Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản của phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là trồng trọt, cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN ĐÌNH THẮNG
THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐÔ LƯƠNG,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc
Nghệ An, ngày 16 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Thắng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn quý báu của các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý đất đai - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Để có được kết quả nghiên cứu này, cùng với sự nỗ lực của bản thân, được sự hướng dẫn nhiệt tình, tâm huyết của Thầy giáo PGS-TS Nguyễn Khắc Thời - Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã hướng dẫn cho tôi từ định hướng đề tài đến hoàn thiện luận văn này
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ địa chính, văn phòng, lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Đà Sơn
và xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An; Sở Nông nghiệp và PTNT Nghệ An; UBND huyện Đô Lương, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thống kê, các phòng ban liên quan và nhân dân các xã trên địa bàn huyện Đô Lương; của bạn bè, đồng nghiệp; sự động viên, tạo điều kiện của gia đình và người thân
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Nghệ An, ngày 16 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Thắng
Trang 41.1 Khái quát chính sách đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ 4
1.2.2 Khái quát tình hình tích tụ ruộng đất của một số nước trên thế giới 11
1.2.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 15
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác DĐĐT, ảnh hưởng đến hiệu
Chương 2 PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
Trang 52.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Đô Lương 35
2.2.2 Thực trạng ruộng đất huyện Đô Lương trước khi DĐĐT lần 2 35
2.2.4 Ảnh hưởng quá trình DĐĐT đến sản xuất nông nghiệp 35
2.2.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau DĐĐT 36
2.2.6 Đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ DĐĐT trên địa bàn toàn
huyện và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp sau DĐĐT 36
2.3.4 Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ, hình ảnh 37
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đô Lương 38
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Đô Lương 45
3.1.3 Tình hình quản lý sử dụng đất huyện Đô Lương 50
3.2 Công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Đô Lương 57
3.2.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa 57
3.2.4 Quy trình dồn điền đổi thửa huyện Đô Lương 60
3.2.5 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa huyện Đô Lương đến 2014 62
3.3 Tình hình thực hiện dồn điền đổi thửa tại 2 xã nghiên cứu 67
3.3.1 Khái quát tình hình chung 2 xã nghiên cứu 67
3.3.2 Thực trạng manh mún đất đai trước DĐĐT lần 2 tại 2 xã
3.3.3 Một số thuận lợi và hạn chế trong quá trình thực hiện DĐĐT lần
Trang 62 trên địa bàn hai xã nghiên cứu 71
3.3.4 Kết quả thực hiện DĐĐT lần 2 tại 2 xã nghiên cứu (2014) 72
3.3.5 So sánh kết quả trước DĐĐT (2010) và sau DĐĐT (2014) tại 2
3.4 Ảnh hưởng của công tác DĐĐT đến sản xuất nông nghiệp 77
3.4.1 Ảnh hưởng về cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu và kết quả sản xuất 77
3.4.2 Ảnh hưởng DĐĐT đến cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, khả năng
3.4.3 Ảnh hưởng của DĐĐT đến công tác quản lý nhà nước về đất đai 86
3.5 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau DĐĐT 88
3.6 Đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ DĐĐT nâng cao hiệu
quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đô Lương 91
3.6.1 Giải pháp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám
Trang 7
CĐRĐ Chuyển đổi ruộng đất
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2.2 Tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Âu, Mỹ 15
3.1 Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006-2014 45
3.4 Hiện trạng sử dụng đất huyện Đô Lương năm 2014 55
3.5 Kết quả dồn điền đổi thửa huyện Đô Lương đến 2014 63
3.6 Một số chỉ tiêu cơ bản năm 2014 của 2 xã nghiên cứu 69
3.7 Tổng hợp Kết quả DĐĐT lần 2 tại 2 xã nghiên cứu (2014) 73
3.8 Biến động diện tích đất trước và sau DĐĐT tại 2 xã điều tra 78
3.9 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của 2 xã
3.10 Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi nội đồng trước và sau DĐĐT 83
3.11 Sự thay đổi vật tư và các thiết bị phục vụ sản xuất sau DĐĐT 85
3.12 Ảnh hưởng của DĐĐT đến công tác QLNN về đất đai 87
3.13 Tổng hợp kết quả phỏng vấn nông hộ ở 2 xã nghiên cứu 90
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1 Vị trí huyện Đô Lương trong tỉnh Nghệ An 38
3.3 Vị trí 2 xã Đà Sơn và xã Lam Sơn trong huyện Đô Lương 67
3.4 Nhân dân xã Lam Sơn thực hiện công tác DĐĐT kết hợp với xây
3.5 Nhân dân xã Đà Sơn thực hiện DĐĐT kết hợp với xây dựng giao
3.6 Đưa cơ giới vào sản xuất ở xã Đà Sơn, Đô Lương, Nghệ An 89
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất sản xuất nông nghiệp, là tư liệu đặc biệt, là nơi phát triển sản xuất, tạo ra của cải vật chất nuôi sống đại bộ phận dân số của cả nước (70% dân số chủ yếu sống bằng nguồn thu từ nông nghiệp), đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần cung ứng lương thực cho thế giới, xuất phát từ tầm quan trọng này, Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến các vấn đề quản lý và sử dụng đất đai nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói riêng
Đất đai manh mún là một trong những vấn đề lớn của các nước đang phát triển, Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ manh mún đất đai cao nhất so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người trên thế giới là 0,52 ha, trong khu vực là 0,36 ha thì ở Việt Nam là 0,25 ha Năm 2000, trung bình diện tích đất nông nghiệp/ người là 680m2, năm 2005 là 630m2, năm 2011 là 437m2 (Niên giám thống kê các năm) Cùng với sự sụt giảm trong diện tích bình quân đầu người là sự thu hẹp về quy mô sản xuất Theo Viện Chính sách và chiến lược phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (1999) có tới 70,36% hộ nông dân có diện tích canh tác khoảng 0,5ha, chỉ có 3,46% số hộ có diện tích canh tác lớn hơn 3ha Đến năm 2010, tỷ lệ hộ có diện tích đất canh tác nhỏ hơn 0.5 ha có giảm nhưng không đáng kể, cả nước tỷ lệ này vẫn là 67,38% Trong đó: Đồng bằng sông Hồng đạt tỷ lệ cao nhất với 94,46%; miền núi phía Bắc 63,9%; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 79,54%; Tây Nguyên 24,08%; Đông Nam Bộ 35,48%; Đồng bằng sông Cửu Long 47,96%
Theo Điều tra nông thôn của dự án DANIDA với bộ số liệu điều tra tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam (VARHS) được tiến hành điều tra trên địa bàn 12 tỉnh trong thời gian từ tháng 7-9/2008 đến tháng 6-8/2010
