1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội

92 702 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 6,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và theo cách hiểu này, các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện các hợp đồng về đất đai sẽ được hiểu là tranh chấp đất đai, chẳng hạn tranh chấp về nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

VƯƠNG TIẾN QUYỀN

THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

VƯƠNG TIẾN QUYỀN

THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN THỊ THANH HUYỀN

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Vương Tiến Quyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Phan Thị Thanh Huyền, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thanh Trì, Thanh tra huyện Thanh Trì, Ủy ban nhân dân các xã thuộc huyện Thanh Trì, nhân dân trong vùng nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, tư liệu, bản đồ trong quá trình nghiên cứu luận văn này

Cuối cùng tôi trân trọng cảm ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Vương Tiến Quyền

Trang 5

1.2 Cơ sở thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu của một số nước trên

1.3.3 Tình hình giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn cả

Trang 6

2.2 Nội dung nghiên cứu 32 2.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình quản lý

2.2.2 Thực trạng giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn

2.2.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và

3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình quản lý và sử

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh Trì 35

3.2 Thực trạng giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai huyện Thanh Trì

3.2.3 Đánh giá chung về thực trạng giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất

3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và

Trang 7

3.3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về

3.3.3 Hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính, tăng cường công tác cấp giấy

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.1 Thực trạng dân số và lao động huyện Thanh Trì giai đoạn 2011 - 2013 39

3.3 Thực trạng tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tranh chấp đất đai huyện

3.4 Thực trạng tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tranh chấp đất đai trên địa bàn

3.6 Kết quả giải quyết khiếu nại về đất đai huyện Thanh Trì giai đoạn

3.7 Kết quả đánh giá của người dân về công tác giải quyết khiếu nại về

3.8 Tổng hợp các dạng tranh chấp đất đai huyện Thanh Trì giai đoạn

3.9 Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai giai đoạn 2009 - 2013 63 3.10 Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Thanh Trì giai

3.11 Tổng hợp kết quả giải quyết tranh chấp đất đai và ý kiến, nhận thức

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

3.2 Tăng trưởng kinh tế huyện Thanh Trì giai đoạn 2009 - 2013 38

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với mỗi quốc gia, đất đai là hiện thân của chủ quyền lãnh thổ, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và trở thành nguồn nội lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng Đối với mỗi người dân, đất đai không chỉ là nơi ăn, chốn ở mà còn là tư liệu sản xuất không gì thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, là tư liệu lao động chung trong các ngành sản xuất khác Ở khía cạnh kinh

tế, đất đai đối với mỗi người dân đã và đang trở thành một phương thức tích lũy của cải lâu dài và vững chắc nhất Đất đai không chỉ phục vụ cho các mục đích hiện hữu cho nhu cầu đời sống hàng ngày mà đã trở trở thành loại tài sản đặc biệt, hàng hóa đặc biệt được sử dụng để trao đổi, lưu thông trên thị trường và chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật của thị trường

Xã hội ngày càng phát triển, theo đó, các quan hệ đất đai cũng ngày càng được thiết lập đa dạng và phong phú hơn cả bề rộng lẫn chiều sâu Đặc biệt, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai cũng ngày càng lan rộng nhanh chóng ở phạm vi quy mô cũng như độ phức tạp của nó Kéo theo đó, các tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể tham gia quan hệ cũng phát sinh và phát triển theo chiều hướng đa dạng và phức tạp về tính chất, mức độ và ngày càng phổ biến hơn Dẫu vẫn hiểu và ý thức được rằng, tranh chấp đất đai là hiện tượng xuất hiện bình thường trong đời sống xã hội, ở mọi thời kỳ lịch sử và chúng cũng tồn tại ở bất kỳ chế

độ sở hữu nào, song điều không thể phủ nhận được rằng, ở mỗi quốc gia khác nhau, với chế độ chính trị khác nhau, đặc biệt là với chế độ sở hữu về đất đai khác nhau thì tính chất, đặc điểm của tranh chấp đất đai xảy ra cũng có những đặc điểm không giống nhau, và điều quan trọng hơn là sự chi phối của chủ thể sở hữu đối với việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng về tranh chấp cũng hết sức khác nhau

Nhiều năm nay trên địa bàn đất nước ta, tình hình khiếu nại và tranh chấp đất đai luôn là vấn đề cấp thiết được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm Đảng và Nhà nước đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về vấn đề này Các văn bản đó đã và

Trang 12

đang được triển khai thực hiện, có tác động tích cực đến tình hình khiếu nại, tranh chấp đất đai và giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai Nhờ vậy, nhiều “điểm nóng”, nhiều vụ việc phức tạp đã được giải quyết, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, thời gian gần đây tình hình khiếu nại và tranh chấp đất đai của công dân diễn ra không bình thường, số lượng gia tăng, tính chất phức tạp, trong đó khiếu nại và tranh chấp đất đai chiếm số lượng lớn, khoảng 80% so với các khiếu nại và tranh chấp trong cả nước, có những tỉnh, thành phố riêng về đất đai chiếm số lượng rất lớn như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Thái Bình, Cần Thơ, Hải Dương, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng

Huyện Thanh Trì là một huyện ngoại thành thuộc thành phố Hà Nội, có diện tích tự nhiên 6.292,71 ha, có vị trí thuận lợi cho việc phát triển và giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội Trong những năm gần đây, tình hình quản lý đất đai đã đi vào nề nếp Tuy nhiên, trên địa bàn huyện vẫn còn diễn ra tình trạng người dân khiếu nại và tranh chấp đất đai Xuất phát từ thựctế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội”

3 Yêu cầu của đề tài

- Nguồn số liệu, tài liệu điều tra thu thập phải có độ tin cậy, chính xác, trung thực và khách quan, phản ánh đúng quá trình thực hiện giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

- Những kiến nghị, đề xuất đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với thực tế của địa phương

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận về khiếu nại và tranh chấp đất đai

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm về khiếu nại và tranh chấp đất đai

a Khái niệm về khiếu nại về đất đai

Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật Trong quá trình tiến hành các hoạt động quản lý, các cơ quan Nhà nước ban hành các văn bản, các quyết định quản lý theo thẩm quyền để thực hiện quyền lực Nhà nước, buộc mọi người phải tuân theo Tuy vậy, các văn bản hay quyết định đó có sự sai sót hoặc do cán bộ, công chức thi hành công vụ có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức nên có khiếu nại phát sinh

Vì vậy, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2011)

Từ khái niệm này cho ta thấy: Chủ thể khiếu nại bao gồm: công dân, cơ quan, tổ chức và cán bộ công chức; đối tượng khiếu nại là quyết định hành chính và hành vi hành chính Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được

áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan

Trang 14

hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật

Thực tế, bất kỳ một hành vi vi phạm pháp luật nào cũng có thể dẫn đến khiếu nại, nhưng ở đây, chúng ta nghiên cứu khái niệm khiếu nại ở nghĩa hẹp, có nội hàm được quy định trong Luật Khiếu nại

