hoạt động kỹ thuật chăm

sóc của con người (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003)

Theo Phạm Văn Kim (2000), vi khuẩn Ralstonia solanacearum lưu tồn

trong đất rất lâu Ở đất cát có thể tìm thấy vi khuẩn này ở độ sâu 60 cm Ở đất ruộng ngập nước, vi khuẩn này không lưu tồn bền như đất thoáng khí Do đó đất trồng cà chua hoặc thuốc lá, nếu luân canh với đất lúa thì áp lực của bệnh héo xanh giảm rõ rệt Ở trong đất vi khuẩn có thể bảo tồn sức sống lâu dài tới 5 – 6 năm hoặc 6 – 7 tháng tùy thuộc vào ảnh hưởng của nhiệt độ, loại đất, các yếu tố sinh vật và các yếu tố khác (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1999)

Trang 23

Biện pháp phòng trị

Theo Đỗ Tấn Dũng (2001), để phòng trị bệnh chủ động có hiệu quả nhằm hạn chế tác hại của bệnh héo xanh vi khuẩn cần phải áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp Chọn lọc, sử dụng hạt giống khỏe không nhiễm bệnh, đây là biện pháp có hiệu quả kinh tế cao nhất trong phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn hại ớt hiện nay Tuy nhiên do vi khuẩn có nhiều dòng gây hại nên khả năng kháng bệnh của giống thay đổi theo điều kiện môi trường, công tác chọn giống vì vậy bị giới

hạn (Trần Thị Ba và ctv., 1999) Tiến hành luân canh cây ớt với cây lúa nước, tốt

nhất là trên chân đất 2 lúa 1 màu, không luân canh với các cây họ cà, họ đậu (khoai tây, cà tím, cà pháo, thuốc lá, lạc, vừng,…) Có thể luân canh với một số cây trồng khác không phải là ký chủ của bệnh như ngô, mía…

1.3 Một số kết quả nghiên cứu về bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra

1.3.1 Trong nước

Lê Lương Tề (2002) nghiên cứu “phòng chống bệnh héo xanh vi khuẩn trên ớt có hiệu quả kinh tế cao bằng biện pháp sử dụng rộng rãi các giống ớt kháng bệnh, có năng suất cao ở vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Bắc

nước ta Theo nghiên cứu của Lê Như Kiểu và ctv., (2003) “phát hiện biovar 1 và

5 trong quần thể vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt”

Điều này cho thấy quần thể gây bệnh héo xanh trên ớt ở Việt Nam là rất đa dạng

(có 5 biovar)

Nguyễn Trung Thành (2004) cũng đã thành công trong việc nghiên cứu

“Bước đầu chọn lọc và đánh giá dòng vi khuẩn đối kháng, phân lập từ đất để

khống chế nấm Rhizoctonia solani, Sclerotitum rolfsii, và vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh trên cây cà chua” Các dòng vi khuẩn đối kháng có khả

năng kháng với cả ba tác nhân gây bệnh trong điều kiện In vitro và trong nhà lưới

vi khuẩn đối kháng đã khống chế được bệnh do nấm Sclerotium rolfsii gây ra

1.3.2 Trên thế giới

Tại Đài Loan, bằng phương pháp PCR với cặp primer PS – IS đặc hiệu

với vi khuẩn Ralstonia solanacearum thu thập trên ớt, cà chua, khoai tây, đậu

phộng, cà tím, thuốc lá, dâu tây, chuối và nhiều loại cây trồng khác đều thuộc

race 1 (Yang An Lee, 2001) Phân tích trên 120 dòng vi khuẩn Ralstonia solanacearum phân lập trên ớt, cà chua, khoai tây, cà tím, chuối, gừng và nhiều

loại cây trồng khác từ châu Á, Mỹ, Âu, Phi và châu Đại Dương cho thấy vi

khuẩn Ralstonia solanacearum thuộc division châu Á thường bao gồm biovar 3

và 4, division châu Mỹ thường bao gồm biovar 1 và 2

Trang 24

1.4 Khái quát về nhà màng (Nhà lưới lợp nóc ni lông)

Nhà màng được sử dụng nhằm mục đích bảo vệ cây trồng khỏi những điều kiện thời tiết bất lợi (mưa, mùa đông lạnh), khống chế côn trùng cho sản phẩm

