DANH MỤC BẢNG 2.1 Biểu thuế luỹ tiến từng phần được quy định như sau: 12 2.2 Biểu thuế toàn phần được quy định như sau: 13 3.1 Số lượng cán bộ công chức của chi cục thuế huyện Gia Bình 3
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN QUỐC OÁNH
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
“Quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại chi cục thuế huyện Gia Bình – Tỉnh Bắc Ninh” là trung thực, là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn do Tổng cục Thuế, Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh, UBND huyện Gia Bình, Chi cục Thuế huyện Gia Bình cung cấp
và do cá nhân tôi thu thập từ các báo cáo của Ngành thuế, sách, báo, tạp chí Thuế, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố Các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội,tháng 5 năm 2015
Học viên
Vũ Thị Cúc
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại chi
cục thuế huyện Gia Bình – Tỉnh Bắc Ninh”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp
đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Trước hết em xin nói lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Nguyễn Quốc Oánh, thầy đã giúp đỡ tận tình và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian em thực hiện
đề tài
Học viên xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp và hướng dẫn của các Thầy, Cô giáo trong khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh - Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong suốt thời gian học tập
Tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Cục thuế tỉnh Bắc Ninh, UBND huyện Gia Bình, Chi cục thuế huyện Gia Bình, các ban ngành cùng với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện đã giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Học viên
Vũ Thị Cúc
Trang 42.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế thu nhập cá nhân 4
2.2.4 Tổ chức triển khai và quản lý thuế thu nhập cá nhân 21 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 25 2.3.1 Nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý thuế 25 2.3.2 Nhân tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý thuế 26
Trang 52.4 Cơ sở thực tiễn 27 2.4.1 Văn bản liên quan đến quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 27 2.4.2 Bài học kinh nghiệm trong quản lý thuế thu nhập cá nhân 28
3.1.2 Tình hình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 31 3.1.3 Đặc điểm dân số, lao động, việc làm, thu nhập 32 3.2 Đặc điểm cơ bản về chi cục thuế huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 33 3.2.1 Vị trí, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của chi cục thuế huyện
3.2.2 Cơ cấu tổ chức, nhân lực và trang thiết bị tại Chi cục thuế huyện
4.1 Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
4.2 Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế huyện
4.2.2 Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách thuế 50
4.2.4 Quản lý quá trình quyết toán thuế thu nhập cá nhân 58 4.2.5 Xử lý các trường hợp vi phạm về kê khai và nộp thuế 60 4.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi
Trang 64.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 70 4.4 Định hướng phát triển công tác quản lý thuế TNCN ở Chi cục Thuế
5.2.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế 90 5.2.3 Kiến nghị với UBND huyện Gia Bình và các ban ngành liên quan khác 91 5.2.4 Kiến nghị với Cục thuế tỉnh Bắc Ninh và Chi cục thuế huyện Gia Bình 91
Trang 7ĐTNT Đối tượng nộp thuế
GTGT Giá trị gia tăng
HĐND Hội đồng nhân dân
KKKT&TH Kê khai kế toán thuế và tin học
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 Biểu thuế luỹ tiến từng phần được quy định như sau: 12 2.2 Biểu thuế toàn phần được quy định như sau: 13 3.1 Số lượng cán bộ công chức của chi cục thuế huyện Gia Bình
3.2 Trang thiết bị quản lý thu thuế của chi cục thuế huyện Gia Bình
4.2 Kết quả thực hiện dự toán được giao đối với Thuế thu nhập
4.4 Ý kiến đánh giá của NNT về công tác tuyên truyền văn bản chính
4.5 Ý kiến đánh giá của cán bộ thuế về tác động của công tác tuyên
truyền văn bản chính sách pháp luật thuế TNCN tới ý thức chấp
4.6 Tình hình kê khai thuế TNCN trên địa bàn huyện Gia Bình 55 4.7 Ý kiến đánh giá của NNT về cách xác định thu nhập chịu thuế
4.8 Số thu thuế TNCN theo nguồn gốc phát sinh 57 4.9 Tình hình NNT nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân 58 4.10 Ý kiến của cán bộ thuế về tình hình chấp hành việc kê khai, nộp
4.11 Ý kiến đánh giá của NNT về công tác kiểm tra thuế TNCN 61 4.12 Ý kiến đánh giá của NNT về chuyên môn của cán bộ thuế trong
Trang 94.13 Ý kiến đánh giá của NNT về tinh thần, thái độ của CBT trong quản
4.14 Ý kiến của NNT về công tác quản lý thuế TNCN chung 68
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 3.1 Biến động cơ cấu kinh tế huyện Gia Bình năm 2002 – 2014 32 Biểu đồ 4.1 Biểu đồ biến động số thu thuế TNCN và tổng số thu 44
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của chi cục thuế huyện Gia Bình 36
Trang 11
1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam đã từng bước hội nhập và phát triển cùng các nước trong khu vực và trên thế giới Cùng với sự hội nhập và phát triển về kinh tế, hệ thống chính sách thuế cũng đã từng bước được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế, thể hiện tốt vai trò là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô có hiệu quả của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đó việc ban hành và áp dụng Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009) và ban hành luật thuế sửa đổi bổ sung Luật số: 26/2012/QH13 (Có hiệu lực thi hành từ 01/07/2013) là một bước tiến khá quan trọng trong cải cách chính sách thuế thu nhập nói riêng và chính sách thuế nói chung của Việt Nam
Trong thời gian qua cùng với sự phát triển mạnh của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên đáng kể, thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng Đối tượng nộp Thuế TNCN và hình thức thu nhập của các bộ phận dân cư và người lao động cũng đa dạng Trong những năm tới, thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, các thị trường tài chính, tiền tệ, vốn, lao động
sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn Nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh, có thêm nguồn thu nhập khác nhau Bên cạnh đó, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, một số người nước ngoài làm ăn sinh sống tại Việt Nam và số người Việt Nam có thu nhập từ nước ngoài cũng tăng lên Sự đa dạng và gia tăng thu nhập của các cá nhân trong xã hội sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn Với tình hình đó, thuế Thu nhập cá nhân ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
Thuế TNCN là loại thuế mới ở nước ta, bên cạnh đó nước ta có đặc điểm chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế xã hội chủ nghĩa như hiện nay, vì vậy các hoạt động kinh tế còn chưa đồng bộ với nhau như trình tự trả thu nhập
Trang 12còn dưới nhiều hình thức, thanh toán vẫn được thực hiện chủ yếu bằng tiền mặt
Do đó việc thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân phải được thực hiện theo từng bước đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm Trong thời gian qua tuy
đã có nhiều cố gắng và đạt được nhiều kết quả nhưng công tác quản lý thuế TNCN vẫn còn gặp nhiều vấn đề Ngoài ra, khi triển khai Luật thuế TNCN vào thực tiễn đã bước đầu gặp những vướng mắc nhất định như các văn bản hướng dẫn quyết toán còn chồng chéo, chưa bao quát hết đối tượng nộp thuế dẫn đến bỏ sót số thu, tình trạng trốn thuế diễn ra khá phổ biến, phức tạp và khó kiểm soát do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan lẫn khách quan
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tôi đã tến hành nghiên cứu đề tài : “Quản
lý thuế TNCN tại chi cục thuế huyện Gia Bình – Tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân (TNCN) tại Chi cục thuế huyện Gia Bình, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Chi cục thuế huyện Gia Bình trong những năm tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài tập trung nghiên cứu với các mục tiêu cụ thể sau đây:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế TNCN và quản
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thuế TNCN và công tác quản lý thuế TNCN tại chi cục thuế huyện Gia Bình Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý thuế, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN tại đơn vị nghiên cứu một cách hiệu quả nhất
Trang 142 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam dần được hoàn thiện theo thời gian Từ năm
1991 đến trước năm 2009, để phù hợp với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức Thuế thu nhập với người có thu nhập cao Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này Theo đó, khái niệm thuế TNCN ở Việt Nam cũng được bổ sung đầy đủ hơn:
Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định , không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập
(Nguồn: Nguyễn Xuân Quảng (2009), Giáo trình thuế; Trường ĐH Bách Khoa Hà
Nội, Hà Nội) 2.1.1.2 Đặc điểm của thuế TNCN
Thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm sau:
Một là, Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức động viên mang tính bắt
buộc trên nguyên tắc theo luật định Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập
cá nhân gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước
Hai là, Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp
Trang 15cho người nộp Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp
Ba là, Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…)
Bốn là, Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu Do vậy, người nộp thuế
cũng là người chịu thuế
Năm là, Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá
nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập
có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao
Sáu là, Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội Do vậy, áp dụng thuế suất lũy tiến sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao
Bảy là, Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao
hơn so với các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế thu nhập cá nhân hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế
(Nguồn: Trần Trọng Khoái (2009), Giáo trình Thuế nhà nước; Trường ĐH Kinh
doanh và công nghệ Hà Nội, Hà Nội)
2.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế thu nhập cá nhân vừa mang các vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được
2.1.2.1 Vai trò của thuế TNCN đối với nền kinh tế - xã hội
Vai trò của thuế TNCN đối với nền kinh tế xã hội được thể hiện qua các nội dung sau:
Trang 16- Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, trong đó thuế thu nhập cá nhân là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế thu nhập cá nhân được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp vào thu nhập của các tầng lớp dân cư Do người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần nên thuế thu nhập cá nhân luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người
- Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Thực hiện công bằng xã hội là một trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung, ngoài ra với thuế thu nhập cá nhân cùng với việc thực hiện biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế thu nhập cá nhân đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội
- Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh
tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.Từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất
và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Trang 172.1.2.2 Vai trò của thuế TNCN đối với hệ thống thuế
Vai trò của thuế TNCN đối với hệ thống thuế nói chung được thể hiện qua các nội dung:
- Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác
Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này
- Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau Thuế thu nhập cá nhân còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp nhằm trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
Tóm lại, Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò rất quan trọng đối với sự
phát triển của mỗi quốc gia Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm phát triển
(Nguồn: Nguyễn Xuân Quảng (2009), Giáo trình thuế, Trường ĐH Bách Khoa Hà
Nội, Hà Nội)
2.1.3 Nội dung cơ bản về thuế TNCN
2.1.3.1 Thu nhập chịu thuế
* Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
- Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
Trang 18- Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
* Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
- Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
- Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu
tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội;
- Tiền thù lao dưới các hình thức;
- Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức;
- Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền;
- Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi
vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
* Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
- Tiền lãi cho vay;
- Lợi tức cổ phần;
Trang 19- Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ
* Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm:
- Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế;
- Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán;
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác
* Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:
- Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
- Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở;
- Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước;
- Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản
* Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
- Trúng thưởng xổ số;
- Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại;
- Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino;
- Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác
* Thu nhập từ bản quyền, bao gồm:
- Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ;
- Thu nhập từ chuyển giao công nghệ
* Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
* Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng
Trang 20* Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng
(Nguồn: Quốc hội (2007), Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2007) 2.1.3.2 Thu nhập miễn thuế TNCN
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ
đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau
- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất
- Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất
- Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại,
bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau
- Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường
- Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất
- Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
- Thu nhập từ kiều hối
- Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật
- Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả
- Thu nhập từ học bổng
- Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường
Trang 21khác theo quy định của pháp luật
- Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận
- Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
(Nguồn: Quốc hội (2007), Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2007) 2.1.3.3 Các khoản giảm trừ khi tính thuế TNCN
* Giảm trừ gia cảnh:
- Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú Giảm trừ gia cảnh gồm hai phần sau đây:
+ Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm);
+ Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng
- Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế
- Người phụ thuộc là người mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
+ Con chưa thành niên; con bị tàn tật, không có khả năng lao động;
+ Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng
Chính phủ quy định mức thu nhập, kê khai để xác định người phụ thuộc được tính giảm trừ gia cảnh
(Nguồn: Quốc hội (2007), Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2007 -
Trang 22riêng mức giảm trừ theo quy định tại Thông tư 111/2013/TT-BTC)
* Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo
- Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú, bao gồm:
+ Khoản đóng góp vào tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa;
+ Khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học
- Tổ chức, cơ sở và các quỹ quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều
20, Mục I, Chương II Luật số 04/2007/QH12 phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học, không nhằm mục đích lợi nhuận
(Nguồn: Quốc hội (2007), Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2007) 2.1.3.4.Thuế suất tính thuế TNCN
- Biểu thuế luỹ tiến từng phần
Biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, các khoản giảm trừ
Trang 23- Biểu thuế toàn phần
Biểu thuế toàn phần áp dụng đối với thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng là thu nhập chịu thuế
Bảng 2.2 Biểu thuế toàn phần được quy định như sau:
b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5
đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại khoản 1 Điều
13 của Luật này
Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại khoản
1 Điều 13 của Luật này
20
0,1
e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 2
(Nguồn: Quốc hội (2014), Luật số 71/2014/QH13, ngày 26/11/2014)
2.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân
2.2.1 Khái niệm về quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện một mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi
tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hóa càng cao thì yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên
Thuật ngữ "quản lý" có nhiều cách diễn đạt khác nhau Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động có tổ chức
và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định
Khái niệm quản lý được xem là quá trình "tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”
Trang 24Quản lý là sự tác động có hướng của con người nhằm mục đích biến đổi đối tượng quản lý từ trạng thái này sang trạng thái khác bằng các phương pháp tác động khác nhau
Công tác quản lý cần có ba yếu tố: nhà quản lý, các công cụ quản lý, đối tượng quản lý Sản phẩm của quản lý là các quyết định, các biện pháp, các chỉ thị, các mệnh lệnh để kích thích tăng trưởng và phát triển với hiệu quả cao hơn
Nền kinh tế quốc dân cũng như bất cứ một đơn vị kinh tế nào khác đều có thể coi là một hệ thống quản lý bao gồm hai bộ phận là: Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý (hay nhiều khi còn được gọi là bộ phận quản lý và bộ phận bị quản lý)
