Năm 2010 doanh thu của các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ đạt trên 17 nghìn tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã đầu tư lại nền kinh tế với số tiền trên 35 nghìn tỷ đồng, ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP &PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUỐC OÁNH
Hà Nội - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Huy Thắng
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của mình, ngoài sự
nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều
cá nhân và tập thể
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh; Học viện Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy giáo TS Nguyễn Quốc Oánh đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Công ty Bảo Minh Bắc Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Huy Thắng
Trang 42.1.2 Đặc trưng và vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ 6
2.1.4 Hoạt động chính của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 17 2.1.5 Nội dung quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm gốc của doanh
2.1.6 Nhân tố tác động tới quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm gốc
Trang 52.2.1 Kinh nghiêm quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm gốc ở một
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm gốc ở
3.1.2 Tình hình cơ bản của Công ty Bảo Minh Bắc Ninh 44
4.1 Hệ thống quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ tại
4.2 Quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ Bảo Minh Bắc Ninh 62 4.2.1 Chính sách phí bảo hiểm, hoa hồng đại lý 62 4.2.2 Kết quả thu bảo hiểm phi nhân thọ trong giai đoạn 2012-2014 69
4.3 Quản lý chi bảo hiểm phi nhân thọ Bảo Minh Bắc Ninh 78 4.3.1 Thực trạng chi bảo hiểm phi nhân thọ trong giai đoạn 2012-2014 78 4.3.2 Hoạt động tuyên truyền, đề phòng tai nạn hạn chế tổn thất 81 4.3.3 Công tác chuẩn bị tiền bồi thường cho khách hàng 83 4.3.4 Quản lý khâu tiếp nhận thông tin tai nạn, giám định, bồi thường 84
Trang 64.3.5 Công tác hạn chế trục lợi bảo hiểm 89 4.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lý thu và chi bồi thường bảo
hiểm phi nhân thọ tại công ty Bảo Minh Bắc Ninh 93 4.4.1 Trình độ và năng lực của lực lượng lao động 93
4.5.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại
4.5.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình đội ngũ nhân sự của Bảo Minh Bắc Ninh 50 3.2 Nguồn vốn của Công ty Bảo Minh Bắc Ninh 51 3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Bảo Minh Bắc Ninh
4.1 Đánh giá của khách hàng về giá thành của bảo hiểm phi nhân thọ theo loại hình bảo hiểm tại thị trường tỉnh Bắc Ninh 66 4.2 Đánh giá của khách hàng về giá thành của bảo hiểm phi nhân thọ theo khu vực tại thị trường tỉnh Bắc Ninh 66 4.3 Tỷ lệ chi hoa hồng cho hệ thống tổ chức khai thác bảo hiểm 68 4.4 Doanh thu bảo hiểm gốc Bảo Minh Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 714.5 Doanh thu từ các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ của Bảo Minh
4.6 Chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch của doanh thu 74 4.7 Hệ số thu đủ phí bảo hiểm các năm 2012-2014 75 4.8 Chi bồi thường bảo hiểm gốc Bảo Minh Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 794.9 Chi bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểm gốc Bảo Minh Bắc Ninh
4.10 Chi phí chi đề phòng và hạn chế tổn thất giai đoạn 2012-2014 81 4.11 Đánh giá của khách hàng về hoạt động tuyên truyền, đề phòng tai
4.12 Đánh giá của khách hàng về hoạt động chuẩn bị tiền bồi thường
Trang 84.13 Đánh giá của khách hàng về khâu tiếp nhận thông tin tai nạn, giám định, bồi thường cho khách hàng của Bảo Minh Bắc Ninh 89 4.14 Số vụ gian lận, trục lợi bảo hiểm từ năm 2012-2014 của Bảo
4.16 Năng lực cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của công ty tính đến
4.17 Nhận biết tính chất quan trọng của bảo hiểm phi nhân thọ 96 4.18 Mức độ tin tưởng của khách hàng vào bảo hiểm phi nhân thọ 96 4.19 Đánh giá của khách hàng về lợi ích kinh tế khi rủi ro của bảo
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty Bảo Minh Bắc Ninh 48 4.1 Quy trình quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ tại
4.2 Hệ thống tổ chức khai thác bảo hiểm phi nhân thọ tại Bảo Minh
4.3 Quy trình tiếp nhận thông tin, giám định bảo hiểm tại Bảo Minh
Trang 10Phần I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua kinh tế xã hội Bắc Ninh không ngừng phát triển,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá từng bước nâng cao hiệu quả, tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hoá nhanh, thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
Cùng với sự phát triển đó, các công ty bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng đã có những đóng góp thiết thực nhằm đảm bảo đời sống kinh tế xã hội, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ, phục vụ khách hàng, giải quyết bồi thường, nhận thức của người dân về bảo hiểm cũng được cải thiện đáng kế Ngành bảo hiểm cũng đã thực hiện tốt vai trò là kênh huy động vốn quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tạo việc làm cho xã hội
Sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam trong những năm qua là một xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, với tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân hàng năm đạt trên 20%/năm trong 10 năm qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã lớn mạnh nhanh chóng Năm 2010 doanh thu của các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ đạt trên 17 nghìn tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã đầu tư lại nền kinh tế với số tiền trên 35 nghìn tỷ đồng, chi trả cho khách hàng bị rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm số tiền trên 7 nghìn tỷ đồng Trong 3 tháng đầu năm
2014, tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ ước đạt 6.400 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2013 (Bộ Tài chính, 2014)
Sự tăng trưởng cao về doanh thu, chi phí và gia tăng số lượng nghiệp vụ bảo hiểm đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải xây dựng đồng bộ và hoàn thiện các quy trình quản lý doanh thu và chi phí
Thời gian qua thị trường bảo hiểm đã chứng kiến nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng “nóng” doanh thu trong khi công tác quản
Trang 11lý chưa chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng cán bộ, đại lý thu phí bảo hiểm nộp chậm, không nộp về Công ty trong khi hợp đồng bảo hiểm vẫn cấp cho khách hàng Nhiều trường hợp khách hàng bị rủi ro mới tham gia bảo hiểm, cán bộ bảo hiểm làm hồ sơ khống rút tiền từ các Công ty với số tiền hàng trăm tỷ đồng đã gây thiệt hại lớn về tài chính, uy tín cho doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển chung của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
Công ty Bảo Hiểm Bảo Minh là một doanh nghiệp Bảo Hiểm phi nhân thọ có doanh thu tăng trưởng đều qua các năm và đang gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý thu và chi bồi thường hiểm phi nhân thọ
Xuất phát từ lý do trên, lựa chọn đề tài “Hoàn thiện quản lý thu và chi bồi thường Bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Minh Bắc Ninh” sẽ góp
phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các nhà quản lý liên quan và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở lý luận và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu
và chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty Bảo Minh Bắc Ninh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý thu và chi bồi thường bảo
hiểm phi nhân thọ
- Phân tích thực trạng quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Minh Bắc Ninh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Minh Bắc Ninh
Trang 121.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty Bảo Minh Bắc Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Hoàn thiện quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm gốc, đánh giá chung những tồn tại và phân tích nguyên nhân Từ đó đề xuất những giải pháp mang tính chất định hướng hoàn thiện quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ của công ty Bảo Minh Bắc Ninh
- Về thời gian: Khảo sát quá trình phát triển thu qua từng quý, năm cũng như công tác chi bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ của công ty Bảo Minh Bắc Ninh từ năm 2010 – 2013
Thời gian thực hiện đề tài : Từ tháng 05/2014 đến tháng 03/2015
- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 13Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Bảo hiểm
Bảo hiểm là một sự thỏa thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra (Nguyễn Văn Định, 2008)
- Thỏa thuận hợp pháp về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng và hợp pháp về các nội dung ký kết trong hợp đồng Ví dụ các điều kiện bảo hiểm, mức phí phù hợp với quy định của pháp luật Các bên tham gia ký kết hợp đồng phải có đầy đủ tư cách pháp lý
- Người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm đại diện cho cả cá nhân hoặc tổ chức ( hội, nhóm, công ty…có đăng ký chính thức) Ở Việt Nam, chỉ có các công ty có đăng ký và được cấp phép thì mới được kinh doanh bảo hiểm Bởi vậy, người bảo hiểm ở đây chỉ bao gồm các công ty bảo hiểm Nhu cầu an toàn đối với các cá nhân và tổ chức xã hội là vĩnh cửu Lúc nào con người cũng tìm cách để bảo vệ chính bản thân và tài sản của mình trước những bất hạnh của số phận, những biến cố bất ngờ xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, lao động và học tập… Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia bảo hiểm cho chính anh ta hoặc người thứ ba Điều này có nghĩa là người tham gia bảo hiểm chuyển giao hậu quả của rủi
ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ Khi người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm
Trang 14dùng quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký và thoả thuận với người bảo hiểm
Vậy bản chất của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người tham gia từ đó khôi phục và phát triển sản xuất đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế đất nước Bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi tai nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, nghĩa là không ai tham gia cũng được phân phối và phân phối với số tiền như nhau Phân phối trong bảo hiểm là phân phối cho số ít người tham gia bảo hiểm không may gặp rủi ro bất ngờ, bất khả kháng và không lường trước được gây thiệt hại đến đời sản xuất và đời sống trên cơ
sở mức thiệt hại thực tế và điều kiện bảo hiểm Điều đó có nghĩa là phân phối trong bảo hiểm không mang tính chất bồi hoàn, tức là dù có tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm chung nhưng không tổn thất thì không được phân phối (Nguyễn Văn Định, 2008)
2.1.1.2 Bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ là một trong hai loại hình bảo hiểm thương mại Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thỏa thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến sinh mạng và sức khỏe của con người
Bảo hiểm phi nhân thọ là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là bảo hiểm nhân thọ, là loại hình bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ chi trả bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra liên quan đến tổn thất về vật chất và tai nạn con người, trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm (Nguyễn Văn Định, 2008)
Trang 152.1.2 Đặc trưng và vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ
2.1.2.1 Đặc trưng của bảo hiểm
- Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình: Sản phẩm bảo hiểm, về
bản chất là một dịch vụ, một lời hứa, một lời cam kết mà công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng Khách hàng đóng phí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai (Nguyễn Văn Định, 2009)
Khác với sản phẩm vật chất mà người mua có thể cảm nhận được qua cac giác quan, người mua sản phẩm bảo hiểm không thể chỉ ra màu sắc, hình dáng, kích thước hay mùi vị của sản phẩm Họ cũng không thể cảm nhận được bằng các giác quan như cầm nắm, sờ mó, ngửi hoặc nếm thử…
Để khắc phục những khó khăn đó, cũng là để củng cố lòng tin của khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm tìm cách tăng tính hữu hình của sản phẩm: chú ý những lợi ích có liên quan đến dịch vụ; sử dụng những người nổi tiếng, có uy tín tuyên truyền dịch vụ; phát triển hệ thống đại lý chuyên nghiệp; xây dựng uy tín của công ty bảo hiểm; tăng cường vai trò quan trọng của hoạt động marketing Như vậy, lòng tin và chất lượng dịch vụ khách hàng chính là chìa khóa để bán sản phẩm bảo hiểm
- Bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược
Khác với chu trình sản xuất hàng hóa thông thường, khi giá cả được quyết định sau khi đã biết được chi phí sản xuất ra hàng hóa đó Như vậy, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hữu hình phải bỏ vốn ra trước, mua các máy móc, nguyên vật liệu, thuê nhân công thì mới sản xuất ra sản phẩm và thực hiện quy trình đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, khi sản phẩm đó bán được doanh nghiệp mới thu tiền về, trong khoản tiền này bao gồm cả vốn doanh nghiệp bỏ ra và lãi doanh nghiệp nhận được Còn doanh nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn trước, họ nhận phí bảo hiểm trước của người tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên được bảo hiểm khi xảy ra sự
Trang 16cố bảo hiểm Do vậy, không thể tính được chính xác hiệu quả của một sản phẩm bảo hiểm vào thời điểm bán sản phẩm (Nguyễn Văn Định, 2009)
Thông thường, hợp đồng bảo hiểm được coi là có hiệu lực ngay sau khi
có sự chấp nhận của Người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm đầy đủ theo hợp đồng Phí bảo hiểm mà khách hàng đóng khi ký hợp đồng chính là giá bán một hợp đồng bảo hiểm Công ty bảo hiểm bán bảo hiểm tai nạn con người, người tham gia bảo hiểm đóng phí để mua dịch vụ bảo hiểm vào ngày đầu năm Công ty bảo hiểm có ngay doanh thu từ đầu năm Các hợp đồng bảo hiểm này sẽ kết thúc vào ngày cuối năm, khi đó trách nhiệm của các công ty bảo hiểm trước các tổn thất - theo như thỏa thuận trong hợp đồng - sẽ chấm dứt Đến ngày cuối năm, công ty bảo hiểm mới có thể tính được chi phí triển khai dịch vụ bảo hiểm này Tương tự như vậy là chi phí hoạt động của công ty Chu trình kinh doanh của bảo hiểm có đặc điểm là công ty bảo hiểm định giá bán dịch vụ của mình trước khi tính toán được chi phí mình bỏ ra
Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đưa loại sản phẩm nào
