Hưởng ứng phong trào chung của cả nước cũng như thực tế ruộng đất của hộ còn manh mún, phân tán, ngày 30/3/1998 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh có Nghị quyết 03/NQ-TU về việc ‘Chuyển
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Z Y
NGUYỄN TRÍ TÀI
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN VĂN CHÍNH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được
Trang 3LÒI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo thuộc khoa quản lý đất đai - Học viện nông nghiệp Việt Nam
Để có được kết quả nghiên cứu này,ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của thầy giáo PGS.TS Trần Văn Chính người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của UBND huyện Yên Phong, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê, các phòng ban khác có liên quan và cán bộ, nhân dân các xã Thuỵ Hoà, Dũng Liệt, Tam Giang huyện Yên Phong, các anh chị
em và bạn bè đồng nghiệp động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần
Tôi xin chân thành cảm ơn các sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Trí Tài
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận về dồn điền đổi thửa 3
1.1.1 Khái niệm về tập trung ruộng đất và tác động của nó 3
1.1.2 Tính tất yếu của tích tụ và tập trung ruộng đất 5
1.1.3 Quan điểm tích tụ và tập trung ruộng đất 8
1.1.4 Dồn điền đổi thửa 9
1.2 Cơ sở thực tiễn về dồn điền đổi thửa 11
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở thế giới 11
1.2.2 Tình hình dồn điền đổi thửa ở nước ta 15
Chương 2 PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.2.1 Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Yên Phong 30
2.2.2 Thực trạng và quá trình dồn điền đổi thửa huyện Yên Phong 30
2.2.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 30
2.2.4 Đề xuất các giải pháp thực hiện 30
Trang 52.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp chọn điểm để nghiên cứu 30
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 30
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Yên Phong 33
3.1.1 Vị trí địa lý 33
3.1.2 Địa hình, địa mạo 33
3.1.3 Khí hậu 34
3.1.4 Thuỷ văn 35
3.1.5 Các nguồn tài nguyên 36
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
3.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 38
3.2.2 Thực trạng phát triển ngành kinh tế nông nghiệp 39
3.2.3 Cơ sở hạ tầng 41
3.2.4 Dân số, lao động 43
3.2.5 Đánh giá chung về kinh tế - xã hội 44
3.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất huyện Yên Phong 46
3.3.1 Tình hình quản lý đất đai 46
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 và biến động sử dụng các loại đất 47
3.4 Công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Yên Phong 50
3.4.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa 50
3.4.2 Quy trình dồn điền đổi thửa của huyện 51
3.4.3 Thực trạng đất đai huyện Yên Phong sau khi giao đất theo Nghị định 64/CP năm 1993 54
3.4.4 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Yên Phong 56
3.4.5 Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến sản xuất đất nông nghiệp 61
Trang 63.5 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp sau khi thực hiện chính sách chuyển đổi ruộng đất 76
3.5.1 Giải pháp về chính sách 76
3.5.2 Giải pháp kỹ thuật chuyển dịch cơ cấu sản xuất 77
3.5.3 Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai 77
3.5.4 Tích tụ và tập trung ruộng đất 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước 15
Bảng 2.1 Số hộ được lựa chọn ở các điểm điều tra 31
Bảng 3.1 Một số yếu tố khí hậu huyện Yên Phong từ năm 2003- 2013 34
Bảng 3.2 Diện tích các loại đất của huyện Yên Phong 36
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 – 2013 38
Biểu 3.4: Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp qua một số năm 39
Bảng 3.5 Quy mô đường giao thông chính của huyện Yên Phong 41
Bảng 3.6 Các hạng mục công trình chính của huyện Yên Phong 42
Bảng 3.7 Dân số và lao động Yên Phong 2010-2013 43
Bảng 3.8 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Yên Phong năm 2013 48
Bảng 3.9 Biến động diện tích theo mục đích sử dụng 49
Bảng 3.10 Thực trạng ruộng đất của huyện sau khi giao đất ổn định lâu dài (tính đến tháng 12 năm 1993) 55
Bảng 3.11 Kết quả dồn điền đổi thửa của huyện tính đến tháng 12 / 2013 57
Bảng 3.12 Tình hình dồn điền đổi thửa ở các xã điều tra 59
Bảng 3.13 Một số kết quả đạt được của công tác dồn điền đổi thửa các xã điều tra tính đến 12/2013 60
Bảng 3.14 Một số ảnh hưởng bước đầu sau DĐĐT ở các xã điều tra 63
Bảng 3.15 Cơ cấu một số cây trồng vụ xuân của hộ điều tra trước và sau dồn điền đổi thửa 66
Bảng 3.16 Sự thay đổi các thiết bị phục vụ sản xuất sau khi dồn điền đổi thửa 69
Bảng 3.17 Diện tích tối ưu để vận hành các máy nông nghiệp hiện đại 70
Bảng 3.18 Hệ số sử dụng đất hàng năm của các nhóm hộ điều tra 71
Trang 8Bảng 3.19 Số trang trại và vùng sản xuất hàng hóa tập trung của các xã
điều tra trước và sau dồn điền đổi thửa 72 Bảng 3.20 Cơ cấu lao động trong các hộ điều tra trước và sau dồn điền
đổi thửa 74 Bảng 3.21 Kết quả đo đạc bản đồ địa chính và cấp đổi GCNQSDĐ tại
các xã điều tra tính đến 31/12/2013 75
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Hệ thống giao thông thủy lợi sau dồn điền đổi thửa 62
Hình 3.2 Chuyển đổi đất lúa sang nuôi trồng thủy sản 66
Hình 3.3 Áp dụng máy móc vào sản xuất nông nghiệp 69
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cải cách kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn Việt Nam khoảng hơn hai thập kỷ trở lại đây đã đem lại những thành quả to lớn về kinh tế - xã hội cho đất nước Từ một nước nhập khẩu lương thực là chủ yếu, kinh tế nghèo nàn lạc hậu, chúng ta đã vươn lên và trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới về một số mặt hàng nông sản; thu nhập và đời sống của người dân ngày càng được cải thiện; tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm đáng kể, đặc biệt ở vùng nông thôn Đóng góp vào thành quả to lớn trên không thể không kể đến chính sách về ruộng đất của Đảng và Nhà nước đã ban hành trong quá trình đổi mới vừa qua
Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đã thực hiện phương trâm công bằng xã hội bằng cách chia đều ruộng đất tính trên một khẩu cho các gia đình Như vậy, mỗi hộ nông dân đều có phần trên những mảnh ruộng xấu, ruộng tốt, ruộng xa cũng như ruộng gần Việc giao đất lâu dài cho các hộ gia đình cá nhân đã có tác dụng lớn trong việc khai thác nguồn lực sẵn có ở nông thôn, khuyến khích nông dân sản xuất, tăng cường an ninh lương thực đặc biệt đối với những vùng
có bình quân ruộng đất trên đầu người thấp như vùng đồng bằng sông Hồng
Tuy nhiên, cách chia ruộng đất cho hộ nông dân như trên cũng cho thấy những hạn chế, nhất là tình trạng manh mún ruộng đất ở nông thôn Tình trạng này dẫn đến hạn chế khả năng đổi mới, ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật, ứng dụng các quy trình kỹ thuật đồng nhất của một hình thức canh tác nào đó trong sản xuất dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp
Thấy được những hạn chế đó nhiều hộ đã tự đổi đất cho nhau để ruộng của mình rộng hơn và đã thu được nhiều thắng lợi Một số tỉnh đã rất thành công trong dồn đổi ruộng đất như Thanh Hoá, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Từ những kết quả đạt được ở các địa phương, Đảng và Nhà nước ta đã chủ
Trang 11trương phát động phong trào “dồn điền, đổi thửa” trong phạm vi cả nước Hưởng ứng phong trào chung của cả nước cũng như thực tế ruộng đất của hộ còn manh mún, phân tán, ngày 30/3/1998 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh có Nghị quyết 03/NQ-TU về việc ‘Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, khuyến khích các địa phương Dồn điền đổi thửa‘ và ngày 27/6/2001
Tỉnh uỷ Bắc Ninh có Nghị quyết 06/NQ-TU về việc ’Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp’ chỉ đạo việc tiến hành dồn điền, đổi thửa, phân bố lại ruộng đất