Hai bộ phận này có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất Chủ thể quản lý trên cơ sở các mục tiêu
đã xác định tác động đến đối tượng quản lý bằng những quyết định của mình và thông qua hành vi của đối tượng quản lý - mối quan hệ ngược có thể giúp chủ thể quản lý có thể điều chỉnh các quyết định đưa ra
Theo định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công
cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
Khách thể quản lý chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản
lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội
Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp
Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả lớn hơn, năng suất cao hơn trong công việc Thực chất của quản lý con người trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu của
tổ chức với hiệu quả cao nhất
Quản lý là một hoạt động rất phức tạp và phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau Các yếu tố đó tác động đến mội dung, phương thức và công cụ để tiến hành
Trang 25quản lý Một số yếu tố cơ bản cần chú ý là: Yếu tố con người, yếu tố chính trị, yếu tố tổ chức, yếu tố quyền lực, yếu tố thông tin và yếu tố văn hóa
(Nguồn: Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu (2005), Giáo trình quản lý nhà nước về
kinh tế; Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội)
2.2.2 Khái niệm về quản lý thuế TNCN
Quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân, để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra
Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
- Tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Thuế TNCN ở Việt Nam hiện còn đang chiếm tỷ trọng nhỏ trong nguồn thu ngân sách nhưng cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, thuế TNCN sẽ càng ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong nguồn thu ngân sách Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế thu nhập nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước
Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp đến thu nhập của các cá nhân, có thể làm giảm nỗ lực làm việc và gây nên các phản ứng ngay lập tức từ phía đối tượng chịu thuế như hành vi trốn thuế Để tăng cường và ổn định số thu ngân sách Nhà nước trong tương lai, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng cần được chú ý để duy trì và phát triển cơ sở tạo nguồn thu thuế thu nhập của các cá nhân
- Góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư
Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua công cụ pháp luật để tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động này Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các luật thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế
Trang 26này, ý thức chấp hành chính sách thuế sẽ được nâng cao, từ đó tạo thói quen "sống và làm việc theo pháp luật"
- Phát huy tốt nhất vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong nền kinh tế Tuy nhiên việc phát huy những vai trò đó không thể tự nó đạt được mà để có kết quả thì việc thực hiện đó phải thông qua những nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
(Nguồn:http://voer.edu.vn/m/noi-dung-cong-tac-quan-ly-thue-thu-nhap-ca-nhan/8f4a45ab)
2.2.3 Nội dung quản lý thuế TNCN
Quản lý thuế thu nhập cá nhân là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước, việc quản lý này được giao cho cơ quan thuế thực hiện các chức năng của mình theo quy trình và tuân thủ các quy định của Luật quản lý thuế
2.2.3.1 Quản lý đối tượng nộp thuế
Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời là đối tượng nộp thuế Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”
Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nước đó Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp thuế TNCN ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó
Việc xác định đối tượng nộp thuế căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” để tính thuế các khoản thu nhập phát sinh
Để quản lý tốt đối tượng nộp thuế, hàng năm cơ quan thuế phải dự tính được số đơn vị, cá nhân chịu sự chi phối của Luật thuế TNCN để chủ động tổ chức bộ máy và các điều kiện cần thiết cho việc quản lý các đối tượng này
Trang 272.2.3.2 Quản lý cơ sở tính thuế
Việc xác định cơ sở tính thuế là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được đề cập đến trong chính sách thuế TNCN Cơ sở tính thuế hay đối tượng tính thuế là các khoản thu nhập nằm trong diện tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật thuế TNCN Để tính được thuế TNCN, trước tiên phải xác định được những khoản thu nhập nào là đối tượng tính thuế và tính toán thu nhập
đó như thế nào Sau đó, căn cứ vào một số quy định khác trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ… cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế, từ thu nhập tính thuế và thuế suất sẽ xác định được thuế phải nộp
Trước hết, cần xác định các khoản “thu nhập” tính thuế Hiện nay đang tồn tại một số quan niệm về thu nhập như sau:
+ Thu nhập là giá trị nhận được của một pháp nhân hay thể nhân nào đó trong một khoảng thời gian nhất định không phân biệt nguồn gốc phát sinh + Giá trị đó có thể được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay các giá trị vật chất, phi vật chất nhưng có thước đo chung là tiền tệ
+ Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân
Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng thu nhập cá nhân là giá trị một
cá nhân kiếm được trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để tạo ra thu nhập đó
Để quản lý người ta phân loại thu nhập cá nhân theo những tiêu thức nhất định để xác định đối tượng tính thuế:
- Theo đối tượng nộp thuế, người ta chia thu nhập thành thu nhập của cá nhân cư trú và không cư trú
- Theo nguồn tạo ra thu nhập, người ta chia thu nhập thành các loại như thu nhập từ kinh doanh, tiền lương tiền công, đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, bản quyền, nhượng quyền thương mại, thừa kế và quà tặng
Tuy nhiên không phải bất cứ khoản thu nhập nào cũng là thu nhập tính thuế Việc quy định khoản thu nhập phải tính thuế, khoản nào không phải tính