ra thị trường Nếu một sản phẩm đưa ra được đông đảo người mua chấp nhận, công ty bảo hiểm sẽ thu về một khoản tổng phí bảo hiểm rất lớn Khi rủi ro xảy ra cho một số khách hàng nào đó, công ty bảo hiểm có đủ khả năng chi trả mà không bị bội chi Ngược lại, nếu chỉ có một số ít khách hàng chấp nhận, tổng phí thu được nhỏ bé Công ty bảo hiểm sẽ dễ rơi vào tình trạng thu không đủ chi nếu như nhóm khách hàng đó có tỷ lệ rủi ro quá cao trong khoảng thời gian các hợp đồng bảo hiểm còn có hiệu lực
Mặt khác, chu trình kinh doanh ngược còn có tác dụng chi phối trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất của người được bảo hiểm khi họ đã được một hợp đồng bảo hiểm bảo vệ Bởi lẽ nếu tổn thất xảy ra ít, giá bán của các hợp đồng bảo hiểm năm sau đó sẽ được giảm đi (hay nói cách khác, khách hàng sẽ
Trang 17được giảm phí), ngược lại, nếu tỷ lệ tổn thất lớn, khách hàng sẽ phải trả phí cao hơn vào những năm sau
- Tâm lý người mua hàng không muốn tiêu dùng dịch vụ này
Người mua bảo hiểm không mong muốn có sự kiện rủi ro xảy ra để được nhận quyền lợi bảo hiểm dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn gấp bội lần so với số phí phải đóng (Nguyễn Văn Định, 2008)
Quá trình mua sản phẩm bảo hiểm chịu sự chi phối của các yếu tố tâm
lý Do chi phối bởi những tập tục, quan niệm có thể mang nặng yếu tố tâm linh, nên nói chung người mua không muốn nói đến rủi ro, không muốn thấy
cụ thể những hậu quả của rủi ro có thể được bảo hiểm, điển hình nhất trong bảo hiểm tử vong hay thương tật
Nhưng ngược lại, người mua coi việc mua một sản phẩm bảo hiểm như một chiếc bùa hộ mệnh, giúp họ yên tâm hơn về mặt tinh thần đồng thời có sự đảm bảo về mặt vật chất khi điều không may xảy ra Người bán cũng dễ bị ý nghĩ chiều lòng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mà thiếu sự cân nhắc cần thiết cho việc lực chọn và đánh giá những rủi ro có thế đảm nhận
Trong khi tiến hành giao dịch chào bán dịch vụ, cán bộ bảo hiểm phải chú ý tới đặc điểm này để thuyết phục khách hàng khi họ nói không quan tâm đến rủi ro và không mong muốn rủi ro xảy ra đối với họ Bởi lẽ, tất cả đều không mong muốn những tai nạn, tổn thất xảy ra Mặt khác, bảo hiểm là tấm
lá chắn cho những điều không mong muốn này Thông qua thực tế tình hình thiên tai, tai nạn, cũng như giải quyết bồi thường tổn thất tại địa phương, để minh chứng về lợi ích của bảo hiểm và sự cần thiết tham gia bảo hiểm
Ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm đã đề cập ở trên, bảo hiểm phi nhân thọ còn có những đặc điểm riêng cơ bản sau:
- Thứ nhất: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là một hợp đồng có thời
hạn bảo hiểm thường là một năm hoặc ngắn hơn (như bảo hiểm cho một
Trang 18chuyến hoạt động từ A đến B hoặc một chuyến du lịch ngắn ngày…)
- Thứ hai: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi thường và chi trả
tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực
- Thứ ba: Phí bảo hiểm phi nhân thọ được tính cho thời hạn bảo hiểm,
thông thường phí tính cho từng năm bảo hiểm hoặc từng chuyến Phí bảo hiểm cho những năm tiếp theo sẽ có sự thay đổi Phí bảo hiểm phi nhân thọ còn phụ thuộc mức độ rủi ro Ví dụ với điều khoản bảo hiểm nếu Người tham gia bảo hiểm giới hạn phạm vi bảo hiểm một vài rủi ro không tham gia thì phí bảo hiểm được xem xét giảm đi, ngược lại nếu mở rộng bảo hiểm thêm một
số rủi ro phụ khác thì phí bảo hiểm sẽ tăng lên Hoặc cùng một thời gian đi du lịch là 2 ngày nhưng nếu tới khu du lịch có mức độ rủi ro lớn hơn, như vùng núi rừng nguy hiểm thì phí bảo hiểm cao hơn
- Thứ tư: Trừ các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ, còn các
nghiệp vụ khác như tài sản, trách nhiệm dân sự giữa Người bảo hiểm, Người được bảo hiểm và Người thứ ba có liên quan tới rủi ro bảo hiểm đều có mối quan hệ về quyền lợi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
2.1.2.2 Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ là sự cam kết giữa người tham gia bảo hiểm với người bảo hiểm mà trong đó, người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm một số tiền nhất định khi có các sự kiện
đã định trước xảy ra, còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù đã luôn luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra Các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân, ví dụ như:
Trang 19- Các rủi ro do môi trường thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, rét, hạn, sương muối, dịch bệnh
- Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học và kỹ thuật Khoa học và kỹ thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con người: nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ như tai nạn ô tô, hàng không, tai nạn lao động
- Các rủi ro do môi trường xã hội: Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro cho con người Chẳng hạn, nếu xã hội tổ chức quản lý chặt chẽ - mọi người làm việc và sống theo pháp luật thì sẽ không xảy ra hiện tượng thất nghiệp, trộm cắp; nếu làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ sẽ hạn chế được các rủi ro không đáng có như hoả hoạn, bạo lực
Bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trong cuộc sống như mất việc hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngưng trệ sản xuất và kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, v.v làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung
Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả do rủi ro gây nên Hiện nay, theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu quả do rủi ro gây ra Đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro
+ Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các hiện tượng tránh
né rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiếu rủi ro Các biện pháp này thường được sử dụng để ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro
- Tránh né được rủi ro là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống Mỗi người, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện pháp thích hợp để né tránh rủi ro có thể xảy ra, tức loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất Chẳng hạn, để tránh các tai nạn giao thông người ta hạn chế việc
Trang 20đi lại; để tránh các tai nạn lao động người ta chọn những nghề không nguy hiểm… Tránh né rủi ro chỉ với những rủi ro có thể né tránh được Nhưng trong cuộc sống có rất nhiều rủi ro bất ngờ không thể né tránh được
- Ngăn ngừa tổn thất: Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất đưa ra các hành động làm giảm tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra Ví dụ, để giảm thiểu các tai nạn lao động, người ta tổ chức các khóa học nâng cao trình
độ của người lao động hay nâng cao chất lượng các hoạt động đảm bảo an toàn lao động; đề phòng chống hoả hoạn người ta thực hiện tốt việc phòng cháy chữa cháy
- Giảm thiểu tổn thất: người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua các biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất đã xảy ra Ví dụ, như khi có hoả hoạn, để giảm thiểu tổn thất, người ta cố gắng cứu các tài sản còn dùng được; hay trong một tai nạn giao thông; để giảm thiểu các thiệt hại về người và của người ta đưa ra ngay những người bị thương đến nơi cấp cứu và điều trị