Trang 12cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của một hộ nông dân là 0,85 ha, trung bình mỗi hộ có 4,7 mảnh đất khác nhau Theo số liệu điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2011 Việt Nam vẫn còn 69% số hộ sử dụng đất sản xuất có quy mô dưới 0,5 ha; 34,7% số hộ có quy mô dưới 0,2 ha Như vậy, có thể thấy đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đang bị phân tán lớn, quy mô sản xuất nhỏ, số thửa canh tác nhiều (Lê Thị Anh, 2011)
Nghị quyết 26, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X (2006) về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn được đánh giá là toàn diện nhất
về vấn đề “Tam nông” Song để tạo nên tính đột phá trong thực hiện Nghị quyết quan trọng này, vấn đề cấp bách hiện nay là phải rà soát quy hoạch không gian và chi tiết việc sử dụng đất đai trên phạm vi toàn quốc Nhất là dành đất cho sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa), để đảm bảo an ninh lương thực bền vững và lâu dài Nhằm khắc phục những hạn chế trong vấn đề sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, việc tiếp tục thực hiện DĐĐT, tích
tụ ruộng đất là một nhu cầu tất yếu
Huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An là địa phương có tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp, đã thực hiện DĐĐT lần 1 (2005), nhưng quy mô thửa đất còn nhỏ; số thửa/hộ còn nhiều; giao thông, thủy lợi nội đồng chưa đồng bộ, đã ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức sản xuất, áp dụng KHKT, công nghệ vào sản xuất, Những bất cập ở Đô Lương cũng là tình trạng chung của Nghệ
An, điều đó càng rõ hơn khi triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới (2011) Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TU, ngày 08/5/2012 v/v đẩy mạnh vận động nông dân tiếp tục dồn điền, đổi thửa và khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất quy mô lớn trong nông nghiệp Công tác DĐĐT lần 2 trên địa bàn tỉnh Nghệ An được triển khai (năm 2012), huyện Đô Lương là một trong những địa phương đi đầu trong phong trào này
Để đánh giá công tác DĐĐT trên địa bàn huyện Đô Lương một cách
Trang 13khách quan, sát thực, từ đó đề xuất các giải pháp đẩy nhanh công tác DĐĐT lần 2, tạo ra các vùng sản xuất chuyên canh, tiến tới phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới Được sự hướng dẫn của thầy giáo PGS TS Nguyễn Khắc
Thời, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ dồn điền đổi thửa phục vụ sản xuất nông nghiệp huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An”
2 Mục đích yêu cầu của đề tài
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ dồn điền đổi thửa
và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát chính sách đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ
1.1.1 Giai đoạn 1945- 1981
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính: đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Khu vực nông thôn được phân chia làm 2 tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu của đất đai: Địa chủ và Tá điền, tầng lớp Địa chủ chiếm khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích đất, trong khi đó 59% hộ nông dân là Tá điền không có đất và đi làm thuê cho tầng lớp Địa chủ
Sau năm 1945, Chính phủ đã thực hiện phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và Tá điền Sau khi kết thúc chiến tranh với Thực dân Pháp (năm 1954), miền Bắc thực hiện chương trình Cải cách ruộng đất cơ bản Mục đích là để công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp, tiến hành phân chia lại cho hộ nông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu hiệu “người cày có ruộng” Giai đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất đó là miền Bắc bước sang giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu (bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao) Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp, trong hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất Ở hình thức hợp tác xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản xuất (trâu, bò, gia súc và các công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự quản lý chung
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại và những hậu quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và
Trang 15kinh tế tập thể trong nông nghiệp Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp (2,0%) Cùng thời điểm này dân
số tăng rất nhanh (2,2-2,35%/ năm) đã dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi năm trong suốt thời kỳ sau chiến tranh Điều
đó đã dẫn đến một bộ phận lớn dân số sống trong tình trạng nghèo đói (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2003)
1.1.2 Giai đoạn 1981- 1986
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn và rút kinh nghiệm qua các thí điểm, ngày
13 tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V đã ra Chỉ thị số 100/CT-TW về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là chỉ thị 100) Chỉ thị 100 đã hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ gia đình và người lao động; xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên ruộng khoán và hưởng trọn phần vượt khoán Chỉ thị 100 là khâu đột phá, mở đầu sự đổi mới
đã có tác dụng ngăn chặn sự sa sút và tạo đà đi lên trong sản xuất nông nghiệp
ở Việt Nam Từ đó nền nông nghiệp bước đầu có khởi sắc, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng từ 14,4 triệu tấn năm 1980 tăng lên 18,4 triệu tấn năm
1986, bình quân mỗi năm tăng gần 70 vạn tấn, gấp 3 lần mức tăng trước đó Năng suất lúa 5 tấn/ha của Thái Bình đã có nhiều địa phương vượt qua vươn tới mô hình 10 tấn/ha (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2003)
1.1.3 Giai đoạn 1986 đến nay
Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam Sự đổi mới trong tư duy kinh
tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là tất yếu khách quan phù hợp với tình hình thực
Trang 16tiễn trong và ngoài nước Nó đáp ứng kịp thời tính thúc bách của hoàn cảnh lúc bấy giờ: siêu lạm phát, thất nghiệp tăng cao, sản xuất đình đốn, lưu thông ngưng trệ, cán cân thương mại thâm hụt,… hầu hết các chỉ số vĩ mô đều dưới mức an toàn, đời sống kinh tế - xã hội khủng hoảng nghiêm trọng Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Nghị quyết 10/NQ- TW ngày
05 tháng 4 năm 1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được ban hành (hay còn gọi “Khoán 10”): Nghị quyết 10 đề ra cơ chế khoán mới, xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị chủ quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh
tế tự chủ nhận khoán với hợp tác xã Như vậy, lần đầu tiên kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ Nghị quyết 10 đã được giai cấp nông dân tiếp nhận với tinh thần phấn khởi thực hiện, đưa lại nhiều chuyển biến rõ rệt: sản xuất lương thực đã có sự khởi sắc đáng kể, từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm 1989, tức là tăng thêm 2 triệu tấn/năm, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp gần 10% là một kỷ lục chưa từng có Sản lượng lương thực tăng nhanh không những cung cấp đủ nhu cầu cho nhân dân; tháng
6 năm 1989, với 1,2 triệu tấn gạo đầu tiên của Việt Nam được xuất khẩu ra quốc tế, mở đầu cho trang sử xuất khẩu lương thực của Việt Nam Tuy nhiên,
