1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng tỉnh hải dương năm 2015

130 646 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 6,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ canh tác lạc hậu, nhận thức và tiếp thu khoa học kỹ thuật còn hạn chế dẫn đến đất đai bị xói mòn, rửa trôi, phá vỡ kết cấu đất, nghèo dinh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

KS Lê Ngọc Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình từ rất nhiều đơn vị và cá nhân cả trong và ngoài ngành nông nghiệp Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự giúp đỡ quý báu đó

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo - PGS.TS Nguyễn Thị Vòng là người trực tiếp hướng dẫn và giúp

đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô trong khoa Quản lý đất đai

Tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân huyện Cẩm Giàng, Uỷ ban nhân dân các xã trong huyện và các phòng, ban, cá nhân đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập thông tin, tài liệu, nghiên cứu làm luận văn

Tôi xin cảm ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

KS Lê Ngọc Minh

Trang 5

1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp 31.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 31.1.2 Hiệu quả và phân loại hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 71.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 121.1.4 Tiêu chuẩn đánh giá và ý nghĩa của hiệu quả sử dụng đất 13

1.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 161.2.1 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 161.2.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 201.2.3 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh

Trang 6

2.2 Nội dung nghiên cứu 262.2.1 Điều tra, đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cẩm

3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Cẩm Giàng 41

3.3 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất huyện Cẩm Giàng 443.3.1 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất vùng 1 503.3.2 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất vùng 2 513.3.3 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất vùng 3 52

3.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp 53

Trang 7

3.4.2 Đánh giá hiệu quả xã hội sử dụng đất nông nghiệp 70

3.4.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 853.5 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Cẩm Giàng đến

3.5.1 Quan điểm phát triển nông nghiệp huyện Cẩm Giàng đến năm

2020 86

3.5.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Cẩm Giàng đến năm

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.2 Biến động sử dụng đất nông nghiệp của huyện Cẩm Giàng giai đoạn

3.3 Hện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Cẩm Giàng năm 2014 43 3.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2014 theo vùng 44 3.5 Các loại hình sử dụng đất chính trên địa bàn của huyện Cẩm Giàng 48 3.6 Các loại hình sử dụng đất chính trên địa bàn vùng 1 của huyện Cẩm Giàng 50 3.7 Các loại hình sử dụng đất chính trên địa bàn vùng 2 của huyện Cẩm Giàng 51 3.8 Các loại hình sử dụng đất chính trên địa bàn vùng 3 của huyện Cẩm Giàng 52 3.9 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các cây trồng vùng 1 54

3.11 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các cây trồng vùng 2 58

3.13 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các cây trồng vùng 3 61

3.17 Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao động của

3.21 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối và hợp lý 82 3.22 Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng 84 3.23 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Cẩm Giàng đến năm 2020 89

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Cẩm Giàng - tỉnh Hải Dương 31

3.5 Cảnh quan cây vụ đông của LUT 1 lúa - 2 màu tại xã Cẩm Phúc 46

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh…Trong quá trình sử dụng đất con người đã làm thay đổi các thuộc tính của đất theo cả hai hướng tốt và xấu Do điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ canh tác lạc hậu, nhận thức và tiếp thu khoa học kỹ thuật còn hạn chế dẫn đến đất đai bị xói mòn, rửa trôi, phá vỡ kết cấu đất, nghèo dinh dưỡng, bạc màu hoá…

Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, là hoạt động có từ xa xưa của loài người; hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh tế từ phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, trên cơ sở đó để phát triển các ngành khác…Vì vậy, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững

Ngày nay, xã hội phát triển, quá trình phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá, sự bùng nổ dân số diện tích đất nông nghiệp đã giảm rất nhiều do chuyển sang các mục đích sử dụng khác Do đó, để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực cần phải có những loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế cao

Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, để nâng cao năng suất người dân đã sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, phân bón hoá học một cách bừa bãi Do đó đã làm ô nhiễm môi trường đất và nước

Như vậy, việc đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiện tại là rất quan trọng để lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả nhất theo hướng phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường)

Cẩm Giàng là huyện đồng bằng nằm ở phía Tây của tỉnh Hải Dương có tổng diện tích đất tự nhiên 10.899,49 ha, trong đó tổng diện tích đất nông nghiệp là 6.141,22 ha, chiếm 56,34% tổng diện tích đất tự nhiên, huyện Cẩm Giàng được coi

Trang 12

là một trọng điểm phát triển nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản của tỉnh Trong vài năm gần đây, theo xu thế phát triển kinh tế - xã hội chung của toàn tỉnh thì diện tích đất nông nghiệp của huyện đã bị giảm dần do chuyển sang mục đích phi nông nghiệp Trước tình trạng đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Cẩm Giàng có ý nghĩa quan trọng phục vụ cho công tác quy hoạch và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nhằm tìm ra những hạn chế trong sản xuất nông nghiệp hiện nay để có những giải pháp sử dụng đất hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời bảo vệ môi trường đất, môi trường sinh thái

Xuất phát từ yêu cầu trên, được sự đồng ý của khoa Quản lý đất đai, cùng với

sự hướng dẫn của cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Vòng, tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng -

3 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Cẩm Giàng

- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, phát hiện ưu, nhược điểm của các loại hình sử dụng đất đang được áp dụng trên địa bàn huyện

- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1.1 Khái quát về đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Theo Điều 10, Luật Đất đai năm 2013, nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt,

kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm trồng cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh (Quốc hội, 2013)

Trong giai đoạn kinh tế – xã hội phát triển mạnh mẽ, công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại thì mức sống của con người còn thấp, công năng của đất là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ,

tự cung tự cấp để phục vụ nhu cầu thiết yếu ăn, mặc, ở…Khi con người biết sử dụng đất đai vào cuộc sống cũng như sản xuất thì đất đóng vai trò quan trọng trong hiện tại

và tương lai

Trong lịch sử phát triển của thế giới, các nước phát triển hay các nước đang phát triển thì việc sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia Sản phẩm nông nghiệp là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ, tuỳ theo lợi thế của mình mà mỗi nước

có thể xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công ngiệp để đầu tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp lại theo xu thế phát triển chung của toàn xã hội, có rất nhiều diện tích đất bị xói mòn, bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý, vì vậy,

Trang 14

việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về nông sản phẩm đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất

1.1.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra (Dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng,1994) Theo P.Buringh (1994), toàn

bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp

Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác

Việc con người khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học làm cho đất nông nghiệp giảm về cả số lượng Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhậy cảm với việc khai thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý Nghèo đói, mất ổn định chính trị, phá rừng chăn thả quá múc và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều đóng góp vào sa mạc hóa Tại Châu Phi, phía nam Sahara, với 66% đất đai là sa mạc khô cằn đây là

Trang 15

vùng đất đang gặp rất nhiều nguy cơ Khoảng 1,2 tỷ người của hơn 110 nước đang

bị đe dọa bởi vấn đề này

Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá, nhiều nhất ở vùng Châu

Mỹ Latinh và Châu Á Braxin hàng năm mất 1,7 triệu ha rừng, Ấn Độ 1,5 triệu ha rừng, Inđônêxia 900.000 ha và Thái Lan gần 400.000 ha Đối với các nước có dân

số đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh sự suy thoái hóa đất ở, đất rừng đã tác động đáng kể tới nông nghiệp Đối với các nước như Campuchia, Lào nạn phá rừng làm củi đun, làm nương rẫy, xuất khẩu gỗ, chế biến các sản phẩm từ

gỗ phục vụ cho cuộc sống của cư dân đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng vốn phong phú (World Bank,1992)

Việc tàn phá rừng kéo theo sự hủy diệt của nhiều loài động vật, thực vật và làm mất tính đa dạng sinh học tự nhiên Cân bằng sinh thái bị phá vỡ làm hàng triệu

ha đất bị hoang mạc hóa

Việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp không bền vững sẽ làm trầm trọng vòng luẩn quẩn suy thoái dất - mất đa dạng sinh học - biến đổi khí hậu Suy thoái hóa đất làm nghèo dinh dưỡng, phá hủy cân bằng chu trình nước và góp phần làm mất an ninh lương thực, tỷ lệ nghèo đói gia tăng, cùng với mức tăng dân số và hàng loạt các nhu cầu của con người về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng thì cách tiếp cận quản

lý đất đai không bền vững rõ ràng là đã thất bại

Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng châu Á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới

là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40 - 60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại (FAO, 1990)

Trang 16

Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt Từ số liệu của UNDP năm 1995 cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia Asean (Nguyễn Điền, 2001)

1.1.1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam

Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, nông nghiệp Việt Nam đi qua chặng đường dài phát triển đã có những thành tựu nổi bật nhưng cũng đã có những

sự thay đổi về số lượng cũng như chất lượng đất nông nghiệp

Ở Việt Nam việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà quản

lý và sử dụng đất quan tâm Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi

cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp có nhiều biến động

Thoái hóa đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước ta, đặc biệt là ở vùng miền núi, nơi tập trung ¾ quỹ đất Các dạng thoái hoá đất chủ yếu là: Xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hoá mặn hoá, phèn hoá bạc mầu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét, đất trượt và sạt lở, ô nhiễm đất

Trên 50% diện tích đất (5,7 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở vùng miền núi có những vấn đề liên quan tới quá trình suy thoái hóa đất, ở miền núi, nguyên nhân suy thoái hóa đất có nhiều, song chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của các dân tộc thiểu số, tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi, khai thác tài nguyên khoáng sản không hợp lý, lạm dụng các chất hữu cơ trong sản xuất, việc triển khai các công trình giao thông, nhà ở,…Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật

và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đã tới mức báo động Việt Nam hiện nay có khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới sa mạc hoá, chiếm 28% tổng diện tích đất trên toàn quốc Trong đó trên 5 triệu ha đất chưa sử dụng, khoảng 2 triệu ha đất đang được sử dụng nhưng đã bị thoái hoá nặng và 2 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao Nước ta đã xuất hiện hiện tượng sa mạc hoá cục bộ tại các giải đất hẹp dọc bờ biển miền Trung

Trang 17

Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và là thách thức lớn với một nước nông nghiệp như nước ta hiện nay, việc sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa thiếu thận trọng vào bất cứ việc gì cũng đều gây lãng phí và con cháu chúng ta sẽ gánh chịu những hậu quả khó lường