“sạch”, đồng thời bảo vệ thiên địch Năm 2002, đã có nhiều nước trồng rau trong nhà màng như Tây Ban Nha (70.000 ha), Hà Lan (4.300 ha), Mexico (1.520 ha), Canada (870 ha), Mỹ (395 ha) Sản xuất rau nhà màng ở Mexico và Tây Ban Nha thuộc kỹ thuật thấp, còn ở Hà Lan, Canada và Mỹ thuộc loại kỹ thuật cao, cho

năng suất rất khác biệt (Ehred et al., 2003) Ở Việt Nam, nhà lưới lợp nóc ni lông

còn gọi là nhà màng chiếm diện tích khoảng 400 – 500 ha, tập trung tại Lâm

Đồng chủ yếu sản xuất các loại rau hoa cao cấp (Ngô Xuân Chinh, 2005) Cây

trong nhà màng được cung cấp điều kiện tối hảo cả bên trên mặt đất (hệ thống

điều hòa nhiệt độ, ẩm độ không khí và ánh sáng) và dưới mặt đất (nước tưới,

phân bón và oxi cung cấp liên tục sát rễ; môi trường rễ là đất nhân tạo hoặc dung dịch dinh dưỡng còn gọi là trồng rau thủy canh, không cần đất (Joventina, 2002)

Kỹ thuật trồng rau trong nhà màng cho năng suất, chất lượng và hiệu quả cao mặt

dù chi phí cao Nhà màng quy mô lớn được kiểm soát bằng máy tính tỏ ra rất hiệu quả trong việc kiểm soát môi trường canh tác Cũng giống như sản xuất ngoài đồng, IPM vẫn là biện pháp tốt nhất để giảm sử dụng thuốc trừ sâu hóa học Đây cũng là phương pháp sản xuất rau ổn định nhất, có thể trồng quanh năm với quy mô lớn

Theo Nguyễn Quốc Vọng (2002), nguyên tắc sạch của nhà màng là sử dụng càng ít càng tốt các loại thuốc bảo vệ thực vật (dùng thiên địch), tưới nhỏ giọt bằng nguồn nước sạch và trồng trong dung dịch (thủy canh) hoặc bán thủy canh (trên giá thể) và tưới nhỏ giọt Việc sản xuất rau sạch trong nhà màng mang lại một số hiệu quả như dinh dưỡng được cung cấp đầy đủ và liên tục qua rễ nên giảm đi việc mất dinh dưỡng, hiệu quả sử dụng nước tăng gấp đôi, hệ thống cung cấp nước và dinh dưỡng tự động, hiệu quả trồng trọt tăng lên gấp 10 lần (Christian Von Zebeltitz, 1997) Các loại rau thường được trồng trong nhà màng

là cà chua, dưa leo, ớt ngọt Năng suất cà chua trong nhà màng ở Do Thái là 200 – 500 tấn/ha, cao hơn trồng bên ngoài ở điều kiện nước ta từ 10 – 20 lần, thời gian sinh trưởng kéo dài khoảng 10 – 11 tháng thay vì chỉ 3 – 4 tháng