của hộ sao cho hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ sử dụng các nguồn lực có hiệu quả nhất; tạo động lực thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế NN - NT phát triển Từ thực
tế ruộng đất trên địa bàn huyện Yên Phong manh mún, phân tán và hưởng ứng chủ trương chính sách của tỉnh uỷ, UBND tỉnh, huyện uỷ, UBND huyện, công tác dồn điền, đổi thửa được triển khai xuống các xã và xuống từng thôn đội
Cho tới nay công tác DĐĐT trên địa bàn huyện đã thu được những kết quả như thế nào? DĐĐT ảnh hưởng ra sao đến phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện? Yếu tố nào đã ảnh hưởng đến quá trình dồn điền đổi thửa? Bài học nào được rút ra cho các địa phương khác trong công tác DĐĐT của huyện? Xuất phát từ những yêu cầu thực tế khách quan trên, chúng tôi nghiên
cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của công tác dồn điền, đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Phong
- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy công tác dồn điền đổi thửa được thực hiện tốt hơn
3 Yêu cầu của đề tài
- Phản ánh tình hình dồn điền đổi thửa và ảnh hưởng của của công tác dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân tại địa bàn nghiên cứu;
- Đề xuất các giải pháp hợp lý và phù hợp với điều kiện Yên Phong
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về dồn điền đổi thửa
1.1.1 Khái niệm về tập trung ruộng đất và tác động của nó
1.1.1.1 Một số vấn đề về tập trung ruộng đất
Tập trung đất đai trong nông nghiệp là phương thức làm tăng quy mô diện tích của thửa đất và chủ thể sử dụng đất thông qua các hoạt động dẫn tới tập trung ruộng đất như: chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê đất, thuê lại đất, thừa kế, thế chấp
Hay nói cách khác, tập trung ruộng đất là việc sát nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của những chủ sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình thành một chủ sở hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn Tập trung ruộng đất diễn ra
theo hai con đường (Bùi Quang Dũng, 2002):
Một là hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơn thành một chủ sở hữu cá biệt khác lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua việc xây dựng HTX sản xuất nông nghiệp ở nước ta trước đây
Hai là, con đường sát nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt để tạo ra quy mô lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua biện pháp tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất Con đường này diễn ra mạnh mẽ ở các nước tư bản
Việc tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt là: Một mặt làm cho một bộ phận nông dân trở thành không có ruộng đất, buộc họ phải đi làm thuê hoặc rời quê hương tìm kế sinh nhai Mặt khác, tạo cho chủ đất có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các
kinh tế ngành khác, mà trước hết là công nghiệp (Bùi Quang Dũng, 2002)
Cũng theo Bùi Quang Dũng (2002), Ở nước ta, việc tập trung ruộng đất
Trang 13diễn ra do một số nguyên nhân sau:
- Một số hộ làm ăn khá giả, có vốn, có trình độ kỹ thuật và quản lý kinh doanh muốn có thêm đất đai để sản xuất
- Một số hộ do yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn không hiệu quả, không đảm bảo được cuộc sống trên ruộng đất được giao nên chuyển nhượng, cho thuê để đáp ứng yêu cầu trước mắt hoặc chuyển sang để làm các ngành nghề khác
Mặt khác, trong luật đất đai hiện hành của nước ta đã và đang tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình tập trung đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đó chính là việc xác định chế độ sử dụng đất:
- Chủ thể sử dụng đất: là những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng
- Khách thể của quyền sử dụng đất: là một vùng nhất định mà Nhà nước giao cho các chủ thể sử dụng đất
- Chuyển đổi quyền sử dụng đất: là việc ''đổi đất lấy đất'' giữa các chủ thể sử dụng đất được Nhà nước giao đất để sử dụng nhằm mục đích chủ yếu
là tổ chức lại sản xuất cho phù hợp, khắc phục tình trạng đất đai manh mún, phân tán như hiện nay
- Cho thuê đất: là một dạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thời hạn, bên thuê đất phải trả cho bên cho thuê đất một khoản tiền nhất định để được quyền sử dụng
- Thế chấp quyền sử dụng đất: là hoạt động trong quan hệ tín dụng, từ
đó các chủ thể sử dụng đất thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê lại tổ chức tín dụng để vay vốn sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật
- Cho thuê lại đất: là một dạng của chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất khi người đi thuê cho người thuê lại
Trang 141.1.1.2 Tác động của tích tụ và tập trung ruộng đất đến sản xuất của nông hộ
Tích tụ và tập trung ruộng đất sẽ phát huy đuợc tính tự chủ của hộ trong việc ra quyết định sản xuất nông nghiệp Thể hiện qua sự tăng qui mô sản xuất, lao động, vật tư, vốn, áp dụng các tiến bộ KHKT để làm tăng giá trị sử dụng đất, thâm canh tăng vụ để nâng cao hệ số sử dụng đất, nâng cao hiệu quả trong sử dụng đất, tăng năng suất…Khi được sản xuất trên thửa ruộng lớn hơn đồng nghĩa với việc các nông hộ có khả năng bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu thời vụ, mạnh dạn ứng dụng thành tựu KHKT mới vào đồng ruộng, tăng mức
độ liên kết hợp tác trong sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cung cấp cho thị trường nhiều hàng hóa nông sản hơn Hộ nông dân sẽ
có điều kiện đầu tư cơ giới hóa trong các khâu sản xuất, giải phóng sức lao động, bố trí cơ cấu lao động sản xuất nông nghiệp hợp lý hơn, giảm được tỷ lệ lao động nông nghiệp thuần túy, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế của nông hộ,
mang lại đời sống no ấm hơn cho người nông dân (Lã Văn Lý, 2009)
1.1.2 Tính tất yếu của tích tụ và tập trung ruộng đất
1.1.2.1 Xu hướng tích tụ và tập trung ruộng đất trong nền kinh tế thị trường
Theo quy luật chung của sự phát triển sản xuất sẽ diễn ra quá trình tích
tụ, tập trung và quá trình hợp tác, liên kết trong quá trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản Quá trình tích tụ, tập trung và xã hội hóa trong sản xuất nông nghiệp tất yếu sẽ diễn ra; về nguyên tắc quá trình đó diễn ra theo 2
hướng (Lã Văn Lý, 2009):
- Tập thể hóa ruộng đất và tư liệu sản xuất
Theo hướng này toàn bộ ruộng đất và tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tập thể
Mô hình này phổ biến trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở các nước Xã hội Chủ nghĩa trong giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 (5.1945) đến cuối thập niên 80 của thế kỷ 20; điển hình là các nông trang tập thể ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Trung Quốc, Triều Tiên
Ở Việt Nam trong giai đoạn 1960-1985 quá trình tập thể hóa đã diễn ra
Trang 15trên quy mô lớn ở Miền Bắc với các hình thức HTX nông nghiệp từ cấp thấp đến cấp cao; HTX nông nghiệp từ quy mô thôn, đến quy mô toàn xã Công cuộc HTH nông nghiệp đã đóng góp phần thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dụng XHCN ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thực hiện thống nhất đất nước;
- Từng bước tích tụ và tập trung ruộng đất gắn với phân công lại lao động trong nông thôn, nông nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình
Phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng gắn người lao động với tư liệu sản xuất, với đất đai, với sản phẩm cuối cùng là cây con; hợp tác các lĩnh vực, các khâu, các công đoạn, các lĩnh vực không gắn trực tiếp với quá trình sinh học (làm đất, thủy lợi, bảo vệ thực vật, chế biến, tiêu thụ sản phẩm) với sự hỗ trợ của nhà nước về vốn, cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ
Mô hình này đã được phát triển ở các nước Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc từ sau chiến tranh thế giới thứ 2
Ở Việt Nam trong quá trình đổi mới từ 1986 đến nay; đặc biệt từ khi có Nghị Quyết 10 Bộ Chính trị (Khóa 6), Hiến Pháp 1992, Luật Đất đai 1993 kinh tế hộ gia đình cá nhân, kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển với việc thực hiện chủ trương Nhà nước giao đất sản xuất ổn định cho hộ gia