Trang 28thuế phụ thuộc vào tình hình cụ thể và được quy định trong luật Theo quy định của luật sẽ có một số khoản giảm trừ để xác định thu nhập tính thuế
Một nguyên tắc chung khi thực hiện giảm trừ là: Tất cả các chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra TNCN đều được giảm trừ để xác định thu nhập thực nhận được, sau đó trừ tiếp một số khoản mang tính chất xã hội trước khi tính thuế Các khoản giảm trừ được chia thành:
- Các khoản giảm trừ có tính chất kinh tế để xác định thu nhập, cụ thể: + Đối với thu nhập từ các hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch vụ của các hộ kinh doanh cá thể không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp mà chịu thuế thu nhập cá nhân
+ Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, hưu trí, trợ cấp xã hội và các khoản tương đương
Với thu nhập loại này, người ta cho phép trừ ra khỏi thu nhập một mức nào đó gọi là chi phí nghề nghiệp bao gồm: các khoản đóng góp xã hội: bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc và các khoản bảo hiểm bắt buộc khác theo quy định của pháp luật
- Các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội, khoa học, những thu nhập mang tính chất trợ cấp xã hội, giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, người già không nơi nương tựa, người tàn tật và thể hiện sự quan tâm đến đời sống của đối tượng nộp thuế, cụ thể:
+ Giảm trừ gia cảnh khi xác định nghĩa vụ thuế
Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú, bao gồm các khoản như: Giảm trừ cho cá nhân
có thu nhập; Giảm trừ cho người phụ thuộc
+ Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo
Với quy định này, Luật đã khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo Đồng thời, đây cũng chính là một khoản
"chi tiêu qua thuế" của nhà nước, thể hiện ở chỗ một khoản thu lẽ ra được nộp về
Trang 29ngân sách Nhà Nước bây giờ được chuyển sang cho đối tượng thụ hưởng khoản đóng góp từ thiện
2.2.3.3 Quản lý cách tính, phương pháp tính thuế TNCN
Thông thường, thuế TNCN được chia làm hai loại riêng biệt: thuế thu nhập cá nhân theo khoản và thuế thu nhập cá nhân tổng hợp
- Thuế thu nhập cá nhân theo khoản
Đó là thuế thu nhập cá nhân được xác định theo từng nguồn thu nhập, ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau Do đó, tổng số thuế phải nộp chính là tổng số thuế thu nhập mà họ phải nộp theo từng nguồn Thuế TNCN theo khoản tồn tại với hai nguyên tắc: tính thuế độc lập và có phân biệt thuế suất với các loại thu nhập khác nhau Từ đó, có thể cho phép điều chỉnh tăng giảm mức đóng góp về thuế tùy theo nguồn gốc thu nhập, có sự phù hợp giữa kỹ thuật tính thuế với đặc điểm của mỗi loại thu nhập
- Thuế thu nhập cá nhân tổng hợp
Đó là loại thuế được tính trên tổng thu nhập tương ứng với tổng số các khoản thu nhập cộng lại Thông thường, theo cách tính này, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp
Căn cứ để xác định thuế thu nhập cá nhân phải nộp là thu nhập tính thuế
và thuế suất Thuế suất thuế thu nhập cá nhân có thể tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định hoặc được xác định theo thuế suất lũy tiến từng phần, lũy tiến toàn phần hay lũy thoái tùy theo quan điểm về mục đích sử dụng thuế thu nhập
cá nhân của mỗi quốc gia Do đó, phù hợp với mỗi đặc trưng của thuế suất, thuế TNCN lại được tính theo một phương pháp riêng, bao gồm:
- Phương pháp tính thuế theo tỷ lệ: theo phương pháp này, thuế được tính theo thuế suất tỷ lệ Mức thu quy định bằng một tỷ lệ phần trăm của cơ sở thuế và không thay đổi theo quy mô của cơ sở đó
- Phương pháp tính thuế theo lũy tiến từng phần: thuế suất được dùng trong phương pháp này là thuế suất lũy tiến từng phần: thuế suất tăng dần theo từng phần tăng lên của cơ sở thuế Cơ sở thuế được chia thành nhiều bậc theo mức độ tăng dần
Trang 30- Phương pháp tính thuế lũy tiến toàn phần: theo phương pháp này, biểu thuế cũng bao gồm nhiều bậc ứng với mỗi mức tăng lên của thuế suất nhưng toàn
bộ cơ sở thuế được áp dụng một thuế suất chung tương ứng Thuế suất lũy tiến toàn phần cho phép xác định số thuế phải nộp khá đơn giản và nhanh chóng Tuy vậy, cách tính này có nhược điểm là gây ra sự thay đổi có tính chất đột biến về tổng số thuế phải nộp của các đối tượng nộp thuế
- Phương pháp tính thuế với thuế suất lũy thoái: thuế suất được áp dụng trong phương pháp này là thuế suất lũy thoái Đây là loại thuế có tính chất ngược lại với thuế suất lũy tiến, tức là mức thuế suất giảm dần trong khi cơ sở thuế lại tăng dần Nói chung, thuế suất lũy thoái không được áp dụng phổ biến
Hiện nay, trong việc tính thuế thu nhập cá nhân thường có hai dạng quy định: + Dạng 1: Áp dụng mức khởi điểm tính thuế
+ Dạng 2: Không áp dụng mức khởi điểm tính thuế
Theo cách tính thuế này, hầu hết các cá nhân có thu nhập đều phải nộp thuế Nhìn chung, những nước không áp dụng mức khởi điểm lại áp dụng cơ chế suất miễn thu
2.2.3.4 Quản lý thời gian tính thuế
Việc xác định thời gian tính thuế là vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện luật thuế bởi vì thời điểm tính thuế là thời điểm thuận lợi cho công tác quản lý thu cũng như việc kê khai và nộp thuế của người dân và phải chịu đảm bảo giá trị của đồng tiền nộp thuế trước tình trạng lạm phát, đảm bảo việc chi tiêu theo kế hoạch của nhà nước, tránh được việc chiếm đoạt tiền thuế
Thông thường, các nước xác định mức thuế phải nộp từng năm Ưu điểm của việc sử dụng khoảng thời gian năm là đảm bảo nguồn thu nhập thường xuyên của chính phủ để trang trải các chi phí vì các kế hoạch kinh tế - xã hội của chính phủ được đặt ra và thực hiện trong từng năm Dự kiến nguồn thu ngân sách cũng được đặt ra hàng năm Đây là khoảng thời gian hợp lý cho các cơ quan, tổ chức
và cá nhân trên cơ sở hệ thống kế toán ở các doanh nghiệp đơn vị kinh tế hạch toán, quyết toán
Trang 312.2.3.5 Kiểm soát các khoản miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân
Các khoản miễn, giảm thuế đã được quy định rất cụ thể trong luật thuế, tuy nhiên do đối tượng nộp thuế rộng nên việc miễn giảm thuế cho từng đối tượng hết sức phức tạp Chính vì vậy, cần phải quản lý tốt nội dung này để đảm bảo tính công bằng và tính ưu việt của các chính sách thuế do nhà nước quy định