Diện tích đất của nước ta đứng hàng thứ 58 trên thế giới nhưng do dân số đông nên bình quân đất nông nghiệp là vào loại thấp, là một trong 40 nước có diện tích đất đai theo đầu người thấp nhất trên thế giới hiện nay Theo Nguyễn Đình Bồng (1995) đất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích này

là diện tích đất chưa sử dụng Đây là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục vụ cho các mục đích khác nhau So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp rất thấp Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại to lớn Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất

có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững

1.1.2 Hiệu quả và phân loại hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1 1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất

Theo Viện ngôn ngữ học (1992) thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại

Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó dược tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước

Trang 18

trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Đào Châu Thu, 1999)

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó là một trong những điều tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu

có tính ổn định và bền vững

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và cs.,2001)

Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

1.1.2.2 Phân loại hiệu quả sử dụng đất

Mọi hoạt động sản xuất của con người đều có mục tiêu chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế xã hội của con người (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1999) Những kết quả đó là:

- Cải thiện điều kiện sống và làm việc của con người, nâng cao thu nhập

- Cải tạo môi sinh, nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động

- Cải tạo môi trường sinh thái, tạo ra một sự phát triển bền vững trong sử dụng đất đai

Để phân loại hiệu quả thì có nhiều cách phân loại khác nhau, nếu căn cứ vào nội dung và cách biểu hiện thì hiệu quả được phân thành 3 loại: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

Trang 19

1.1.2.2.1 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội (Nguyễn Đình Hợi, 1993)

Theo C Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề "tiết kiệm và phân phối môt cách hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành" Theo quan điểm của C Mác, đó là quy luật 'tiết kiệm", là "tăng năng suất lao động xã hội", hay đó là "tăng hiệu quả" Ông cho rằng "Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội" Như vậy theo quan điểm của Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội

Các nhà khoa học kinh tế Samuel - Nordhuas cho rằng "Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó" (Doãn Khánh, 2000)

Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

- Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”

- Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống

- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người

Trang 20

Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở bản chất của vấn đề là Người sản xuất muốn thu được những kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn và tiêu chuẩn của hiệu quả đối với họ là sự tối đa hoá khối lượng sản phẩm thu được với một lượng chi phí định trước, hoặc tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định

Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư

1.1.2.2.2 Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân

Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Thu hút được nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân

Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp mà chỉ tiêu quan trọng nhất là giá trị của sản phẩm nông nghiệp đạt cao nhất trên một đơn vị diện tích (Đỗ Thị Tám, 2001) Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm

1.1.2.2.3 Hiệu quả môi trường

Môi trường luôn là một vấn đề nóng bỏng, mang tính toàn cầu đang được toàn xã hội quan tâm Hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay

Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lí…, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường, của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên

Trang 21

gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến (Đại từ điển kinh tế thị trường) Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này có ý nghĩa

là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái

Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại, quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại một môi trường xanh, sạch, đẹp hơn trước (Đỗ Nguyên Hải, 1999)

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái

Bên cạnh cách phân loại hiệu quả sử dụng đất nói trên người ta còn căn cứ vào những yếu tố như tổ chức và quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất, phương hướng

để tác động vào sản xuất, kế hoạch sản xuất, căn cứ vào mặt không gian và thời gian Tuy nhiên, nếu xem xét ở bất kỳ góc độ nào thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất đều bao gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Cả

Trang 22

ba mặt này có một mối quan hệ tương tác, thống nhất và không thể tách rời nhau Trong đó, hiệu quả kinh tế là trọng tâm (Quyền Đình Hà, 1993)

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.1.3.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Đình Hợi, 1993), (Nguyễn Duy Tính, 1995) Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng

Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N Borlang - Người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất

1.1.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác

Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện sự dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các yếu tố đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra các yêu cầu mới đối với việc sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh

1.1.3.3 Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức:

- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu của thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế pháp luật về bảo vệ tài nguyên, môi

Trang 23

trường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá

- Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng

trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì thế, phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất là rất cần thiết Muốn vậy cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó

1.1.3.4 Nhóm các yếu tố xã hội

Nhóm các yếu tố này bao gồm:

- Hệ thống thị trường và sự hình thành của thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Theo Nguyễn Duy Tính (1995), 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất, thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra

- Hệ thống chính sách (chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu đầu

1.1.4 Tiêu chuẩn đánh giá và ý nghĩa của hiệu quả sử dụng đất

Trong mọi quá trình sản xuất của xã hội, việc nâng cao hiệu quả là một mục tiêu chung, chủ yếu, xuyên suốt và cũng tuỳ theo những mô hình xã hội trong các điều kiện cụ thể mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên, đa

số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả

Trang 24

là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:

- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thoả mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế,

xã hội và môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (Đào Thu Châu, 1993)

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là trên một đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra

ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:

+ Bền vững về mặt kinh tế

Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định và đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân trong vùng thì sẽ được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp cần được thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với

đa dạng hoá sản phẩm

+ Bền vững về mặt xã hội

Là đáp ứng được nhu cầu lao động, thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người dân trong vùng, đảm bảo đời sống xã hội Thoả mãn được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích chung của toàn xã hội (bảo vệ đất, môi trường )

+ Bảo vệ môi trường

Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì của đất, ngăn chặn được sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Nguyễn Duy Tính, 1995)

Trang 25

1.1.5 Phương pháp xác định hiệu quả sử dụng đất

Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan hệ này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:

H = K - C

H = K/C

H = (K - C)/C

H = (K1 - K0)/(C1 - C0) Trong đó: H: Hiệu quả;

K: Kết quả;

C: Chi phí;

1, 0 là chỉ số về thời gian (năm)

Dựa trên yêu cầu nghiên cứu của hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài với các chỉ tiêu được lựa chọn như sau:

- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp

+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)

+ Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất

CPTG=VC+DVP+LV

VC: Chi phí vật chất (giống, phân bón, thuốc trừ sâu ) DVP: Dịch vụ phí (làm đất, vận tải, khuyến nông ) LV: Lãi vay ngân hàng, thuê lao động, hoặc các nguồn lãi vay khác + Thu nhập hỗn hợp (TNHH)

Trang 26

phí biến đổi và thu dịch vụ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, TNHH/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động

GTSX/LĐ: Phản ánh giá trị sản xuất do một ngày công lao động tạo ra

TNHH/LĐ: Phản ánh giá trị ngày công lao động

Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời gian và giá hiện hành và định tính (giá tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:

+ Mức thu hút lao động giải quyết việc làm cho nông dân của các kiểu sử dụng đất

+ Giá trị ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất

- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường:

+ Mức độ thích hợp của hệ thống cây trồng đối với đất

+ Mức đầu tư phân bón

+ Mức đầu tư thuốc bảo vệ thực vật

1.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.2.1 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất cây trồng đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới

Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ra nhiều phương pháp đánh giá để tìm

ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất Nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện, trình độ

Trang 27

và phương thức sử dụng đất mà có sự khác nhau về phương pháp Vì mỗi vùng, mỗi quốc gia đều có tập tục phương thức sản xuất riêng Do đó, việc đưa ra các công thức và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất ở mỗi nước là khác nhau

Ở các nước Đông Nam Á các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp phân tích chuyên gia… Bằng những phương pháp đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó không những có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp, nhằm khai thác tốt lợi thế so sánh của từng vùng mà còn có thể thâm canh tăng

vụ, tăng hệ số sử dụng đất, khắc phục được vấn đề môi trường dần hoàn thiện để phát triển nền nông nghiệp bền vững

Hàng năm, các Viện nghiên cứu Nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng

đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới cho năng suất và chất lượng cao, có khả năng chống chịu được sâu bệnh, chịu được khí hậu khắc nghiệt và đưa ra những công thức luân canh mới giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí "Farming Japan" của Nhật ra hàng tháng đã giới thiệu công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật

Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp Điều đó có nghĩa là hệ thống cây trồng đã phát triển trên đất cao trước, sau đó mới đến đất thấp Đó là quá trình hình thành của sinh thái đồng ruộng Nhà khoa học Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội Các nhà khoa học Nhật Bản

đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi Cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản

Trang 28

xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm (Vũ Khắc Hòa, 1996) Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra những chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương "ly nông bất ly hương"

đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Nguyễn Đình Hợi, 1993)

Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sác quốc gia đã có nhiều quy chế mới, ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn

Ở Ấn Độ, việc đánh giá đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất được áp dụng các phương pháp tham biến biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố dưới dạng phương trình toán học kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng %, chia làm 6 nhóm:

- Nhóm thượng hảo hạng: Có thể trồng bất kỳ loại cây nào cũng cho năng suất cao

- Nhóm tốt: trồng được bất kỳ loại cây nào nhưng cho năng suất thấp hơn nhóm thượng hạng

- Bốn nhóm còn lại là nhóm trung bình, nhóm nghèo, nhóm rất nghèo và nhóm không thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp

Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Các nước Châu Á đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Mặt khác, phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh, môi trường, tiến hành xây dựng nền sinh thái bền vững

Ở Hoa Kỳ, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, phân hạng đất đai nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và sử dụng đất hợp lý đã được chú ý Hiện nay, ở Hoa Kỳ

Trang 29

đang áp dụng rộng rãi hai phương pháp:

- Phương pháp tổng hợp: phương pháp này lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm tiêu chuẩn Trong đánh giá đất đai người ta đi sâu vào phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng

- Phương pháp yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để so sánh lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm hoặc 100% làm mốc so sánh với đất khác

Ở các nước Châu Âu đánh giá đất phổ biến theo hai chiều hướng:

- Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên để xác định tiềm năng của đất (phân hạng định tính)

- Nghiên cứu các yếu tố kinh tế xã hội nhằm xác định sức sản xuất thực tế của đất đai (phân hạng định lượng)

Các phương pháp thường áp dụng bằng phương pháp so sánh tính điểm hoặc tính phần trăm

Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn mang lại hiệu quả cao hơn Nghiên cứu bố trí luân canh các cây trồng hợp lý hơn bằng cách đưa các giống cây trồng mới vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm/1đơn

vị diện tích đất canh tác trong một năm Ở Châu Á có nhiều nước cũng tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác luân phiên cây lúa với cây trồng cạn

đã thu được hiệu quả cao hơn

Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp Các nước Châu Á trong quá trình sử dụng đất canh tác đã rất chú trọng đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh tiến bộ để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Nhưng để đạt được hiệu quả thì một phần phải nhờ vào công nghiệp chế biến, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh - môi trường

Trang 30

Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nước trong khu vực đã có sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững

Vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở các nước trên thế giới đã được nghiên cứu từ rất lâu bằng các phương pháp đánh giá đất Tuy có sự khác nhau về phương pháp, sắp xếp hệ thống đánh giá và quan điểm đánh giá, song chúng cũng có những quan điểm đồng nhất Đó là, luôn gắn liền với mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, nâng cao chất lượng sản phẩm và đề ra các phương pháp bảo vệ đất đai, cũng như bảo vệ môi trường nhằm đạt được hiệu quả sử dụng đất đai bền vững

1.2.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Thực hiện đường lối đổi mới, nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa nền nông nghiệp từ tự cấp tự túc trở thành nền nông nghiệp hàng hóa Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, sản xuất nông nghiệp còn nhiều vấn đề bức xúc, nhất là vấn đề thị trường cho nông sản hàng hóa Để tháo

gỡ vấn đề này từng vùng, từng địa phương cần xây dựng mô hình cơ cấu cây trồng hợp lý đối với từng cây trồng, từng chân đất và Nhà nước cần có những giải pháp cụ thể, đồng bộ để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm châu Á, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài nguyên đất có hạn, dân số nước ta lại đông Mặt khác, dân số tăng nhanh làm cho bình quân diện tích trên đầu người ngày càng giảm Theo dự kiến, nếu tốc độ tăng dân số là 0,8 - 1,2% / năm thì dân số Việt Nam sẽ là 97,5 triệu người vào năm 2020 Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới (Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng, 1993)

Ở nước ta, khi trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, phần lớn diện tích đất nông nghiệp đều tập trung vào sản xuất lương thực, thực phẩm Song song với việc nâng cao mức sống, đòi hỏi phát triển các cây thức ăn cao cấp hơn như cây họ đạm (đậu, đỗ ), cây có dầu (lạc, vừng ), rau củ và các loại cây ăn quả có giá trị hàng hoá, có hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, có tác dụng bảo

vệ, cải tạo môi trường đất

Trang 31

Bên cạnh việc nghiên cứu ra các giống cây trồng mới đưa vào sản xuất thì các nhà khoa học còn tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dựa vào việc nghiên cứu đưa ra các công thức luân canh mới bằng các phương pháp đánh giá hiệu quả của từng giống cây trồng, từng công thức luân canh Từ đó, các công thức luân canh mới tiến bộ hơn được áp dụng để khai thác ngày một tốt hơn tiềm năng đất đai

Trong những năm qua, nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật

và kinh tế, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất (Lê Văn Bá, 2001) Với các công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1993); đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của tác giả Trần Anh Phong và cộng sự (1996)

Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, gối vụ, trồng xen để sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu được nhiều tác giả đề cập đến như Bùi Huy Đáp (1979), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987)

Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do Đào Thế Tuấn chủ trì và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long do Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất đem lại hiệu quả kinh tế cao (Cao Liêm và cs., 1990)

Chương trình đồng trũng 1985 - 1987 do Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước chủ trì, chương trình bản đồ canh tác 1988 - 1990 do Uỷ ban Khoa học Nhà nước chủ trì cũng

đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón có hiệu quả trên các chân ruộng vùng úng trũng đồng bằng sông Hồng, góp phần làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng các vùng sinh thái khác nhau (Cao Liêm và cs., 1990)

Những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng (VIE/89/032) đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp

Trang 32

đồng bằng sông Hồng Với các công trình nghiên cứu đánh giá đất của các tác giả như Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà (1992-1993), Phạm Văn Lăng (1995), Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995) Các công trình nghiên cứu đã vận dụng phương pháp đánh giá đất đai của FAO thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/250000 cho phép đánh giá ở mức độ tổng hợp phục vụ cho quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng

Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN-01 (1991 - 1995) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long… nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó (Nguyễn Duy Tính, 1995)

Vùng đồi núi trung du phía Bắc có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Bồng - “Đánh giá tiềm năng sản xuất nông - lâm nghiệp của đất trống đồi núi trọc Tuyên Quang theo phương pháp phân loại thích hợp”, Đỗ Nguyên Hải - “Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh”, Đoàn Công Quỳ - “Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên”

Vùng đồng bằng sông Cửu Long với các công trình nghiên cứu của Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân (1991,1995)

Vùng Tây Nguyên có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Phạm Văn Tuyên (1995)

Vùng Đông Nam Bộ có các công trình nghiên cứu của Trần An Phong, Phạm Quang Khánh, Vũ Cao Thái, Trương Công Tín (1990)

Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng - 1997 cho thấy, ở vùng này đã xuất hiện nhiều

mô hình luân canh 3 - 4 vụ/ năm đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt ở các vùng ven

đô, vùng tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế rất cao Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được bố trí trong công thức luân canh cây ăn quả, hoa cây thực phẩm cao cấp, đạt giá trị sản lượng bình quân từ 30 - 35 triệu đồng/ năm (Vũ Năng Dũng, 1997)

Trang 33

Để đem lại hiệu quả cao nhất khi sử dụng đất nông nghiệp thì công việc

đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng và thực

sự cần thiết Từ việc đánh giá ta sẽ xác định được các loại hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện của địa phương cũng như thu được hiệu quả cao nhất giúp cải thiện đời sống của nhân dân trong vùng từng bước xóa đói, giảm nghèo trên chính mảnh đất của người nông dân