đình cá nhân và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Lã Văn Lý, 2009)
1.1.2.2 Nhu cầu tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn
Sau hơn 25 năm đổi mới, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng đã hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới Sự hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội mới để phát triển, song cũng nẩy sinh nhiều thách thức mới cần phải giải quyết để tồn tại và phát triển như vấn đề kỹ thuật, tổ chức sản xuất, hàng rào thuế quan như:
Trang 16- Không thể chấp nhận một nền nông nghiệp sản xuất manh mún trong khi cả nước tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường
- Không thể xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia nếu mỗi tỉnh, mỗi
hộ nông dân tiếp tục tự cấp tự túc trên mảnh đất nhỏ bé của mình
- Nhưng cũng không thể không thấy quá trình phân hóa giàu nghèo đang diễn ra gay gắt ở nông thôn mà một nhóm nông dân đang phải gánh chịu
- Nếu trước đây, khi chia lại ruộng để khoán hộ, nông dân đòi hỏi phải
có tốt-có xấu, có xa-có gần, có thấp-có cao, thì ngày nay tư tưởng manh mún, nhỏ hẹp ấy đã phải nhường cho một ước nguyện mới mang tính thời đại-cần những diện tích rộng lớn, liền vùng, liền khoảnh để sản xuất hàng hoá
- Ruộng đất 1 hộ không chỉ đơn giản dồn từ trên chục mảnh vào vài ba mảnh, mà chỉ còn 1 đến 2 mảnh
Bình quân mỗi hộ chỉ 0,7 - 0,8 ha, có tới 7 - 8 thửa, mỗi lao động 0,3ha
và mỗi nhân khẩu 0,15 ha, Ở Đồng bằng Bắc Bộ chỉ có 360m2/khẩu Nếu cứ
để ruộng đất như hiện nay thì không bao giờ có sản xuất hàng hoá, mà không
có vùng sản xuất hàng hoá thì không bao giờ có tiêu thụ theo hợp đồng
Ruộng đất được tích tụ, tập trung sẽ khuyến khích nông dân, các nhà đầu tư áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Một khi các nhà đầu tư nông nghiệp có thể tích tụ, tập trung ruộng đất ở quy mô thích hợp, đóng góp của
họ sẽ không chỉ làm thay đổi cung cách sản xuất manh mún mà còn tạo ra
những đổi mới thật sự ở nông thôn (Lã Văn Lý, 2009)
1.1.2.3 Tích tụ và tập trung để tạo dựng thị trường quyền sử dụng đất (QSDĐ) nông thôn, nông nghiệp
Hiện cả nước có trên 11 triệu hộ nông dân, với gần 70 triệu nhân khẩu, đang chiếm giữ 12,68 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm 57,88 % diện tích đất nông nghiệp cả nước; 57,49 % tổng quỹ đất đã giao cho các đối tượng sử dụng Việc cấp giấy chứng nhận (GCN) đối với đất sản xuất nông nghiệp đã hoàn thành cơ bản (13,99 triệu GCN, với 7,59 triệu ha, đạt 83.8%)
Trang 17Với các điều kiện trên, thị trường QSDĐ trong khu vực nông thôn, nông nghiệp là một thị trường tiềm năng Tuy nhiên, thị trường QSDĐ trong khu vực nông thôn và nông nghiệp vẫn chưa phát triển
Theo một kết quả điều tra, nghiên cứu về thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp, nông thôn: các hộ gia đình cá nhân có xu hướng giữ đất để sản xuất, bình quân số hộ chuyển nhượng QSDĐ và thuê QSDĐ chỉ chiếm 1 - 2% Việc thế chấp QSDĐ khá phổ biến, đặc biệt ở các vùng kinh tế phát triển như Đông Nam Bộ và ĐBSCL Việc thế chấp QSDĐ chủ yếu để đầu tư sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu bức xúc của đời sống
1.1.3 Quan điểm tích tụ và tập trung ruộng đất
a) Tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao, xây dựng nông thôn hiện đại bền vững Tích tụ, tập trung ruộng đất là tất yếu của phát triển nông nghiệp hàng hoá theo cơ chế thị trường, quá trình tích
tụ, tập trung ruộng đất phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội,
giúp nông dân tiếp cận được ruộng đất để nâng cao đời sống (Bùi Quang
Dũng, 2002)
b) Quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất phải gắn với việc chuyển dịch một phần lớn lao động nông nghiệp sang làm công nghiệp dịch vụ tại nông thôn và cả ở đô thị
Hiện tại, nông dân - đối tượng đông nhất trong xã hội - lại ít được đào tạo nghề nên tỷ lệ thất nghiệp ở mức báo động, có trên 83% lao động ở nông thôn chưa qua đào tạo bất kỳ chuyên môn gì (con số từ Bộ LĐTB-XH), trong khi tỷ lệ này ở thành thị là 49% 20% lao động ở nông thôn thất nghiệp, tương đương khoảng 4,8 triệu người, cộng thêm hàng triệu thanh niên bước vào độ
tuổi lao động mỗi năm (Bùi Quang Dũng, 2002)
c) Chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất là vì nông dân, cho nông dân, Khuyến khích nông dân tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp, nghiêm cấm việc đầu cơ ruộng đất, sử dụng ruộng đất kém hiệu quả
Trang 18d) Tốc độ và quy mô tích tụ, tập trung ruộng đất phải được tính toán theo vùng miền và phù hợp với tốc dộ và quy mô việc rút lao động ra khỏi nông nghiệp để tránh tình trạng một bộ phận nông dân không còn đất sản xuất, nhưng vẫn chưa có việc làm mới để đảm bảo cuộc sống Tiến trình này không giống nhau tại các địa phương, do đó quá trình tích tụ, tập trung đất đai
cũng mang đặc trưng từng vùng miền (Bùi Quang Dũng, 2002)
e) Tích tụ, tập trung ruộng đất với mục tiêu là phát triển nông nghiệp, phát triển xã hội và đời sống người dân nông thôn Do đó bên cạnh chính sách khuyến khích để nông dân trở thành chủ thể chính quá trình tích tụ, tập trung, đồng thời giúp họ sở hữu tư liệu sản xuất, giúp họ sản xuất được những hàng hóa đủ sức cạnh tranh, giúp họ liên kết để tập trung sản xuất
1.1.4 Dồn điền đổi thửa
1.1.4.1 Khái niệm dồn điền đổi thửa
Bản chất của quá trình này là dồn ghép các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, sắp xếp qui hoạch lại ruộng đất, khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất, tổ chức thiết kế lại đồng ruộng, hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng; nâng cao hệ số sử dụng đất; đẩy nhanh chuyển dịch sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa; phát triển kinh tế hộ và trang trại, củng cố quan hệ
sản xuất, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn (Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn, 2003)
1.1.4.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của dồn điền đổi thửa
Tập trung ruộng đất là ước nguyện của những người nông dân mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm, mong muốn làm giàu trên đồng đất quê hương
- Dồn điền đổi thửa tạo ra những thửa đất lớn hơn, các hộ dân có điều kiện áp dụng cơ giới hoá trong sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm thời gian lao động, giảm công lao động, giảm những hao phí không cần thiết khi ruộng đất manh mún, phân tán trên nhiều xứ đồng Từ đó khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy phân công lao động trong hộ hợp lý, tạo điều kiện dịch
Trang 19chuyển lao động trong hộ từ sản xuất nông nghiệp thuần tuý sang hoạt động
trong các lĩnh vực phi nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao (Bộ nông nghiệp
và phát triển nông thôn, 2003)
- Dồn điền đổi thửa tạo điều kiện thuận lợi cho hộ sản xuất với quy mô lớn, xây dựng nhiều mô hình sản xuất theo hướng hàng hoá, phấn đấu thực hiện cánh đồng 50 triệu, tăng thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp
- Tạo điều kiện giúp hộ nông dân yên tâm sản xuất, giúp hộ chủ động, yên tâm sản xuất, đầu tư thâm canh tăng năng suất; sản xuất kết hợp những cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, phù hợp với điều kiện nhân lực, vật lực của
hộ cũng như điều kiện tại địa phương
- Ruộng đất tập trung giúp hộ giảm được công lao động ở một số khâu chủ yếu, đặc biệt là những lúc chính vụ như thu hoạch, gieo trồng…Từ đó các
hộ có điều kiện tập trung lao động sản xuất ở những lĩnh vực khác, cũng như giúp hộ có cơ cấu thu nhập đa dạng từ nhiều nguồn hơn, giảm tối đa rủi ro gặp phải trong sản xuất khi điều kiện sản xuất nông nghiệp bất lợi dẫn tới mất mùa, năng suất thấp Tạo điều kiện cho các hộ có khát vọng nghiên cứu, tiếp cận những giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng cao hơn; các hộ có điều kiện áp dụng những tiến bộ KHKT mới vào trong sản xuất, tiết kiệm chi