Như vậy, Nhà nước ban hành Luật thuế còn các cơ quan thuế căn cứ vào luật để tổ chức quản lý từng nội dung cho phù hợp với từng đối tượng và điều kiện cụ thể của từng địa phương
2.2.4 Tổ chức triển khai và quản lý thuế thu nhập cá nhân
2.2.4.1 Tổ chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân
Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thuế để quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng như các sắc thuế khác Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng nước, bộ máy quản lý thuế cũng được xây dựng một cách tương ứng Tại nhiều nước cũng như ở nước ta, hệ thống đó bao gồm: cơ quan thuế trung ương, cơ quan thuế cấp tỉnh, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện Chi cục thuế ở cấp quận, huyện là đơn vị cơ sở trực tiếp quản lý thuế trên địa bàn hành chính được phân cấp
Ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế được tổ chức theo các mô hình sau:
- Mô hình tổ chức theo sắc thuế
Là mô hình lấy việc quản lý theo sắc thuế là nguyên tắc bao trùm Theo
đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận (gọi chung là phòng) quản lý một hoặc một số loại thuế cụ thể (Ví dụ: phòng thuế thu nhập cá nhân; phòng thuế thu nhập doanh nghiệp; phòng thuế giá trị gia tăng, phòng thuế tiêu thụ đặc biệt…) Theo
mô hình này, Phòng thuế Thu nhập cá nhân thực hiện quản lý các đối tượng nộp thuế theo nguồn thu nhập bao gồm thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên
- Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế
Là mô hình tổ chức lấy quản lý theo nhóm NNT làm nguyên tắc bao trùm Theo đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận (phòng) quản lý theo từng nhóm NNT Tùy theo việc phân loại nhóm NNT theo quy mô, phân loại theo ngành
Trang 32nghề kinh doanh hoặc theo hình thức sở hữu mà hình thành các phòng quản lý thu thuế theo đối tượng (quy mô) kết hợp với theo ngành nghề kinh doanh của đối tượng đó
Thuế TNCN là một sắc thuế trong số các sắc thuế ảnh hưởng đến rất nhiều đối tượng quản lý liên quan Chính vì vậy, cần có đủ thông tin báo cáo tình hình
sử dụng lao động hàng năm về số lượng NNT chịu thuế TNCN để cơ quan thuế thực hiện tốt chức năng của mình
- Mô hình tổ chức theo chức năng
Là mô hình lấy chức năng quản lý thuế làm nguyên tắc bao trùm Theo đó,
cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định trong quy trình quản lý thuế như: Phòng tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế, Phòng xử lý tờ khai và dữ liệu về thuế, Phòng cưỡng chế và quản lý thu
nợ, Phòng thanh tra kiểm tra thuế…)
Theo mô hình này, việc quản lý thuế TNCN ngày càng đạt hiệu quả cao
do người nộp thuế tự kê khai tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những gì mình đã kê khai Phòng Thuế TNCN chỉ cần dựa vào dữ liệu mà NNT kê khai để thu thuế, nếu phát hiện có sự gian dối trong việc kê khai sẽ tiến hành kiểm tra và xử phạt
2.2.4.2 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế TNCN
Ngoài những quy định của pháp luật, việc thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân đạt được ở mức nào phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế cũng như người nộp thuế Để nội dung của chính sách thuế thu nhập cá nhân đến với mọi người dân trong xã hội,
cơ quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách thuế thu nhập cá nhân Công tác này cần phải được thực hiện trước hết từ cán bộ thuế, sau đó tới mọi người dân
Việc tuyên truyền, phổ biến thuế thu nhập cá nhận được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, phát hành các ấn phẩm, tờ rơi, áp phích, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về thuế thu nhập cá nhân, cụ thể:
+ Đối với cán bộ thuế: Việc tập huấn nghiệp vụ về thuế thu nhập cá nhân
Trang 33cho các cán bộ ngành thuế, nhất là cán bộ cơ sở sẽ giúp cho các cán bộ thuế nắm chắc được chính sách thuế thu nhập cá nhân, từ đó vừa làm tròn trách nhiệm của mình, vừa là một tuyên truyền viên giỏi về thuế TNCN
+ Đối với mọi người dân trong xã hội: công tác tuyên truyền phổ biến về nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân cần phải được phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp dân cư một cách đều đặn, thường xuyên và đầy đủ
2.2.4.3 Tổ chức quản lý thu thuế TNCN
Đây là nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân Muốn thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế TNCN, cần phải xây dựng một đội ngũ cán bộ thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thu thuế TNCN Đội ngũ này cần phải được tổ chức một cách thống nhất, đồng bộ và có khoa học Những nội dung của công tác quản lý thu thuế TNCN bao gồm:
Quản lý đối tượng nộp thuế:
Đây là khâu đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý thu thuế TNCN Quản lý tốt đối tượng nộp thuế sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả của công tác quản
lý thuế TNCN Trong công tác quản lý đối tượng nộp thuế, phải biết chính xác ai
là những đối tượng phải nộp thuế trước khi kê khai thu nhập của họ Do đó, cần giám sát thu nhập của tất cả các đối tượng lao động, từ đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế và nộp thuế bao nhiêu Cơ quan thuế phải tiến hành đăng ký đối tượng nộp thuế Cơ quan quản lý thuế tiến hành cấp mã số thuế cho các đối tượng nộp thuế trên địa bàn quản lý Mỗi đối tượng nộp thuế được gắn với một mã số duy nhất
Quản lý khai thuế TNCN:
Việc khai thuế TNCN có thể được thực hiện dưới hai hình thức:
- Thông qua cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập tính thuế cho các đối tượng nộp thuế làm việc trong đơn vị mình và có thu nhập do đơn vị mình chi trả Sau khi tính thuế và khấu trừ thuế của đối tượng nộp thuế, cơ quan chi trả thu nhập sẽ tiến hành khấu trừ phần thuế phải nộp ra khỏi thu nhập của đối tượng nộp thuế để cơ quan chi trả thu nhập kê khai, tổng hợp số thuế TNCN của
Trang 34tất cả NNT và nộp cho NSNN Đối với phương thức này cơ quan thuế cần tập trung quản lý đối với các cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập
- Đối tượng nộp thuế sẽ trực tiếp kê khai thu nhập của mình và tự tính mức thuế mình phải nộp Sau đó, các đối tượng nộp thuế sẽ đến nộp tờ khai cho
cơ quan thuế và tiến hành nộp khoản thuế vào NSNN tại các điểm thu nộp có chức năng thu thuế