1.4.1 Lợi ích của nhà màng

Theo Christian Von Zebeltitz (1997) thì trồng rau trong nhà màng có một

số lợi ích như sau: Thâm canh cao, năng suất và chất lượng sản phẩm cao, chủ

động trong sản xuất, ngăn chặn sâu hại và giảm thiểu bệnh hại, sử dụng có hiệu

quả phân bón và nước tưới, kéo dài thời gian thu hoạch sản phẩm

Trang 25

Những lợi điểm của nhà màng so với trồng tự nhiên ngoài trời là: Nhà màng ngăn chặn sự xâm nhập của nhiều loại côn trùng, sâu bọ nên không cần thiết sử dụng thuốc trừ sâu độc hại Nhờ các loại thiết kế khác nhau, cây cối được bảo vệ chống lại mọi thời tiết bất lợi như nắng, mưa, gió, bão, sương lạnh Vì vậy

có thể tổ chức sản xuất quanh năm, trái vụ theo kế hoạch và nhu cầu của thị trường Trong nhà màng cây sinh trưởng và phát triển nhanh, thu hoạch sớm hơn bên ngoài 10 – 15% thời gian; nhờ chủ động cải tiến nhiều kỹ xảo canh tác nên năng suất tăng hơn 20 – 30% so với bên ngoài Đặc biệt không gian được khống chế và kiểm soát có điều kiện để thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật khác nhau làm cho rau quả trở nên sạch, an toàn, đạt dưới ngưỡng cho phép các tiêu chuẩn quốc tế về dư lượng thuốc trừ sâu, hàm lượng Nitrat, hàm lượng kim loại nặng và không có vi sinh vật gây bệnh (rau quả tăng phẩm chất, mẫu mã đẹp, không có vết sâu hại, màu sắc tươi thắm) Nhờ đạt tiêu chuẩn rau sạch, nhờ trồng trái vụ, nhờ mẫu mã đẹp, phẩm chất ngon và ổn định nên giá cả sản phẩm trồng trong nhà màng luôn luôn cao hơn bên ngoài (Theo Công ty Gino và Viện nghiên cứu Rau quả Việt Nam, 1995)

1.4.2 Hạn chế của nhà màng

Theo Ngô Xuân Chinh (2005), việc sử dụng nhà màng cũng tồn tại một số hạn chế sau: Giá thành cao, đầu tư phải đồng bộ, đòi hỏi trình độ cán bộ và nông dân phải giỏi Đầu tư cho nhà màng rất tốn kém chủ yếu cho hoạt động và lao

động (25%), nhiệt (28%) và marketing (25%) Quy mô sản xuất từ 8.000 m2

lên

Việt Nam đã sản xuất thử nghiệm một sản phẩm mới “đất sạch” từ mụn

xơ dừa dùng làm giá thể trồng rau bán thủy canh nhằm nâng cao kỹ thuật sản xuất rau sạch cho thị trường quốc nội, đồng thời sửa soạn việc xuất khẩu rau quả

có chất lượng cao ra thị trường nước ngoài, đặc biệt là thị trường Đông Nam Á, Hồng Kông, Nhật Bản, Đài Loan (Nguyễn Quốc Vọng, 2002) Hiện nay Bến Tre

có Công ty sản xuất đất sạch từ mụn xơ dừa: Công ty Coconut Mekông Bến Tre

và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đất sạch

Trang 26

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Phương tiện

2.1.1 Địa điểm và thời gian

- Địa điểm: Nhà lưới nghiên cứu rau sạch, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng (NN & SHƯD), trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT)

2.1.2 Vật liệu

Trách nhiệm hữu hạn Giống cây trồng Trung Nông Cây cao khoảng 80 – 100

cm, có khả năng phân cành mạnh, số trái trên cây nhiều Trái màu đỏ tươi, đầu nhọn, trái hơi cong Giống này có thời gian sinh trưởng trung bình (110 – 115 ngày tùy vụ trồng ), trái dài 10 – 12 cm, đường kính 1 – 1,5 cm, màu đỏ tươi khi chín

trùng tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ Thực vật

các vùng sản xuất ớt tập trung như: Huyện Chợ Mới – An Giang, huyện Thanh Bình – Đồng Tháp, huyện Bình Tân – Vĩnh Long, huyện Giồng Riềng – Kiên Giang Chọn cây ớt có triệu chứng bệnh héo xanh, sát trùng phần gốc bằng cồn