phí sản xuất đồng thời nâng cao thu nhập cho hộ (Bộ nông nghiệp và phát
triển nông thôn, 2003)
1.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa
Hiện nay vướng mắc lớn gây ảnh hưởng tiến độ DĐĐT là sự vào cuộc của các cấp chính quyền, đặc biệt là chính quyền ở cơ sở chưa thật sự tích cực Bên cạnh đó, sự đồng thuận, hợp tác của một số hộ sản xuất nông nghiệp chưa cao Việc thành lập lại hoặc củng cố Ban chỉ đạo DĐĐT, việc ban hành chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch tiếp tục thực hiện DĐĐT gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn các xã, thị trấn chậm được triển khai, hoặc
có triển khai nhưng quá trình kiểm tra, đôn đốc không thường xuyên nên hiệu
Trang 20quả thấp Một số địa phương, trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm của cán bộ xã, HTX nông nghiệp, thôn, đội sản xuất còn hạn chế nên lúng túng, chậm trễ trong quá trình thực hiện chủ trương DĐĐT Đặc biệt, công tác quản
lý đất đai ở cơ sở thời gian qua còn buông lỏng, khi thực hiện DĐĐT phải quy chủ, xác định đúng diện tích ruộng đất nên tốn nhiều công sức và nảy sinh khó khăn, phức tạp Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ, nhân dân chưa nhận thức đúng về chính sách giao ruộng ổn định lâu dài cho hộ sản xuất, do đó còn băn khoăn không muốn dồn ruộng, dẫn đến quá trình DĐĐT bị ách tắc Mặt khác thực tế ruộng đất của từng địa phương cũng như ruộng ở các vùng, các xứ đồng trong cùng một địa phương có điều kiện khác nhau nhiều cũng là cản trở không nhỏ để thực hiện dồn điền đổi thửa được thuận lợi Một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp nữa là thiếu vốn cho thực hiện dồn điền đổi thửa Thực tế hiện nay là nhiều khi địa phương cũng muốn thực hiện dồn điền đổi thửa nhanh tạo điều kiện phát triển sản xuất nhưng do thiếu kinh phí trong đo đạc,
dụng cụ, cấp giấy chứng nhận QSDĐ…nên tiến độ dồn điền đổi thửa bị chậm
(Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2003)
1.2 Cơ sở thực tiễn về dồn điền đổi thửa
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở thế giới
Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới Để khắc phục tình trạng này, từ nhiều năm trước người ta đã tiến hành dồn điển đổi thửa, tích tụ, tập trung đất đai, để việc sử dụng đất được hiệu quả hơn
1.2.1.1 Tập trung ruộng đất ở Trung Quốc
Từ thời phong kiến đến nay, quyền sở hữu ruộng đất luôn là yếu tố trung tâm trong mối quan hệ giữa chính quyền và nông dân Trung Quốc Hiến pháp Trung Quốc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý; nông dân chỉ có “quyền sử dụng” đất nông nghiệp theo hợp đồng 30 năm Quyền sử dụng đất thuộc sở hữu tập thể, nông dân không được chuyển nhượng hoặc cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp Điều đó có nghĩa là chính quyền địa phương có thể thu hồi đất vào bất cứ lúc nào Công nghiệp hóa
Trang 21và đô thị hóa trong 30 năm qua đã làm cho hàng chục triệu nông dân bị mất đất canh tác Những cuộc biểu tình phản đối của nông dân bị mất đất là nguyên nhân chính gây bất ổn xã hội ở Trung Quốc hiện nay
Một thực tế là ruộng đất ở Trung Quốc rất manh mún, mỗi nông hộ sử dụng một khoảnh đất nhỏ, bình quân 0,67 héc ta/hộ gia đình Những nông dân
ra thành phố kiếm việc làm - đã lên tới 200 triệu người trong những năm vừa qua - phải nhờ người thân canh tác những khoảnh ruộng đó hoặc bỏ ruộng hoang mà không thể bán đi được Vì chưa trả đất canh tác lại cho nhà nước, những công nhân nhập cư này vẫn bị coi là nông dân và chỉ có thể làm những công việc đơn giản, có mức lương thấp Trong khi đó, ở thành phố, cư dân đô thị từ lâu đã được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất không hạn chế và rất nhiều người giàu lên rất nhanh cùng với sự sôi động của thị trường đất đô thị Mặt khác, chính quyền địa phương thường xuyên có những quyết định
ảnh hưởng xấu người nông dân (Bùi Quang Dũng, 2002)
Quá trình cải cách nông nghiệp chia 2 giai đoạn, giai đoạn một từ năm
1978 - 1984 và giai đoạn hai từ 1985 - 1990 sau đó đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp nông thôn cho thập kỷ 90 Cách thực hiện cải cách nông nghiệp của nước này trong những năm qua là khoán ruộng đất cho các hộ
nông dân theo nguyên tắc: Thứ nhất, tôn trọng nguyện vọng của quần chúng nhân dân, không được áp đặt Hai là, phải đảm bảo theo nguyên tắc số lượng
và giá trị ngang bằng (nghĩa là những thửa ruộng có cùng cấp độ hoặc đã được cải tạo nâng độ màu mỡ thì khi điều chỉnh phải qui đổi theo hệ số để đền
bù về mặt kinh tế) Chỉ thị số 18 năm 1990 của Trung quốc quy định “ổn định quan hệ ruộng đất nhận khoán không có nghĩa là không cho phép có sự điều chỉnh về mảnh ruộng và số lượng ruộng khoán, những thửa ruộng quá phân tán, không thuận tiện cho việc canh tác thì có thể căn cứ nguyện vọng quần
chúng mà điều chỉnh” (Bùi Quang Dũng, 2002)
Theo xu hướng cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đặc biệt là trong
Trang 22nông nghiệp, Trung quốc đang tiến hành chủ trương dồn điền đổi thửa Nước này dự kiến sẽ tăng thêm được 1,7 triệu ha đất trồng trọt tính tới năm 2020 thông qua việc dồn điền đổi thửa hiện nay Công tác tăng cường hiệu quả cho nông nghiệp đang được chính phủ Trung Quốc quan tâm chặt chẽ trong thời gian gần đây, do một diện tích đất rất lớn đã bị đô thị hoá, chuyển đổi mục
đích sử dụng trong những năm công nghiệp hoá (Bùi Quang Dũng, 2002)
Hiện nay Trung Quốc tiếp tục chuẩn bị ra dự thảo cải cách ruộng đất theo hướng tự do hóa thị trường và hạn điền sử dụng đất canh tác cho nông dân từ 30 năm hiện nay lên 70 năm như với đất ở Điều này sẽ tạo động lực mới cho công
cuộc tích tụ ruộng đất phát huy hiệu quả cao (Bùi Quang Dũng, 2002)
1.2.1.2 Tập trung ruộng đất ở Đài Loan
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với nông nghiệp, có ảnh hưởng lớn đến tăng năng suất lao động nông nghiệp Chính sách ruộng đất hợp lý sẽ khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tự nhiên này, nhất là
ở những nước mà nông nghiệp còn chiếm vị trí chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân Ở Đài Loan, đầu tiên Chính phủ thực hiện chính sách giảm tô để giảm bớt gánh nặng cho nông dân, sau đó đưa ra chính sách "hạn điền" quy định số lượng ruộng đất được phép tư hữu đối với các chủ đất Số ruộng đất vượt mức hạn điền được Chính phủ định giá và tạo điều kiện về tín dụng cho nông dân mua trả góp trong thời hạn dài Chính sách giao đất cho nông dân còn được áp dụng đối với cả đất thuộc sở hữu nhà nước Vì vậy, người sản xuất nông nghiệp gắn bó với ruộng đất, yên tâm đầu tư, chủ động áp dụng khoa học – công nghệ nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp Khi nông nghiệp phát triển, ruộng đất hạn hẹp đã cản trở nông dân kinh doanh lớn, Chính phủ Đài Loan đã đưa ra chủ trương khuyến khích nông dân "chung nhau kinh doanh", "uỷ thác kinh doanh"; "thay mặt kinh doanh" v.v để tập trung ruộng đất đạt tới quy mô cần thiết của nông nghiệp hàng hoá, khai thác có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên đất đai hạn hẹp, thúc đẩy tăng cường nông nghiệp
với tốc độ khoảng 4%/năm trong suốt thời gian từ 1952 – 1981 (Bùi Quang
Dũng, 2002)
Trang 231.2.1.3 Tập trung ruộng đất phát triển trang trại ở Hà Lan
Cơ sở của nền nông nghiệp Hà Lan là các trang trại gia đình theo chế độ tư hữu Tỷ lệ sở hữu đất có tương đối lớn, các trang trại thuê đất sản xuất kinh doanh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ Nhưng do quỹ đất nhỏ, bình quân đất theo đầu người
ít, việc mở rộng quy mô trang trại không dễ, biện pháp khả thi vẫn nhờ một phần vào đất thuê
Hà Lan là nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, đảm bảo các chủ trang trại có toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất và quyền định đoạt tài nguyên của mình, khuyến khích chủ trang trại hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận tối đa Thoạt đầu là kinh tế tiểu nông, sản xuất tự cấp, tự túc, hiệu suất rất thấp, kinh tế hàng hóa phát triển, vốn được tích lũy, kinh tế hộ tiểu nông chuyển dần sang hộ sản xuất hàng hóa nhỏ, tiếp đó chuyển sang hộ sản xuất chuyên môn hóa, rồi dần dần chuyển thành trang trại lớn hiện đại, sản xuất vì lợi nhuận, tạo nên kinh tế tổng hợp “nông – công – thương” Ngày nay, nền tảng của sức cạnh tranh quốc tế của nông nghiệp Hà Lan là những tổ hợp nông – công – thương, trong đó tế bào cấu thành những tổ hợp này chính là những trang trại gia đình tràn đầy sức sống Các trang trại được tích tụ ruộng đất để có quy mô đủ lớn, gắn liền với quá trình tạo việc làm phi nông nghiệp,
đủ sức thu hút nông dân “ly nông”, giảm thiểu nhanh số lượng nông dân và
giải thể các trang trại nhỏ, làm ăn kém hiệu quả(Bùi Quang Dũng, 2002)
Sự phát triển của nền kinh tế Hà Lan thúc đẩy chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp đã làm cho số lượng trang trại bớt dần Năm 1950, cả nước Hà Lan có 400.000 trang trại, đến năm 1980 còn 14.500, năm
1990 còn 12.500, năm 2000 chỉ còn khoảng 100.000 Số lao động nông nghiệp từ
1959 đến 1980, giảm được một nửa, từ đó đã giảm nhanh số lượng nông dân và lực lượng nông dân làm nông nghiệp không hiệu quả đều rời khỏi nông nghiệp, lọc lại trong nông nghiệp là lực lượng nông dân làm ăn giỏi, đam mê với nghề nông, ham muốn lập nghiệp, làm giàu từ nghề nông Đây là một nguyên nhân quan trọng đảm bảo hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Hà
Lan hơn hẳn nhiều nước khác trên thế giới (Bùi Quang Dũng, 2002)
Trang 241.2.2 Tình hình dồn điền đổi thửa ở nước ta
1.2.2.1 Tình trạng ruộng đất manh mún ở Việt Nam
Nghị quyết 10-TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (gọi tắt là “Khoán 10”) đã giúp Việt Nam từ nước nhập khẩu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới Tuy nhiên, đến nay “Khoán 10” đã bộc lộ những hạn chế nhất định khi đất nước bước vào công cuộc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Khảo sát mới đây của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cho thấy 100% số hộ nông dân
cho rằng ruộng đất manh mún đã gây cản trở cho sản xuất (Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn, 2003)
Luật đất đai năm 1993 và được sửa đổi bổ sung năm 2003 đã thực hiện công bằng xã hội, sau đó là Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 27/09/1993
và gần đây là về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định, lâu dài với mục đích sản xuất nông nghiệp theo phương châm có tốt,
có xấu, có gần, có xa Điều này đã làm cho số thửa ruộng tăng lên đáng kể Số thửa sau khi giao đất theo Nghị định 64/CP ở một số địa phương đã tăng lên hơn 2 lần so với khi thực hiện khoán theo Chỉ thị 100/CT-TW
Bảng 1.1 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
2 )/thửa
TB Cá biệt Đất lúa Đất rau- màu
1 Trung du miền núi 10 – 20 25 150 - 300 100 – 150
2 Đồng bằng sông Hồng 7 25 300 - 400 100 – 150
3 Duyên hải Bắc trung bộ 7 – 10 30 300 - 500 200 – 300
4 Duyên hải Nam trung bộ 5 – 10 30 300 - 1000 200 – 1000
6 Đông nam bộ 4 15 1000 – 3000 1000 – 5000
7 Đồng bằng sông Cửu long 3 10 3000 - 5000 500 – 1000
(Nguồn Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003)
Trang 25Chủ trương dồn điền, đổi thửa được xem là nhu cầu cấp bách để phát triển nông nghiệp, nông thôn trong tình hình mới Theo thống kê của Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, năm 2003, cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có 6,8 thửa với khoảng 0,3-0,5 ha/hộ, trong đó đất lúa
từ 200 m2 đến 400 m2/thửa, đất rau màu dưới 100 m2/thửa, đất trồng cây lâu năm, cây cho thu nhập cao còn manh mún hơn…Điều này đã hạn chế đáng kể công cuộc CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn; sản xuất hàng hóa tập trung
1.2.2.2 Một số khó khăn chính trong sản xuất nông nghiệp do ruộng đất manh mún
* Trước hết là khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, làm giảm hiệu quả sản xuất và cản trở quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá sản xuất, cụ thể:
- Về hiệu quả trực tiếp: Chi phí sản xuất lớn, năng suất lao động thấp do
phải tốn công đi lại giữa các thửa ruộng trên nhiều xứ đồng
- Về thủy lợi: Việc điều tiết nước khó khăn do thời vụ giữa các thửa ruộng trong cùng một xứ đồng có nhiều trà Hệ thống kênh mương và đường giao thông trên đồng ruộng xuống cấp do tình trạng đào đắp để phục vụ tưới tiêu
- Về áp dụng khoa học kỹ thuật: Không kích thích người nông dân mạnh
dạn đầu tư mua sắm máy móc phục vụ sản xuất Nông dân là nhóm sản xuất
dễ bị tổn thương, họ không chấp nhận rủi ro cao Khi áp dung tiến bộ KHKT phải thấy rõ lợi ích kinh tế cao trước mắt thì họ mới chấp nhận
* Khó khăn trong cơ giới hoá sản xuất
Qui mô thửa ruộng quá manh mún và không bằng phẳng trong sản xuất đã hạn chế khả năng đưa máy móc vào đồng ruộng, giải phóng sức lao động cho người nông dân trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất từ khâu làm đất, gieo trồng cho đến thu hoạch Theo thống kê mới nhất của ngành nông nghiệp,
cả vùng ĐBSCL mới có khoảng 1.000 máy GĐLH, 3.400 máy gặt xếp dãy, chỉ đảm bảo thu hoạch được 15% diện tích lúa của vùng; 85% diện tích còn lại phải chịu thất thoát sau thu hoạch với tỷ lệ từ 10-12% Diện tích từng hộ quá nhỏ hẹp
là một trở ngại lớn cho vấn đề cơ giới hóa Hầu hết nông hộ chỉ có dưới 1 ha lúa,
Trang 26trong lúc năng suất của máy GĐLH là 3 - 5 ha/ngày, rất khó xoay trở từ mảnh
ruộng này sang mảnh ruộng khác (Lã Văn Lý, 2009)
* Giảm diện tích đất canh tác nông nghiệp do diện tích đất dành cho đắp
bờ ngăn giữa các thửa ruộng của các hộ quá nhiều
Theo như một số cuộc điều tra đã tiến hành trước đây thì diện tích bờ ngăn trước khi thực hiện chuyển đổi ruộng đất thường chiếm tới 2 - 4% tổng diện tích sản xuất nông nghiệp ở các địa phương Đây thực sự là một sự lãng phí không cần thiết, làm giảm sản lượng không đáng có
* Chi phí cho đo đạc và đăng ký lập hồ sơ địa chính tăng lên nhiều lấn
do phải đo đạc lập bảng tỷ lệ lớn hoặc trích đo bổ sung nhiều, chi phí lao động
và vật tư, biểu mẫu cho công tác đăng ký đất đai cũng tăng thêm Một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai gồm nhiều thửa đất làm trở ngại cho người
sử dụng khi thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật
* Sản xuất nông nghiệp thiếu qui mô, thiếu qui hoạch, không kích thích sản xuất hàng hoá
1.2.2.3 Nguyên nhân của tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp
* Chủ trương chính sách của Nhà nước về giao đất nông nghiệp trên cơ sở hiện trạng đảm bảo ổn định, công bằng trong nông thôn
Thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI và việc điều chỉnh lại theo Nghị định 64/CP, các địa phương đã tiến hành chia đều ruộng đất ở các HTX cho các hộ nông dân Khi chuyển từ cơ chế khoán sang hình thức giao đất ổn định lâu dài, khắc phục manh mún ruộng đất bằng cách “rũ ra chia lại” đã tạo nên tranh chấp đất đai trong dân Nghị định 64/CP của Chính phủ đã chủ trương thực hiện giao đất cho nông dân sử dụng lâu dài trên cơ sở hiện trạng đang sử dụng, hộ nào cũng có ruộng
“tốt - xấu - xa - gần”, vận động tạo điều kiện cho các hộ chuyển đổi ruộng đất Tuy nhiên khi thực hiện thì lại không đạt hiệu quả cao, không kích thích được
Trang 27người nông dân dồn đổi ruộng cho nhau; ruộng đất của các hộ sản xuất manh
mún, phân tán cả về diện tích cũng như về số thửa (Bộ Tài nguyên và môi
trường, 2003)
* Công tác qui hoạch sử dụng đất chậm triển khai
Tình trạng nhiều diện tích đất nông nghiệp trong dự kiến chuyển mục đích phải dành lại để đấu thầu, diện tích đã giao rồi nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại bị cắt bớt lại để qui hoạch hay đất công ích sử dụng tùy tiện…là hậu quả của việc thiếu qui hoạch sử dụng đất chi tiết ở các cấp, đặc biệt là ở các cấp địa phương do phải triển khai hoàn thành gấp rút
chủ trương, kế hoạch thực hiện giao đất nông nghiệp của các cấp quản lý(Lã
Văn Lý, 2009)
* Kinh phí thực hiện chuyển đổi đất nông nghiệp là rất lớn
Khi tiến hành thực hiện giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân, vấn đề lớn mà nước ta đang gặp phải đó là kinh phí để thực hiện đo đạc, chi phí đồ dùng sử dụng trong qui hoạch, chi phí thiết kế, chi phí bản đồ…Theo thống