Mặc dù các biện pháp kiểm soát rủi ro rất có hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lường hết được hậu quả
+ Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có
+ Chấp nhận rủi ro: Đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự chấp nhận khoản tổn thất đó Một trường hợp điển hình của chấp nhận rủi ro
là tự bảo hiểm Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro, tuy nhiên có thể phân chia làm hai nhóm: chấp nhận rủi ro thụ động và chấp nhận rủi ro chủ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người gặp tổn thất không có sự chuẩn bị trước và họ có thể phải vay mượn để khắc phục hậu quả tổn thất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quỹ dự trữ dự
Trang 21phòng và quỹ này được sử dụng để bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra Tuy nhiên, việc này dẫn đến việc nguồn vốn không được sử dụng một cách tối ưu hoặc nếu
đi vay thì sẽ bị động và còn gặp phải các vấn đề gia tăng về lãi suất…
- Bảo hiểm: Đây là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng Theo quan điểm
xã hội, bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh
Do đòi hỏi về sự tự chủ và sự an toàn về tài chính cũng như các nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và khôn thể thiếu đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia Ngày nay, sự giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các quốc gia càng phát triển thì bảo hiểm cũng ngày càng mở rộng
Vì vậy, khái niệm "bảo hiểm" trở nên gần gũi, gắn bó với con người, với các đơn vị sản xuất kinh doanh Có được quan hệ đó vì bảo hiểm đã mang lại lợi ích kinh tế xã hội thiết thực cho mọi thành viên, mọi đơn vị có tham gia bảo hiểm
Tác dụng đó được thể hiện:
- Người tham gia bảo hiểm (cá nhân hay tổ chức) được trợ cấp, bồi thường những thiệt hại thực tế do rủi ro, bất ngờ gây ra thuộc phạm vi bảo hiểm Nhờ đó họ nhanh chóng ổn định kinh tế, khôi phục đời sống và sản xuất kinh doanh…
- Nhờ có bảo hiểm những người tham gia đóng góp một số phí tạo thành nguồn quỹ bảo hiểm lớn ngoài chi trả hay bồi thường còn là nguồn vốn
Trang 22để đầu tư phát triển kinh tế…
- Bảo hiểm, nhất là bảo hiểm thương mại còn đóng góp tích luỹ cho ngân sách…
- Bảo hiểm cùng với người tham gia bảo hiểm thực hiện các biện pháp
để phòng ngừa tai nạn xảy ra nhằm giảm bớt và hạn chế hậu quả thiệt hại
- Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức; giúp họ yên tâm trong cuộc sống, trong sinh hoạt sản xuất kinh doanh; bảo hiểm thể hiện tính cộng đồng, tương trợ, nhân văn sâu sắc
- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước, nhất là thông qua hoạt động tái bảo hiểm…
- Cuối cùng, hoạt động bảo hiểm thu hút một số lao động nhất định, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội (theo thống kê, bảo hiểm các nước thu hút 1% lực lượng lao động xã hội)
2.1.3 Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ
2.1.3.1 Bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm tài sản là thể loại bao gồm những nghiệp vụ có đối tượng là
tài sản có thể tính được giá trị bằng tiền
Có nhiều loại tài sản: Những tài sản hữu hình, tồn tại dưới hình thể vật chất (như nhà cửa, phương tiện vận chuyển, hàng hóa…) và tài sản vô hình (như phát minh, sáng chế, bản quyền, giọng hát…)
Bảo hiểm thiệt hại do hậu quả tài sản được bảo hiểm bị tổn thất Thực
tế, khi tài sản bảo hiểm bị tổn thất thì hậu quả để lại không chỉ thiệt hại đối với chính tài sản đó mà còn làm ngưng trệ, dẫn tới thiệt hại kinh doanh sản xuất và thiệt hại tài chính do phải giải quyết hậu quả tổn thất
* Các nghiệp vụ của loại hình bảo hiểm tài sản
- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
- Bảo hiểm thân tàu thủy
- Bảo hiểm xây dựng lắp đặt
Trang 23- Bảo hiểm hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí
- Bảo hiểm cháy
- Bảo hiểm tiền gửi tiền cất trữ trong kho và trong quá trình vận chuyển
- Bảo hiểm vật chất các phương tiện
- Bảo hiểm trong nông nghiệp
2.1.3.2 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
“ Trách nhiệm dân sự” là gì? Trong Bộ Luật dân sự nước ta không có định nghĩa Song với nghĩa rộng có thể hiểu, trách nhiệm dân sự là trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự
Nghĩa vụ trách nhiệm dân sự thường có 2 loại
- Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng: Đây là trách nhiệm nghĩa vụ mà
các bên đã cam kết thỏa thuận trong một hợp đồng
Ví dụ: Hợp đồng vận chuyển hàng hóa từ cảng A đến cảng B Hợp đồng vận chuyển hành khách (vé là hợp đồng) Hợp đồng thuê thuyền viên làm việc trên tàu
- Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng: Đây là trách nhiệm phát sinh do
pháp luật quy định mà người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường
Ví dụ: Lái xe ô tô đâm vào nhà dân, đâm phải người đang đi trên hè phố Do đóng cọc móng nhà làm rung nứt đổ nhà bên cạnh
Trách nhiệm dân sự: Là một loại trách nhiệm pháp lý, do đó nó mang
đặc tính chung của trách nhiệm pháp lý
+ Thứ nhất, được coi là biện pháp cưỡng chế bắt buộc phải thực hiện
nghĩa vụ trách nhiệm đã thỏa thuận (trong hợp đồng)
+ Thứ hai, có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm theo quy định của luật
pháp vì đã có những hành vi vi phạm pháp luật
Thông thường thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm này bằng 2 hình thức tự
Trang 24nguyện tham gia thương lượng thỏa thuận và hình thức cưỡng chế của luật pháp tòa án
Các nghiệp vụ của bảo hiểm trách nhiệm:
- Bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
- Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển trong ngành hàng không dân dụng
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ doanh nghiệp
- Bảo hiểm trách nhiệm công cộng và trách nhiệm sản phẩm…
2.1.3.3 Bảo hiểm con người phi nhân thọ
Mặc dù cùng là loại hình bảo hiểm con người, nhưng bảo hiểm con người phi nhân thọ trong bảo hiểm thương mại có những đặc điểm chủ yếu sau đây
Hậu quả của những rủi ro mang tính chất thiệt hại vì rủi ro bảo hiểm ở đây
là tai nạn, bệnh tật, ốm đau thai sản liên quan đến thân thể và sức khỏe của con người Những rủi ro ở đây khác với 2 sự kiện “ sống”, “chết” trong bảo hiểm nhân thọ và vì thế tính chất rủi ro được bộc lộ khá rõ còn tính chất tiết kiệm không được thể hiện
Người được bảo hiểm thường được quy định trong một khoảng tuổi nào
đó, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những người có độ tuổi quá thấp hoặc quá cao Bởi vì ở độ tuổi quá thấp hoặc quá cao tình trạng rủi ro diễn biến phức tạp, xác suất rủi ro cao, việc kiểm soát và quản lý rủi ro rất khó thực hiện Chẳng hạn ở nước ta, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những em bé dưới 12 tháng tuổi và những người trên 65 tuổi Nhưng ở nước Anh lại quy định khác, những đứa trẻ dưới 3 tuổi và những người trên 65 tuổi không được các công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm
So với bảo hiểm nhân thọ, thời hạn bảo hiểm con người phi nhân thọ ngắn hơn và thường là 1 năm như: bảo hiểm tai nạn 24/24, bảo hiểm trợ cấp
Trang 25nằm viện phẫu thuật… Thậm chí có nghiệp vụ bảo hiểm thời hạn chỉ trong vài ngày, vài giờ đồng hồ như: bảo hiểm tai nạn hành khách Do đó, phí bảo hiểm thường nộp một lần khi ký kết hợp đồng bảo hiểm
Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ thường được triển khai kết hợp với các nghiệp vụ bảo hiểm khác trong cùng một hợp đồng bảo hiểm Chẳng hạn: Bảo hiểm tai nạn được lồng ghép trong bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp… Việc triển khai kết hợp này làm cho chi phí khai thác, chi phí quản lý… của công ty bảo hiểm giảm đi từ đó có điều kiện giảm phí bảo hiểm
Ở hầu hết các nước trên thế giới, trong giai đoạn đầu của sự phát triển ngành bảo hiểm, bảo hiểm con người phi nhân thọ được triển khai sớm hơn bảo hiểm nhân thọ, họ vừa triển khai vừa rút kinh nghiệm, đến khi điều kiện kinh tế đã chín muồi mới tổ chức triển khai bảo hiểm nhân thọ Chính vì vậy, bảo hiểm con người phi nhân thọ được coi là loại hình bảo hiểm bổ sung hữu hiệu nhất cho các loại hình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Ở Việt Nam, hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ đều ra đời trong những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, mãi đến năm 1996 mới tổ chức triển khai bảo hiểm nhân thọ
Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ
Bảo hiểm con người phi nhân thọ được triển khai rất đa dạng và linh hoạt tùy theo tình hình cụ thể ở từng nước và ngay trong phạm vi một nước, cũng có sự khác nhau giữa các thời kỳ, giữa các công ty bảo hiểm về một số nội dung cơ bản như: phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm, thủ tục trả tiền bảo hiểm… Điều này cũng thật dễ hiểu vì bảo hiểm thương mại là hoạt động mang tính kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên trong quá trình ký kết hợp đồng hoặc triển khai một sản phẩm mới đều phải tuân thủ khung pháp lý của mỗi nước
Trang 26- Bảo hiểm tai nạn con người 24/24
- Bảo hiểm tai nạn hành khách
- Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật
- Bảo hiểm học sinh
2.1.4 Hoạt động chính của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Doanh nghiệp bảo hiểm tuỳ theo mục tiêu và môi trường kinh doanh xây dựng một cơ cấu tổ chức riêng đảm bảo dễ dàng đạt được nhiều mục tiêu nhất Hoạt động chính của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là thực hiện kinh doanh bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm và hoạt động đầu tư tài chính
Khi tiến hành kinh doanh bảo hiểm gốc các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm đều phải tiến hành triển khai và quản lý ba khâu có mối liên hệ mật thiết với nhau đó là khâu khai thác, giám định và bồi thường
* Khâu khai thác: Đây là khâu đầu tiên quan trọng hình thành doanh thu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Hoạt động khai thác bảo hiểm là việc đưa sản phẩm bảo hiểm đến tay người tiêu dùng, để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp bảo hiểm luôn cố gắng tìm tòi, phát hiện và khai thác các nhu cầu cũng như hướng dẫn nhu cầu của khách hàng trong việc sử dụng các sản phẩm của họ thông qua sản phẩm mới hoặc cải tiến mẫu mã và tăng thêm các công dụng của từng loại sản phẩm
Tuy nhiên, đơn yêu cầu bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm quyết định những nội dung liên quan đến tính chất rủi ro, điều khoản hợp đồng nên hoạt động khai thác bảo hiểm không giống như các hoạt động bán hàng thông thường mà phải được thực hiện theo một quy trình cụ thể trong đó đảm bảo các bước cơ bản sau:
Đánh giá rủi ro liên quan đến đối tượng bảo hiểm Các khai thác viên bảo hiểm có nhiệm vụ đánh giá rủi ro có liên quan tới các hiểm hoạ khác nhau
Trang 27cho đối tượng bảo hiểm Các nguy cơ phải quan tâm đó là nguy cơ vật chất và nguy cơ tinh thần Tuỳ theo từng đối tượng bảo hiểm mà khai thác viên bảo hiểm sẽ đánh giá các nguy cơ cụ thể trước khi tính phí, quyết định nhận bảo hiểm hay không
Mức độ phức tạp của việc đánh giá rủi ro liên quan đến đối tượng bảo hiểm trong khâu khai thác tuỳ thuộc vào từng loại hình bảo hiểm cũng như giá trị bảo hiểm
Những trường hợp đơn/hợp đồng bảo hiểm có giá trị nhỏ, khai thác viên bảo hiểm có thể thực hiện việc đánh giá rủi ro dựa trên hồ sơ yêu cầu bảo hiểm của khách hàng cũng như trao đổi qua lại với khách hàng
Những đơn bảo hiểm có giá trị lớn và phức tạp khi đánh giá rủi ro thường có sự tham gia của môi giới bảo hiểm Khi đó công ty môi giới bảo hiểm sẽ đại diện cho người tham gia bảo hiểm chuẩn bị hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, kiểm tra tại chỗ cũng như chuẩn bị các nội dung có liên quan đến việc đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm Tài liệu này sẽ được công ty môi giới chuyển cho khai thác viên bảo hiểm để tiến hành thương thuyết các điều khoản, điều kiện, phạm vi bảo hiểm và phí bảo hiểm
Các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành hoạt động khai thác thông qua các kênh như: Đại lý bảo hiểm phi nhân thọ chuyên nghiệp, qua các ngân hàng thương mại, bản thân các cán bộ, viên chức của doanh nghiệp bảo hiểm
và môi giới bảo hiểm Tuỳ theo kênh phân phối, doanh nghiệp bảo hiểm có quy định riêng áp dụng trong hoạt động khai thác bảo hiểm
* Khâu giám định tổn thất Khi có rủi ro xảy ra, người được bảo hiểm phải có trách nhiệm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm trong thời gian nhanh nhất, thông thường các doanh nghiệp bảo hiểm quy định cụ thể giới hạn thời gian thông báo và yêu cầu bồi thường đối với từng loại hình bảo hiểm cụ thể
Trang 28Đa số các yêu cầu trả tiền bảo hiểm do phòng giám định của doanh nghiệp bảo hiểm tiếp nhận, giám định và hoàn thiện hồ sơ yêu cầu trả tiền bảo hiểm của khách hàng
Trách nhiệm của người được bảo hiểm là phải chứng minh mình đã chịu tổn thất do rủi ro được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm gây ra Người được bảo hiểm ngoài việc thông báo tài sản bị tổn thất còn phải cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm tài liệu chứng minh giá trị của tài sản đó như hoá đơn mua hàng, biên lai, hoá đơn sửa chữa
Khi tiếp nhận thông tin có tổn thất xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành kiểm tra các nội dung liên quan đến đối tượng được bảo hiểm bao gồm (Nguyễn Văn Định, 2009):
Hợp đồng bảo hiểm có còn hiệu lực khi tổn thất xảy ra
Người yêu cầu trả tiền bảo hiểm có đúng là người được bảo hiểm Rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm
Người được bảo hiểm đã thực hiện đúng những công việc cần thiết
để hạn chế tổn thất
Không thể áp dụng các loại trừ
Giá trị tổn thất đưa ra là hợp lý Doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành giám định thiệt hại (nếu là bảo hiểm phương tiện, tài sản), thu thập chứng từ y
tế liên quan (nếu là bảo hiểm con người)
Đây là công việc đòi hỏi cán bộ làm công tác giám định phải thực hiện
tỷ mỉ, nhanh chóng, chính xác để tạo niềm tin cho khách hàng cũng như ngăn chặn trục lợi bảo hiểm
Tuỳ theo loại hình bảo hiểm các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ quy định quy trình giám định cụ thể đối với giám định viên
Sau khi hoàn thiện hồ sơ yêu cầu trả tiền bảo hiểm giám định viên chuyển hồ sơ cho phòng bồi thường tính số tiền bồi thường, thanh toán cho
Trang 29khách hàng
* Khâu bồi thường Đây là khâu quan trọng nhất, thể hiện những cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng cũng như khẳng định và xây dựng uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm
Bộ phận bồi thường căn cứ vào hồ sơ yêu cầu trả tiền bảo hiểm, biên bản giám định tổn thất và các chứng từ chứng minh thiệt hại của đối tượng bảo hiểm do phòng giám định cung cấp tiến hành tính số tiền phải trả cho khách hàng
Chi phí bồi thường phụ thuộc vào mức độ tổn thất hay thiệt hại và tính chất của loại bảo hiểm theo hợp đồng Thông thường các loại hình bảo hiểm con người sẽ được thực hiện thanh toán theo phương pháp khoán, bảo hiểm phương
tiện tài sản, bảo hiểm trách nhiệm thực hiện theo phương pháp bồi hoàn
2.1.5 Nội dung quản lý thu và chi bồi thường bảo hiểm gốc của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
2.1.5.1 Khái niệm thu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Theo điều 20 nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 của chính phủ quy định về chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm: Doanh thu của doanh nghiệp là số tiền phải thu phát sinh trong kỳ gồm: Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh thu hoạt động tài chính, doanh thu từ hoạt động khác
* Thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm là số tiền phải thu phát sinh trong
kỳ sau khi đã trừ các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ
Đây là nguồn thu cơ bản đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp bảo hiểm nào Thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm gồm:
- Thu từ bảo hiểm gốc
- Thu từ hoạt động nhận tái bảo hiểm
Trang 30- Thu từ hoa hồng nhượng tái bảo hiểm
- Thu từ hoạt động đại lý giám định tổn thất
Trong các khoản thu trên doanh thu bảo hiểm gốc là nguồn thu chính, chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm Nguồn thu này quyết định doanh nghiệp bảo hiểm tồn tại, phát triển hay suy yếu trên thị trường
Thu bảo hiểm gốc được hình thành từ thu phí bảo hiểm của các nghiệp
vụ bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ triển khai như: Nhóm bảo hiểm con người, bảo hiểm phương tiện – tài sản, bảo hiểm trách nhiệm
Thu bảo hiểm gốc phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Mức phí bảo hiểm: Phí bảo hiểm là nguồn thu đầu tiên và đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Việc định phí bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm dựa vào các nhân tố sau:
Xác suất rủi ro: Đây là cơ sở khoa học không thể thiếu khi doanh nghiệp bảo hiểm định phí bảo hiểm cho các sản phẩm của mình Xác suất rủi
ro càng cao thì tỷ lệ phí cao và ngược lại
Điều kiện bảo hiểm: Điều kiện bảo hiểm thể hiện phạm vi bảo hiểm- phạm vi trách nhiệm của công ty bảo hiểm đối với các rủi ro được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận Thông thường điều kiện bảo hiểm càng nhiều, phạm vi bảo hiểm càng rộng thì phí bảo hiểm càng cao do khả năng chi trả bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm càng lớn
Thời hạn bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ thường là một năm, tuy nhiên nhiều trường hợp có thể có thời hạn hợp đồng dưới một năm hoặc trên một năm Khi thời hạn của hợp đồng càng dài thì mức phí cũng tăng lên vì khả năng gặp rủi ro cao hơn
Giá trị bảo hiểm: Là số tiền bảo hiểm khách hàng chọn lựa khi tham gia bảo hiểm-hạn mức trách nhiệm tối đa doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán khi có rủi ro xảy ra Đây là nhân tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến mức phí bảo hiểm
Trang 31Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành phí bảo hiểm do vậy việc tăng, giảm chi phí quản lý doanh nghiệp sẽ tác động trực tiếp tới mức phí bảo hiểm
Ngoài các yếu tố trên khi định phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm luôn xem xét đến các yếu tố khác như: tình hình cạnh tranh trên thị trường về nghiệp vụ bảo hiểm, lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, các quy định của pháp luật về mức phí trần, phí sàn, tỷ lệ tăng giảm tối đa từng nghiệp vụ… để đảm bảo mức phí doanh nghiệp đưa ra có tính cạnh tranh và mang lại kết quả kinh doanh cao
+ Số lượng khách hàng tham gia bảo hiểm: Đối với doanh nghiệp bảo hiểm đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến doanh thu Doanh nghiệp thu hút được số lượng khách hàng càng đông thì doanh thu thu được càng lớn và ngược lại Trong thực tế tình hình cạnh tranh hiện nay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận giảm phí bảo hiểm để thu hút khách hàng, nếu thời điểm thích hợp doanh nghiệp vẫn thu hút được đông đảo khách hàng tham gia, tổng doanh thu phí bảo hiểm không giảm Với số lượng khách hàng lớn đảm bảo cho việc định phí thoả mãn điều kiện quy luật số đông
+ Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Bên cạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành hoạt động đầu tư nguồn vốn, quỹ nhàn rỗi tạo ra doanh thu từ hoạt động tài chính Kết quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến việc định phí bảo hiểm Việc đầu tư tài chính có hiệu quả cao sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm có điều kiện định phí thấp hơn và ngược lại + Doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình trong điều kiện, khuôn khổ của pháp luật Vì vậy, những quy định của nhà nước có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và đến doanh thu bảo hiểm gốc
Trang 32nói riêng
2.1.5.2 Quản lý thu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Thu là một chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, vì cơ sở hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
là quy luật số đông
Thu hoạt động bảo hiểm là cơ sở hình thành quỹ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, vì vậy quản lý doanh thu yêu cầu phải tập trung vào quản lý doanh thu phí bảo hiểm đây là yếu tố quan trọng để các doanh nghiệp bảo hiểm tồn tại và phát triển vì quản lý được doanh thu phí bảo hiểm bên cạnh ý nghĩa về quản lý tài chính (dòng tiền vào) đối với doanh nghiệp còn giúp doanh nghiệp bảo hiểm kiểm soát được tình trạng của hợp đồng bảo hiểm, từ
đó hạn chế được tình trạng gian lận, trục lợi, chiếm dụng phí bảo hiểm Các biện pháp quản lý thu
+ Xây dựng biểu phí hợp lý áp dụng từng nghiệp vụ, từng đối tượng cụ thể dựa trên quy luật số đông và phương pháp toán thống kê Mức phí bảo hiểm phải đảm bảo “linh hoạt” sát với thị trường
Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm đều đưa ra biểu phí
“cứng” đối với từng nghiệp vụ bảo hiểm, biểu phí này được cấp cho cán bộ, đại lý khai thác bảo hiểm, tuy nhiên để đảm bảo tính cạnh tranh đối với các nghiệp vụ bảo hiểm tự nguyện, từng khách hàng cụ thể phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm đều áp dụng biểu phí linh hoạt so với biểu phí đã ban hành + Xây dựng quy trình quản lý tiền mặt, đặc biệt phải kiểm tra chặt chẽ việc thu, nộp phí của cán bộ, đại lý bảo hiểm tránh tình trạng lạm dụng, chiếm đoạt, khê đọng phí bảo hiểm
Các doanh nghiệp bảo hiểm thường hoạt động trên diện rộng với nhiều sản phẩm nhỏ lẻ bán trực tiếp cho khách hàng thông qua nhiều kênh phân