Nguyên nhân phát sinh khiếu nại có nhiều vấn đề như: Cơ chế chính sách của Nhà nước bất cập, không phù hợp với thực tế; tình hình chính trị, kinh tế xã hội tác động và tạo điều kiện dễ dàng để thực hiện khiếu nại; người khiếu nại không nắm vững các quy định của pháp luật, chính sách của Nhà nước; cán bộ công chức, người thi hành công vụ yếu kém về năng lực trình độ, tha hoá về đạo đức phẩm chất… đều dẫn đến phát sinh khiếu nại

Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý, các cơ quan hành chính nhà nước tác động đến đối tượng quản lý thông qua quyết định hành chính, hành vi hành chính, nên khi quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật là nguyên nhân phát sinh khiếu nại hành chính

Quyết định hành chính trái pháp luật thể hiện chủ yếu là vi phạm về: Hình thức, thủ tục của quyết định hành chính; thẩm quyền ban hành quyết định hành chính; nội dung, phạm vi điều chỉnh của quyết định hành chính Thực tế, một quyết định hành chính trái Pháp luật có thể vi phạm một hoặc cả hai, ba dạng trên, về phương diện pháp lý không chấp nhận bất kỳ một dạng vi phạm nào Tuy nhiên, những khiếu nại về vi phạm pháp luật của quyết định hành chính thường tập trung vào những vi phạm nội dung, phạm vi điều chỉnh của quyết định Bởi vì vi phạm về nội dung, phạm vi điều chỉnh của quyết định hành chính trực tiếp tác động, gây thiệt hại đối với quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

Người thừa hành công vụ có thể có hành vi trái Pháp luật và bị khiếu nại khi thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền, hoặc trực tiếp thi hành các quyết định hành chính Hành

vi hành chính được biểu thị bằng hành động Hành vi hành chính có thể do hành động hoặc không hành động mà vi phạm Pháp luật, khi đó là đối tượng của khiếu nại

Luật khiếu nại chỉ quy định các quyết định hành chính hoặc hành vi hành

Trang 15

chính trái pháp luật trong các cơ quan hành chính Nhà nước, xâm hại đến các quyền, lợi ích công dân, cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ là đối tượng của khiếu nại hành chính

b Khái niệm về tranh chấp đất đai

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chính sách pháp luật đất đai khác nhau, cho dù đất đai là tài sản thuộc sở hữu tư nhân, hay chỉ được giao quyền sử dụng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì ở nước ta, hiện tượng tranh chấp đất đai vẫn xảy

ra phổ biến, diễn biến phức tạp, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và việc sử dụng đất nói riêng, gây ra nhiều bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế - xã hội Nhà nước phải ban hành nhiều quy định pháp luật để giải quyết vấn đề trên Vậy tranh chấp đất đai là gì? Khái niệm này tưởng chừng đơn giản nhưng nhưng lại có nhiều ý nghĩa trong việc phân định thẩm quyền, xác định nội dung cần giải quyết đối với các tranh chấp đất đai

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Tranh chấp: 1 Giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào 2 Bất đồng, trái ngược nhau” (Nguyễn Như Ý, 2001)

Trước khi Luật Đất đai 2003 ra đời, thuật ngữ “tranh chấp đất đai” chưa được chính thức giải thích, mà chủ yếu là chỉ được “hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất Lần đầu tiên tại khoản 26 Điều 4 của Luật Đất đai

2003 đã định nghĩa “tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người

sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” (Quốc hội nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2003)

Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong tranh chấp đất đai là quyền

và nghĩa vụ của người sử dụng đất Nhưng, đây là tranh chấp tổng thể các quyền

và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của người sử dụng đất do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền

và nghĩa vụ mà người sử dụng đất có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay vẫn chưa được chính thức xác định Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được xác định rõ

Trang 16

ràng: chỉ bao gồm người sử dụng đất hay là tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong quan hệ tranh chấp đất đai Chính

sự chung chung này đã khiến cho nội dung của tranh chấp đất đai nhiều lúc được

mở rộng tối đa ở mức độ có thể

Dẫn chiếu tới quy định của Luật Đất đai năm 2003 về giải quyết tranh chấp đất đai có thể thấy, các chủ thể tham gia tranh chấp đất đai chỉ bao gồm những người sử dụng đất Mặc dù, Điều 135 và Điều 136 của Luật Đất đai năm 2003 sử dụng cả hai khái niệm “tranh chấp đất đai” và “tranh chấp quyền sử dụng đất” nhưng khái niệm “tranh chấp đất đai” rộng hơn khái niệm “tranh chấp quyền sử dụng đất” Chính do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam nên nội dung chính của quan hệ tranh chấp đất đai chỉ bó hẹp lại là tranh chấp về quyền sử dụng đất Nhà nước không thừa nhận và đứng ra là một bên chủ thể ngang hàng với người sử dụng đất trong các vụ tranh chấp đất đai Theo đó, nếu người sử dụng đất thấy quyền lợi của mình bị ảnh hưởng bởi các quyết định của cơ quan nhà nước, hành vi hành chính của cán bộ công chức thì có quyền khiếu nại theo thủ tục khiếu nại, tố cáo

Ở một khía cạnh khác, khoản 26 Điều 4 Luật Đất đai 2003 cũng có thể được hiểu ở phạm vi khác Cụ thể, tranh chấp đất đai là tranh chấp về “quyền” và tranh chấp

về “nghĩa vụ” liên quan đến đất đai của người hiện đang quản lý, sử dụng đất với những người có liên quan trong quan hệ đất đai Theo đó, tất cả các giao dịch dân sự giữa các chủ thể mà đối tượng của giao dịch đó là đất đai, quyền và nghĩa vụ về đất đều được hiểu là quan hệ đất đai Và theo cách hiểu này, các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện các hợp đồng về đất đai sẽ được hiểu là tranh chấp đất đai, chẳng hạn tranh chấp về nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất giữa các bên tham gia quan hệ chuyển nhượng - nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hay tranh chấp về quyền yêu cầu trả công trong hợp đồng ủy quyền quản lý, sử dụng đất… Rõ ràng, các tranh chấp dạng này là những tranh chấp dân sự thuần túy, và thực tiễn các vụ việc này đều không được các cơ quan hành chính thụ lý mà được Tòa án nhân dân thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

Trang 17

Định nghĩa tranh chấp đất đai theo khoản 26 Điều 4 Luật Đất đai 2003 do có nội hàm rất rộng nên đã gây nhiều cách hiểu không chính xác Nhiều quan điểm đã đồng tình với cách hiểu rằng, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến quyền sử dụng đất của người sử dụng đất cũng đã từng được quy định cụ thể trong một số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai với tên gọi là tranh chấp liên quan đến quyền

sử dụng đất chứ không phải tranh chấp đất đai một cách chung chung Vì vậy, tranh chấp đất đai cần được hiểu là tranh chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất cụ thể giữa các chủ thể trong hoạt động quản lý, sử dụng đất Các dạng tranh chấp khác đều được hiểu là tranh chấp liên quan đến đất đai và được giải quyết bởi cơ quan Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự

Như vậy, nên hiểu tranh chấp đất đai ở nước ta chính là tranh chấp quyền

sử dụng đất hay bao gồm cả tranh chấp quyền sử dụng đất và các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, vì làm rõ khái niệm tranh chấp đất đai có thể giúp xác định chính xác đối tượng tranh chấp trong tranh chấp đất đai, góp phần áp dụng pháp luật một cách chính xác và thống nhất, góp phần hoàn thiện pháp luật đất đai, tránh được trường hợp quy định của luật này chồng chéo lên quy định của luật kia Hiện nay, ngành tòa án ở nước ta vẫn thống kê các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất vào mục tranh chấp đất đai nói chung Vì vậy theo tôi, tranh chấp đất đai là bao gồm tranh chấp quyền sử dụng đất và tất cả các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất và trong điều kiện của nước ta hiện nay, cũng nên hiểu tranh chấp đất đai chính là tranh chấp quyền sử dụng đất và các tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất thì phù hợp hơn Tóm lại, có thể

hiểu như sau: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về mặt

lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai trong

quá trình quản lý và sử dụng đất đai”

1.1.1.2 Khái niệm về giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai

a Khái niệm về giải quyết khiếu nại về đất đai

Trang 18

Theo quy định Luật Khiếu nại năm 2011 thì giải quyết khiếu nại là việc thụ

lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2011)

Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai: là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị khiếu nại liên quan đến lĩnh vực đất đai để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

b Khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai

Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học, "Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai" (Nguyễn Ngọc Hoà, 1999)

Theo Trần Minh Hương (2007), việc giải quyết tranh chấp đất đai là tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân Trên cơ sở đó, phục hồi các quyền lợi hợp pháp cho bên bị xâm phạm đồng thời bắt buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra

Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Theo Điều 135, Luật Đất đai 2003: Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ

sở (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2003)

Theo quy định của pháp luật hiện hành, có những tranh chấp phải thực hiện hòa giải cơ sở trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết Đó là các tranh chấp đất đai phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau, cụ thể: các tranh chấp về quyền chiếm hữu, quản lý và sử dụng đất; các tranh chấp về tài sản liên quan đến đất đai; các tranh chấp về chuyển quyền sử dụng đất

Xét về bản chất thì đây là những tranh chấp dân sự phát sinh giữa những người

Trang 19

sử dụng đất với nhau trong quá trình sử dụng đất, bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ Nguyên tắc tự do, bình đẳng, thỏa thuận ý chí chi phối các giao dịch dân sự

về quyền sử dụng đất Vì vậy, khi loại tranh chấp này phát sinh thì việc hòa giải được

ưu tiên và khuyến khích áp dụng Hơn nữa, các tranh chấp đất đai phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau ban đầu thường là những bất đồng, mâu thuẫn nhỏ, tính chất đơn giản nên chỉ cần tiến hành hòa giải là có thể hóa giải các mâu thuẫn này mà chưa phải đưa đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết

1.1.1.3 Khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai

Hòa giải là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận,

tự nguyện giải quyết với nhau những tranh chấp, xung đột nhằm giữ gìn sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân (Nguyễn Tiến Sỹ và Phan Thị Thanh Huyền, 2014)

Hoà giải là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác Hoà giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự (The Asian Foundation, 2013)

“Hoà giải tranh chấp đất đai” là một thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp Luật Đất đai Tuy nhiên, thuật ngữ này lại không được giải thích cụ thể trong Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Căn cứ vào quan niệm chung về hoà giải, có thể đưa ra khái niệm về hoà giải tranh chấp đất đai như sau: “Hoà giải tranh chấp đất đai là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp trong sử dụng đất giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác” (The Asian Foundation, 2013)

Hòa giải tranh chấp đất đai đã được cụ thể hóa trong Luật Đất đai năm 1993 (Điều 38): "Nhà nước khuyến khích việc hòa giải các tranh chấp đất đai trong nhân dân Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế ở cơ sở và công đoàn hòa giải các tranh chấp đất đai" (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 1993) Luật Đất đai

2003 (Điều 135) tiếp tục khẳng định: "Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp

Trang 20

đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở" (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2003)

Hòa giải thành công không chỉ đem lại lợi ích vật chất cho các bên tranh chấp mà còn giúp họ giải quyết được mâu thuẫn, xung đột, hàn gắn được tình làng nghĩa xóm, tình anh em, thân tộc, tình cảm bà con khối phố, làng trên xóm dưới, giúp cho các bên thông cảm chia sẻ, bỏ qua quá khứ xích lại gần nhau, cùng nhau hướng tới cuộc sống tốt đẹp, phát triển kinh tế bền vững, góp phần xây dựng xã hội đoàn kết, dân chủ và thân thiện (Nguyễn Tiến Sỹ và Phan Thị Thanh Huyền, 2014)

1.1.2 Các dạng khiếu nại, tranh chấp đất đai

1.1.2.1 Các dạng khiếu nại đất đai

Theo Nguyễn Uyên Minh (2010), khiếu nại về đất đai ở nước ta hiện nay gồm một số dạng chủ yếu sau:

- Khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ tái định cư

Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội đất nước, Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho các dự án phát triển Tuy nhiên, vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho những diện bị thu hồi đất ở nhiều địa phương gặp không ít khó khăn, vướng mắc vì một số lý do sau: Một số dự án chưa

có khu tái định cư hoặc chưa giải quyết tái định cư đã quyết định thu hồi đất ở Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường không đủ để mua nhà ở mới tại khu tái định cư; giá đất bồi thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thị trường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị, khu dân cư nông thôn; tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự hoặc không đủ để nhận chuyển nhượng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp để chuyển sang làm ngành nghề khác Nhìn chung, các địa phương chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án trên cùng địa bàn, một số khu tái định cư đã được lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, giá nhà ở tại khu tái định cư còn tính quá cao nên tiền nhận bồi thường không đủ trả cho nhà ở tại khu tái định cư Các quy định của pháp luật về đất đai để giải quyết vấn đề tái định cư đã khá đầy đủ nhưng các địa phương thực hiện chưa tốt, thậm chí một số địa phương chưa quan tâm giải quyết nhiệm vụ này

Trang 21

dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài

- Khiếu nại về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đây là dạng khiếu nại rất phổ biến hiện nay Dạng khiếu nại này phát sinh một phần từ sai sót của cơ quan có thẩm quyền, như: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai sót về tên chủ sử dụng, sơ đồ thửa đất, diện tích… Có những trường hợp, không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có lý do chính đáng hoặc lý do không rõ ràng Các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết lại không giải thích rõ cho dân hiểu lý do tại sao không cấp giấy Quá trình giải quyết hồ sơ diễn ra chậm, gây phiền hà, sách nhiễu… gây khó khăn cho người sử dụng đất Một nguyên nhân khác là do quy hoạch treo hoặc do người dân không chấp nhận dù lý do không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chính đáng…

- Khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản

lý, sử dụng đất đai

Nội dung khiếu nại này cũng có nhiều dạng Một số bộ phận người dân không nắm rõ về Luật Đất đai và Luật Khiếu nại nên phát sinh tình trạng vi phạm pháp luật hoặc các trường hợp lấn chiếm, vi phạm quy tắc xây dựng Một số người mặc dù khá am hiểu pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, khi bị phát hiện và xử phạt thì ngoan cố khiếu nại Bên cạnh đó, cũng có phần trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết, như: ra quyết định xử phạt sai đối tượng, bị nhầm lẫn, sai tên chủ sử dụng; việc thi hành quyết định xử phạt có sai sót hoặc sai pháp luật; việc ra quyết định không đúng căn cứ pháp luật; việc ra quyết định quá nhẹ hoặc quá nặng (về mức phạt hoặc hình thức phạt) hoặc thiếu trách nhiệm, thiếu khách quan

- Khiếu nại việc giải quyết các tranh chấp về đất đai của các cơ quan nhà nước: Khiếu nại trong lĩnh vực này cũng rất phức tạp và đa dạng như:

+ Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp đòi lại đất cũ: (i) Đòi lại đất, tài sản của dòng họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau, qua các cuộc điều chỉnh

đã giao cho người khác sử dụng; (ii) Đòi lại đất cũ do trước kia thực hiện chính sách

"nhường cơm sẻ áo” của Nhà nước trong những năm 1981 - 1986 (đã nhường đất

Trang 22

cho người khác sử dụng nay họ đòi lại); (iii) Đòi lại đất khi thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp, theo mô hình sản xuất tập thể quản lý tập trung;

+ Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, thừa kế tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất;

+ Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp ranh giới sử dụng đất;

+ Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp nhà đất do đã cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ;

+ Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất;

+ Khiếu nại việc giải quyết tranh địa giới hành chính: Loại tranh chấp này

thường xảy ra giữa 2 tỉnh, 2 huyện, 2 xã với nhau tập trung ở những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, bên cạnh những vị trí dọc theo triền sông, những vùng có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng Các tranh chấp có thể diễn ra ở những nơi có tài nguyên thiên nhiên quý, hiếm, nơi có nguồn lâm thổ sản có giá trị lớn Khi Nhà nước tiến hành phân tách các đơn vi hành chính tỉnh, huyện, thị xã, xã mới thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính diễn ra ở nhiều địa phương trên cả nước …

- Nhóm tranh chấp liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Các tranh chấp đất đai thuộc nhóm này bao gồm: (i) Tranh chấp về việc thu hồi đất

sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế; (ii) Tranh chấp về việc thực hiện phương

Trang 23

án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Nhóm tranh chấp liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Các tranh chấp đất đai thuộc nhóm này bao gồm: (i) Tranh chấp về điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (ii) Tranh chấp về đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ; (iii) Tranh chấp về nghĩa vụ tài chính khi cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ; (iv) Tranh chấp về diện tích đất ghi trong giấy chứng nhận quyền SDĐ

so với diện tích đất thực tế người dân đang sử dụng

- Nhóm tranh chấp về tài sản gắn liền với đất Các tranh chấp đất đai thuộc nhóm này bao gồm: (i) Tranh chấp về chia tài sản chung là nhà, đất của vợ, chồng khi ly hôn; (ii) Tranh chấp về chia thừa kế nhà ở gắn liền với đất

Các tranh chấp đất đai trên đây phát sinh giữa những chủ thể sau: Thứ nhất, tranh chấp đất đai phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau (bao gồm giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau; giữa hộ gia đình, cá nhân với tổ chức; giữa tổ chức với tổ chức) liên quan đến quyền và nghĩa vụ sử dụng đất Các tranh chấp đất đai này mang tính phổ biến và tồn tại ở cả khu vực nông thôn và khu vực thành thị Đặc biệt đối với khu vực ven đô thị nơi có tốc độ đô thị hóa hoặc công nghiệp hóa tăng nhanh làm cho đất đai ngày càng có giá thì loại tranh chấp đất đai này gia tăng cả về số lượng vụ việc cũng như tính chất gay gắt, phức tạp; ví dụ: ở Quận Bình Thủy (thành phố Cần Thơ); huyện Bến Cát (tỉnh Bình Dương); Quận Hải An (thành phố Hải Phòng)

Thứ hai, tranh chấp giữa người SDĐ với cơ quan nhà nước (cơ quan công quyền) liên quan đến việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai bao gồm: (i) Tranh chấp liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; (ii) Tranh chấp liên quan đến việc cấp, đổi, sửa chữa và thu hồi giấy chứng nhận quyền SDĐ Loại tranh chấp này xuất hiện ở cả khu vực nông thôn và khu vực đô thị Nếu không giải quyết dứt điểm, kịp thời các tranh chấp đất đai này dễ dẫn đến việc phát sinh thành “điểm nóng” tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị Tham khảo nghiên cứu của Quỹ Châu Á về tranh chấp đất đai có tính chất công ở Việt Nam để có thêm thông tin về các vụ việc tranh chấp thuộc loại hình này

Trang 24

1.2 Cơ sở thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu của một số nước trên thế giới

- Cơ quan thanh tra (Ombudsman): Cơ quan này độc lập tiến hành giải quyết khiếu nại hành chính và là cấp giải quyết khiếu nại hành chính cuối cùng sau khi người khiếu nại không thoả mãn với kết quả kiểm tra, xem xét lại quyết định đã ban hành của cơ quan có thẩm quyền Khi giải quyết khiếu nại hành chính, cơ quan thanh tra đưa ra báo cáo và kiến nghị đề xuất đối với cơ quan đã ban hành quyết định bị khiếu nại Mặc dù về nguyên tắc, cơ quan đã ban hành quyết định bị khiếu nại không bắt buộc phải thực hiện theo kiến nghị, đề xuất của cơ quan thanh tra nhưng trên thực

tế những đề xuất, kiến nghị này luôn được các cơ quan tôn trọng thực hiện (Nguyễn Văn Quang, 2012).

- Cơ quan giải quyết khiếu nại và trung gian độc lập: Ngoài các cơ quan thanh tra, gần đây ở Vương quốc Anh còn thành lập một số thiết chế khác làm nhiệm vụ giải quyết khiếu kiện hành chính trong một số lĩnh vực, được gọi là cơ quan giải quyết khiếu nại và trung gian độc lập Những thiết chế này chủ yếu thực hiện việc điều tra, xem xét và đưa ra cách thức giải quyết các khiếu nại hành chính; trong nhiều trường hợp, cơ quan này cũng sử dụng các biện pháp trung gian, hoà giải để quyết khiếu nại hành chính giữa người khiếu nại và người bị khiếu nại (Nguyễn Văn Quang, 2012).