Nhìn chung nền nông nghiệp Việt Nam đang có hướng đi lên, phần nào đáp ứng được vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, hướng tới một nền nông nghiệp bền vững

1.2.3 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương

Sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về mặt vật chất, tinh thần của toàn xã hội Khi nguồn lực sản xuất ngày càng trở lên khan hiếm Việc nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất Ngày nay, sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp phát triển bền vững cũng là xu thế tất yếu đối với các quốc gia, các vùng Vì vậy, đất đai hay bất cứ nguồn lực nào cũng cần được sử dụng một cách có hiệu quả, đầy đủ và hợp lý Trên thực tế Đảng và Nhà nước ta cũng ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp

Hải Dương là một tỉnh đồng bằng sông Hồng, nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm bắc bộ, có tổng diện tích tự nhiên là 165.598,54 ha Đất nông nghiệp có diện tích 104.648,95 ha, chiếm 63,19% so với tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 84.415,94 ha, chiếm 80,66% đất nông nghiệp

và 50,98% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh; đất lâm nghiệp 10.849,80 ha chiếm 10,37% đất nông nghiệp và 6,55% so với tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh; đất nuôi trồng thủy sản 9.288,96 ha chiếm 8,87% diện tích đất nông nghiệp và 5,61% so với tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh; đất nông nghiệp khác 94,25 ha chiếm 0,09% diện tích đất nông nghiệp và 0,06% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Nông nghiệp tỉnh Hải Dương có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh

tế, xã hội của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Nền nông nghiệp của tỉnh trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu

Trang 34

quan trọng Giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn 2014 đạt 3944 tỷ đồng, tổng sản lượng lương thực đạt 703.496 tấn

Ngành nông nghiệp của tỉnh Hải Dương đã giải quyết nhu cầu lương thực tiêu dùng trong tỉnh và một phần cung cấp cho thị trường các tỉnh lân cận, tỷ trọng cây công nghiệp, cây lương thực, cây ăn quả, hoa, các loại cây cảnh hàng hóa có sự chuyển biến tích cực

Hải Dương cũng đã hình thành một số vùng chuyên canh cây lương thực, thực phẩm như:

- Vùng trồng cây ngô ở các huyện Nam Sách, Gia Lộc, Chí Linh, Ninh Giang với tổng diện tích là 2.654 ha, chiếm hơn 60,1% diện tích trồng ngô của cả tỉnh

- Vùng chuyên canh các loại rau: su hào, bắp cải, cà rốt, súp lơ tập trung tại các huyện Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Nam Sách, Kim Thành với tổng diện tích là 10.709 ha chiếm 36,7% diện tích trồng rau toàn tỉnh

- Vùng trồng hành, tỏi: Vùng chuyên canh hành, tỏi lớn nhất của tỉnh là huyện Kinh Môn, Nam Sách với diện tích 3.585 ha, sản lượng là 43.370 tấn

- Vùng trồng lạc: Vùng chuyên canh cây lạc lớn nhất trong tỉnh là huyện Chí Linh và Thanh Hà với tổng diện tích là trên 8000 ha chiếm 59,2% diện tích trồng vải của cả tỉnh và tổng sản lượng đạt trên 35.000 tấn chiếm 50,7% tổng sản lượng vải của cả tỉnh

- Vùng chuyên canh cây dưa hấu: Dưa hấu là loại cây trồng mới được đưa vào sản xuất trong ngành trồng trọt của tỉnh Vùng chuyên canh dưa hấu lớn nhất của tỉnh tập trung ở huyện Gia Lộc, Tứ Kỳ và Kim Thành

Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có các công trình nghiên cứu phát triển sản xuất nông nghiệp, các đề tài nghiên cứu khoa học như: Nghiên cứu “Chuyển giao công nghệ giống chuyển gen kháng bạc lá vào giống lúa Bắc thơm số 7 và Bắc

ưu 253 phục vụ cho tỉnh Hải Dương” do Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) thực hiện; nghiên cứu phục tráng nhằm phát triển cây bưởi đào tại xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà; nghiên cứu xây dựng

mô hình trồng dưa hấu lai F1 An Tiêm 109, nghiên cứu xây dựng thành công mô hình sản xuất rau quả tươi an toàn (VietGAP) theo chuỗi liên kết từ sản xuất đến

Trang 35

tiêu thụ sản phẩm đối với cà chua ghép gốc cà tím, cây bí xanh; nghiên cứu xây dựng mô hình duy trì, lưu giữ và phát triển hoa lan trên địa bàn tỉnh Hải Dương Các nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn tỉnh

Trang 36

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quỹ đất nông nghiệp, các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất phổ biến thuộc đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều tra, đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cẩm Giàng

- Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, địa hình, khí hậu…

- Điều kiện kinh tế xã hội Tình hình kinh tế nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, trình độ canh tác, loại hình sử dụng đất…

- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cẩm Giàng

2.2.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Cẩm Giàng

- Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện

- Thực trạng các loại hình sử dụng đất, diện tích và sự phân bố các loại hình

sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện

2.2.3 Xác định các loại hình sử dụng đất chủ yếu trên địa bàn huyện Cẩm Giàng

Xác định các loại hình sử dụng đất chủ yếu trên địa bàn huyện Cẩm Giàng được thực hiện bằng phiếu điều tra nông hộ tại các vùng nghiên cứu về tình hình sử dụng đất nông nghiệp và hình thức canh tác trên đất nông nghiệp của các hộ gia đình tại vùng nghiên cứu