2 – 3 giọt nước cất, quan sát thấy có dịch vi khuẩn màu sữa đục tuông ra thì đó là cây ớt bị bệnh héo xanh Tiến hành thu thập mẫu rễ cây bệnh rồi cho vào túi nilon có dán nhãn Mẫu rễ được giữ ở nhiệt độ lạnh cho đến khi được phân lập tại phòng thí nghiệm Mẫu ớt bệnh được phân lập tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo

vệ Thực vật gồm 6 chủng vi khuẩn

xẻng…

2.2 Phương pháp

2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên 1 nhân tố gồm

7 nghiệm thức là 6 chủng vi khuẩn gây bệnh héo xanh được thu thập tại các vùng

Ngày đăng: 17/09/2015, 16:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  Tựa hình  Trang - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
nh Tựa hình Trang (Trang 11)
Hình  2.1  Bố  trí  thí  nghiệm  trên  ớt  Sừng  Vàng  Châu  Phi  tại  nhà  lưới  Rau  sạch, - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
nh 2.1 Bố trí thí nghiệm trên ớt Sừng Vàng Châu Phi tại nhà lưới Rau sạch, (Trang 27)
Hình 2.2 (a) Ớt Sừng Vàng Châu Phi chuẩn bị chủng bệnh thời điểm 25 NSKG - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
Hình 2.2 (a) Ớt Sừng Vàng Châu Phi chuẩn bị chủng bệnh thời điểm 25 NSKG (Trang 29)
Hình  2.3  Cấp độ  bệnh  héo  xanh  trên  ớt  Sừng  Vàng  Châu  Phi:  (a)  Cấp  độ  1,  (b) - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
nh 2.3 Cấp độ bệnh héo xanh trên ớt Sừng Vàng Châu Phi: (a) Cấp độ 1, (b) (Trang 30)
Hình 3.1 Tỉ lệ bệnh héo xanh (%) của các chủng vi khuẩn trên ớt Sừng Vàng Châu - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
Hình 3.1 Tỉ lệ bệnh héo xanh (%) của các chủng vi khuẩn trên ớt Sừng Vàng Châu (Trang 33)
Hình 3.2 Chỉ số  bệnh  héo xanh của các chủng  vi khuẩn  trên  ớt Sừng  Vàng  Châu - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
Hình 3.2 Chỉ số bệnh héo xanh của các chủng vi khuẩn trên ớt Sừng Vàng Châu (Trang 34)
Hình  3.3  Biểu  hiện  bệnh  héo  xanh  của  ớt  Sừng  Vàng  Châu  Phi  thời  điểm  32 - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
nh 3.3 Biểu hiện bệnh héo xanh của ớt Sừng Vàng Châu Phi thời điểm 32 (Trang 35)
Hình 3.4 Chiều cao thân chính (cm) của ớt Sừng Vàng Châu Phi trên các nghiệm - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
Hình 3.4 Chiều cao thân chính (cm) của ớt Sừng Vàng Châu Phi trên các nghiệm (Trang 36)
Hình 3.5 Chiều cao ớt Sừng Vàng Châu Phi giai đoạn 32 NSKCh: (a) ĐC, - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
Hình 3.5 Chiều cao ớt Sừng Vàng Châu Phi giai đoạn 32 NSKCh: (a) ĐC, (Trang 37)
Hình  3.6  Số  lá  (lá/cây)  của  ớt  Sừng  Vàng  Châu  Phi  trên  các  nghiệm  thức  chủng - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
nh 3.6 Số lá (lá/cây) của ớt Sừng Vàng Châu Phi trên các nghiệm thức chủng (Trang 39)
Hình 3.7 Đường kính gốc thân (cm) của ớt Sừng Vàng Châu Phi trên các nghiệm - đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới
Hình 3.7 Đường kính gốc thân (cm) của ớt Sừng Vàng Châu Phi trên các nghiệm (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w