Trang 33phối, trong đó có hệ thống đại lý bảo hiểm phi nhân thọ Chính vì vậy yêu cầu quản lý chặt chẽ, kịp thời với nhóm đối tượng này là tất yếu khách quan để đảm bảo doanh nghiệp hoạt động tăng doanh thu và hạn chế tình trạng sâm tiêu phí bảo hiểm Các doanh nghiệp cần áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến để kiểm tra, giám sát việc thu phí bảo hiểm của cán bộ, đại lý Tiền phí bảo hiểm phải được thu, nộp vào quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm kịp thời để tránh tình trạng chiếm dụng, khê đọng phí bảo hiểm, nâng cao hiệu quả đầu tư tập trung
Để đánh giá về công tác thu phí bảo hiểm trong kỳ cần so sánh lượng phí bảo hiểm thực thu với lượng phí bảo hiểm phải thu trong kỳ theo công thức sau:
Lượng phí thực thu trong kỳ
Hệ số thu đủ phí bảo hiểm =
Lượng phí phải thu trong kỳ
Hệ số trên càng gần với 1 thì công tác quản lý nguồn thu phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm càng tốt, phí bảo hiểm phải thu từ các hợp đồng
đã ký kết thu được càng nhiều
+ Hoạt động kinh doanh bảo hiểm gắn liền với việc cấp các hợp đồng (đơn, giấy chứng nhận bảo hiểm) vì vậy quản lý doanh thu phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm cũng không tách rời quản lý ấn chỉ, đơn bảo hiểm Các doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng quy trình quản lý ấn chỉ cụ thể, chặt chẽ, tránh bị lợi dụng và phải thuận tiện cho công tác kiểm tra, đối chiếu
và lập báo cáo
Quy trình quản lý ấn chỉ đảm bảo bộ phận kế toán với chức năng giám sát phải quản lý tất cả các khâu liên quan đến ấn chỉ, từ nhập kho ấn chỉ đến cấp phát, quyết toán, kiểm tra tình hình sử dụng
Việc quyết toán ấn chỉ gắn liền với quyết toán phí bảo hiểm, phải coi việc quản lý ấn chỉ như quản lý tiền
Trang 34- Đối với trường hợp bán lẻ, các nghiệp vụ bảo hiểm cá nhân (chủ yếu
là các nghiệp vụ bảo hiểm xe máy, ô tô cá nhân, bảo hiểm con người, bảo hiểm tàu sông, tàu cá, bảo hiểm nhà tư nhân…) hoặc các nghiệp vụ có thời hạn bảo hiểm ngắn như bảo hiểm người Việt Nam du lịch nước ngoài ngắn hạn, bảo hiểm khách du lịch trong nước, bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa, sau khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm, cán bộ/đại lý bảo hiểm phải thu tiền ngay của khách hàng, viết hoá đơn thu phí, lập bảng kê nộp phí và nộp tiền về phòng quản lý trong vòng 24h Sau khi kiểm tra chứng từ, kế toán nhập vào chương trình kế toán để hoạch toán doanh thu
- Đối với trường hợp bảo hiểm cho các khách hàng là tổ chức, các nghiệp vụ bảo hiểm cấp đơn bảo hiểm từ máy tính như bảo hiểm tàu thuỷ, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt… ngay sau khi ký kết hợp đồng bảo hiểm (cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm), bộ phận nghiệp vụ phải gửi thông báo thu phí bảo hiểm cho khách hàng và chuyển về
bộ phận kế toán 01 bản hợp đồng và thông báo thu phí bảo hiểm để theo dõi
- Kiểm soát các hợp đồng khách hàng đóng phí nhiều kỳ
Cho khách hàng đóng phí nhiều kỳ thực chất là hình thức cho khách hàng nợ phí bảo hiểm Khoản phí bảo hiểm phải thu của các kỳ chưa đến hạn thanh toán chưa được ghi nhận vào doanh thu để xác định kết quả kinh doanh nhưng cũng có tác động nhất định đến tình hình tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm Để hạn chế tác động này các công ty bảo hiểm thường áp dụng các quy định sau:
Mọi hợp đồng bảo hiểm thanh toán làm nhiều kỳ đều phải quy định điều khoản: Thanh toán phí bảo hiểm kỳ thứ nhất chậm nhất là ngày bắt đầu thời hạn hiệu lực của hợp đồng
Số tiền phí bảo hiểm thanh toán của từng kỳ, các kỳ thanh toán phải được xác định sao cho phí bảo hiểm luỹ kế thu được ít nhất phải tương ứng với
Trang 35khoảng thời gian đã bảo hiểm để tránh tình trạng khi quá hạn thanh toán của bất
cứ kỳ thanh toán phí nào, nếu khách hàng chấm dứt hợp đồng thì không phải thu thêm khoản phí nào (khoản phí thu thêm này hầu như sẽ không thu được, dẫn đến phát sinh nợ khó đòi, không có khả năng thu hồi)
- Kiểm soát các hợp đồng nợ phí bảo hiểm
Nợ phí bảo hiểm là khoản phí bảo hiểm chưa thu được tiền nhưng đã được ghi nhận là doanh thu để xác định kết quả kinh doanh, xác định các khoản thuế phải nộp ngân sách (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp) Nợ phí càng lớn không chỉ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh (bóp méo kết quả kinh doanh) mà đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm do chưa thu được tiền xong đã phải nộp thuế, chuyển phí tái bảo hiểm (nếu hợp đồng có liên quan đến tái bảo hiểm) và không có nguồn đầu tư, chi trả bồi thường
Thông thường các đối tượng khách hàng sau sẽ được xem xét cho nợ phí bảo hiểm:
Khách hàng tham gia bảo hiểm là khách hàng truyền thống, có mối liên
hệ thường xuyên, lâu dài với doanh nghiệp bảo hiểm (đã tham gia bảo hiểm ít nhất 02 năm liên tiếp)
Khách hàng thanh toán các kỳ phí đúng hạn (với hợp đồng thanh toán phí bảo hiểm theo kỳ), không có nợ phí tại thời điểm cho nợ
Trường hợp khách hàng là các doanh nghiệp, khách hàng phải hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có tình hình tài chính lành mạnh Cụ thể khách hàng phải hoạt động có lãi trong năm tài chính gần nhất, không có các khoản vay ngân hàng quá hạn
Trường hợp khách hàng là các tổ chức hoạt động sử dụng ngân sách nhà nước thì phí bảo hiểm phải nằm trong dự toán ngân sách
Trường hợp khách hàng là cá nhân: Cá nhân phải có năng lực hành vi (từ
Trang 3618 tuổi trở lên, không bị tâm thần, ý thức được những việc mình làm), có thu nhập từ nguồn hợp pháp đảm bảo đủ khả năng trả nợ và phải được bảo lãnh bởi cán bộ, nhân viên có hợp đồng lao động từ 01 năm trở lên đang làm việc tại doanh nghiệp bảo hiểm
Quy định thời gian thanh toán nợ: Các doanh nghiệp phải quy định cụ thể thời gian thanh toán nợ phí bảo hiểm
Việc giải quyết cho khách hàng nợ phí bảo hiểm phải được thực hiện bằng quy trình cụ thể để tránh tranh chấp và tình trạng chiếm dụng phí bảo hiểm Quy trình giải quyết cho nợ phí bảo hiểm: Khách hàng phải có đề nghị
nợ phí hoặc gia hạn nợ (đối với trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cho nợ nhưng khách hàng do nguyên nhân khách quan không thanh toán nợ đúng hạn) gửi cho cán bộ khai thác bảo hiểm, cán bộ khai thác bảo hiểm xem xét đánh giá khả năng tài chính của khách hàng, nhận xét quá trình tham gia bảo hiểm đối chiếu với các quy định của doanh nghiệp bảo hiểm về trường hợp được xem xét cho nợ phí, nếu đủ điều kiện thì lập tờ trình đề nghị giám đốc duyệt cho nợ phí
Tờ trình cho nợ phí phải có chữ ký của người trình, chữ ký của người đứng ra bảo lãnh, người đứng ra bảo lãnh phải chịu trách nhiệm về các thông tin trong tờ trình để quy trách nhiệm trong trường hợp không thu hồi được các khoản nợ Cùng với tờ trình là các tài liệu thu thập được kèm theo trong đó bắt buộc phải có báo cáo tài chính năm gần nhất nếu khách hàng là doanh nghiệp
Tờ trình phải được lãnh đạo trực tiếp bộ phận xem xét (trưởng các phòng kinh doanh), có ý kiến trước khi trình lên người có thẩm quyền phê duyệt cho nợ
Sau khi tờ trình cho nợ phí được người có thẩm quyền phê duyệt, bản chính của tờ trình được chuyển cho bộ phận kế toán để lưu hồ sơ theo dõi khoản nợ
Trang 37Nợ phí bảo hiểm phải được theo dõi chi tiết cho từng khách hàng, từng hợp đồng bảo hiểm (đơn bảo hiểm), từng nghiệp vụ, thời hạn và số tiền phải thanh toán cho từng kỳ theo điều khoản thanh toán đã cam kết trong hợp đồng