2.2.4 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất huyện Cẩm Giàng

+ Hiệu quả kinh tế: Tính toán tổng vốn đầu tư, tổng thu nhập, chi phí trung gian trên 1/ha

+ Hiệu quả xã hội: Mức độ thu hút lao động, giải quyết việc làm cho nông

Trang 37

dân, giá trị ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất

+ Hiệu quả môi trường: Mức đầu tư phân bón, mức đầu tư thuốc bảo vệ thực vật

2.2.5 Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Cẩm Giàng

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác, đặc điểm đất đai, khả năng thâm canh, khả năng tăng vụ và hệ thống cây trồng của huyện có thể phân chia đất nông nghiệp của huyện Cẩm Giàng thành 03 vùng chính

- Vùng 1: Bao gồm 05 xã ở phía Nam của huyện (Cẩm Đoài, Cẩm Đông, Cẩm Phúc, Cẩm Hưng, Lương Điền) Vùng này ở gần sông Sặt có địa hình thấp trũng, dinh dưỡng trong đất nghèo, khả năng sản xuất kém Đây là vùng phù hợp cho phát triển nuôi trồng thủy sản và canh tác lúa Chọn xã Cẩm Phúc làm điểm điều tra cho vùng 1

- Vùng 2: Gồm các 08 xã ở phía Tây Bắc và các xã ở trung tâm huyện (Cẩm Điền, Ngọc Liên, Thạch Lỗi, Cẩm Hoàng, Kim Giang, Cẩm Định, Tân Trường, thị trấn Cẩm Giàng) là vùng có địa hình bằng phẳng, hàm lượng chất dinh dưỡng từ trung bình đến nghèo Vùng thích hợp trồng các loại hoa màu và cây lương thực Chọn xã Cẩm Điền làm điểm điều tra cho vùng 2

- Vùng 3: Gồm 06 xã ở phía Đông của huyện, giáp sông Thái Bình (Cao An, Đức Chính, Cẩm Văn, Cẩm Vũ, Cẩm Sơn, thị trấn Lai Cách) là vùng có địa hình cao Đất đai của vùng có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn hai vùng trên, đặc biệt là một số

xã như Cẩm Văn, Đức Chính do gần sông Thái Bình nên hành năm đất được bồi đắp phù sa khá lớn Vùng này thích hợp cho chuyên canh cây rau màu và cây lương thực Chọn xã Cẩm Văn làm điểm điều tra cho vùng 3

2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

+ Nguồn số liệu thứ cấp thu thập số liệu, tài liệu, các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thống kê đất đai, chính sách sử dụng đất nông nghiệp, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và các thông tin khác liên quan đến đề tài tại địa bàn

Trang 38

nghiên cứu từ phòng Tài Nguyên và Môi Trường, phòng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê, phòng Kế hoạch - Tài chính huyện Cẩm Giàng + Nguồn số liệu sơ cấp thông qua việc tiến hành điều tra các nông hộ theo phiếu hỏi

Nội dung điều tra gồm: Thông tin chung về hộ gia đình (số nhân khẩu, số người trong độ tuổi lao động, nguồn thu lớn nhất của hộ năm qua, sản xuất chính của hộ trong nông nghiệp), tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ (tình hình sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế sử dụng đất, thị trường vật tư sản xuất nông nghiệp, chính sách của Nhà nước ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (chính sách đối với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chính sách liên quan đến quyền sử dụng đất, vay vốn phát triển sản xuất, hỗ trợ về kỹ thuật), vấn đề môi trường (việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật); chi phí mua giống cây trồng, phân bón, thuốc trừ sau, thuê nhân công ngoài

Cách thức điều tra: Thực hiện việc phỏng vấn, thu thập thông tin trực tiếp đối với các hộ gia đình trên địa bàn, chọn các hộ điều tra theo phương pháp chọn ngẫu nhiên, các hộ điều tra là các hộ tham gia trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp trên 03

xã đại diện cho 03 vùng

Cách chọn điểm điều tra: Chọn điểm nghiên cứu đại diện cho các vùng sinh thái và đại diện cho các vùng kinh tế nông nghiệp của huyện Trên cơ sở hiện trạng

sử dụng đất nông nghiệp, tập quán canh tác, đặc điểm đất đai, khả năng thâm canh, khả năng tăng vụ và hệ thống cây trồng của huyện có thể phân chia đất nông nghiệp của huyện Cẩm Giàng thành 03 vùng chính, mỗi vùng chọn 01 xã làm điểm điều tra Mỗi xã điều tra 40 phiếu điều tra nông hộ, tổng số phiếu điều tra là 120 phiếu Các xã được chọn làm đại diện để triển khai nghiên cứu đáp ứng các yêu cầu về: Đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và có trình độ sản xuất khá cao

Trang 39

2.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế:

Để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một ha của các loại hình sử dụng đất [LUT], sử dụng hệ thống các tiêu chí sau:

+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 năm

+ Chi phí trung gian (CPTG) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất của 1 LUT trong thời gian 1 năm

CPTG=VC+DVP+LV

VC: Chi phí vật chất (giống, phân bón, thuốc trừ sâu )

DVP: Dịch vụ phí (làm đất, vận tải, khuyến nông )

LV: Lãi vay ngân hàng, thuê lao động, hoặc các nguồn lãi vay khác

+ Thu nhập hỗn hợp (TNHH)

TNHH = GTSX-CPTG

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội:

+ Mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm (công/ha)

+ Giá trị sản xuất do một ngày công lao động tạo ra (GTSX/LĐ)

+ Giá trị ngày công lao động (TNHH/LĐ)

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả môi trường:

+ Mức độ thích hợp của hệ thống cây trồng đối với đất

+ Mức đầu tư phân bón

+ Mức đầu tư thuốc bảo vệ thực vật

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Cẩm Giàng nằm ở phía Tây của tỉnh Hải Dương, được tái thành lập năm

1997 với diện tích đất tự nhiên là 10.899,49 ha Vị trí của huyện được giới hạn bởi:

Phía Bắc giáp huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh;

Phía Đông Bắc giáp huyện Nam Sách;

Phía Đông Nam giáp huyện Gia Lộc;

Phía Đông giáp Thành phố Hải Dương;

Phía Nam giáp huyện Bình Giang;

Phía Tây giáp huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên

Huyện Cẩm Giàng bao gồm 2 thị trấn và 17 xã Hai thị trấn đó là thị trấn Lai Cách và thị trấn Cẩm Giàng Mười bẩy xã bao gồm các xã: Cao An, Đức Chính, Cẩm Văn, Cẩm Đoài, Cẩm Đông, Cẩm Vũ, Cẩm Hoàng, Cẩm Phúc, Cẩm Sơn, Cẩm Điền, Cẩm Định, TânTrường, Thạch Lỗi, Ngọc Liên, Lương Điền, Kim Giang và Cẩm Hưng

Trên địa bàn huyện có các trục giao thông đường bộ chạy qua như: Quốc lộ

5, quốc lộ 38, đường tỉnh lộ 394A, 394B, 394C, đường 195, đường 19 và đường 5B Tuyến đường sắt có tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy ngang qua địa bàn huyện

Tuyến đường thuỷ có sông Thái Bình, sông Sặt, sông Cẩm Giàng là những tuyến giao thông đường thuỷ thuận tiện cho vận chuyển hàng hoá trong huyện và các vùng lân cận

Huyện Cẩm Giàng cách trung tâm tỉnh Hải Dương 8 km và cách Thủ đô Hà Nội 50 km (UBND huyện Cẩm Giàng – 2015)

Với vị trí địa lý như trên, huyện Cẩm Giàng có những lợi thế mà các địa phương khác không có, điều đó tạo điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội, giao lưu văn hoá trao đổi khoa học kỹ thuật với các địa phương trong và ngoài tỉnh

Ngày đăng: 17/09/2015, 13:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Cẩm Giàng - tỉnh Hải Dương - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Cẩm Giàng - tỉnh Hải Dương (Trang 41)
Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế huyện Cẩm Giàng qua một số năm - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Hình 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Cẩm Giàng qua một số năm (Trang 44)
Hình 3.4: Cảnh quan LUT 2 lúa tại xã Cẩm Điền - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Hình 3.4 Cảnh quan LUT 2 lúa tại xã Cẩm Điền (Trang 55)
Hình 3.5: Cảnh quan cây vụ đông của LUT 1 lúa - 2 màu tại xã Cẩm Phúc - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Hình 3.5 Cảnh quan cây vụ đông của LUT 1 lúa - 2 màu tại xã Cẩm Phúc (Trang 56)
Hình 3.7: Cảnh quan LUT hoa cây cảnh tại xã Kim Giang - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Hình 3.7 Cảnh quan LUT hoa cây cảnh tại xã Kim Giang (Trang 57)
Hình 3.8: Cảnh quan nuôi trồng thủy sản tại xã Lương Điền - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Hình 3.8 Cảnh quan nuôi trồng thủy sản tại xã Lương Điền (Trang 59)
Bảng 3.9  Tổng hợp hiệu quả  kinh tế của các cây trồng vùng 1 - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Bảng 3.9 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các cây trồng vùng 1 (Trang 64)
Bảng 3.11  Tổng hợp hiệu quả  kinh tế của các cây trồng vùng 2 - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Bảng 3.11 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các cây trồng vùng 2 (Trang 68)
Bảng 3.13  Tổng hợp hiệu quả  kinh tế của các cây trồng vùng 3 - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Bảng 3.13 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các cây trồng vùng 3 (Trang 71)
Bảng 3.15 Hiệu quả kinh tế của các LUT theo các vùng - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Bảng 3.15 Hiệu quả kinh tế của các LUT theo các vùng (Trang 75)
Bảng 3.16 Tổng hợp hiệu quả kinh tế các vùng theo LUT - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Bảng 3.16 Tổng hợp hiệu quả kinh tế các vùng theo LUT (Trang 76)
Bảng 3.17  Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Bảng 3.17 Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao (Trang 81)
Bảng 3.21 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối và - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Bảng 3.21 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối và (Trang 92)
Bảng 3.22 Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
Bảng 3.22 Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng (Trang 94)
Phụ lục 1. Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Cẩm Giàng - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng   tỉnh hải dương năm 2015
h ụ lục 1. Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Cẩm Giàng (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w