kê trung bình mỗi héc ta mất từ 4-11 triệu đồng kinh phí đo đạc, không ít địa phương đã phải bán một phần đất công ích lấy kinh phí Theo Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, tổng kinh phí chuyển đổi riêng tại đồng bằng
sông Hồng mất khoảng hơn 100 tỷ đồng(Lã Văn Lý, 2009)
* Tư tưởng và trình độ hạn chế của người nông dân
Trong quá trình giao ruộng đất vẫn chưa có hệ thống phân chia hạng đất một cách công bằng Trong khi sản xuất nông nghiệp lại không đồng nhất giữa các vùng đất, người dân tiến hành dồn đổi trên cơ sở ruộng tốt xấu theo hạng mức về năng suất, sản lượng, mức độ dễ dàng trong các khâu canh tác Người dân ai cũng muốn lấy ruộng tốt, ruộng gần nên dẫn tới không thống nhất trong quyết định dồn đổi Họ không mấy tin tưởng dồn đổi sẽ được thửa ruộng tốt hơn hiện tại Do đó họ đòi hỏi hộ nào cũng phải có ruộng tốt, ruộng xấu, ruộng
xa, ruộng gần Mặt khác, tâm lý của người nông dân là muốn phân tán ruộng
Trang 28đất để giảm thiểu nguy cơ mất trắng do thiên tai, dịch hại Cũng do khả năng trình độ KHKT kém, không được tiếp cận nhiều với tiến bộ kỹ thuật mới, không có vốn hoặc không mạnh dạn đầu tư nên người nông dân Việt Nam vẫn
chưa có cái nhìn đúng đắn về hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa (Bộ tài
nguyên và Môi trường, 2003)
1.2.2.4 Một số chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến tập trung và tích tụ ruộng đất
* Giai đoạn 1945-1981
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai Những mâu thuẫn trong chính sách đất đai (vấn đề tiếp cận đất đai, sở hữu và sử dụng đất đai) đã diễn ra trong suốt thời kỳ thuộc địa của thực dân Pháp; trong thời
kỳ chiến tranh chống Mỹ và các chính sách của Chính phủ từ sau ngày thống
nhất đất nước năm 1975 (Viện quy hoạch phát triển nông nghiệp, 2003)
Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính: đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Khu vực nông thôn được phân chia làm 2 tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu của đất đai: địa chủ và tá điền Tầng lớp địa chủ chiếm khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích đất, trong khi đó 59% hộ nông dân là tá điền không có đất và đi làm thuê cho
tầng lớp địa chủ (Viện quy hoạch phát triển nông nghiệp, 2003)
Sau năm 1945, Chính phủ đã thực hiện phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và tá điền Sau khi kết thúc chiến tranh với thực dân Pháp (năm 1954), miền Bắc thực hiện chương trình cải cách ruộng đất cơ bản Mục đích là để công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp, tiến hành phân chia lại cho hộ nông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu hiệu “Người cày có ruộng” Giai đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất đó là miền Bắc bước sang giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu (bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc
Trang 29cao) Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp Trong hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất Ở hình thức hợp tác xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản xuất khác (trâu, bò, gia súc và
các công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự quản lý chung (Viện quy hoạch phát
triển nông nghiệp, 2003)
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại và những hậu quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và thời kỳ kinh tế tập thể trong nông nghiệp Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp 2% Cùng thời điểm này dân số tăng rất nhanh (2,2-2,35%/ năm) đã dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi năm trong suốt thời kỳ sau chiến tranh Điều đó đã dẫn đến một bộ phận lớn dân số sống trong tình trạng
nghèo và đói (Viện quy hoạch phát triển nông nghiệp, 2003)
* Giai đoạn 1981-1988
Sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu bằng Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng hay còn gọi là Khoán 100 Dưới chính sách Khoán 100, các HTX giao đất nông nghiệp đến nhóm và người lao động Những người này có trách nhiệm trong ba khâu của quá trình sản xuất Sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX, cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất ra và ngày công đóng góp trong 3 khâu của quá trình sản xuất Đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX Mặc dù còn đơn giản nhưng Khoán
100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền kinh tế thị trường Sự ra đời của Khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3%/ năm trong
Trang 30suốt giai đoạn 1981-1985 Tuy nhiên, sau năm 1985, tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, cụ thể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn 1986-1988 chỉ là 2,2%/ năm Đầu năm 1988, sản xuất lương thực không đáp ứng được nhu cầu dẫn đến sự thiếu ăn ở 21 tỉnh, thành trên miền Bắc Ở miền Nam một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai Điều này hiển nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai
Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp đã được thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị vào tháng 4 năm 1988 Với sự ra đời của Nghị quyết 10 thường được biết đến với tên Khoán 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10-15 năm
và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Bắt đầu từ thời kỳ này, các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu, bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu dưới hình thức cá thể Một khía cạnh khác của chính sách này đó là người nông dân ở miền Nam được
giao lại đất họ đã sở hữu trước năm 1975 (Viện quy hoạch phát triển nông
nghiệp, 2003)
Tuy nhiên, cùng với Khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một số quyền sử dụng đất như cho tặng hoặc thừa kế chưa được luật pháp hóa và thừa nhận Một loạt các vấn đề khác nảy sinh liên quan đến sản xuất chẳng hạn như trạm điện, hệ thống giao thông nông thôn, thị trường,… mà trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của các HTX nông nghiệp Để giải quyết các vấn
đề này Luật Đất đai năm 1993 đã ra đời (Viện quy hoạch phát triển nông
nghiệp, 2003)
* Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau đổi mới
Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách và văn bản luật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến sử dụng đất đai đã ra
Trang 31đời Những chính sách quan trọng nhất đó là Luật Đất đai năm 1993, sau đó là Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001; Luật Đất đai mới năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định việc giao đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp Bên cạnh đó cũng có một loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ gián tiếp đến vấn đề về đất đai
Theo Luật Đất đai 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thế chấp Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm Việc giao đất sẽ được tiến hành lại tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người
sử dụng đất vẫn có nhu cầu sử dụng Luật Đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thể đối với cây hàng năm là 2ha ở miền Bắc và các tỉnh miền Trung; 3ha đối với các tỉnh phía Nam; đối với cây lâu năm quy định tối
đa là 10ha đối với các xã vùng đồng bằng và 30ha đối với vùng trung du và
miền núi (Luật đất đại 1993) Cùng với việc giao đất cho các hộ nông dân thì
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được các cơ quan chức năng xem xét
và cấp cho các nông hộ Đến năm 1998, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2000 con số này là trên 90% (Ban
kinh tế TW) Đối với đất rừng ở khu vực trung du và miền núi nơi có rất nhiều
phong tục tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứng nhận diễn ra chậm hơn và quá trình này vẫn đang được tiếp tục thực hiện Vào năm 1998, người nông dân được giao thêm 2 quyền sử dụng nữa đó là quyền
