Trước nhu cầu đó việc nghiên cứu tiềm năng đất đai, tìm hiểu một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được nêu rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày 18 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Vi Thị Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn trực tiếp, tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Đỗ Văn Nhạ và sự giúp đỡ của các thầy cô trong bộ môn Quy hoạch đất đai, khoa Quản lý đất đai – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS Đỗ Văn Nhạ cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Quản lý đất đai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Thổ Nhưỡng Nông Hóa, TS
Trần Minh Tiến và các cán bộ thực hiện đề tài “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp vùng miền núi Tây Bắc Việt Nam” đã tạo điều
kiện cho tôi tham gia thực hiện điều tra, thu thập tài liệu, số liệu và giúp đỡ tôi đi lại thực hiện đề tài này Xin trân trọng cảm ơn: Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê huyện Yên Châu, lãnh đạo
Ủy ban nhân dân và người dân các xã Viêng Lán, Sập Vạt, Lóng Phiêng, Yên Sơn đã giúp đỡ tôi trong quá trình công tác tại địa phương
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp: những người
giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Hà nội, ngày 18 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
1.1 Lý luận về sử dụng đất và sử dụng đất nông nghiệp 3
1.1.1 Khái quát về đất và đất nông nghiệp 3
1.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 5
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 7
1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 9
1.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
1.3.1 Những điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất 14
1.3.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
1.3.3.Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 17
1.4 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21
1.4.3 Các nghiên cứu trên địa bàn vùng Tây Bắc và tỉnh Sơn La 27
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.3.1 Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 30
Trang 62.3.2 Thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 30
2.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 31
2.3.4 Định hướng và các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng sản
2.4.1.Phương pháp phân vùng và chọn điểm nghiên cứu 31
2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 32
2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 33
2.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 37
3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 50
3.2.Tình hình sử dụng đất của huyện Yên Châu 52
3.2.1.Hiện trạng sử dụng các loại đất 52
3.2.2 Hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp 53
3.3 Thực trạng các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 55
3.3.1 Hệ thống cây trồng chính của huyện 55
3.3.2 Loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất nông nghiệp vùng
3.3.3 Mô tả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính 58
3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 60
3.4.1 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính 60
3.4.2 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất 64
3.4.3 Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất 69
3.4.4 Hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng đất 74
3.4.5 Đánh giá tổng hợp và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng 78
Trang 73.5 Quan điểm và định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện
3.6 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 86
3.6.1 Giải pháp quy hoạch sử dụng đất 86
Trang 82.3 Phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất
2.4 Bảng tổng hợp đánh giá chung các mức phân cấp về HQKT,
3.1 Giá trị sản xuất của các ngành nông nghiệp giai đoạn 2005 – 2013 43
3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 53
3.4 Loại hình sử dụng đất chính của huyện Yên Châu 57
3.5 Hiệu quả kinh tế trên 1ha một số cây trồng chính vùng I 61
3.6 Hiệu quả kinh tế trên 1ha một số cây trồng chính tiểu vùng II 63
3.7 Hiệu quả kinh tế trên 1ha của các kiểu sử dụng đất vùng I 64
3.8 Hiệu quả kinh tế trên 1ha của các kiểu sử dụng đất vùng II 66
3.9 Đánh giá hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất 68
3.10 Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất Tiểu vùng I 70
3.11 Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng II 72
3.12 Đánh giá hiệu quả xã hội của loại hình sử dụng đất 73
3.13 So sánh mức phân bón của nông hộ với quy trình kỹ thuật 75
3.14 Lượng thuốc BVTV thực tế và khuyến cáo trên cây trồng 76
3.15 Đánh giá hiệu quả môi trường của loại hình sử dụng đất 77
3.16 Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại hình sử dụng đất 81
3.16 Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại hình sử dụng đất (Tiếp theo) 82
3.17 Dự kiến chu chuyển các loại hình sử dụng đất trong tương lai 85
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3.1 Biểu đồ lượng mưa theo tháng tại một số trạm khí tượng tỉnh Sơn La 41 3.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Châu năm 2013 52 3.3 So sánh GTSX của các LUT giữa 2 tiểu vùng 67 3.4 So sánh GTGT của các LUT giữa 2 tiểu vùng 67
Trang 104 FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
5 GTGT Giá trị gia tăng
6 GTGT/LĐ Giá trị gia tăng trên ngày công lao động
7 GTSX Giá trị sản xuất
8 GTSX/LĐ Giá trị sản xuất trên ngày công lao động
11 HQMT Hiệu quả môi trường
14 LUT Loại hình sử dụng đất
15 LX - LM Lúa xuân - lúa mùa
16 LM - Đ.tương Lúa mùa - Đậu tương
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có giới hạn về quy mô diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới sự tác động của thiên nhiên và qua quá trình khai thác,
sử dụng của con người Trong khi xã hội ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, các sảm phẩm công nghiệp, các nhu cầu về văn hóa, xã hội, nhu cầu về đất cho xây dựng v.v… Tất cả những vấn đề trên đã gây ra áp lực ngày càng lớn lên đất đai, làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng Hiện nay, việc sử dụng đất nông trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển KT-XH, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu Thực chất của mục tiêu này chính là khai thác tiềm năng đất đai làm sao vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội và môi trường Trước nhu cầu đó việc nghiên cứu tiềm năng đất đai, tìm hiểu một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của Quốc gia và của từng địa phương
Yên Châu là huyện miền núi, biên giới của tỉnh Sơn La Nằm dọc trục quốc lộ 6, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Sơn La 64km có 47km đường biên giới với nước CHDCND Lào Địa hình trên địa bàn huyện tương đối phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi đá cao, hình thành 2 vùng địa hình rõ rệt bao gồm : vùng cao biên giới và vùng lòng chảo Yên Châu có tổng diện tích tự nhiên là 85.937ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp với diện tích 24.242,69ha chiếm 28,20% Điều kiện tự nhiên phong phú thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, vì vậy việc tìm ra hướng sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, phát huy được điều kiện thực tế đất đai và phát triển bền vững cho nông nghiệp là việc làm
có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Thời gian qua huyện đã thực hiện một số biện pháp để nâng cao hiệu
Trang 12quả quản lý sử dụng đất như: Đưa các loại giống mới vào sản xuất nông nghiệp, giao quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ổn định lâu dài, giao đất giao rừng đến từng hộ gia đình và cá nhân để khoanh nuôi bảo vệ tái sinh rừng và trồng rừng Tuy nhiên do trình độ dân trí chưa cao nên khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất còn nhiều hạn chế, năng suất cây trồng thấp, chưa đánh giá
và đề xuất được các loại hình sử dụng đất có triển vọng nhằm khai thác sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế đất đai và điều kiện kinh
tế - xã hội của địa phương
Để góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, giúp địa phương có căn cứ lựa chọn các loại hình sử dụng đất hiệu quả nhất về cả kinh tế, xã hội và môi
trường, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La"
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp từ
đó tìm ra các loại hình sử dụng đất hiệu quả nhất trên địa bàn huyện Yên Châu
- Đề xuất các giải pháp phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
3 Yêu cầu cuả đề tài
- Hiểu rõ đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sử dụng đất làm cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện
- Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo trình tự
hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phù hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Yên Châu
- Các giải pháp sử dụng đất sản xuất nông nghiệp được đề xuất phải hợp lý
về mặt khoa học và có tính khả thi, đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường hiện nay
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lý luận về sử dụng đất và sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Khái quát về đất và đất nông nghiệp
Đất đai là sản phẩm của thiên nhiên, đất đai có những tính chất đặc trưng riêng khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản xuất nào khác, đó là: đất có độ phì, giới hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian và vĩnh cửu với thời gian nếu biết sử dụng đúng (Nguyễn Đình Thi, 2009) Luật đất đai 2013 phân loại đất thành 3 nhóm theo mục đích sử dụng, đó là: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất rừng trồng, nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống xã hội (Quốc hội, 2013)
Xét cho cùng, đất chỉ có giá trị thông qua quá trình sử dụng của con người, giá trị đó tuỳ thuộc vào sự đầu tư trí tuệ và các yếu tố đầu vào khác trong sản xuất Hiệu quả của việc đầu tư này sẽ phụ thuộc rất lớn vào những lợi thế của quỹ đất đai hiện có và các điều kiện KT-XH cụ thể (Nguyễn Điền, 2001)
Theo báo cáo Tổng điều tra đất đai năm 2010, tổng diện tích các loại đất kiểm kê của cả nước là 33.093.857 ha Theo mục đích sử dụng, đất được phân thành 3 nhóm chính: đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp của cả nước năm 2010 là 26.100.160 ha, tăng 5.179.385 ha (gấp 1,25 lần) so với năm 2000 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp cả nước có sự gia tăng tương đối, giai đoạn 2000 - 2010, tăng bình quân 114.000 ha/năm (Hà Văn Đồng 2013)
1.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp
Đất đai giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò
Trang 14của đất đối với mỗi ngành sản xuất có tầm quan trọng khác nhau C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất là mẹ” dẫn theo (Lê Hội, 1996) Trong sản xuất nông lâm - nghiệp, đất đai có ý nghĩa vô cùng quan trọng, điều này được thể hiện rõ nét qua các đặc điểm sau đây:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai được xem là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên Điều này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi bổ, bảo vệ, làm tăng độ màu mỡ của đất thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu (Trần
An Phong, 1995) Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất nông - lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản ngày càng tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Việc khai khẩn đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên Đây cũng là xu hướng vận động cần được quan tâm và khuyến khích
Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang hóa, nằm trong quỹ đất chưa sử dụng Vì vậy, cần phải đầu tư lớn sức người và sức của Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần phải tính toán kỹ để đầu tư cho công tác này thực sự có hiệu quả
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các miền (Nguyễn Đình Thi, 2009) Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị trường,…) và có chất lượng đất khác nhau Do vậy, việc
sử dụng đất đai phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ
Trang 15- Đất đai được coi là một hàng hóa đặc biệt, một tài sản (quyền tài sản) của người chủ sử dụng Vì vậy, người sử dụng đất sẽ có các quyền năng nhất định do pháp luật của mỗi nước trao cho, trong quá trình tập trung, tích tụ và chuyển hướng sử dụng đất Từ đó, họ có thể tận dụng được lợi ích và phát huy hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng đất nếu biết cách sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên này
Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình sản xuất nông nghiệp Thực tế cho thấy, thông qua quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng
cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
1.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
1.1.3.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả KT-XH trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu
Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển KT-XH, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao (FAO, 1990)
Trang 16Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp “đầy đủ và hợp lý” là cần thiết vì:
- Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp lý góp phần bảo vệ độ phì đất (Nguyễn Văn Bộ, 2003)
- Sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông dân
- Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững (Nguyễn Điền, 2001) Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và
hết sức quan trọng với mỗi quốc gia
1.1.3.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học - kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu (FAO, 1990)
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Thâm canh cây trồng vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định (Lê Văn Bá, 2001)
Trang 17- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa dạng hoá” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo
vệ môi trường (FAO, 1990)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác
- Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp cụ thể là:
+ Quan điểm phải khai thác triệt để, hợp lý có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp + Quan điểm chuyển mục đích sử dụng phù hợp
+ Quan điểm duy trì và bảo vệ đất nông nghiệp
+ Quan điểm tiết kiệm, làm giàu đất nông nghiệp
+ Quan điểm bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu dài
* Các nội dung và nhiệm vụ sử dụng đất được thể hiện ở những mặt sau:
- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất (Lê Văn Bá, 2001)
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất (Đặng Hữu, 2000)
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung thâm canh (Ngô Thế Dân, 2001)
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.4.1 Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng )
có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối (FAO, 1990) Vì vậy, khi xác định vùng nông nghiệp hoá cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
Trang 18Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất, quan trọng nhất, hạn chế năng suất cây trồng
ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất (Nguyễn Duy Tính, 1995)
1.1.4.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo (Vũ Năng Dũng, 1997) Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Theo Frank Ellis và Douglass C.North,
ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tưới tiêu hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh (FAO, 1990) Cho đến giữa thế kỷ
21, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế, trong nền nông nghiệp nước ta (Vũ Năng Dũng, 1997) Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất đai theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.4.3 Nhóm các yếu tố tổ chức
Nhóm yếu tố này bao gồm:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên (khí hậu, độ cao tuyệt đối của địa hình, tính chất đất, khả năng thích hợp của cây trồng đối với đất, nguồn nước và thực vật) làm cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi hợp lý, nhằm khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hóa, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Nguyễn Huy Phồn, 1996)
Trang 19- Hình thức tổ chức sản xuất
Cần phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng
cơ sở sản xuất, thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó (Kiều Trí Đức, 2009)
1.1.4.4 Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm yếu tố này bao gồm :
- Theo tác giả Nguyễn Duy Tính, (1995): “Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là : năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất
và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra”
1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả
đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đem lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó (Lê Hội, 1996)
Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá của hiệu quả Trên phạm vi toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội (Vũ Năng Dũng, 1997) Vì thế, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên hữu hạn
Trang 20Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995)
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường (Trần An Phong, 1995) Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất
Theo tác giả Nguyễn Thị Vòng (2001), “việc sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều các yếu tố liên quan Vì vậy, việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống” Nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường;
- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài
- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích của cả cộng đồng
- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác
- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên ba khía cạnh: hiệu quả về mặt kinh tế sử dụng đất, hiệu quả về mặt xã hội và hiệu quả về mặt môi trường
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu
Trang 21cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành” Theo quan điểm của C Mác đó là qui luật “Tiết kiệm”, là “Tăng năng suất lao động xã hội ”, hay đó là “tăng hiệu quả” Ông cho rằng: “ Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi
xã hội “ Như vậy, theo quan điểm của Mác tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và
nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội (Nguyễn Duy Tính, 1995) Theo tác giả Vũ Phương Thụy: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn
ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó"
Theo L.M Canirop "Hiệu quả của sản xuất được tính toán và kế hoạch hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung của nền kinh tế quốc dân bằng cách so sánh kết quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng"
Tác giả Nguyễn Duy Tính (1995)cho rằng: “Thông thường hiệu quả được hiểu như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa” Do vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó sẽ có hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định
Trang 22Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
Một là: mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại (FAO, 1990)
Hai là: hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và luôn vận động Theo nguyên lý đó, khi nhiều phần tử kết hợp thành một hệ thống sẽ phát sinh nhiều tính chất mới mà từng phần tử không có, tạo ra hiệu quả lớn hơn tổng hiệu quả các phần tử riêng lẻ Do vậy việc tận dụng khai thác các điều kiện sẵn có, hay giải quyết các mối quan hệ phù hợp giữa các bộ phận của một hệ thống với yếu
tố môi trường bên ngoài để đạt được khối lượng sản phẩm tối đa là mục tiêu của từng hệ thống Đó chính là mục tiêu đặt ra đối với mỗi vùng kinh tế, mỗi chủ thể sản xuất trong mọi xã hội (FAO, 1990)
Ba là: hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng,
vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội (FAO, 1990)
Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế nhằm đạt mục tiêu với một lượng tài nguyên nhất định tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn nhất hoặc tạo ra một khối lượng sản phẩm nhất định với chi phí tài nguyên ít nhất (Doãn Khánh, 2000)
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các
Trang 23nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội (Doãn Khánh, 2000)
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân (Trần An Phong, 1995)
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
* Hiệu quả môi trường
Môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, hiệu quả môi trường được các nhà nghiên cứu về môi trường rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại một môi trường xanh, sạch, đẹp hơn trước
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai,
nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái một cách bền vững (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
Trang 24Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế thì không
có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không
có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững
1.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Những điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Diện tích đất có hạn, dân số ngày càng tăng, nhu cầu về lương thực thực phẩm cũng tăng Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, cần xem xét ở các khía cạnh sau:
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và không kinh tế (ánh sáng, nhiệt độ, không khí ) Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên 1 đơn vị diện tích cụ thể, thường là 1 ha, tính trên 1 đồng chi phí, 1 lao động đầu tư (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001)
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,
do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân canh trên mỗi vùng đất
- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất (môi trường đất, nước) (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
- Đối với sản xuất nông nghiệp, môi trường vừa là tài nguyên vừa là đối tượng lao động, vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của toàn bộ nền nông nghiệp Mặt khác, nông nghiệp thường tác động mạnh mẽ lên môi trường Trong quá trình phát triển, ở nhiều giai đoạn phản ứng của môi trường thường tạo ra những trở ngại to lớn, có khi không thể vượt qua được Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị phá huỷ gây tác hại đến đời sống xã hội Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp ở giai đoạn hiện tại và
Trang 25mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp với môi trường xung quanh Cụ thể là khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có phù hợp với đất đai hay không? Việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp có để lại tồn dư hay không?
- Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến nông dân, đến các quan hệ sản xuất trong nông thôn (Đường Hồng Dật và cs, 1994) Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp, đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn
1.3.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu xuyên suốt mọi quá trình sản xuất của xã hội Tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển KT-XH khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả (FAO, 1990)
Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:
+ Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thoả mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu KT-XH, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (FAO, 1990)
Trang 26+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn
vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất Đó là phản ánh kết quả quá trình đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao (FAO, 1990)
+ Các tiêu chuẩn được xem xét với việc ứng dụng lý thuyết sản xuất cơ bản theo nguyên tắc tối ưu hoá Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có một lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác (FAO, 1990)
+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những ngư-
ời sống bằng nông nghiệp (FAO, 1990) Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:
* Bền vững về mặt kinh tế
Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định thì được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001)
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, củi, hạt, củ, quả, và tàn dư để lại) Một
hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Mặt khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và hướng tới xuất khẩu tuỳ theo mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức của vùng thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001)
Trang 27* Bảo vệ về môi trường:
Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái
Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý và
sử dụng đất nông nghiệp bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, ) (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
+ Tiêu chuẩn đảm bảo hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử lý chất thải có hiệu quả (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
1.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Phương pháp xác định với chỉ tiêu đánh giá đúng sẽ định hướng phát triển
sản xuất và đưa ra các quyết định phù hợp để tăng nhanh hiệu quả
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Mục tiêu và phạm vi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp
+ Các khả năng về điều kiện tự nhiên, KT-XH và các tiến bộ kỹ thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh
có thang bậc (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Trang 28+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính, các chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn (Nguyễn Đình Hợi, 1993), (FAO, 1990)
+ Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng sự lựa chọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ hiện tại của nền kinh tế (FAO, 1990)
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại nhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học (FAO, 1990) và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
Dựa trên cơ sở khoa học của hiệu quả, yêu cầu nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi lựa chọn các chỉ tiêu sau:
1.3.3.1 Hệ thống chỉ tiêu trong tính toán hiệu quả kinh tế
Có hai cách tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất biểu hiện bằng hai hệ thống chỉ tiêu sau (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001):
- Cách thứ nhất: để tính được hiệu quả kinh tế sử dụng đất phải tính được
các chỉ tiêu
+ Giá trị sản xuất : GO (Gross Outpu); là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất
ra trong kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất)
+ Chi phí trung gian : IC (Intermediate Cost); Là toàn bộ chi phí vật chất
và dịch vụ sản xuất qui ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc hoá học, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu)
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả:
Trang 29+ Giá trị gia tăng : VA (Value Added); Là giá trị sản phẩm vật chất mới
tạo ra trong qúa trình sản xuất, trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất, được xác định bằng: giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian
VA = GO - IC Thường tính toán ở 3 góc độ hiệu quả :
VA/ 1ha đất VA/ 1 đơn vị chi phí (1VNĐ, 1USD)
VA/ 1 công lao động
+ Thu nhập hỗn hợp : MI (Mixed Income) ; Là thu nhập sau khi đã trừ các
khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuê ngoài
MI = VA - T (thuế) - A (khấu hao) - L (chi công lao động)
Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả:
MI/ 1ha đất
MI/ 1 đơn vị chi phí (1VNĐ, 1USD)
MI/ 1 công lao động
- Cách tính thứ hai:
Các chỉ tiêu tính toán để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất:
+ Giá trị sản xuất (GO)
+ Chi phí biến đổi (VC) hay chi phí khả biến, là chi phí thay đổi khi qui
mô năng suất và khối lượng đầu ra thay đổi
Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế :
+ Lãi thô (GM) là phần dôi ra khi so sánh giá trị sản xuất với chi phí biến đổi
GM = GO - VC Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả
Trang 30Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế :
+ Lãi ròng (NI) còn gọi là lãi tinh hay lãi thuần là phần lãi còn lại sau khi trừ toàn bộ chi phí biến đổi và chi phí cố định
NI = GM - FC Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả
NI/ 1ha đất
NI/ 1 đơn vị tiền tệ chi phí (1VNĐ, 1USD…)
NI/ 1 công lao động
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi lựa chọn cách tính thứ nhất vì cách tính này thường áp dụng tính cho các hộ nông dân, các trang trại qui mô nhỏ
mà chia tách được chi phí lao động
1.3.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội chính là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội thể hiện
cụ thể:
- Mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập (Đỗ Thị Tám, 2001)
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học (FAO, 1990)
1.3.3.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường sinh thái có thể phân tích thông qua các chỉ tiêu sau:
- Đánh giá tính thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại thông qua các chỉ tiêu cụ thể:
+ Mức độ đầu tư phân bón
+ Mức độ sử dụng thuốc BVTV
- Hệ số sử dụng đất, biện pháp luân canh cải tạo đất
- Tỉ lệ diện tích đất đai được bảo vệ và cải tạo, bị ô nhiễm hay thoái hoá
- Mức độ bảo vệ môi trường sinh thái trong vùng (đất, nước, không khí, động, thực vật)
- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Trang 31Môi trường trong nông nghiệp bao gồm các biện pháp làm đất, bón phân, tưới tiêu nước Nếu như sự phối hợp các khâu này trong canh tác không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất bởi các chất hoá học, đất bị chua, mặn hoặc laterit hoá, làm giảm độ phì nhiêu của đất, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, phẩm chất nông sản và làm suy thoái môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài (Đỗ Thị Tám, 2001) Vì vậy, đề tài nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏng vấn hộ nông dân về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa ba hệ thống chỉ tiêu kinh tế-xã hội và môi trường trong một thể thống nhất Tuy nhiên, tuỳ từng điều kiện
cụ thể mà ta có thể nhấn mạnh từng hệ thống chỉ tiêu ở mức độ khác nhau
1.4 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.4.1 Những nghiên cứu trên Thế giới
* Nghiên cứu quản lý sử dụng đất
Diện tích đất đai có hạn trong khi dân số ngày càng tăng, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn
đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được tiến hành ở các nước Đông Nam Á như: phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp phân tích chuyên gia Bằng những phương pháp đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng
Hàng năm, các Viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao
Trang 32hơn Viện Lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí “Farming Japan” của Nhật ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật (Nguyễn Duy Tính, 1995)
Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng “quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp” Đó là quá trình hình thành của sinh thái đồng ruộng cây trồng phát triển trên đất cao trước, đất thấp sau Nhà khoa học Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, KT-XH Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi Cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995)
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai
là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ
sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương”, đã thúc đẩy phát triển KT-XH nông thôn phát triển và nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp (Doãn Khánh, 2000)
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000) (Vũ Thị Phương Thụy, 2000), ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% tổng thu nhập nông nghiệp), Canađa là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Oxtraylia là 1,7 tỉ USD (chiếm 14,5%), Cộng đồng châu Âu là 67,2 tỉ USD (chiếm 42,1%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (68,9%)
Trang 33Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Các nước châu Á đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Một mặt phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh, môi trường
* Nghiên cứu quản lý sử dụng đất vùng đồi núi
Việc nghiên cứu về quản lý đất đồi núi ở Châu Á đang được thực hiện ở các nước Inđônêxia, Nêpan Philiphin, Thái lan, Trung quốc và Việt Nam, những nước này có chung một thực trạng canh tác không hợp lý trên đất đồi núi nên đã gây ra thoái hoá đất (Thái Phiên, 1999)
Vùng đồi núi Trung Quốc có dốc 30 - 40% Những loại hình sử dụng đất
có hiệu quả gồm: Trồng cây theo băng và tạo băng chăn hỗn hợp giữa Tephrosia candida và Conronilla varia; Nông lâm kết hợp trồng cây lương thực xen với các dãi rừng bạch đàn ở Indonesia, cơ cấu cây trồng gồm lạc - đỗ xanh - lúa đồi được khuyến cáo trên đất dốc 8 - 18%, với các kỹ thuật trồng xen băng cây phủ đất, xữ lý tàn dư hữu cơ
Để canh tác đất đồi núi bền vững nhiều tác giả nhận định đa dạng hoá cây trồng là tốt nhất, ngoài những cây trồng chính nên trồng xen các loại cây trồng thuộc bộ đậu, vì nó có thể dùng làm cây phân xanh, làm thức ăn cho gia súc và tạo ra thu nhập
Những năm gần đây tại khu vực Châu Á, các trung tâm nghiên cứu quốc
tế và quốc gia đã tiến hành nghiên cứu về tình trạng và nguyên nhân đất bị xói mòn, thái hóa, mối liên hệ kiếu sử dụng đất canh tác và xói mòn Các kết quả nghiên cứu đưa ra 4 nguyên nhân gây thoái hóa đất đó là:
- Nhân tố tự nhiên (khí hậu, độ dốc)
- Quản lí kém (khai thác rừng bừa bãi)
- Gây cháy rừng
- Chính sách vĩ mô (quyền sở hữu đất đai, thiếu sự hướng dẫn)
Trang 341.4.2 Các nghiên cứu ở trong nước
* Nghiên cứu quản lý sử dụng đất
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm châu Á, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài nguyên đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên/người là 4.093,9m2, chỉ bằng 1/7 mức bình quân của thế giới Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người là 3.068,2m2 bằng 1/3 mức bình quân thế giới (Vũ Thị Phương Thụy, 2000) Mặt khác, dân số tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên đầu người ngày càng giảm Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số là 1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 và đến năm 2050 sẽ đạt ở mức cao 130-140 triệu người (Bộ NN&PTNT, 2009) Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Trong những năm qua, nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật và kinh tế nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia đã được tiến hành, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung và ngày càng phát huy hiệu quả các vấn
đề như: lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của tác giả Trần An Phong - Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1995)
Chương trình bản đồ canh tác do Uỷ ban khoa học Nhà nước chủ trì, cũng
đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón có hiệu quả trên các chân ruộng một vụ góp phần làm tăng năng suất sản lượng cây trồng các vùng sinh thái khác nhau
Các đề tài nghiên cứu trong chương trình khuyến nông do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng Sông Hồng nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó Trong đó phải kể đến các công trình như: Đánh giá các loại hình sử dụng đất chủ yếu trong nông lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng
Trang 35trung tâm miền núi bắc bộ Việt Nam của tác giả Nguyễn Huy Phồn (1996); Đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của tác giả Vũ Năng Dũng (1997); Đánh giá đất và hướng sử dụng đất đai bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn - Bắc Ninh của tác giả Đỗ Nguyên Hải (2001)
Tác giả Ðoàn Công Quỳ (2006) đã sử dụng hệ thống chỉ tiêu như: giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất/lao động, giá trị gia
tăng/lao động để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác ở các xã vùng đồng bằng huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây”
Theo kết quả nghiên cứu (Phạm Vặn Dự, 2009) đồng bằng Sông Hồng có diện tích xấp xỉ 15.000 km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 855 ngàn hecta, bằng 57% tổng diện tích Tổng dân số là 17,6 triệu nguời, trong đó 13,4 triệu là dân số nông nghiệp và nông thôn Tuy nhiên, trong những năm qua, do các thửa ruộng manh mún, cách làm ăn cá thể, nhỏ lẻ đã đẩy chi phí sản xuất lên rất cao, thậm chí bằng với giá bán Trung bình mỗi hộ chỉ có 0,2 hecta đất nông nghiệp với từ 3-7 mảnh Theo kết quả điều tra năm 2006, bình quân thu nhập của nông dân chỉ là 506 nghìn đồng/tháng Một trong những nguyên nhân cơ bản là quy mô đất đai của các nông hộ hiện nay quá nhỏ và manh mún đã ảnh huởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, không áp dụng được cơ giới hoá đồng bộ, không áp dụng được nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí Theo (Bộ NN&PTNT, 2009) để khắc phục tình trạng này, đã có nhiều giải pháp đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất như dồn điển đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tích tụ ruộng đất Mỗi giải pháp đều gặp nhiều khó khan và có mặt trái của
nó, như năng suất, điều kiện tự nhiên giữa các đồng đất không đều, đầu ra sản phẩm không ổn định, hậu quả xã hội khi nông dân mất ruộng, … Nghiên cứu này
đề nghị giải pháp xây dựng Tổ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tự nguyện của các hộ, bỏ bờ thửa, cùng canh tác, đưa máy móc thiết bị vào sản xuất
đã giảm được đến 50% chi phí, được bà con nông dân đồng tình huởng ứng Bên cạnh đó, vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lực đất đai, khí hậu, để bố trí cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng được nhiều tác giả đề cập
Trang 36Nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu cũng như thực tiễn sản xuất mới chỉ giải quyết được phần nào những vấn đề được đặt ra trong việc sử dụng đất đai hiện nay Có những mô hình cho năng suất cây trồng cao, bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả kinh tế thấp, có mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao trước mắt, song chưa có gì đảm bảo cho việc khai thác lâu dài, ổn định, đặc biệt có nơi còn làm huỷ hoại môi trường, phá huỷ đất.Vì vậy cần có sự nghiên cứu các giải pháp thích hợp hướng tới một nền nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững
* Nghiên cứu quản lý sử dụng đất vùng đồi núi
Đất đồi núi việt nam là hợp phần quan trọng của quĩ đất, chiếm 3/4 lãnh thổ toàn quốc, tập trung ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Tây Nguyên Trong số 12,087
triệu ha đất chưa sử dụng thì đất đồi núi là 8,548 triệu ha, chiếm 70,72% Như
vậy tiềm năng đất dốc còn khá phong phú (Nguyễn Tử Siêm, 1999)
Diện tích đất dốc nước ta khá lớn trong khi diện tích rừng của nước ta ngày càng thu hẹp do đó độ che phủ đất giảm dần Lượng mưa cao, cường độ mưa lớn và tập trung, cộng với lối canh tác không có biện pháp bảo vệ đất của người dân làm cho đất dốc của nước ta ngày càng suy thoái mạnh mẽ Vì vậy vấn đề sử dụng hợp
lý hiệu quả đất dốc được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Vào những năm 60 các nghiên cứu về đất dốc có xu hướng hướng tập trung vào các vấn đề xói mòn Năm 1962 Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Quý Khải, Cao Văn Minh xây dựng các thí nghiệm chống xói mòn ở Cầu Hai Phú Thọ Năm 1965 Bùi Quang Toản xây dựng mô hình chống xói mòn tại ấp Bắc Năm
1971 Hà Ngọc Ngô nghiên cứu về ảnh hưởng của biện pháp cắt dòng chảy và cây trồng phủ đất Năm1978 Vũ Ngọc Tuyên đã nghiên cứu biện pháp xây dựng đồi nương và canh tác trên đất dốc Năm 1980 Vũ Thành đã thử nghiệm đối với biện pháp tủ cỏ vào đất trồng dứa ở Hoà Vang trên đất dốc 100 - 150, kết quả cho thấy
độ ẩm tăng 1 - 3 %, độ xốp tăng từ 2- 3 % và giảm xói mòn 45 - 50 % so với không tủ Từ đó đến nay các nghiên cứu nhằm phục vụ cho việc sử dụng hợp lý đất dốc ngày một nhiều và mang lại những hiệu quả đáng kể
Nghiên cứu về cơ cấu cây trồng và biện pháp canh tác chống xói mòn bảo
vệ đất dốc tại các địa điểm Ba Vì, Đắk Lắk, Lương Sơn kết quả cho thấy việc trả
Trang 37lại hữu cơ cho đất trên đất đồi là biện pháp tốt nhất để từng bước phục hồi, giữ gìn và cải thiện độ phì nhiêu đất Mặc dù biện pháp trồng băng cây xanh chống xói có chiếm đi khoảng 10% diện tích cây trồng chính, xong năng suất cây trồng chỉ ảnh hưởng tới năm đầu của thí nghiệm, năng suất các năm sau tốt dần lên do
độ phì nhiêu dần dần được cải thiện (Thái Phiên, 1994)
Trong nghiên cứu về ảnh hưởng của các biện pháp canh tác đến xói mòn trong lưu vực ở lưu vực thôn Đông Cao, xã Tiến Xuân, huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình kết quả cho thấy áp dụng các biện pháp bảo vệ đất, như trồng băng chắn xói mòn, trồng xen cây sắn với khoai sọ đã giảm được 77 - 81% lượng đất trôi so với sắn thuần không có biện pháp bảo vệ, trồng xen cây sắn với cây lâm nghiệp (cây keo) đã giảm được 71 - 76% lượng đất xói mòn so với sắn thuần không có biện pháp bảo vệ (Trần Đức Toàn, 2001)
1.4.3 Các nghiên cứu trên địa bàn vùng Tây Bắc và tỉnh Sơn La
Sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về mặt vật chất, tinh thần của toàn xã hội Khi nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng trở nên khan hiếm Việc nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất Ngày nay, sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp phát triển bền vững cũng là
xu thế tất yếu đối với các quốc gia, các vùng Vì vậy, đất đai hay bất cứ nguồn lực nào cũng cần được sử dụng một cách có hiệu quả, đầy đủ và hợp lý Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta cũng ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp nông thôn
* Trên địa bàn vùng Tây Bắc đối với vấn dề sử dụng đất nông nghiệp, có một số
nghiên cứu diển hình sau:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Quy hoạch và Thiết kế
nông nghiệp (2005) đã thực hiện dự án nghiên cứu “Quy hoạch sử dụng hiệu quả
38 vạn ha đất nương rẫy vùng trung du miền núi Bắc Bộ” Nghiên cứu khẳng định, canh tác nương rẫy là một giai đoạn phát triển nông nghiệp mà mọi miền trên trái đất đều trải qua và hiện vẫn đang tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở nuớc ta, canh tác nương rẫy là phương thức sản xuất truyền thống lâu đời của
Trang 38cộng đồng các dân tộc vùng cao, mang nặng tính tự cung tự cấp Cả một thời gian dài, canh tác nương rẫy đã đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm của các cư dân vùng đồi núi Tình hình này vẫn sẽ còn tồn tại trong tương lai xa Tuy nhiên, canh tác nương rẫy là hệ luỵ của việc phá rừng, đốt nương làm rẫy Ða số đất nương rẫy có độ dốc cao; canh tác trên đất nương rẫy chủ yếu theo phương thức truyền thống, khai thác tự nhiên, thiếu các biện pháp chống xói mòn rửa trôi nên phá vỡ nghiêm trọng môi trường sinh thái, đất thoái
hoá, năng suất cây trồng thấp Do sản xuất quảng canh nên sau một chu kỳ nhất
định, người dân buộc phải bỏ nương rẫy cũ và khai phá vùng đất khác, lại đốt nương làm rẫy, Hầu hết các diện tích đất trống đồi trọc hiện nay là hệ quả của canh tác nương rẫy Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, năm 2005, cả nước có khoảng 1 triệu ha đất nương rẫy thì riêng vùng TD – MNPB dã có 45,2 vạn ha, chiếm trên 45% đẫt nương rẫy của cả nước Tỷ trọng đất nương rẫy trong đất nông nghiệp của vùng là 30,6%, trong đất cây hàng năm 39,7%, cao hơn nhiều so với các vùng khác Ðặc biệt 3 tỉnh Tây Bắc, tỷ trọng đất nương rẫy trong đất nông nghiệp rất cao như tỉnh Ðiện Biên 55,2%, Sơn La 68,8%, Lai Châu 48%
Theo luận án (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013) đã luận giải nguyên nhân của thực trạng sử dụng đất nông nghiệp, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất được một hệ thống các giải pháp khá toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Yên Bái trong bối cảnh nền nông nghiệp phải đối diện với nhiều thách thức Trong nghiên cứu (Nguyễn Quang Tin, 2011) đã nghiên cứu và triển khai
áp dụng các biện pháp canh tác bền vững trên đất dốc như: kỹ thuật che phủ đất tận dụng các tàn dư thực vật, kỹ thuật tạo tiểu bậc thang trên đất dốc, kỹ thuật trồng xen canh cây trồng dể giảm thiểu sự rửa trôi… tại tỉnh Yên Bái Thực tế cho thấy, việc ứng dụng các kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc dã mở ra một huớng đi mới trong sản xuất nông lâm nghiệp cho một số huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái Ðây là những kỹ thuật đơn giản, dễ làm, chi phí đầu tư ít nhưng lại mang lại hiệu quả cao, giúp ngăn chặn xói mòn, rửa trôi đất đai đến 80%, tăng độ ẩm đất từ 20-30% và cải thiện cấu trúc của đất Hơn nữa, các kỹ
Trang 39thuật này còn mang tính bảo vệ môi truờng sinh thái, tăng năng suất cây trồng lên
từ 25-50%, góp phần nâng cao thu nhập cho bà con nông dân vùng cao tỉnh Yên Bái
* Trên địa bàn tỉnh Sơn La:
Tại Sơn La, những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm bền vững hay theo hướng sản xuất hàng hoá còn chưa nhiều Năm 2011 TS Trần Minh Tiến và
các cộng sự đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp vùng miền núi Tây Bắc Việt Nam” Kết quả đã xây
dựng được bộ cơ sở dữ liệu về thực trạng số lượng, chất lượng đất Đánh giá được hiện trạng hiệu quả sử dụng tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp và các yếu tố hạn chế trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp Đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho một số cây trồng chính (cao
su, chè, cà phê chè, lúa, ngô, sắn, bông, cây ăn quả) và đề xuất cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế trên các tiểu vùng sinh thái Xây dựng được các giải pháp khoa học công nghệ (đất, phân bón, sinh học) nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất theo hướng bền vững cho một số cây trồng chính cho toàn vùng miền núi Tây Bắc nói chung và trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng
Kế thừa kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm cụ thể hóa phát triển những
mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả cao và đề xuất một số biện pháp sử dụng đất thích hợp góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, giúp địa phương có căn cứ lựa chọn các loại hình sử dụng đất hiệu quả nhất về cả kinh tế,
xã hội và môi trường, việc tiến hành nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Yên Châu tỉnh Sơn la” là việc làm có ý nghĩa thực tiến rất lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển trên địa bàn huyện Yên Châu nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, người sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Châu
- Các yếu tố liên quan đến sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu tại địa bàn huyện Yên Châu
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, với các xã đại diện có các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phổ biến
- Về thời gian: Số liệu thống kê phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập
từ năm 2009 - 2013 về đất đai, kinh tế xã hội của huyện Số liệu điều tra nông hộ, giá cả, vật tư và nông sản phẩm điều tra năm 2013- 2014
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết địa hình, tài nguyên đất và nước , ảnh hưởng đến sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện
- Nghiên cứu các điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của địa phương như: thực trạng phát triển kinh tế, tình hình dân số, lao động, trình độ dân trí, thực trạng cơ sở hạ tầng , từ đó rút ra những những thuận lợi và hạn chế trong sản xuất nông nghiệp
- Tình hình sử dụng đất của huyện Yên Châu giai đoạn 2009 đến năm 2013
2.3.2 Thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Xác định thực trạng các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Phân bố các kiểu sử dụng đất trong huyện
- Tổ chức sản xuất nông nghiệp trong huyện