- Toà án: Ở Vương quốc Anh, dù có nhiều thiết chế giải quyết khiếu kiện hành chính và người ta thường tìm đến toà án với tư cách là phương thức cuối cùng để giải quyết khiếu kiện hành chính nhưng toà án luôn đứng ở vị trí trung tâm của hệ thống bảo vệ công lí hành chính Trên thực tế, số lượng khiếu kiện hành chính được giải quyết bởi các thiết chế ngoài toà án là tương đối lớn

Trang 25

nhưng con số khiếu kiện hành chính được xét xử tại toà án ở Vương quốc Anh ngày càng gia tăng (Nguyễn Văn Quang, 2012)

Khi giải quyết khiếu kiện hành chính, toà án đóng vai trò kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện chứ không phải là thực hiện giải quyết khiếu nại hành chính Điều này có nghĩa, khi quyết định hành chính được xác định là có nội dung trái pháp luật, toà án sẽ tuyên huỷ quyết định

đó và yêu cầu người đã ban hành quyết định ra quyết định mới trên cơ sở pháp luật (Nguyễn Văn Quang, 2012).

1.2.2 Pháp

Ở Pháp, người dân có thể vừa kiện ra tòa án hành chính đòi hỏi huỷ bỏ các văn bản trái pháp luật (khiếu kiện về tính hợp pháp), đồng thời có thể đòi được bồi thường những thiệt hại mà họ phải gánh chịu Khiếu kiện về tính hợp pháp lại bao gồm bốn loại, ứng với bốn dạng cơ sở pháp lý để khiếu kiện: (1) Khiếu kiện về thẩm quyền ban hành; (2) Khiếu kiện về thủ tục ban hành; (3) Khiếu kiện về lạm dụng quyền lực; và (4) khiếu kiện về vi phạm quy định của pháp luật Đặc biệt, khác với Việt Nam, các văn bản phải hủy bỏ là bất kỳ văn bản nào, dù đó là văn bản pháp luật áp dụng chung hay văn bản hành chính “cá biệt” áp dụng riêng cho từng

cá nhân, và hủy bỏ này có hiệu lực đối với những trường hợp tương tự xảy ra sau này (Lê Vũ Tuấn Anh và cs, 2012)

Khiếu kiện đòi bồi thường áp dụng đối với một loạt hành động hay không hành động của cơ quan nhà nước gây ra thiệt hại cho nguyên đơn Thậm chí, thực

tiễn xét xử của Conseil d’Etat (Tham chính viện - cấp xét xử hành chính cao nhất ở

Pháp) qua nhiều năm cho thấy, trong nhiều trường hợp, các cơ quan nhà nước phải bồi thường ngay cả khi không có yếu tố lỗi, nhưng do những hành động của mình,

cơ quan nhà nước gây thiệt hại cho công dân Một tác giả nhấn mạnh, trên phương diện này, hệ thống tố tụng hành chính của Pháp đã vượt lên trước hệ thống của các nước theo mô hình Anh - Mỹ, nơi tòa án chỉ buộc các cơ quan công quyền bồi thường khi chứng minh được yếu tố lỗi trong hành động gây ra thiệt hại (Lê Vũ Tuấn Anh và cs, 2012)

Về phạm vi áp dụng, dựa trên các cơ sở pháp lý này, Tham chính viện thậm chí

Trang 26

có thể tuyên các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của chính phủ theo quy định tại Điều 37 và Điều 38 Hiến pháp năm 1958 là vô hiệu (Lê Vũ Tuấn Anh và cs, 2012)

1.2.3 Mỹ

Ở Mỹ, khiếu kiện về tính hợp pháp có phạm vi rộng hơn so với ở Anh, xuất phát từ những quy định của Hiến pháp Theo đó, tất cả các văn bản hành chính phải được trải qua trình tự tiền tố tụng, nhưng trong đó phải bảo đảm nguyên tắc đối kháng và tôn trọng quyền của bên bị khiếu nại Nguyên tắc này được ghi nhận trong nhiều đạo luật: Luật về thủ tục khiếu nại hành chính ngày 4/7/1946, được bổ sung bằng Luật ngày 4/7/1966 về quyền tự do thông tin Các đạo luật này buộc cơ quan hành chính nhà nước phải đưa ra căn cứ trong các quyết định của mình và tạo điều kiện để công dân được cung cấp thông tin mà họ cần (Lê Vũ Tuấn Anh và cs, 2012)

1.2.4 Trung Quốc

Ngày 01 tháng 10 năm 1990, sau hơn một năm rưỡi thử nghiệm, Luật tố tụng hành chính Trung Quốc bắt đầu có hiệu lực Trong đó, quy định Trung Quốc không lập ra hệ thống tòa án hành chính mà trong Tòa án nhân dân lập ra các tòa chuyên trách về hành chính và áp dụng thủ tục quy định tại Luật tố tụng hành chính Điều

11 Luật tố tụng hành chính Trung Quốc quy định 8 loại việc thuộc thẩm quyền xét

xử của tòa án Ngoài 8 loại việc này, Luật tố tụng hành chính Trung Quốc cũng dự liệu rằng Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hành chính mà các văn bản luật và pháp quy trao thẩm quyền cho (Nguyễn Thị Anh Thư, 2014)

1.2.5 Hàn Quốc

Hàn Quốc là đất nước theo mô hình nhất hệ tài phán, nghĩa là chỉ có một

hệ thống Tòa án, có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính…; không có một hệ thống tài phán hành chính riêng chuyên xét xử các khiếu kiện hành chính Do không có Tòa án hành chính độc lập nên thủ tục xét xử các vụ án hành chính ở Hàn Quốc có một số nét đặc thù Theo Luật tố tụng hành chính của Hàn Quốc, trình tự tố tụng hành chính chia làm ba giai đoạn: (1) Đơn khiếu nại về một quyết định hành chính của một cơ quan quản lý trước tiên phải do chính cơ

Trang 27

quan đó giải quyết; (2) Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan quản lý hoặc đã quá hai tháng tính từ khi có đơn khiếu nại mà cơ quan bị khiếu nại vẫn không giải quyết, bên khiếu kiện có quyền gửi đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền xét xử để yêu cầu giải quyết Theo quy định của pháp luật Hàn Quốc, Tòa án có thẩm quyền xét xử các vụ kiện hành chính là Tòa án cao cấp; (3) Bất cứ bên nào không đồng ý với cách giải quyết của Tòa án cao cấp đều có quyền kháng

án lên Tòa án tối cao (Nguyễn Thị Anh Thư, 2014)

Nói chung, thủ tục tố tụng phải qua giai đoạn giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước bị kiện là bắt buộc Tuy nhiên, vụ kiện có thể được đưa ra xét xử tại Tòa án mà không cần có quyết định giải quyết của cơ quan đã ra quyết định giải quyết của cơ quan đã ra quyết định hành chính bị kiện trong một số trường hợp Việc đưa vụ kiện ra xét xử nói chung không loại trừ hiệu lực thi hành của quyết định hành chính bị kiện (Nguyễn Thị Anh Thư, 2014)