Cơ quan thuế sẽ có nhiệm vụ kiểm soát tất cả các khoản thuế mà các đối tượng nộp thuế phải nộp, đã nộp, để từ đó có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết Đồng thời đó cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp thuế,
cả cho đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế cũng như cơ quan ủy nhiệm thu
2.2.4.4 Tổ chức thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập cá nhân
Đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý thuế Thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện bởi cơ quan thanh tra, kiểm tra chuyên ngành thuế Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà Nước và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế Mục tiêu của việc thanh tra, kiểm tra thuế là phát hiện và xử lý các trường hợp sai trái nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Đồng thời cũng qua quá trình thanh tra, kiểm tra cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện dưới các hình thức và phương pháp khác nhau
Trước hết, về hình thức thanh tra, kiểm tra, gồm có:
- Xét theo thời gian, các hình thức thanh tra, kiểm tra gồm: Kiểm tra thường xuyên; Thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất
- Xét theo phạm vi và nội dung, các hình thức thanh tra, kiểm tra gồm: Thanh tra, kiểm tra toàn diện; Thanh tra, kiểm tra có trọng điểm
Thứ hai, về phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế, gồm có: Phương pháp kiểm tra, đối chiếu; Phương pháp phân tổ, thu nhập các thông tin về sự việc Trên
Trang 35thực tế, người ta cũng có thể kết hợp cả hai phương pháp này trong trường hợp cần thiết
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN Mỗi nhân tố đều
có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và trạng thái của nhân tố đó Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước là phải tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
2.3.1 Nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý thuế
Bộ máy và quy trình quản lý thu thuế TNCN: Là một bộ phận của hoạt động
quản lý thuế nói chung, hoạt đông quản lý thuế TNCN không phải là nhiệm vụ, chức năng của một phòng ban, đơn vị riêng lẻ mà là sự kết hợp đồng thời của các bộ phận trong quy trình thu thuế cũng như của các phòng ban từ trên xuống dưới Quy trình quản lý thu thuế hợp lý, chặt chẽ, bộ máy quản lý hoạt động thống nhất, đồng bộ là một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện tốt công tác quản lý thuế
Điều kiện vật chất, kỹ thuật của cơ quan thuế: Hoạt động quản lý thuế gồm rất
nhiều công việc cụ thể như: liên hệ với ĐTNT, tuyên truyền phổ biến văn bản pháp luật, tiếp nhận tờ khai đăng ký thuế và tờ khai thuế, tiến hành nhập tờ khai đăng ký, cấp mã số thuế, kiểm tra tờ khai thuế, trao đổi thông tin với nước ngoài… Đây đều là những công việc tỉ mỉ, mất nhiều thời gian, đòi hỏi tính chính xác cao, lại đòi hỏi phải được tiến hành nhanh để nắm chắc nguồn thu Do đó, cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ quan thuế ngày càng hiện đại, hoạt động quản lý càng hiệu quả, chính xác, nhanh chóng, vừa tiết kiệm thời gian và chi phí, vừa an toàn và hiệu quả
Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về thuế: Công tác tuyên truyền, phổ
biến kiến thức về thuế giúp người dân kịp thời cập nhật các thông tin, hiểu rõ các quy định và thực hiện chính sách thuế, từ đó nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý thuế Công tác này càng sâu rộng, người dân càng am hiểu kiến thức về thuế, từ đó hỗ trợ cán bộ thuế trong công tác quản lý Ở các nước có công tác tuyên truyền, giải thích, phổ biến kiến thức thuế rộng rãi và hiệu quả, người dân còn cảm thấy tự hào vị được nộp thuế cho NSNN
Trang 36Trình độ và tác phong làm việc, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thuế:Thuế
TNCN là một sắc thuế có tính nhạy cảm cao, đòi hỏi cán bộ thuế phải có chuyên môn, nghiệp vụ cao để giải đáp vướng mắc của ĐTNT, xử lý kinh hoạt trong các tình huống Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghiệp, thái độ cư xử với ĐTNT cũng rất quan trọng Mềm dẻo, linh hoạt nhưng vẫn không trái các quy định của chính sách là yêu cầu không thể thiếu đối với cán bộ quản lý thuế TNCN
2.3.2 Nhân tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý thuế
Chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước: Ở các nước đang phát triển, chính sách
kinh tế vĩ mô của Nhà nước có những tác động quan trọng đối với công tác quản lý thuế nói chung, công tác quản lý thuế TNCN nói riêng Cụ thể, các giải pháp tăng cường quảy lý kinh tế-xã hội như các giải pháp tăng cường quản lý, giám sát hoạt động đầu tư, hoạt động của thị trường chứng khoán; các quy định công khai tài sản thông qua việc kê khai thu nhập; các giải pháp tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế… có tác động tích cực trong việc quản lý và giám sát thu nhập,
và do đó, tạo thuận lợi hơn cho công tác quản lý thuế TNCN
Hệ thống văn bản pháp quy về thuế của Nhà nước: Các văn bản pháp quy về
thuế là cơ sở pháp lý để hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ về thuế và
là căn cứ để kiểm tra, xử phạt những trường hợp vi phạm Nếu hệ thống văn bản này đầy đủ, hoàn chỉnh, dễ hiểu sẽ tăng thêm tính khả thi của loại thuế đó, ngược lại nếu
hệ thống văn bản này không đầy đủ, không hoàn chỉnh, khó hiểu, không thống nhất sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý thu thuế Đặc biệt đối với thuế TNCN, loại thuế có tác động rất lớn đến các ĐTNT thì hệ thống càng đòi hỏi phải chặt chẽ và hoàn chỉnh
Điều kiện kinh tế, môi trường pháp lý của mỗi nước: Điều kiện kinh tế có ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý thuế TNCN Như đã biết, thuế TNCN đánh trực tiếp vào thu nhập của mỗi cá nhân Ở các nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao nên thuế TNCN chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng thu ngân sách Điều
đó đồng nghĩa với việc người dân sống trong điều kiện đầy đủ, mức sống cao sẽ có khả năng đóng thuế TNCN cao hơn Điểm đặc biệt quan trọng là ở các nước phát triển, với điều kiện khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý cao, lượng tiền mặt dùng trong lưu thông rất nhỏ; hầu như mọi cá nhân đều có tài khoản ở ngân hàng, việc
Trang 37thanh toán chủ yếu được thực hiện qua ngân hàng nên mọi khoản thu chi của cá nhân đều được quản lý dễ dàng Việc tính và thu thuế TNCN trở nên dễ dàng hơn, công tác quản lý thu thuế cũng thuận lợi hơn
Môi trường pháp lý của mỗi quốc gia cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế: Một quốc gia có môi trường pháp lý hoàn chỉnh sẽ giúp việc thực hiện nghĩa vụ
thuế đối với Nhà nước của người dân tốt hơn do ý thức của người dân cũng như tính cưỡng chế của thuế cao, không có khe hở để các đối tượng có thể trốn thuế Ngược lại, sự thiếu hụt trong các quy định về quản lý cũng như các biện pháp cưỡng chế thuế
sẽ làm giảm đáng kể tính tuân thủ của các ĐTNT và do đó làm cho công tác quản lý
thuế đạt hiệu quả không cao
Trình độ hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của người dân: Trình độ hiểu
biết của dân cư về thuế TNCN là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện hoạt động quản lý thuế TNCN Nếu người dân nắm được chính sách thuế, có ý thức tuân thủ pháp luật thuế và thực hiện theo các yêu cầu đã đặt ra sẽ giúp công tác quản
lý của cơ quan thuế trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn Ngược lại, nếu như người dân kém hiểu biết sẽ gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý
2.4 Cơ sở thực tiễn
2.4.1 Văn bản liên quan đến quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Nội dung quản lý thuế TNCN tại Cục thuế và các chi cục thuế gồm: Đăng
ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Để thực hiện công tác quản lý thuế đúng quy định của luật quản lý thuế Tổng cục trưởng Tổng cục thuế đã ký các quyết định về việc hướng dẫn các bước công việc quản lý thuế theo từng nội dung do vậy các quy trình được ban hành
Các văn bản liên quan đến công tác quản lý thuế TNCN:
- Luật quản lý thuế số 78/2006/QH 11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội khóa XI;
- Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc
Trang 38hội khóa XII;
- Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật thuế TNCN
- Quy trình quản lý đăng ký thuế theo Quyết định số 443/QĐ-TCT ngày 29/4/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế;
- Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế theo Quyết định số 422/QĐ-TCT ngày 22/4/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế;
- Quy trình tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế theo Quyết định số 1188/QĐ/TCT ngày 03/11/2005 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế;
- Quy trình tiếp công dân nhận và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân tại cơ quan thuế các cấp theo Quyết định số 2586/QĐ-TCT ngày 22/12/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế;
- Quy trình kiểm tra thuế theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29/5/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế;
- Quy trình miễn giảm thuế theo Quyết định số 598/QĐ-TCT ngày 29/5/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế;
- Quy trình hoàn thuế theo Quyết định số 490/QĐ-TCT ngày 22/5/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế;
- Quy trình quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế theo Quyết định số TCT ngày 15/5/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế
477/QĐ-2.4.2 Bài học kinh nghiệm trong quản lý thuế thu nhập cá nhân
2.4.2.1 Bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Qua nghiên cứu và phân tích thu nhập cá nhân ở một số nước trên thế giới,
có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như sau:
Thứ nhất, về phương pháp đánh thuế: lựa chọn phương pháp đánh thuế
hỗn hợp, kết hợp cả hai hệ thống đánh thuế theo từng nguồn và đánh thuế trên tổng thu nhập
Thứ hai, về đối tượng nộp thuế Việt Nam nên sử dụng tiêu chí "cư trú" và
"nguồn" để xác định đúng đắn đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế
Trang 39Thứ ba, về thu nhập chịu thuế Kinh nghiệm thế giới cho thấy cần phải xác
định một diện thu nhập chịu thuế thật rộng, tất cả các khoản thu nhập về mặt pháp
lý thuộc sở hữu cá nhân phải đưa hết vào diện chịu thuế TNCN Đồng thời phải hạn chế bớt những khoản miễn trừ
Thứ tư, về thuế suất Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thuế suất càng cao, thì
tổn thất đối với xã hội càng lớn Vì vậy, biểu thuế suất nên áp dụng từ 4 - 6 bậc, vừa đơn giản, phù hợp với trình độ của người dân, đồng thời vừa đảm bảo sự phân phối công bằng
Thứ năm, về quản lý và thực thi thuế thu nhập cá nhân Kinh nghiệm của
thế giới đã chỉ ra rằng trong việc quản lý thuế thu nhập cá nhân cần kết hợp cả hai phương pháp: khấu trừ tại nguồn và tự kê khai, cần dành tính tự chủ cao cho người nộp thuế và có biện pháp xử phạt thật cao đối với các hành vi trốn, gian lận thuế thu nhập cá nhân
(Nguồn: Phạm Thị Phương Mai (2008), Thuế TNCN: kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế chính trị, Trường Đại
học Kinh tế.) 2.4.2.2 Bài học kinh nghiệm của một số cơ quan thuế ở Việt Nam
Tại Cục thuế TP Hồ Chí Minh trong năm 2014 đã thực hiện tốt công tác khai thác dữ liệu trên cơ sở dữ liệu kết hợp với công tác thanh tra, kiểm tra đã truy thu hàng tỷ đồng thuế TNCN đối với thu nhập của các ca sỹ sinh sống trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Lý do chính là do các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật không kê khai đầy đủ các nguồn thu nhập của mình Cụ thể: năm 2014 Cục thuế đã mời một số văn nghệ sĩ đến kê khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân
từ năm 2009-2014 Kết quả 7 cá nhân bị truy thu tổng cộng 4,4 tỷ đồng
Ngoài giới nghệ sĩ, theo đại diện Cục Thuế, nhiều đối tượng khác như bác
sĩ, giảng viên, người có thu nhập cao sau khi được mời đến, đã tự giác kê khai
và nộp thêm khoảng 35 tỷ đồng vào ngân sách năm 2014
(Nguồn:http://vov.vn/kinh-te/truy-thu-44-ty-dong-thue-tu-7-nghe-si-386758.vov)
Trang 40Tại Cục thuế TP Hà Nội và một số Cục thuế qua công tác kiểm tra trước khi hoàn thuế TNCN đã phát hiện một số trường hợp cá nhân có thu nhập từ nhiều nơi nhưng vẫn uỷ quyền cho cơ quan chi trả thu nhập quyết toán thuế và hoàn thuế, trong khi đó nếu cộng thu nhập từ tất cả các nơi lại thì cá nhân này phải tự quyết toán và phải nộp thêm tiền thuế TNCN Lý do do NNT không nắm bắt chính sách hoặc cố tình không thực hiện đúng quy định để trốn thuế