Hồ sơ nợ phí bảo hiểm phải được lưu trữ tại bộ phận kế toán và bộ phận nghiệp vụ trên cơ sở Hợp đồng bảo hiểm, bản sao hoá đơn hoạch toán doanh thu phí bảo hiểm, các văn bản thông báo phí bảo hiểm đến kỳ, các bản xác nhận nợ phí của khách hàng (nếu có) và bản sao các chứng từ tanh toán của khách hàng
Bộ phận nghiệp vụ và bộ phận kế toán phải cùng phối hợp theo dõi nợ phí bảo hiểm, trong đó bộ phận nghiệp vụ làm đầu mối tiếp xúc, đôn đốc khách hàng thanh toán nợ phí bảo hiểm
Định kỳ hàng tháng (vào cuối tháng), bộ phận kế toán và các phòng nghiệp vụ có khách hàng nợ phí phải đối chiếu số liệu về phí bảo hiểm bao gồm: Phí bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm đã ký kết và đến kỳ thanh toán, phí bảo hiểm đã phát sinh trách nhiệm còn phải thu tiền, phí bảo hiểm đã thu được tiền phát sinh trong tháng và luỹ kế từ đầu năm đến tháng đối chiếu Ngoài ra bộ phận nghiệp vụ và bộ phận kế toán thường xuyên đối chiếu chi tiết nợ phí bảo hiểm theo từng nghiệp vụ, từng khách hàng Biên bản đối chiếu phải có chữ ký xác nhận của phụ trách các phòng nghiệp vụ, phụ trách phòng tài chính kế toán và chữ ký chuẩn số liệu của giám đốc các doanh nghiệp bảo hiểm
Định kỳ các đơn vị tiến hành đánh giá, rà soát và phân loại nợ theo thời gian quá hạn, khả năng thu hồi để kịp thời phát hiện các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ không có khả năng thu hồi, phân tích rõ nguyên nhân và có biện pháp xử lý kịp thời xác định những khoản nợ khó đòi
Cuối năm tài chính, các đơn vị kinh doanh phải lấy xác nhận nợ phí bảo
Trang 38hiểm của khách hàng chi tiết theo từng khách hàng nợ, xác nhận nợ phí bảo hiểm là một bộ phận của báo cáo quyết toán năm
Khi lập báo cáo quyết toán quý, năm các công ty bảo hiểm phải lập báo cáo các khoản nợ theo thời gian quá hạn trên cơ sở phân loại các khoản nợ
Thực hiện trích lập các dự phòng đối với các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán
Các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán tùy theo thời gian quá hạn,
doanh nghiệp bảo hiểm phải trích dự phòng theo tỷ lệ nhất định Trường hợp thời gian nợ quá hạn dài, có bằng chứng không có khả năng thu hồi, doanh nghiệp bảo hiểm lập Hội đồng xử lý để xem xét từng khoản nợ, xác định rõ trách nhiệm của các cá nhân, bộ phận liên quan và đề xuất phương án xử lý Tăng cường các biện pháp thu hút khách hàng tăng doanh thu, tuy nhiên các doanh nghiệp bảo hiểm cần tránh tình trạng tăng trưởng bằng mọi giá, áp dụng các biện pháp cạnh tranh phi thị trường như hạ tỷ lệ phí quá thấp, triết khấu trực tiếp cho khách hàng sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát doanh thu, nợ đọng, tình trạng chiếm dụng phí bảo hiểm, gian lận, trục lợi bảo hiểm gia tăng ảnh hưởng tới sự tăng trưởng, phát triển bền vững của doanh nghiệp
2.1.5.3 Khái niệm chi bồi thường bảo hiểm gốc của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Theo điều 20 nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 của chính phủ quy định về chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm là số tiền phải chi, phải trích phát sinh trong kỳ bao gồm: chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm, chi phí hoạt động tài chính, chi phí hoạt động khác
Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Là số tiền phải chi, phải trích phát sinh trong kỳ sau khi đã trừ các khoản phải thu để giảm chi phát sinh trong kỳ Bao gồm: Chi bồi thường bảo hiểm gốc, chi hoa hồng bảo hiểm cho
Trang 39đại lý, môi giới Các khoản trích lập dự phòng nghiệp vụ, chi bồi thường nhận tái bảo hiểm, chi giám định tổn thất, chi xử lý hàng bồi thường 100%, chi quản lý đại lý, chi đề phòng hạn chế rủi ro, tổn thất, chi đánh giá đối tượng bảo hiểm và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật Trong đó chi bồi thường bảo hiểm gốc luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất trong tổng chi
Chi bồi thường bảo hiểm gốc là số tiền doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người thụ hưởng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm Chi bồi thường bảo hiểm gốc phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Giá trị thiệt hại thực tế thuộc phạm vi bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm: Giá trị này quyết định số tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm, được xác định dựa trên những yếu tố sau;
- Mức độ thiệt hại thực tế của đối tượng bảo hiểm:
Khi định phí bảo hiểm các doanh nghiệp bảo hiểm phải dựa vào xác suất rủi ro tính theo số liệu thống kê trong quá khứ Trong khi đó số tiền bồi thường phát sinh lại phụ thuộc vào mức độ thiệt hại thực tế xảy ra trong năm nghiệp vụ
Mức độ thiệt hại thực tế có thể cao hơn mức dự đoán do có nhiều yếu
tố khách quan không lường trước được tác động đến đối tượng bảo hiểm làm tăng mức độ rủi ro về số lượng rủi ro cũng như mức độ tổn thất Từ đó làm tăng số tiền bồi thường Ngược lại mức độ thiệt hại thực tế có thể thấp hơn mức dự đoán của doanh nghiệp bảo hiểm từ đó làm giảm số tiền bồi thường Do đó trong quá trình kiểm soát, quản lý chi phí các doanh nghiệp bảo hiểm phải đặc biệt chú ý tới nhân tố này
- Phạm vi bảo hiểm: Phạm vi bảo hiểm thể hiện giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm về phạm vi rủi ro bảo hiểm, phạm vi không gian
và thời gian, phạm vị về số tiền bảo hiểm Vì vậy phạm vi bảo hiểm ảnh
Trang 40hưởng trực tiếp đến số tiền bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm Phạm vi bảo hiểm càng rộng, mức độ thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm càng lớn và ngược lại
+ Công tác quản lý rủi ro: Đây là nhân tố chủ quan, ảnh hưởng đến số tiền chi trả, bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm Nếu doanh nghiệp bảo hiểm làm tốt công tác này, mức độ thiệt hại thực tế thuộc phạm vi bảo hiểm sẽ giảm, số tiền bồi thường hay chi trả bảo hiểm cũng giảm
Số tiền chi trả bồi thường có thể giảm hơn nhiều so với chi phí doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện công tác quản lý rủi ro Yếu tố này đòi hỏi trong quá trình hoạt động công tác quản lý rủi ro phải được coi trọng Công tác quản lý rủi ro đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện ngay từ khâu khai thác bảo hiểm cũng như các khâu tiếp theo và trong suốt hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực
+ Tình hình gian lận, trục lợi bảo hiểm: Trục lợi bảo hiểm là hành vi người tham gia bảo hiểm cố tình gian dối, lừa đảo, có ý định ngay từ khi tham gia bảo hiểm hoặc sau khi rủi ro xảy ra với đối tượng bảo hiểm nhằm chiếm đoạt số tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm
Có nhiều hình thức trục lợi bảo hiểm như: Hợp lý hoá ngày và hiệu lực bảo hiểm: Rủi ro xảy ra vào thời điểm đã hết hiệu lực hợp đồng, khi đối tượng chưa tham gia bảo hiểm, khai tăng mức độ thiệt hại của đối tượng bảo hiểm, gian lận trong việc khai báo tình trạng tham gia bảo hiểm, thay đổi đối tượng bảo hiểm…vv ngoài ra các hành vi trục lợi bảo hiểm của khách hàng còn có
sự tiếp tay của nhân viên bảo hiểm, của các cơ quan chức năng (đặc biệt là cơ quan công an tiếp nhận và giải quyết vụ tai nạn giao thông) các hành vi này trực tiếp làm gia tăng số tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Đồng thời hành vi trục lợi bảo hiểm còn ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội, kỷ cương pháp luật, làm