1.2.6 Singapore

Singapore không có Tòa án hành chính riêng biệt Thông thường các khiếu kiện hành chính được giải quyết ở Tòa thượng thẩm Một số đặc điểm của việc giải quyết khiếu kiện hành chính tại Tòa án tư pháp: (1) Chỉ có Tòa thượng thẩm thuộc Tòa án tối cao mới có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính; còn Tòa sơ cấp không được trao thẩm quyền này; (2) Công dân có quyền khiếu kiện trực tiếp đến Tòa án tư pháp, không cần phải khiếu nại qua cơ quan hành chính nhà nước; (3) Không có thủ tục hòa giải trong tố tụng đối với việc giải quyết các khiếu kiện hành chính Để giải quyết một số vụ việc hành chính đặc biệt, ở Singapore có thành lập các Hội đồng hành chính (Nguyễn Thị Anh Thư, 2014)

1.3 Cơ sở thực tiễn của giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai tại Việt Nam

1.3.1 Cơ sở pháp lý về giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai

1.3.1.1 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai

a Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai

Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, được tạo thành bởi các cơ quan nhà nước Nhà nước thành lập các cơ quan nhà nước đế thực hiện những chức

Trang 28

năng, nhiệm vụ của mình, vì vậy nhà nước trao cho các cơ quan nhà nước những thẩm quyền nhất định Là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước được trao thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong đó có thấm quyền giải quyết khiếu nại

Hiến pháp và các văn bản luật về tổ chức bộ máy nhà nước hầu như không sử dụng thuật ngữ thấm quyền, mà phố biến là thuật ngữ nhiệm vụ và quyền hạn Thuật ngữ thẩm quyền thường được sử dụng trong các văn bản có tính chất chuyên ngành ví dụ tại Mục 1, Chương III của Luật Khiếu nại năm 2011 quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, trong Luật Đất đai Điều 136 quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Thông thường thuật ngữ thẩm quyền được sử dụng khi cần đế xác định những vấn đề, vụ việc thuộc quyền quyết định, giải quyết của một chủ thể nhất định

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước là việc xem xét, xác minh, kết luận và ra quyết định theo trình tự và thủ tục do luật định các khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thấm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận của thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính nói chung Các thấm quyền này được thực hiện khi cơ quan, tổ chức, công dân sử dụng đất thấy lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trong quản lý đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã khiếu nại

Khiếu nại trong quản lý đất đai phản ánh những mâu thuẫn bất bình trong các mối quan hệ xã hội giữa cơ quan nhà nước với công dân, tổ chức sử dụng đất Việc giải quyết khiếu nại nhằm đảm bảo cho mọi quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất và giữa những người sử dụng đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách, pháp luật đất đai

Theo Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 ghi: “Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại” Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai (từ Điều 17 đến Điều 26 Luật Khiếu nại năm 2011) được quy định như sau:

Trang 29

- Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị

xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) là giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người

có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp

- Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình và giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết

- Thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm

quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp

- Thẩm quyền của Giám đốc sở và cấp tương đương là giải quyết khiếu nại

lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp và giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết

- Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là giải quyết khiếu nại

lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình

- Thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, thuộc cơ quan ngang bộ,

thuộc cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ)

Trang 30

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp

- Thẩm quyền của Bộ trưởng là giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định

hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nội dung thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của bộ, ngành đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình

- Thẩm quyền của Tổng thanh tra Chính phủ là giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm

- Thẩm quyền của Chánh thanh tra các cấp: giúp thủ trưởng cơ quan quản

lý nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao; giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật

Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp hoặc kiến nghị người

Trang 31

có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm

- Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ: Lãnh đạo công tác giải quyết khiếu

nại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; xử lý các kiến nghị của Tổng thanh tra Chính phủ; Chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Tóm lại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai quy định Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu (lần đầu) đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản

lý trực tiếp; đồng thời giải quyết khiếu nại (lần hai) đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới trực tiếp

đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết

Việc quy định thẩm quyền giải quyết như vậy là phù hợp với cơ chế quản lý hiện nay, đồng thời tạo điều kiện cho việc giải quyết khiếu nại được nhanh chóng, kịp thời hơn, tạo điều kiện cho việc giải quyết khiếu nại được chính xác, khách quan và minh bạch hơn

b Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Theo Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp

đất đai như sau (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2013)

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

- Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 (Luật Đất đai 2013) và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

- Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không

có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 (Luật Đất đai 2013) thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

Trang 32

+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền; + Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

về tố tụng dân sự

- Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp

có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

+ Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

+ Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

- Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai phải ra quyết định giải quyết tranh chấp Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành Trường hợp các bên không chấp hành

sẽ bị cưỡng chế thi hành

Theo quy định là vậy, tuy nhiên nhiều vụ việc tranh chấp Quyền sử dụng đất các cơ quan Tòa án khi tiếp nhận vụ việc thuộc thẩm quyền đã hướng dẫn cho công dân khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất hoặc trong việc ban hành các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 (vụ việc tranh chấp dân sự chuyển sang khiếu nại hành chính) Trong khi đó, các cơ quan hành chính khi tiếp nhận cho rằng: Vụ việc

về bản chất là tranh chấp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Như vậy, qui định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tưởng rằng đã rõ ràng, nhưng trong thực tế áp dụng lại nảy sinh nhiều bất cập, còn nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau của các cơ quan có thẩm quyền khi tiếp nhận xử lý đơn thư Từ đó công dân, tổ chức phải đi lại nhiều lần và ít nhiều gây bức xúc, giảm niềm tin của nhân

Trang 33

dân và cơ quan Nhà nước Do đó, thẩm quyền giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai cần phải quy định một cách rõ ràng hơn, để khi các cơ quan có thẩm quyền giải quyết áp dụng không có “cơ sở, căn cứ” để đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, tạo hiệu ứng không tốt trong việc vận hành bộ máy Nhà nước

Nói chung, giải quyết tốt, có kết quả một vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất là sự hội tụ đầy đủ nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Trong nhiều yếu tố đó, chính sách, pháp luật quy định về giải quyết tranh chấp đất đai nằm trong hệ thống thượng tầng là rất quan trọng, cần phải được sửa đổi kịp thời, đầy đủ Như thế, mới góp phần giải quyết tốt một trong những quan hệ đất đai đang được xem là nhạy cảm trong thời điểm hiện nay

1.3.1.2 Quy trình giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai

a Quy trình giải quyết khiếu nại về đất đai

Để quyền khiếu nại hành chính được bảo đảm, nhà nước quy định trình tự, thủ tục để giải quyết khiếu nại hành chính Có thể nói giải quyết khiếu nại hành chính là một quá trình bao gồm nhiều khâu kể từ việc tiếp nhận và thụ lý các đơn thư khiếu nại đến việc tiến hành xác minh, kết luận, kiến nghị và ra quyết định giải quyết khiếu nại hành chính của người giải quyết khiếu nại hành chính Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại (Điều 204 Luật Đất đai năm 2013) Vậy, quy trình giải quyết khiếu nại về đất đai thực hiện theo quy trình giải quyết khiếu nại của Luật Khiếu nại năm 2011 (giống với quy trình giải quyết khiếu nại hành chính) Theo Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính gồm các bước sau:

Bước 1: Thụ lý, chuẩn bị xác minh nội dung khiếu nại

Bước 2: Tiến hành xác minh nội dung khiếu nại

Bước 3: Ban hành, gửi, công khai quyết định giải quyết khiếu nại và lập, quản lý hồ sơ giải quyết khiếu nại

Nghiên cứu về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính tại các cơ quan hành chính nhà nước không thể không đề cập đến việc giải quyết các khiếu

Trang 34

kiện hành chính tại toà án

Về giải quyết khiếu kiệ hành chính nói chung, hầu hết các nước sử dụng hai thủ tục là: thủ tục hành chính (do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện bằng thủ tục hành chính) và thủ tục tư pháp (do cơ quan tư pháp - toà án - thực hiện được thực hiện bằng thủ tục tố tụng) Ngoài ra, một số nước còn giải quyết bằng thủ tục tài phán hành chính (vấn đề này một số cơ quan của Việt Nam đã nghiên cứu nhiều năm) Mỗi thủ tục đều có những đặc điểm riêng, có những ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm cần phải được nghiên cứu để hoàn thiện Ớ Việt Nam hiện nay, giải quyết khiếu nại hành chính tại các cơ quan hành chính nhà nước bằng thủ tục hành chính được thực hiện theo Luật Khiếu nại năm 2011 Giải quyết khiếu kiện hành chính bằng thủ tục tư pháp tại toà án được thực hiện theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (nay đã được thay thế bằng Luật Tố tụng hành chính năm 2010 - có hiệu lực từ ngày 01/07/2011) Hai cơ chế giải quyết trên đây hợp thành cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính (bao gồm giải quyết tại cơ quan hành chính nhà nước và tại toà án) Việc nghiên cứu cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay đòi hỏi phải nghiên cứu một cách tổng thể cả việc giải quyết khiếu nại hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước và việc giải quyết khiếu kiện hành chính tại toà án Về bản chất, khiếu nại hành chính là sự xung đột về lợi ích giữa cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan, tổ chức, cá nhân, vì vậy, cần xác định được tính đúng, sai trong sự xung đột đó Trong một nhà nước pháp quyền, việc phán quyết chỉ có thể được thực hiện bằng cơ quan tư pháp độc lập Vì vậy, việc giải quyết khiếu nại hành chính được bảo đảm cả việc giải quyết tại cơ quan hành chính nhà nước và bằng biện pháp khởi kiện vụ án hành chính ra toà án

b Quy trình giải quyết tranh chấp đất đai

* Quy trình giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh

Được quy định tại Điều 89 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể:

- Người có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai nộp đơn tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền

Trang 35

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao trách nhiệm cơ quan tham mưu giải quyết

- Cơ quan tham mưu có nhiệm vụ thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai Hồ sơ giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm:

+ Đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai;

+ Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã; biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp; biên bản cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp hòa giải không thành; biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp;

+ Trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ liên quan đến diện tích đất tranh chấp và các tài liệu làm chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp;

+ Báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp hoặc dự thảo quyết định công nhận hòa giải thành

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh chấp, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan

* Quy trình giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Được quy định tại Điều 89, 90 và 9, Nghị định 43/2014/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, cụ thể:

- Người có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai gửi đơn đến Bộ trưởng

Bộ Tài nguyên và Môi trường

- Sau khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phân công đơn vị có chức năng tham mưu giải quyết

Trang 36

Đơn vị được phân công giải quyết tiến hành thu thập, nghiên cứu hồ sơ; tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp; trường hợp cần thiết trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định thành lập đoàn công tác để tiến hành thẩm tra, xác minh vụ việc tại địa phương; hoàn chỉnh hồ sơ trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai

1.3.2 Khái quát về chủ trương, chính sách của Đảng và công tác chỉ đạo về giải quyết khiếu nại, tranh chấp về đất đai

1.3.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và công tác chỉ đạo về giải quyết khiếu nại và tranh chấp về đất đai

Khiếu nại là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Khiếu nại là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức Do đó, công tác giải quyết khiếu nại không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Thông qua giải quyết khiếu nại Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Vì vậy, giải quyết khiếu nại của công dân là một vấn

đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm Để việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đúng pháp luật, góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc hơn trong giải quyết khiếu nại, Nhà nước ta đã ban hành Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998 Luật này đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004, 2005, hiện nay là Luật Khiếu nại năm 2011 Để phát huy và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cả hệ thống chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 6/3/2002 về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại hiện nay

Tranh chấp, khiếu kiện đất đai đang là một thách thức đối với các cơ quan

Trang 37

nhà nước có thẩm quyền Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cả nước và ở từng địa phương Muốn vậy việc tìm hiểu nhận dạng các nguyên nhân phát sinh (trong đó có những nguyên nhân có tính lịch sử) tranh chấp, khiếu kiện đất đai kéo dài là rất cần thiết trong nỗ lực tìm kiếm, xác lập cơ chế thích hợp

để giải quyết dứt điểm, triệt để loại tranh chấp này

Đổi mới công tác giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai Tiếp nhận ý kiến phản hồi từ tổ chức, cá nhân để hoàn thiện và xây dựng hệ thống quản lý đất đai (thể chế, bộ máy tổ chức) (Khuyết Danh, 2014)

1.3.2.2 Các văn bản, quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước về giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai

a Văn bản do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 21 tháng 5 năm 1996;

- Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng 06 năm 2004 và Luật sửa đổi một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo ngày 29 tháng 11 năm 2005;

- Luật Đất đai năm 2003, 2013;

- Luật Tố tụng dân sự năm 2004;

- Luật Thanh tra năm 2004;

- Bộ Luật Dân sự năm 2005;

Trang 38

- Nghị quyết số 30/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Quốc hội về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước;

- Luật Tố tụng hành chính năm 2010;

- Luật Thanh tra năm 2010;

- Luật Khiếu nại năm 2011;

b Văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành

- Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo;

- Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 04 năm 2005 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung mội số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng 06 năm 2004;

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ

về việc thi hành Luật Đất đai;

- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

- Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo;

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại;

1.3.3 Tình hình giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn cả nước

và thành phố Hà Nội

1.3.3.1 Tình hình giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn cả nước

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác giải

Trang 39

quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai của công dân, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai; đã kịp thời ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ khiếu nại của công dân Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cấp chính quyền địa phương đã

có nhiều cố gắng và tích cực phối hợp giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai, nhiều vụ việc khiếu nại và tranh chấp đất đai đã được giải quyết dứt điểm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý nhà nước về đất đai