cho thuê lại và quyền được góp vốn đầu tư kinh doanh bằng đất đai (Tổng cục
địa chính,1997)
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm trong suốt giai đoạn 1994-1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000-2003 An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang
từng bước được đẩy lùi (Tổng cục thống kê,2006)
Trang 321.2.2.5 Một số kết quả dồn điền đổi thửa đã đạt được ở nước ta
Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương lớn
là thực hiện dồn điển đổi thửa, dưới tên gọi “dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn”
với mục đích là cho xuất hiện những vùng chuyên canh lớn (Viện quy hoạch
phát triển nông nghiệp, 2003)
Ở nhiều tỉnh, cuộc vận động "dồn điền, đổi thửa" đã được nông dân hưởng ứng, tạo thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ KH&CN vào các khâu làm đất, gieo trồng, chăm bón, thuỷ lợi, thu hoạch, chi phí giảm, năng suất tăng Năm 2003, cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có 6 đến 8 thửa đất với khoảng 0,3 - 0,5 ha/hộ, trong đó đất lúa từ 200 – 400 m2/thửa, đất rau và các loại cây màu khác thường dưới 100 m2/thửa, đất trồng cây lâu năm, cây cho thu nhập cao còn manh mún hơn Sau khi dồn điền đổi thửa, số thửa đất bình quân giảm 50 - 60%, có nơi giảm tới 80%, diện tích mỗi thửa tăng bình quân gấp 3 lần Việc đó đã tạo điều kiện cho người nông dân cải tạo đồng ruộng, thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đạt mức thu nhập từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng/ha Mặt khác, dồn điền đổi thửa đã làm tăng diện tích đất canh tác do giảm được phần đất dùng làm bờ ruộng vốn chiếm từ 2 - 4% tổng diện tích đất canh tác Cụ thể, tại tỉnh Hưng Yên, sau khi dồn điền đổi thửa, diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh đã tăng từ 89.000ha lên 92.000
ha (Lê Hùng, 2005)
Qua hơn 10 năm thực hiện, DĐĐT đã có những chuyển biến đáng kể Ở Đồng bằng sông Hồng mở đầu bằng phong trào “đổi ruộng ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn” của huyện ứng Hoà - Hà Tây (tháng 2/1993), đến nay hầu hết các tỉnh , thành phố ở Đồng bằng sông Hồng triển khai DĐĐT, số thửa giảm từ 21.548.260 thửa xuống còn 10.309.812 thửa Mỗi hộ trước đây sử dụng ruộng từ
8 - 18 thửa/ha, nay chỉ còn 3,5 - 4 thửa/ha (Viện quy hoạch phát triển nông
nghiệp, 2003)
Trang 33Dồn điền, đổi thửa đã giúp nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi nội đồng là cơ sở để tăng năng suất và sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi Kết quả điều tra tại 6 xã thuộc 4 tỉnh Hải Dương, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Thái Bình cho thấy diện tích đất giao thông thuỷ lợi tăng 2-20%, tỷ lệ đất chuyển đổi từ trồng lúa kém hiệu quả sang làm trang trại kết hợp chăn nuôi, trồng cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản đạt 32-63% Đáng chú ý là diện tích đất canh tác sau dồn điền đổi thửa của các loại hộ có sự biến động lớn do nhóm hộ khá đấu thầu, thuê thêm đất công để mở rộng sản xuất Từ đó, thu nhập của các loại hộ đều tăng nhanh, đặc biệt tại những vùng chuyển đất lúa sang trồng cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản có thể tăng thu nhập 2-3 lần so với trước khi dồn điền đổi thửa Trong cuộc khảo sát của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp tại 563 hộ nông dân cho thấy 100% số hộ đều cho rằng ruộng đất manh mún đã gây cản trở cho sản xuất nông nghiệp Đối với chính quyền địa phương, việc dồn điền đổi thửa cũng giúp quản lý tốt hơn diện tích đất ở địa phương đồng thời tăng nguồn thu ngân sách xã do việc đấu thầu đất
mang lại (Viện quy hoạch phát triển nông nghiệp, 2003)
Xu hướng tích tụ và tập trung ruộng đất để phát triển kinh tế ngày càng được mở rộng với nhiều hình thức như: nhận chuyển nhượng đất, thuê đất, mượn đất, dồn đổi, tập trung ruộng đất…
Dồn điền, đổi thửa không chỉ giúp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn thuận lợi mà còn giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân Tuy nhiên hiện nay việc thực hiện vẫn quá chậm, không theo kịp yêu cầu phát triển nông nghiệp trong tình hình mới
Ở Đồng bằng sông Hồng, sau hơn 10 năm thực hiện chủ trương “dồn điền, đổi thửa” mới chỉ có 2 tỉnh Hà Nam, Bắc Ninh cơ bản khắc phục tình trạng manh mún đất đai Khó khăn lớn nhất khiến việc dồn điền đổi thửa bị chậm trễ là thiếu kinh phí đo đạc Trung bình mỗi héc ta mất từ 4 - 11 triệu đồng, không ít địa phương đã phải bán một phần đất công ích lấy kinh phí
Trang 34Theo Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, tổng kinh phí dồn điền, đổi thửa tại 2.011 xã ở vùng đồng bằng sông Hồng mất khoảng hơn 100 tỷ đồng
(Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2003)
Qua quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc cần được tháo gỡ về cơ chế chính sách như:
* Chưa có quy hoạch về phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, theo hướng hiện đại bền vững;
* Mức hạn điền thấp, thời hạn sử dụng đất ngắn đã không khuyến khích nông dân tích tụ ruộng đất và yên tâm đầu tư phát triển sản xuất lâu dài
* Chưa có chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng phù hợp với tích tụ ruộng đất để sản xuất hàng hoá lớn
* Chưa có chính sách hỗ trợ đào tạo quản lý, kỹ thuật, thông tin thị trường, khuyến khích liên kết, chế biến và tiêu thụ nông sản cho nông dân tích
tụ ruộng đất phát triển kinh tế trang trại
* Chưa có chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề cho nông dân để rút bớt lao dộng nông nghiệp, tạo tiền đề cho tích tụ ruộng đất
1.2.2.5 Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh
- Đến nay đã có 18 tỉnh, thành phố, gần 80 huyện và trên 700 xã, phường, thị trấn tiến hành vận động nhân dân thực hiện chính sách dồn điền
đổi thửa (Tổng cục thống kê, 2006)
- Đã có 11 tỉnh vùng ĐBSH với 50/69 huyện, thành thị (52,1%) với 766/2001 xã, phường thị trấn (38,1%) tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa; ở Bắc Ninh đã có 13/13 huyện, thị với 253/274 xã, phường, thị trấn tiến hành
dồn điền đổi thửa (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2003)
- Về số thửa: hầu hết ở các địa phương sau thực hiện DĐĐT, số thửa đều có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực, cụ thể: ở Hà Nội, trước dồn đổi bình quân có 6 thửa/hộ, sau dồn đổi còn 4,8 thửa/hộ; ở Hà Tây chỉ tiêu này là
9,5 và 4,8; ở Hải Dương là 9,2 và 3,7 (Viện quy hoạch 2003)
Trang 35- Về diện tích mỗi thửa: ở Hà Nội, trước dồn đổi bình quân diện tích/thửa là 286,9m2, sau dồn đổi là 357m2/thửa; Hà Tây chỉ số này là 216m2
và 425m2; Hải Dương là 283m2 và 684m2; Thái Bình là 320m2 và 960m2 Kết quả trên cho thấy, diện tích thửa đất lớn đã tiết kiệm được diện
tích đắp bờ, chia ranh giới thửa đất (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn,
2003)
- DĐĐT đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc như thu hồi nợ đọng của hộ
xã viên, giải quyết tình trạng trang chấp, lấn chiếm đất đai, những nghi kỵ, ngờ vực do việc giao đất không công bằng; tạo được không khí hồ hởi, phấn khởi, đoàn kết trong thôn, xóm, khích lệ sản xuất, làm giàu chính đáng
- DĐĐT đã tạo động lực cho sản xuất phát triển; huy động được nguồn lực kinh tế của hộ nông dân; phát huy tính tự chủ của đơn vị cơ sở, hộ có điều kiện đầu tư thâm canh, bố trí lại cơ cấu sản xuất, thời vụ, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng để tăng vụ, tăng năng suất, lao động, tạo ra nhiều sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao Theo số liệu báo cáo của các địa phương, sau thực hiện dồn điền đổi thửa một vài vụ, năng suất cây trồng tăng từ 15 - 20%, giá trị thu nhập tăng từ 13 triệu đồng/ ha/năm lên 18 triệu đồng/ ha/năm và có nhiều diện tích đạt tới 25 - 30 triệu đồng/ ha/năm Nhiều địa phương sau thực hiện dồn điền đổi thửa đã sắp xếp lại lực lương lao động, rút được lao động dư thừa sang làm ngành nghề khác như sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Thọ Xuân (Thanh Hoá), Từ Sơn, Tiên Du (Bắc
Ninh) (Tổng cục địa chính 1997)
- Phần lớn các hộ nông dân sau khi DĐĐT đã tiết kiệm được thời gian lao động, giảm chi phí, giảm công "chạy đồng" trước đây từ nhiều xứ đồng, nhiều thửa ruộng nay tập trung đầu tư cho 2 - 5 thửa thuộc 2 - 3 xứ đồng, có điều kiện để cải tạo đất, làm kỹ hơn các khâu canh tác, chăm sóc đồng ruộng và ứng phó kịp thời để phòng chống thiên tai và những rủi ro
trong sản xuất nông nghiệp (Tổng cục địa chính, 1998)
Trang 361.2.2.6 Một số bài học từ dồn điền đổi thửa ở một số địa phương
a) Bài học từ việc dồn điền, đổi thửa ở Hải Dương
Dồn điền, đổi thửa là một trong số đề án thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ 13, đã về đích trước tiên Thành công của đề
án này, không chỉ mang lợi ích cho những nông dân mà còn là những bài học
về xây dựng Đảng, chính quyền, bài học về chuyên môn, nghiệp vụ, về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng Việc dồn điền đổi thửa ở Hải Dương
đã ảnh hưởng tích cực đối với nhiều mặt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương Đây là điều kiện để hợp tác kinh tế nảy nở: từ mô hình tổ hợp tác mô hình doanh nghiệp nông nghiệp đền hợp tác kinh tế vùng, tiểu vùng
Từ đó thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đầu tư và xúc tiến thị
trường tiêu thụ cho sản xuất nông sản hàng hoá (Đại Hoàng, 2007)
Sau dồn điền, đổi thửa các vùng chuyên canh lớn hình thành đồng thời với tăng cường hợp tác vùng sẽ hạn chế được nhiều cơ sở chế biến ra đời không gắn với vùng nguyên liệu và ngược lại Khi thực hiện dồn điền, đổi thửa có thể sắp xếp lại đất công điền tập trung ở những vị trí gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp, dịch vụ hay những công trình công cộng đòi hỏi phải giải phóng mặt bằng Đi trước một bước sẽ giảm được nhiều phiền phức, tốn phí không đáng có
(Đại Hoàng, 2007)
b) Bài học dồn điền đổi thửa của Ninh Bình
Dồn điền đổi thửa là một công việc hết sức phức tạp, gặp nhiều khó khăn do đụng chạm đến tập quán sản xuất nhỏ lẻ, tư hữu của người nông dân, liên quan đến quyền lợi của một số hộ gia đình, đồng thời lại phải đấu tranh với những tư tưởng bảo thủ, ngại khó trong đội ngũ cán bộ địa phương nên phải có sự tập trung chỉ đạo cao độ, thống nhất của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, thông suốt về chủ trương, chính sách và quy trình thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, đoàn thể Chỉ đạo kiên quyết, nhưng phải kịp thời, khi nhàn rỗi khâu nào có thể làm được thì làm trước đến khi thu
Trang 37hoạch xong ngoài đồng là có thể giao ruộng trên thực địa cho nông dân Công tác tuyên truyền cần đi trước một bước Tiến hành tuyên truyền sâu rộng trong đảng bộ, chi bộ, các đoàn thể và mọi người dân về chủ trương, chính sách, kế hoạch cũng như lợi ích và tác dụng của công tác dồn điền đổi thửa Tăng cường phổ biến bài học kinh nghiệm, cách làm hay, sáng tạo từ các mô hình điểm để làm cơ sở học tập, triển khai ra diện rộng như ở Khánh Thành ban đầu được thảo luận trong dân mà trước hết là trong dòng họ, gia đình: bố nhường con, anh em nhường nhau tự đổi ruộng cho nhau, sau đó mới đến người ngoài Trong quá trình thực hiện, các địa phương đã thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng sự bàn bạc, đóng góp ý kiến, xây dựng phương án của nhân dân; lắng nghe ý kiến của họ để có cách làm hay,
cụ thể, chi tiết, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương và tuân thủ nghiêm túc quy trình hướng dẫn về chuyên môn Dồn điền đổi thửa phải được gắn với công tác quy hoạch giao thông, quy hoạch thuỷ lợi, quy hoạch dân cư, quy
hoạch các công trình phúc lợi và thu hồi công nợ cũ cho xã và hợp tác xã (Lê
Hùng 2005)
Tuy vậy, dồn điền, đổi thửa vẫn còn những tồn đọng, đó là: một số ít cán bộ, đảng viên và nông dân còn chưa thông suốt, có tư tưởng bình quân chủ nghĩa Một số nơi thực hiện còn chưa kiên quyết, triệt để, chưa coi đây
là dịp để thực hiện việc kiểm kê lại quỹ đất chưa làm tốt công tác quy hoạch Mặc dù công tác dồn điền đổi thửa tỉnh đề nghị Sở Tài nguyên - Môi trường tiếp tục thực hiện cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân Thành công của công tác dồn điền đổi thửa là
sự cố gắng lớn của các địa phương, cơ sở, cá nhân nên cần được tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc chỉ đạo và thực hiện, có hình thức khen thưởng thích hợp cho các đơn vị và cá nhân làm tốt UBND các huyện, thị xã tiếp tục chỉ đạo thực hiện dồn điền đổi thửa ở những nơi chưa hoàn thành, đồng thời khuyến kích, động viên và tạo điều kiện cho các hộ, gia đình tiếp tục
Trang 38tự dồn đổi ruộng với nhau (Lê Hùng 2005)
Dồn điền, đổi thửa là một chủ trương lớn nhằm giao ruộng đất ổn định, lâu dài cho người nông dân; tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư thâm canh sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Dồn điền đổi thửa là điều kiện tiền đề cho phong trào thi đua làm giàu trong nông nghiệp và phong trào xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm, hộ thu nhập 50 triệu đồng/năm nhằm từng bước chuyển đổi nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá
và thực hiện sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn (Lê Hùng 2005)
Trang 39Chương 2 PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào công tác dồn điền, đổi thửa và tác động của nó đến
sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Yên Phong
2.2.2 Thực trạng và quá trình dồn điền đổi thửa huyện Yên Phong
2.2.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
2.2.4 Đề xuất các giải pháp thực hiện
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm để nghiên cứu
Trên cơ sở điều kiện tự nhiên của huyện Yên Phong, đề tài tập trung nghiên cứu tại 3 xã tiêu biểu đại diện cho 3 vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa khác nhau là xã Thụy Hòa, xã Dũng Liệt, xã Tam Giang Đây là 3 xã có đặc điểm về đất đai, địa hình, tập quán canh tác, hệ thống cây trồng và có lợi thế về sản xuất nông nghiệp hàng hóa đồng thời công tác dồn điền đổi thửa đến nay đã thực hiện song
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập các tài liệu thứ cấp từ các phòng chuyên môn có liên quan: Phòng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Phòng Tài nguyên & Môi trường, Phòng Thống kê, Báo cáo kinh tế - xã hội của Huyện uỷ, UBND huyện Yên Phong Một số thông tin về chủ trương, chính sách, pháp luật đất đai, các văn bản
về dồn điền đổi thửa, các mô hình, kinh nghiệm dồn điền đổi thửa ở nhiều địa phương…còn được thu thập qua các bài báo, trang web, tạp chí, sách liên quan…
Trang 40- Thu thập tài liệu sơ cấp :
* Điều tra bảng hỏi các hộ nông dân
Số liệu sơ cấp cần thiết cho đề tài được thu thập thông qua phỏng vấn trực
tiếp 90 hộ nông dân trên địa bàn 3 xã được chọn bằng bảng Và căn cứ vào tỷ lệ
hộ thuần nông, hộ kiêm và hộ dịch vụ nông nghiệp để chọn mẫu điều tra
tương ứng, theo đó số hộ được chọn để điều tra thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2 1 Số hộ được lựa chọn ở các điểm điều tra
Với các nội dung sau:
- Tình hình chung của hộ (tuổi, giới tính, quy mô đất đai, các nguồn lực
đất đai, vốn, lao động, máy móc trang thiết bị… )
- Sự tham gia của hộ vào quá trình dồn điền đổi thửa
- Tình hình sử dụng ruộng đất của hộ, diện tích, năng suất của 1 loại cây
trồng, chi phí đầu tư của hộ/ 1 sào lúa, việc áp dụng cơ giới hoá vào sản xuất,
công thức luân canh trước và sau khi tham gia công tác dồn điền đổi thửa
- Thu nhập, cơ cấu thu nhập của hộ trước và sau khi dồn điền đổi thửa
- Ý kiến đánh giá và nhận thức của hộ về công tác dồn điền đổi thửa
* Điều tra, khảo sát thực địa, đối chiếu với kết quả thu thập được, phát
hiện và xử lý những sai lệch để nâng cao độ chính xác của dữ liệu
* Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu, để hiểu sâu hơn
về dồn điền đổi thửa và có những nhận định đúng đắn hơn tôi tiến hành hỏi,
tham khảo ý kiến của các chuyên gia, những người có hiểu biết, liên quan đến
dồn điền đổi thửa