“Khoán 10" chưa đề cập quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân và việc xây dựng hợp tác xã mới Về mặt pháp lý đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền quản lý của HTX nông nghiệp, cơ chế này đã làm cho hộ nhận khoán không thỏa mãn, họ cảm thấy bị thiệt thòi, dẫn đến không có động lực đầu tư tăng năng suất Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước tiếp tục nghiên cứu để tìm
ra những quyết sách nhằm đổi mới mạnh mẽ hơn về quan hệ của hộ xã viên với ruộng đất nhận khoán, tạo động lực mới trong nông nghiệp, nông thôn
Luật đất đai 1993 ra đời, tiếp tục đổi mới quan trọng trong hệ thống các chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta Theo đó, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển nhượng,
Trang 17chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Các quyền này chỉ có giá trị trong thời hạn giao đất Luật cũng quy định thời gian giao đất được ổn định trong
20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm Hết thời hạn giao đất nông dân có thể được gia hạn sử dụng tiếp nếu có nhu cầu và chấp hành tốt các quy định quản lý đất đai của Nhà nước Luật cũng quy định hạn mức giao đất tới 3ha áp dụng cho 16 tỉnh, thành phố ở miền Nam; 2 ha đối với các tỉnh thành khác Điểm mới của Luật đất đai năm 1993 đi cùng với việc giao đất ổn định đã quy định cụ thể về nghĩa vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nhà nước, để người nông dân có quyền tự chủ trong việc canh tác trên mảnh đất được giao, nhờ đó đã có tác dụng khuyến khích nông dân tìm phương thức sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn Luật đất đai năm 1993 được tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, năm 2001 năm 2003, trong đó có quy định chế độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp được giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo tinh thần: tất cả những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có quyền sử dụng đất đều được Nhà nước cấp giấy CNQSD đất Việc giao đất, cấp giấy CNQSD đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhằm tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư thâm canh trên diện tích được giao, là vật bảo đảm về mặt pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền của họ mà pháp luật đã quy định Đó là sơ sở để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển (Nghị định 64/CP, 1993)
Thực trạng cho thấy, Luật Đất đai năm 1993 cũng như các luật sửa đổi sau này mới chú trọng đến vấn đề giao đất và tạo cơ sở pháp lý cho nông dân
sử dụng đất để kinh doanh, sản xuất nông nghiệp mà chưa chú trọng đúng mức đến việc tập trung đất cho sản xuất nông nghiệp theo quy mô hiệu quả
Do diện tích đất nông nghiệp nước ta nhỏ, cách giao đất lại theo kiểu bình quân, có tốt, có xấu, có gần, có xa dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp được
Trang 18phân chia rất manh mún, mỗi hộ có nhiều thửa ruộng nhỏ nằm rải rác trên nhiều xứ đồng khác nhau Tình trạng này rất phổ biến, nhất là ở miền Bắc Các quy định của Luật đất đai về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, đấu thầu đất là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện từng bước cho tích tụ ruộng đất, nhưng chưa đủ để khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ Do đó “dồn điền đổi thửa” được coi là một trong những việc cần thiết của chính sách đất nông nghiệp của Việt Nam trong thời gian qua
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn, đưa Việt Nam từ nước nhập khẩu gạo trở thành nước xuất khẩu gạo An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi (Ban kinh tế Trung ương, 2004)
Luật đất đai 2013 (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ 1/7/2014 tiếp tục khẳng định và khắc phục những hạn chế, bổ sung những điều khoản phù hợp với thực trạng và xu thế phát triển, nhằm tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những người sử dụng đất
1.2 Tổng quan về dồn điền đổi thửa
1.2.1 Manh mún đất đai
1.2.1.1 Khái niệm manh mún đất đai:
Manh mún đất đai, nghĩa là một hộ nông dân có nhiều thửa ruộng, là một trong những đặc điểm cơ bản của nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển Khái niệm manh mún đất đai được hiểu trên hai khía cạnh: một là sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ)
có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng Hai là sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác (Vũ Oanh, 1998)
Trang 19Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến tình trạng là hiệu quả sản xuất thấp, khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là vấn
đề cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp, dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả Vì thế người ta luôn tìm cánh khắc phục tình trạng này
Manh mún đất đai xẩy ra ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau trên thế giới và ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này rất đa dạng: có thể là do đặc điểm bề mặt phân bố địa lý, do sức
ép dân số, nhưng cũng có thể là do ý thức của con người như tính chất tiểu nông của nền sản xuất còn kém phát triển, đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân
cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất, kinh tế xã hội hay sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả của công tác địa chính,
Tình trạng manh mún đất đai là một trong những nhược điểm của nền nông nghiệp nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển Ở Việt Nam, manh mún đất đai rất phổ biến, đặc biệt là ở miền Bắc Theo con số ước tính, toàn quốc có khoảng 75 triệu thửa đất, trung bình một hộ nông dân có khoảng 7-8 thửa Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản của phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là trồng trọt, cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong những năm gần đây Dưới quan điểm kinh tế, nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai
1.2.1.2 Nguyên nhân dẫn tới tình trạng manh mún đất đai:
Tình trạng manh mún ruộng đất do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
- Sự phức tạp của đia hình, nhất là các vùng đồi núi, trung du Do địa hình bị chia cắt nên đất đai ở đa số các địa phương hầu như đều có 3 dạng địa
Trang 20hình: đất cao, đất vàn và đất thấp trũng Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất;
- Chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho con cái Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả con sau khi tách hộ, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ;
- Tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là thay đổi liên quan đến ruộng đất;
- Phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có
xa, có gần khi thực Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các
hộ đã tác động không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do khiến các địa phương chia nhỏ ruộng đất cho nông dân, đó là: + Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp,… có như vậy mới thể hiện tính công bằng;
+ Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ; + Do hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều ruộng đất cho các hộ;
+ Có những chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua, mặn,
Do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng (Nguyễn Khắc Thời, 2011)
1.2.1.3 Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp và quản lý nhà nước ở địa phương:
Tình trạng manh mún ruộng đất đã gây nhiều khó khăn cho người nông dân và các nhà quản lý Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra những tác động tiêu cực của sự manh mún ruộng đất, cụ thể như sau:
Trang 21- Manh mún ruộng đất, dẫn đến giảm đất sản xuất nông nghiệp do bờ vùng, bờ thửa, theo tính toán có thể làm giảm từ 2,4-4% diện tích đất sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Khắc Thời, 2009)
- Manh mún ruộng đất làm tăng chi phí sản xuất cao hơn do chi phí lao động cao bởi nông dân phải tốn nhiều thời gian hơn để đi từ thửa ruộng này đến thửa ruộng khác hoặc thực hiện tưới tiêu cho nhiều thửa nhỏ hoặc do chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra cao hơn;
- Manh mún ruộng đất làm hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá, hạn chế việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất;
- Gây khó khăn, phức tạp và tốn kém cho công tác quản lý đất đai, lập hồ
sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm lại, manh mún ruộng đất dẫn đến tình trạng hiệu quả sản xuất thấp, chất lượng sản phẩm không cao, thiếu khả năng cạnh tranh, không đáp ứng được việc xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa, gây cản trở cho quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn Vì vậy Đảng và Nhà nước đã chủ trương phải thực hiện DĐĐT, tích tụ ruộng đất để đáp ứng yêu cầu phát triển
1.2.2 Khái quát tình hình tích tụ ruộng đất của một số nước trên thế giới
Tích tụ và tập trung ruộng đất là một yêu cầu đặt ra trong quá trình HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước Tập trung ruộng đất của các trang trại quy mô nhỏ thành những trang trại quy mô lớn, tạo điều kiện để áp dụng KHKT tiên tiến vào sản xuất, thâm canh tăng năng suất sinh học, năng suất lao động, tăng khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa, giảm chi phí sản xuất và giá thành nông sản Vì vậy, việc tích tụ ruộng đất trong quá trình CNH hầu như đã trở thành quy luật, là lộ trình diễn ra ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, chủ trương, biện pháp và mức độ tích tụ ruộng đất ở mỗi quốc gia là khác nhau
CNH-1.2.2.1 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á
Các nước thuộc Châu Á bình quân ruộng đất thấp, quy mô trang trại nhỏ nên việc tích tụ ruộng đất không dễ dàng như các nước Âu, Mỹ Ngay ở Nhật
Trang 22Bản là một nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có tình trạng như vậy (Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, 1998)
Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm 1950, chủ trương hạn chế việc bán ruộng đất đã gây trở ngại cho việc tích tụ ruộng đất Về sau đã thay đổi chủ trương này nhưng việc tích tụ ruộng đất cũng rất chậm Tuy nhiên, họ có kinh nghiệm đáng quan tâm là hạn chế việc chia nhỏ quy mô ruộng đất của các hộ nông dân Một hộ có nhiều con, theo tập quán chỉ có người con trai trưởng mới có nhiệm vụ tiếp tục ở nông thôn làm ruộng và chăm sóc cha mẹ, còn các con khác phải đi làm nghề khác, không chia ruộng cho tất cả các con
Ở Đài Loan, sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa
ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, ở Đài Loan đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29 ha/trang trại; đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08 ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình CNH nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến
bộ KHKT, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… Nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc
dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy
là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp, trong đó công nhận phương thức sản xuất ủy thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai Ước tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy
mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung
Trang 23một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất (Viện quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp, 2003)
Ở Trung Quốc, năm 2007 đã chi 2.6 tỷ USD cho việc cải tạo cơ sở hạ tầng nông nghiệp nhằm thúc đẩy nhanh công tác dồn điền đổi thửa Việc thúc đẩy nhanh công tác DĐĐT là nhằm biến những mảnh đất phân tán, rải rác thành những vùng canh tác rộng lớn, thống nhất với một hệ thống hỗ trợ nông nghiệp như thuỷ lợi, đê điều được tốt hơn, mang lại năng suất nông nghiệp cao hơn cho người dân
Vấn đề hạn điền ở một số nước được đặt ra chủ yếu là trong thời kỳ cải cách ruộng đất, quy định hạn mức ruộng đất của những người có nhiều ruộng được giữ lại, vượt quá hạn mức nhà nước sẽ trưng mua để bán lại cho nông dân thiếu đất như ở Nhật Bản, Đài Loan Đến thời kỳ CNH phát triển thì vấn
đề hạn điền thường không cần đặt ra
Bảng 1.1 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á
Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam năm-1998
Theo Macheal Lipton (2002) nền nông nghiệp của các nước đang phát triển ở Châu Á được đặc trưng bởi các yếu tố sau đây:
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp, nông thôn khá lớn và dư thừa;
- Nền nông nghiệp thâm canh sản xuất lương thực, đặc biệt là trồng lúa nước chủ yếu dựa vào đầu tư lao động của nông hộ với quy mô nhỏ;
- Sự tăng tưởng của khu vực nông nghiệp có tính chất quyết định đến tăng trưởng kinh tế nông thôn
Trang 24Vì vậy, để xóa đói giảm nghèo cần tạo thêm công ăn việc làm cho lực lượng lao động nông thôn Thành quả của những cuộc cải cách ruộng đất thời gian qua đã mang lại công ăn việc làm và tạo điều kiện cho các nông hộ phát triển kinh tế Nếu việc tập trung ruộng đất, phát triển trang trại quy mô lớn không hợp lý thì có nguy cơ làm tăng thất nghiệp trong nông thôn Do đó, tích
tụ ruộng đất phải đi đôi với giải quyết việc làm cho lực lượng nông dân đã cho thuê hoặc bán ruộng đất cho người khác Việc làm ở đây bao gồm các công việc ngay trong lĩnh vực nông nghiệp như làm thuê cho các trang trại lớn (có thể làm thuê cho chính người mình cho thuê hay bán ruộng đất) Tuy nhiên chủ yếu vẫn là tạo ra các việc làm ngoài nông nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
1.2.2.2 Tích tụ ruộng đất ở một số nước châu Âu, châu Mỹ
Ở các nước Âu, Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ
đô thị hóa nhanh, nhu cầu lao động cho công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến khích việc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trại lớn (Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, 1998)
Tuy nhiên, để tránh tích tụ ruộng đất vượt hạn mức trong từng địa phương, một số nước như Anh, Pháp có biện pháp quản lý thông qua hội đồng quy hoạch đất đai của từng tỉnh, huyện, với hội đồng quản trị gồm những đại diện nông dân địa phương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy viên của Chính phủ (thuộc Bộ Nông nghiệp và Bộ Tài chính) Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân theo giá thị trường Ở Pháp, tuy không đề ra các hạn mức cụ thể, nhưng để đề phòng tích tụ ruộng đất quá mức, nhà nước đã có biện pháp can thiệp vào thị trường ruộng đất, thông qua hội đồng quy hoạch ruộng đất địa phương để mua bán đất của nông dân, lập quỹ đất dự trữ, điều tiết thị trường bất động sản (Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, 1998)
Trang 25Bảng 2.2 Tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Âu, Mỹ
Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam năm- 1998
1.2.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.2.3.1 Khái niệm về dồn điền đổi thửa
Khái niệm dồn điền đổi thửa (Regrouping of lands trong tiếng Anh, hay Remenbrement trong tiếng Pháp) là việc tập hợp, dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái với việc chia mảnh ruộng to thành nhiều mảnh ruộng nhỏ
1.2.3.2 Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới cơ chế kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, nền nông nghiệp, đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún, quá nhiều ô thửa nhỏ Chuyển đổi ruộng đất để tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn (Tổng cục địa chính, 1998)
Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tùy tiện dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kiến thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lược đang gây trở ngại lớn cho việc đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất, nhất là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Tổng cục địa chính, 1997)
Trang 26Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp có hiệu quả nhất là phải tiến hành dồn điền đổi thửa hay thường gọi là chuyển đổi ruộng đất Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa:
Một là để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế này vận hành tốt hơn;
Hai là thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định Theo cách này, các địa phương đều xác định dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau
1.2.3.3 Cơ sở pháp lý của công tác dồn điền đổi thửa
- Văn kiện Đại hội Đảng khóa VII (1991), Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2 (khoá VII); Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4, khoá VIII (1996);
- Nghị quyết số 06 – NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về một
số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn;
- Đại hội IX (2001) của Đảng đã quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nước ta 10 năm (2001-2010) trong đó nông nghiệp và nông thôn được quan tâm đặc biệt Tuy nhiên, một trong những vấn đề gây trở ngại cho quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn chính là tình trạng đất đai manh mún, phân tán;
- Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 12/3/2003 tại hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng (khoá IX) về việc tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đã nêu rõ: “Khuyến khích tích tụ đất đai, sớm khắc phục tình trạng đất sản xuất nông nghiệp manh mún Quá trình tích tụ đất đai cần có sự chỉ đạo và quản lý của Nhà nước, có
Trang 27quy hoạch, kế hoạch, có bước đi vững chắc trên từng địa bàn, lĩnh vực, gắn với chương trình phát triển ngành nghề, tạo việc làm Tích tụ đất đai thông qua việc nhận chuyển nhượng và nhiều biện pháp khác phù hợp với từng thời
- Quyết định số 68/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX “Về đất đai: điều chỉnh các cơ chế, chính sách để tạo điều kiện cho nông dân thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ đối với đất đai như khuyến khích nông dân dồn điền đổi thửa; cho phép nông dân sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn, liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh”;
- Chỉ thị số 22/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thúc đẩy thực hiện Nghị quyết Trung ương khoá IX về kinh tế tập thể: “Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn việc dồn điền, đổi thửa trên nguyên tắc tự nguyện, tự thoả thuận và các bên cùng có lợi, kết hợp tổ chức quy hoạch lại đồng ruộng, sử dụng đất đai có hiệu quả ”;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
Trang 281.2.3.4 Cơ sở thực tiễn của công tác dồn điền đổi thửa
Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình kể từ Đại hội VI của Đảng vào năm 1986 Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh
tế từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào
và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai)
và giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho người dân Chính sách mới này đã dẫn đến xoá bỏ hợp tác hoá trong nông nghiệp Cũng theo chính sách này, nông dân được giao đất nông nghiệp trong 15 năm và ký hợp đồng sử dụng các đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm mà họ sản xuất ra Các chỉ tiêu trong hợp đồng được ổn định trong 5 năm Hơn nữa, hầu hết các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu, bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân
Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luật pháp hoá Điều này dẫn đến nông dân ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất nông nghiệp
Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên, theo đó nông dân được giao đất ổn định và lâu dài Họ được giao 5 quyền sử dụng đất bao gồm: quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa
kế và thế chấp bằng quyền sử dụng đất
Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thông thường ở nhiều nơi trên miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Đất cây hàng năm ở Việt Nam được chia thành 6 hạng Do đó, để duy trì nguyên tắc
Trang 29công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau,
ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam Nguyên nhân của manh mún đất đai do giao đất nông nghiệp công bằng đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận và phân tích những năm gần đây Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng tình trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác Theo số liệu của Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng Đồng bằng sông Hồng có khoảng 7-8 thửa trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn từ 10-20 thửa Số liệu điều tra từ 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm 1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa Vào năm
1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là vùng đồng bằng Sông Hồng đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác DĐĐT Theo báo cáo, trên toàn quốc có khoảng trên
700 xã ở 18 tỉnh đã thực hiện DĐĐT, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng Ví dụ: Ở tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng
đã giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998-2001) Trung bình số thửa ruộng của một hộ đã giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa Trong các báo cáo gửi Chính phủ, khi rút kinh nghiệm công tác DĐĐT, các địa phương đều đưa ra kết luận công tác DĐĐT nên áp dụng ở những vùng
mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Điều đó có nghĩa DĐĐT không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắc quan trọng nhất trong DĐĐT là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn Tuy nhiên, ở rất nhiều địa phương quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các
hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá
Trang 30chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận về kế hoạch hoá
hộ tiến hành đổi ruộng cho nhau sau khi xác định rõ từng mảnh đất cho mỗi
hộ trên bản đồ Tiên phong trong vấn đề này là xã Trầm Lộng, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây (cũ) Từ năm 1993, khi bắt đầu tiến hành chia đất cho hộ nông dân, chính quyền xã đã thảo luận và khuyến khích các hộ tự chuyển đổi đất cho nhau để hạn chế việc phải nhận quá nhiều thửa ruộng Đến đầu năm
1995, xã Trầm Lộng đã hoàn tất việc chia đất kết hợp đổi đất nông nghiệp giữa các hộ Trên cơ sở kết quả đó, tháng 12/1996 huyện Ứng Hoà đã chủ trương và triển khai đổi đất ở tất cả các xã trong toàn huyện Từ thành công của Ứng Hoà, tháng 12 năm 1997, Tỉnh uỷ Hà Tây (cũ) đã ban hành Chỉ thị 14/CT-TU về công tác chuyển đổi đất nông nghiệp; Uỷ ban nhân tỉnh Hà Tây (cũ) ra Quyết định số 160/QĐ-UB ban hành kế hoạch hướng dẫn về công tác chuyển đổi đất nông nghiệp trên toàn tỉnh
Tình trạng manh mún ruộng đất làm cản trở đến sản xuất rất lớn, một
số địa phương đã xuất hiện hình thức các hộ tự chuyển đổi đất nông nghiệp cho nhau để tạo ra những thửa ruộng lớn, thích hợp với với khả năng canh tác Đây là hình thức dồn đổi đất nông nghiệp tự phát giữa các hộ Hình thức chuyển đổi này diễn ra nhỏ lẻ, mang tính cục bộ, không giải quyết được những vấn đề cấp bách trong việc sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp trên quy mô cấp xã, huyện, tỉnh; đặc biệt
Trang 31là nhu cầu tạo ra các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, quy mô lớn, thiết kế lại đồng ruộng, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi đồng bộ theo yêu cầu sản xuất hàng hoá Từ thực tế, một số tỉnh, thành đã chủ động ra chủ trương chuyển đổi đất nông nghiệp bằng Nghị quyết của Tỉnh uỷ, kế hoạch triển khai của UBND tỉnh, hướng dẫn chuyển đổi đất nông nghiệp ở từng huyện, xã Sau Hội nghị chuyên đề về chuyển đổi đất nông nghiệp do Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) tổ chức tại Hà Tây (tháng 7 năm 1997), phong trào chuyển đổi đất nông nghiệp được mở rộng
ở nhiều tỉnh như: Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,…
Để thực hiện sử dụng đất một cách có kế hoạch, có cơ sở khoa học và hiệu quả, ngày 17/7/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 94/2002/QĐ-TTg giao cho các cơ quan chức năng của Chính phủ hướng dẫn các địa phương thực hiện chủ trương DĐĐT theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V khoá IX Dưới sự chỉ đạo tích cực của các địa phương, công tác DĐĐT đến năm 2010 đã thu được những kết quả to lớn:
- Đã có 18 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất Nhiều tỉnh đã có Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh
uỷ, Hội đồng nhân dân, Quyết định của UBND tỉnh về chuyển đổi ruộng đất, xây dựng kế hoạch triển khai, thành lập ban chỉ đạo chuyển đổi ruộng đất từ tỉnh đến cơ sở Các ban ngành chuyên môn hướng dẫn triển khai thực hiện việc dồn điền, đổi thửa
- DĐĐT đã làm giảm số thửa đất và tăng diện tích bình quân/thửa Tổng hợp bước đầu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở 18 tỉnh cho thấy
số thửa đất giảm bình quân 50-60%, nơi giảm ít là trên 40%, nơi giảm nhiều là 80% Bình quân số thửa trên hộ là 2-4 thửa, nơi ít giảm 1 thửa, nơi nhiều giảm 6-7 thửa/hộ Diện tích bình quân thửa đã tăng lên từ 600m2-1000m2, có thửa đạt tới 1- 2 ha (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2003)
Trang 32- DĐĐT đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc như thu hồi nợ đọng của hộ
xã viên, giải quyết tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, giao đất công khai, minh bạch; tạo được không khí phấn khởi, đoàn kết, tích cực sản xuất, làm giàu chính đáng trong cộng đồng dân cư nông thôn
- DĐĐT đã tạo động lực cho sản xuất phát triển; huy động được nguồn lực kinh tế của hộ nông dân; phát huy tính tự chủ của đơn vị cơ sở, hộ có điều kiện đầu tư thâm canh, bố trí lại cơ cấu sản xuất, thời vụ, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ KHKT vào đồng ruộng để tăng vụ, tăng năng suất, lao động, tạo ra nhiều sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao Theo số liệu báo cáo của các địa phương, sau khi thực hiện DĐĐT một vài vụ, năng suất cây trồng tăng từ 15-20%, giá trị thu nhập tăng từ 15 triệu đồng/ ha/năm lên 20 triệu đồng/ ha/năm
và có nhiều diện tích đạt tới 35-40 triệu đồng/ ha/năm Nhiều địa phương sau thực hiện DĐĐT đã sắp xếp lại lực lượng lao động, rút được lao động dư thừa sang làm ngành nghề khác như sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Thọ Xuân-Thanh Hoá), Từ Sơn, Tiên Du-Bắc Ninh (Tổng cục địa chính, 1997)
- Phần lớn các hộ nông dân sau khi DĐĐT đã tiết kiệm được thời gian lao động, giảm chi phí, giảm công “chạy đồng” trước đây từ nhiều xứ đồng, nhiều thửa ruộng nay tập trung đầu tư cho 2-5 thửa thuộc 2-3 xứ đồng, có điều kiện để cải tạo đất, làm kỹ hơn các khâu canh tác, chăm sóc đồng ruộng
và ứng phó kịp thời để phòng chống thiên tai và những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp (Tổng cục địa chính, 1998)
Tuy nhiên, DĐĐT giai đoạn này chưa hoàn toàn gắn với quy hoạch lại đồng ruộng và chuyển đổi phương thức canh tác, cho nên kết quả vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập: số thửa bình quân/hộ vẫn còn cao; bố trí sản xuất vẫn chưa liền vùng; diện tích chưa đủ lớn để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật cũng như đưa phương tiện cơ giới vào sản xuất Đặc biệt, trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2011 của
Trang 33Thủ tướng Chính phủ Vì vậy, từ năm 2012, các tỉnh, thành phố có xu hướng tiếp tục triển khai công tác DĐĐT giai đoạn 2 Thực hiện quá trình chỉnh trang, sắp xếp đồng ruộng, tạo thuận lợi cho canh tác, thu hoạch, đồng thời tạo quỹ đất làm đường giao thông, thuỷ lợi nội đồng, xây dựng các công trình phúc lợi Đây là chủ trương quan trọng thúc đẩy tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới
1.2.3.6 Tình hình thực hiện dồn điền đổi thửa ở tỉnh Nghệ An
Hình 1.1 Vị trí tỉnh Nghệ An
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung bộ, với tổng diện tích
tự nhiên là 1.649.368,62 ha; trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 195.944,40 ha, chiếm 11,88% so với tổng diện tích tự nhiên Bình quân diện tích đất nông nghiệp theo đầu người là 670 m2 (UBND tỉnh Nghệ An, 2014)
Thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, đến cuối năm 1997 trên địa bàn tỉnh Nghệ An, việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đã hoàn thành, nhưng tình trạng ruộng đất rất phân tán, manh mún Ngày 05/4/2001, BTV Tỉnh ủy Nghệ An đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-TU về việc vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất để thực hiện CNH-HĐH nông
Trang 34nghiệp, nông thôn Đến năm 2005, tất cả các xã có khả năng chuyển đổi ruộng đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã hoàn thành công tác chuyển đổi ruộng đất lần 1, với quy mô 342 xã có quỹ đất sản xuất nông nghiệp đủ điều kiện và khả năng chuyển đổi trên tổng số 480 xã trên toàn tỉnh
Tuy nhiên, việc chuyển đổi ruộng đất tại nhiều địa phương ở giai đoạn này còn một số tồn tại, hạn chế: chưa gắn việc chuyển đổi ruộng đất với quy hoạch lại đồng ruộng và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; quy mô diện tích của thửa đất sau chuyển đổi còn nhỏ; bình quân số thửa/hộ còn cao, chưa liền vùng, liền thửa, chưa hình thành được vùng chuyên canh lớn hiệu quả kinh tế cao Việc chuyển đổi ruộng đất ở các vùng màu, vùng bãi, vùng cây công nghiệp chưa được quan tâm; quy hoạch và quản lý quỹ đất công ích còn bất cập Những hạn chế này đã ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đầu tư thâm canh, hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và chưa đáp ứng được yêu cầu của việc xây dựng Nông thôn mới (UBND tỉnh Nghệ An, 2014)
Để khắc phục các tồn tại, hạn chế nêu trên, đồng thời đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới, ngày 08/5/2012, BTV Tỉnh ủy Nghệ An đã tiếp tục ban hành Chỉ thị số 08-CT/TU
về việc đẩy mạnh vận động nông dân “dồn điền, đổi thửa” và khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất quy mô lớn trong nông nghiệp
a) Công tác chỉ đạo, triển khai:
- Tổ chức học tập, quán triệt Chỉ thị 08-CT/TU:
+ Ngày 08/6/2012, UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị triển khai thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 08/5/2012 của BTV Tỉnh ủy ở cấp tỉnh
+ Tất cả các huyện, thành, thị đã tổ chức hội nghị quán triệt Chỉ thị số 08-CT/TU của BTV Tỉnh ủy, kế hoạch tổ chức thực hiện của UBND tỉnh và các văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của các sở, ngành cấp tỉnh
+ Các xã đã tổ chức các hội nghị để quán triệt Chỉ thị số 08-CT/TU của
Trang 35BTV Tỉnh ủy, kế hoạch tổ chức thực hiện của UBND các cấp tỉnh, huyện và các văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ Riêng các xã được chọn làm điểm trong năm 2012 đã tổ chức quán triệt, phổ biến rộng rãi Chỉ thị số 08-CT/TU đến tận cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân
+ Các cơ quan thông tin đại chúng như Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh, Báo Nghệ An và các Đài ở địa phương liên tục đưa tin để tuyên truyền vận động nông dân tích cực tham gia công tác DĐĐT Một số địa phương đã đăng tải thông tin tuyên truyền công tác DĐĐT trên các tạp chí nội bộ, cổng thông tin điện tử,…
+ Mỗi đơn vị xóm khi triển khai đều họp dân từ 2-3 lần để phổ biến chỉ thị số 08-CT/TU, bàn các nội dung cụ thể của công tác DĐĐT
- Thành lập (hoặc kiện toàn) Ban chỉ đạo, tổ chuyên môn để thực hiện công tác DĐĐT:
+ Ban chỉ đạo DĐĐT được thành lập (hoặc kiện toàn) ở các cấp tỉnh, huyện, xã, do đồng chỉ Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND làm Trưởng ban, Phó Ban trực là Trưởng ngành Tài nguyên và Môi trường, đại diện các ngành
có liên quan và các đoàn thể là thành viên
+ Tổ chuyên môn gồm đại diện các ngành chủ yếu là: Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính kế hoạch,… để giúp việc cho Ban chỉ đạo trong các tác nghiệp cụ thể như: xây dựng đề án, kế hoạch DĐĐT, đo đạc, tổ chức bốc thăm, giao ruộng,…
+ Ở xóm (thôn) thành lập Tiểu ban chỉ đạo của xóm với các thành phần: Xóm trưởng (Trưởng Tiểu ban), Bí thư Chi bộ, đại diện Hội Phụ nữ, đại diện Đoàn Thanh niên và mời một số người dân am hiểu đồng ruộng và có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp tham gia
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện DĐĐT:
+ UBND tỉnh có Quyết định số 2928/QĐ-UBND.ĐC ngày 06/8/2012
về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện cuộc vận động nông dân “dồn
Trang 36điền, đổi thửa” theo Chỉ thị số 08/CT-TU ngày 08/5/2012 của BTV Tỉnh ủy Trong đó, giao rõ trách nhiệm và chỉ tiêu kế hoạch cụ thể cho các ngành, các địa phương thực hiện, phấn đấu đến hết năm 2015 cơ bản hoàn thành
+ Trên cơ sở kế hoạch của UBND tỉnh, các huyện, thành, thị xây dựng
kế hoạch triển khai trên địa phương mình, đồng thời chỉ đạo các xã xây dựng
kế hoạch của xã cho phù hợp với tiến độ chung mà tỉnh và huyện đã đề ra
- Xây dựng quy trình và hướng dẫn triển khai thực hiện DĐĐT:
+ Sở Tài nguyên và Môi trường có Văn bản số 2387/STNMT-QLĐĐ ngày 15/8/2012 hướng dẫn quy trình tổ chức thực hiện công tác DĐĐT hết sức cụ thể và chi tiết, được coi là cẩm nang để các địa phương thực hiện công tác DĐĐT; đồng thời xây dựng Đề án mẫu DĐĐT cho cấp xã sử dụng khi thực hiện công tác DĐĐT theo Chỉ thị số 08-CT/TU
+ Các địa phương đều ban hành văn bản hướng dẫn một số nội dung trong công tác DĐĐT phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương
- Tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về công tác DĐĐT:
+ Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức quán triệt cho cán bộ trong ngành ở cấp huyện quy trình thực hiện DĐĐT được hướng dẫn tại các Văn bản: số 2387/STNMT-QLĐĐ và số 2388/STNMT-QLĐĐ ngày 15/8/2012
+ Các huyện tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác DĐĐT cho các thành viên chủ chốt của xã gồm: Bí thư, Chủ tịch và cán bộ địa chính; đối với các xã điểm mời thêm Xóm trưởng, Bí thư chi bộ và đại diện các đoàn thể; trong đó nhiều huyện đã tổ chức triển khai tập huấn đến 02 cuộc
- Tổ chức xây dựng và phê duyệt các loại quy hoạch trên địa bàn xã làm cơ sở cho việc xây dựng Đề án DĐĐT: Tất cả các huyện, thành, thị xã phải hoàn thành việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng Nông thôn mới, Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011
- 2015 để làm cơ sở cho việc xây dựng Đề án DĐĐT
- Tổ chức xây dựng và phê duyệt đề án DĐĐT: Tất cả các xã phải xây
Trang 37dựng Đề án DĐĐT trên cơ sở Quy hoạch chung (Quy hoạch Xây dựng Nông thôn mới, Quy hoạch sử dụng đất) đã được UBND huyện phê duyệt UBND các huyện phải hoàn thành việc phê duyệt Đề án DĐĐT của các xã trên địa bàn (chậm nhất trong năm 2014) để làm cơ sở triển khai thực hiện
b) Tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm và triển khai diện rộng
- Tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm thực hiện DĐĐT: Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Đoàn đi tham quan học tập kinh nghiệm DĐĐT và thực hiện chính sách tích tụ ruộng đất tại các tỉnh: Thái Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh và Đồng Nai; Một số huyện, xã đã tổ chức các Đoàn đi tham quan học tập kinh nghiệm DĐĐT tại các tỉnh Thanh Hoá, Hà Tây, Thái Bình và Hà Tĩnh; Một số huyện, xã tham quan học tập kinh nghiệm tại các xã điểm trong tỉnh đã thực hiện tốt việc DĐĐT như xã Phúc Thành (Yên Thành),
xã Thanh Khê (Thanh Chương), xã Quỳnh Diễn (Quỳnh Lưu), xã Hùng Sơn (Anh Sơn), xã Thịnh Sơn (Đô Lương),
- Chọn điểm triển khai trước khi mở ra diện rộng: Do tính phức tạp của công tác DĐĐT là liên quan đến chính sách, chuyên môn kỹ thuật nên UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai với hình thức thích hợp đó là chọn điểm thực hiện
để rút kinh nghiệm sau đó mới tổ chức trên diện rộng Tất cả các huyện đều lựa chọn từ 1-3 xã điểm để triển khai Các xã được chọn làm điểm cơ bản phải đáp ứng được yêu cầu mang tính đại diện của vùng, miền để rút kinh nghiệm trước khi triển khai diện rộng
Có 33 xã được chọn làm điểm thực hiện trong năm 2012, gồm: Quế Phong 2 xã, Quỳ Châu 1 xã, Quỳ Hợp 1 xã, Thái Hoà 3 xã, Nghĩa Đàn 2 xã, Quỳnh Lưu 2 xã, Diễn Châu 2 xã, Nghi Lộc 1 xã, Cửa Lò 1 xã, Hưng Nguyên
1 xã, Nam Đàn 3 xã, Đô Lương 3 xã, Tân Kỳ 2 xã, Anh Sơn 2 xã, Con Cuông
2 xã, Tương Dương 1 xã, Yên Thành 2 xã và Thanh Chương 2 xã (UBND tỉnh Nghệ An, 2014)
c) Tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc DĐĐT
Trang 38Các cấp ủy Đảng, chính quyền đã quan tâm việc kiểm tra, đôn đốc công tác DĐĐT tại các địa phương, nhất là tại các xã điểm; cụ thể như sau:
- UBND tỉnh đã tổ chức các đoàn công tác đi kiểm tra, đôn đốc việc dồn điền, đổi thửa tại các địa phương (đồng chí Phó chủ tịch Tỉnh phụ trách khối làm Trưởng đoàn và đại diện lãnh đạo các sở, ngành làm thành viên)
- Ban chỉ đạo DĐĐT tỉnh đã tổ chức 02 đợt kiểm tra tại tất cả các huyện, thành, thị xã (đợt 1 năm 2012, đợt 2 năm 2014)
- Sở Tài nguyên và Môi trường với tư cách là cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo đã tổ chức 02 đợt kiểm tra tại tất cả các huyện, thành, thị (đợt 1 năm
2012, đợt 2 năm 2014) để đôn đốc, tháo gỡ khó khăn vướng mắc về chuyên môn nghiệp vụ cho các địa phương; đồng thời hàng tháng cử cán bộ đi kiểm tra để nắm tiến độ thực hiện tại các địa phương
- Ban Thường vụ, UBND và Ban chỉ đạo cấp huyện đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra, đôn đốc việc DĐĐT tại các xã, nhất là tại các xã điểm
d) Hỗ trợ kinh phí phục vụ công tác DĐĐT:
- UBND tỉnh đã trích kinh phí 9,84 tỷ đồng để hỗ trợ các xã điểm và các xã không điểm thực hiện tốt công tác DĐĐT (tại Quyết định số 2219/QĐ-UBND ngày 03/6/2014 và Quyết định số 4347/QDD-UBND ngày 30/9/2014)
- Các huyện trích ngân sách hỗ trợ kinh phí cho cấp xã để thực hiện công tác DĐĐT, tùy theo điều kiện của từng địa phương, với mức từ 10-100 triệu đồng/xã Hỗ trợ kinh phí mua vật tư xây dựng các loại cống cấp thoát nước của hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng…
e) Tổ chức đánh giá kết quả thực hiện công tác DĐĐT hàng năm để kịp thời chấn chỉnh, rút kinh nghiệm:
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, hầu hết các huyện đã nghiêm túc đánh giá kết quả thực hiện công tác DĐĐT hàng năm để kịp thời chấn chỉnh, rút kinh nghiệm
Năm 2014, sau khi có kết quả thực hiện ở các xã điểm, Sở Tài nguyên
Trang 39và Môi trường đã tham mưu cho UBND tỉnh dự thảo Báo cáo trình BTV Tỉnh
ủy tại kỳ họp tháng 8 để báo cáo tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị số 08/CT-TU của Tỉnh ủy sau 01 năm trên địa bàn toàn tỉnh và tiếp tục xin ý kiến chỉ đạo của BTV Tỉnh ủy
g) Kết quả dồn điền đổi thửa lần 2 đến tháng 6 năm 2014:
Đến tháng 6/2014, tỉnh Nghệ An đã có 19/21 huyện thành, thị xã triển khai thực hiện DĐĐT (2 huyện miền núi cao Kỳ Sơn và Tương Dương do điều kiện đặc thù nên không triển khai), với 319 xã (toàn tỉnh có 479 xã phường, thị trấn) thực hiện DĐĐT, trong đó có 184 xã đã hoàn thành DĐĐT tại thực địa, 71 xã đang thực hiện và 64 xã chưa thực hiện (theo kế hoạch từ năm 2012 - 2015 phải hoàn thành công tác DĐĐT trên quy mô 319 xã) Kết quả tổng hợp toàn tỉnh đến tháng 6/2014 như sau:
- Hoàn thành DĐĐT tại thực địa: 184 xã, trên địa bàn 10/19 huyện thành Trong đó có 5 huyện hoàn thành (Yên Thành 37/37 xã, Thanh Chương 35/35 xã, Diễn Châu 35/35 xã, Quỳnh Lưu 29/29 xã, Nam Đàn 23/23 xã); 5 huyện có xã hoàn thành (Anh Sơn 10 xã, Đô Lương 9 xã, Hưng Nguyên 3 xã, Thái Hoà 2 xã, Nghi Lộc 1 xã); còn lại 9 huyện chưa có xã hoàn thành
- Số hộ tham gia thực hiện DĐĐT: 327.972 hộ, cụ thể các địa phương: Yên Thành 58.377 hộ, Thanh Chương 43.876 hộ, Diễn Châu 55.633 hộ, Quỳnh Lưu 40.724 hộ, Nam Đàn 31.463 hộ, Anh Sơn 18.069 hộ, Đô Lương 11.067 hộ, Hưng Nguyên 24.211 hộ, Thái Hoà 1.461 hộ, Cửa Lò 1.458 hộ, Nghĩa Đàn 3.916 hộ, Hoàng Mai 7.207 hộ; Nghi Lộc 22.830 hộ, Tân Kỳ 5.339 hộ, Thành phố Vinh 1.041 hộ, Quế Phong 190 hộ, Quỳ Châu 502 hộ, Quỳ Hợp 608 hộ
- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp thực hiện DĐĐT: 70.343,4 ha, cụ thể các địa phương: Yên Thành 12.889 ha, Thanh Chương 9.784,2 ha, Diễn Châu 11.083,6 ha, Quỳnh Lưu 9.851,04 ha, Nam Đàn 8.966,37 ha, Thái Hoà
237 ha, Nghĩa Đàn 2.441,12 ha, Cửa Lò 251,85 ha; Hoàng Mai 1.287,18 ha; Nghi Lộc 7464,54 ha, Đô Lương 8.310,7 ha, Tân Kỳ 278 ha, Anh Sơn 4.557,7
Trang 40ha, Vinh 102,24 ha, Hưng Nguyên 6.294,84 ha, Quế Phong 39,48 ha, Quỳ Châu 125 ha, Quỳ Hợp 124,37 ha
- Quy mô bình quân thửa đất sau DĐĐT là 1.214,19 m2/thửa, cụ thể các địa phương: Yên Thành 1.539,6 m2, Thanh Chương 2.180 m2, Diễn Châu 1.151 m2, Quỳnh Lưu 1.552,1 m2, Nam Đàn 1.235,6 m2, Thái Hòa 1.208 m2; Nghĩa Đàn 1.251 m2, Nghi Lộc 1.446 m2, Hưng Nguyên 1.369,5 m2, Anh Sơn
911 m2, Đô Lương 1.151,09 m2, Tân Kỳ 1.310 m2, Quỳ Hợp 520 m2
- Trung bình số thửa/hộ như sau: Thanh Chương 3,7; Yên Thành 1,73; Diễn Châu 1,99; Quỳnh Lưu 1,95; Nam Đàn 2,8; Nghĩa Đàn 3, Thái Hòa 3, Quỳ Hợp 1,6; Nghi Lộc 2,4; Vinh 1,9; Hưng Nguyên 3; Đô Lương 1,59; Tân
Kỳ 1,98; Anh Sơn 3,18; Quế Phong 1,5
Kết quả thực hiện DĐĐT tại thực địa cơ bản phù hợp với mục tiêu, tiến
độ của Đề án DĐĐT đã được duyệt Việc thực hiện tại thực địa bố trí vào thời điểm giao thời của 2 vụ canh tác Sau DĐĐT bình quân mỗi hộ được giao 1-3 thửa thuộc 1-2 vùng; lớn nhất là 3 thửa thuộc 3 vùng; đất công ích được bố trí tập trung để thuận tiện cho việc quy hoạch các công trình công cộng
Việc thực hiện DĐĐT đã tạo điều kiện để sản xuất hàng hóa phát triển; đưa cơ giới hóa và tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp; hình thành ô thửa lớn, tiết kiệm chi phí sản xuất; tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích,… Quá trình thực hiện gắn với quy hoạch cải tạo lại ruộng đồng, nâng cấp hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng, khắc phục tình trạng manh mún về ruộng đất nên nhân dân rất đồng tình, tự nguyện hiến đất để xây dựng hạ tầng kỹ thuật đảm bảo quy chuẩn Công tác DĐĐT còn gắn với việc xây dựng cánh đồng lớn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phù hợp với từng loại ruộng đất đã được quy hoạch Đây cũng là dịp để kiểm tra lại quỹ đất nông nghiệp, đưa công tác quản lý đất đai, theo dõi biến động về đất đai chính xác, khoa học
Công tác DĐĐT là bước cụ thể hóa Quy hoạch xây dựng NTM về tổ chức sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi nội