Trong năm 2013, cả nước phát sinh 88.457 đơn khiếu nại, trong đó có 40.420

vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước, nội dung khiếu nại hành chính chủ yếu là trong lĩnh vực đất đai (khiếu nại việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện dự án; tranh chấp đất đai; đòi lại đất cũ) chiếm 68,85% số đơn khiếu nại; khiếu nại về nhà ở chiếm 7,08%, khiếu nại về chế độ, chính sách chiếm 5,43%; trong lĩnh vực văn hoá, xã hội và lĩnh vực hành chính khác chiếm 12,17%; khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp chiếm 6,15%; khiếu nại

về Đảng chiếm 0,32% Trong tổng số 4.092 đoàn đông người có 3.355 vụ việc; trong đó có 1.322 vụ việc cũ (chiếm 39,4%); 2.033 vụ việc mới phát sinh (chiếm 60,6%) (Lê Thị Hương Giang, 2014)

Về khiếu nại đông người, các cơ quan hành chính nhà nước tiếp 377.514 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo; có 4.223 lượt đoàn đông người Hầu hết các vụ việc khiếu nại này đều rất bức xúc, khiếu kiện đông người, trở thành điểm nóng cho tình hình an ninh chính trị Tại Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp 20.937 lượt người (703 lượt đoàn đông người) với 5.762 vụ việc; Các Bộ, ngành tiếp 45.344 lượt người, 141 lượt đoàn đông người (trong đó Bộ Tài nguyên và Môi trường 60 đoàn, Bộ Công an 29 đoàn) Các địa phương có số lượt người khiếu nại, tố cáo nhiều: TP Hồ Chí Minh: 48.180 lượt,

Hà Nội: 31.056 lượt, An Giang: 10.058 lượt, Đà Nẵng: 9.772 lượt, Đồng Nai: 9.069 lượt, Thanh Hóa: 8.178 lượt Các địa phương có nhiều đoàn đông người là: Vĩnh Phúc: 430 đoàn, Đắk Nông: 367 đoàn, Hòa Bình: 241 đoàn, Quảng Ninh: 217 đoàn, Hải Phòng: 209 đoàn, Hà Nội: 201 đoàn, Tiền Giang: 127 đoàn, Nam Định: 124

Trang 40

đoàn, Cà Mau: 111 đoàn… Nội dung khiếu nại chủ yếu của các đoàn đông người này

là về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và thường là các vụ việc khiếu nại tồn đọng, bức xúc, kéo dài (Lê Thị Hương Giang, 2014)

1.3.3.2 Tình hình giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn thành phố

Hà Nội năm 2013

Tình hình giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn Thành phố

Hà Nội diễn biến phức tạp Một số trường hợp có tổ chức, có sự liên kết giữa các đoàn, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để kích động, xúi giục, lôi kéo tập trung đông người, mặc áo đỏ có in khẩu hiệu, mang theo băng zôn, biểu ngữ nhằm tạo sức

ép với các cơ quan chính quyền, gây mất an ninh, trật tự công cộng

Lãnh đạo Thành phố đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện tốt công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ việc phức tạp, đông người, tồn đọng; chỉ đạo và trực tiếp đối thoại với công dân, nhất là những vụ đông người, phức tạp; chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực đất đai, giải phóng mặt bằng cho phù hợp với các quy định của pháp luật và tình hình thực tế trên địa bàn Thành phố UBND Thành phố

đã thành lập các Tổ công tác để rà soát và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhằm giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp, tồn đọng tại một số địa bàn

Năm 2013, toàn Thành phố đã tiếp nhận và thụ lý theo thẩm quyền 1.608 vụ khiếu nại, giải quyết 1.448 vụ, đạt tỷ lệ 90% Số còn lại đang trong thời hạn giải quyết theo quy định pháp luật Cụ thể như sau:

- Các xã, phường, thị trấn đã tiếp nhận và thụ lý: 231 vụ khiếu nại; đã kết luận, giải quyết được 211 vụ khiếu nại, chiếm tỷ lệ 90%

- Các quận, huyện, thị xã đã tiếp nhận và thụ lý: 888 vụ khiếu nại; đã kết luận, giải quyết được 801 vụ khiếu nại; chiếm tỷ iệ 90%

- Các sở, ngành đã tiếp nhận và thụ lý: 184 vụ khiếu nại; đã kết luận, giải quyết được 142 vụ khiếu nại chiếm tỷ lệ 81,6%

- Các vụ Thanh tra Thành phố xem xét, kết luận: 305 vụ khiếu nại Đến nay, Thanh tra Thành phố đã kết luận, giải quyết được 294 vụ khiếu nại; chiếm tỷ lệ 94% Kết quả giải quyết cho thấy; khiếu nại đúng 102 vụ (7%); khiếu nại sai 982

Ngày đăng: 17/09/2015, 14:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Sơ đồ và vị trí huyện Thanh Trì - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Hình 3.1. Sơ đồ và vị trí huyện Thanh Trì (Trang 45)
Hình 3.2. Tăng trưởng kinh tế huyện Thanh Trì giai đoạn 2009 - 2013 - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Hình 3.2. Tăng trưởng kinh tế huyện Thanh Trì giai đoạn 2009 - 2013 (Trang 48)
Bảng 3.1. Thực trạng dân số và lao động  huyện Thanh Trì - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.1. Thực trạng dân số và lao động huyện Thanh Trì (Trang 49)
Hình 3.3. Biểu đồ cơ cấu đất đai huyện Thanh Trì năm 2013 - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Hình 3.3. Biểu đồ cơ cấu đất đai huyện Thanh Trì năm 2013 (Trang 62)
Bảng 3.2. Diện tích và cơ cấu đất đai huyện Thanh Trì năm 2013 - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.2. Diện tích và cơ cấu đất đai huyện Thanh Trì năm 2013 (Trang 62)
Bảng 3.3. Thực trạng tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tranh chấp đất đai - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.3. Thực trạng tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tranh chấp đất đai (Trang 64)
Bảng 3.4. Thực trạng tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tranh chấp đất đai trên địa - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.4. Thực trạng tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tranh chấp đất đai trên địa (Trang 65)
Bảng 3.5. Phân loại khiếu nại về đất đai giai đoạn 2009 - 2013 - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.5. Phân loại khiếu nại về đất đai giai đoạn 2009 - 2013 (Trang 67)
Bảng 3.6. Kết quả giải quyết khiếu nại về đất đai    huyện Thanh Trì giai đoạn 2009 - 2013 - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.6. Kết quả giải quyết khiếu nại về đất đai huyện Thanh Trì giai đoạn 2009 - 2013 (Trang 69)
Bảng 3.7. Kết quả đánh giá của người dân về công tác giải quyết - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.7. Kết quả đánh giá của người dân về công tác giải quyết (Trang 71)
Bảng 3.8. Tổng hợp các dạng tranh chấp đất đai huyện Thanh Trì - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.8. Tổng hợp các dạng tranh chấp đất đai huyện Thanh Trì (Trang 72)
Bảng 3.9. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai giai đoạn 2009 - 2013 - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.9. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai giai đoạn 2009 - 2013 (Trang 73)
Bảng 3.10. Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại - thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 3.10. Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm