TÓM TẮT Nhà máy Bia Sài Gòn – Miền Tây sử dụng công nghệ hiện đại toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất bia đều được tự động hóa nhằm ngăn ngừa tối đa các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đ
Trang 1KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HỒ THỊ NHƯ NGỌC
KHẢO SÁT QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀM LƯỢNG DIACETYL TRONG QUÁ TRÌNH LÊN MEN BIA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN – MIỀN TÂY
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Cần Thơ, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Tên đề tài:
KHẢO SÁT QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀM LƯỢNG DIACETYL TRONG QUÁ TRÌNH LÊN MEN BIA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN – MIỀN TÂY
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: C1200649 Lớp CNTP K38LT
Cần Thơ, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn tốt nghiệp “Khảo sát quy trình công nghệ và đánh giá một số yếu
tố ảnh hưởng đến hàm lượng diacetyl trong quá trình lên men bia” là công trình
nghiên cứu của sinh viên Hồ Thị Như Ngọc với sự hướng dẫn của Th.s Nguyễn Thị Thu Thủy Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và do chính tác giả thực hiện
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Giáo viên hướng dẫn Người cam đoan
Hồ Thị Như Ngọc
Trang 4Cảm ơn ban lãnh đạo công ty bia Sài Gòn – Miền Tây đã tiếp nhận và tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian thực tập
Em xin cảm ơn anh Vương Ngọc Thảo và toàn thể các anh chị kỹ sư nhân viên làm việc tại công ty đã hướng dẫn, chỉ dạy và giải đáp những vấn đề vướng mắc trong khi
em thực tập tại nhà máy
Kính chúc quý Thầy Cô, Ban lãnh đạo cùng các anh chị nhân viên trong công ty và các bạn luôn dồi dào sức khỏe và thành công
Em xin chân thành cảm ơn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện
Hồ Thị Như Ngọc
Trang 5TÓM TẮT
Nhà máy Bia Sài Gòn – Miền Tây sử dụng công nghệ hiện đại toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất bia đều được tự động hóa nhằm ngăn ngừa tối đa các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Việc khảo sát quá trình lên men chính trong quy trình sản xuất bia 355 tại công ty cho thấy, thời gian lên men là 21 ngày với nấm men sử dụng trong quá trình lên men là Saccharomyces carlsbergensis - là loại lên men chìm, nhiệt độ lên men chính 7 ÷ 9ºC, lên men phụ 4 ÷ 5ºC Nấm men sử dụng từ đời thứ 3 đến 8, trong phạm vi khảo sát khi lên men sự sinh trưởng và phát triển của tế bào nấm men đều xảy ra theo cùng quy luật, gia tăng mật số nhanh chóng trong quá trình lên men chính, tương ứng với sự giảm dần độ Plato từ ngày thứ nhất đến ngày thứ năm và giảm nhẹ ở các ngày tiếp theo Các thông số khác của quá trình lên men như nhiệt độ, áp suất đều được duy trì ổn định theo chế độ cài đặt
Bia sau khi lên men phải đạt được các chỉ tiêu hóa lý của công ty và hàm lượng các sản phẩm phụ phải trong giới hạn cho phép Sau khi lên men, bia đã chín rồi đưa vào hệ thống lọc để làm trong bia Bia được qua ba hệ thống lọc và bổ sung một số chất bột trợ lọc nhằm lọc bỏ tối đa những cặn bã Trữ bia trong TBF và đồng thời bổ sung CO 2 , chiết chai và qua thiết bị thanh trùng, dán nhãn in date và tồn trữ
Kết quả khảo sát cho thấy, mật độ nấm men ban đầu và đời men có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành diacetyl trong lên men bia Đời men càng trẻ và mật độ nấm men càng cao thì hàm lượng diacetyl càng thấp Bên cạnh đó, nhiệt độ thấp và thời gian lên men phụ kéo dài giúp quá trình khử diacetyl diễn ra nhanh và hiệu quả hơn
Từ khóa: diacetyl, đời men, mật độ nấm men, nhiệt độ, thời gian lên men
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH SÁCH BẢNG viii
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 TỔNG QUAN 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY 2
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 2
2.1.2 Vị trí địa lý 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty 4
2.1.3.1 Sơ đồ mặt bằng của công ty 4
2.1.3.2 Sơ đồ tổ chức nhà máy 5
2.1.4 Hệ thống quản lý chất lượng 5
2.2 NGUYÊN LIỆU TRONG SẢN XUẤT BIA 5
2.2.1 Malt 5
2.2.1.1 Cấu tạo và vai trò của malt 5
2.2.1.2 Thành phần hóa học của malt 7
2.2.1.3 Hệ enzyme trong malt 9
2.2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá 10
2.2.2 Hoa houblon 11
2.2.2.1 Khái niệm 11
2.2.2.2 Vai trò của hoa houblon 12
2.2.2.3 Thành phần hóa học của houblon 12
2.2.2.4 Chế phẩm từ hoa houblon 16
2.2.3 Nước 16
2.2.3.1 Thành phần 17
2.2.3.2 Nước sử dụng trong nhà máy bia 18
2.2.4 Nấm men 18
2.2.5 Thế liệu 19
Trang 72.2.6 Phụ gia và hóa chất sử dụng 20
2.3 DIACETYL 22
CHƯƠNG 3 QUY TRÌNH SẢN XUẤT bia 24
3.1 QUY TRÌNH SẢN XUẤT BIA 24
3.2 THUYẾT MINH QUY TRÌNH 25
3.2.1 Nguyên liệu 25
3.2.2 Nghiền 25
3.2.3 Quá trình hồ hóa 26
3.2.4 Quá trình đường hóa 28
3.2.4.1 Một số quá trình xảy ra ở nồi nấu malt 28
3.2.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đường hoá 29
3.2.5 Lọc dịch đường 30
3.2.5.1 Mục đích của quá trình lọc dịch đường 30
3.2.5.2 Quá trình thực hiện 30
3.2.6 Đun sôi dịch đường với hoa houblon 31
3.2.6.1 Mục đích của đun sôi dịch đường với hoa houblon 31
3.2.6.2 Tiến hành đun sôi 32
3.2.7 Lắng và làm lạnh nước nha 32
3.2.8 Lên men 33
3.2.9 Lọc trong và pha bia 38
3.2.10 Bão hòa CO2 và tàng trữ 39
3.2.11 Công đoạn hoàn thiện sản phẩm 40
3.2.12 Rửa chai 40
3.2.13 Chiết chai 41
3.2.14 Thanh trùng 41
3.2.15 Dán nhãn và in date 42
3.2.16 Vô két và bảo quản 42
3.3 KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG HÀM LƯỢNG DIACETYL TRONG QUÁ TRÌNH LÊN MEN BIA 42
3.3.1 Phương pháp xác định hàm lượng diacetyl 42
3.3.2 Phương pháp thu thập và xử lý kết quả 43
3.3.3 Số liệu theo dõi và ghi nhận qua các lô 43
3.3.4 Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành diacetyl 43
3.3.4.1 Ảnh hưởng của đời men sử dụng đến hàm lượng diacetyl hình thành 44
3.3.4.2 Ảnh hưởng của mật độ nấm men đến hàm lượng diacetyl 45
3.3.4.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ tank theo thời gian lên men đến hàm lượng diacetyl 46
Trang 83.4 MỘT SỐ THIẾT BỊ TRONG SẢN XUẤT 47
3.4.1 Sàng rung 47
3.4.2 Thiết bị nghiền 48
3.4.3 Nồi nấu gạo và malt 49
3.4.4 Thiết bị lọc 50
3.4.5 Thiết bị lắng xoáy 51
3.4.6 Tank lên men 51
3.4.7 Thiết bị lọc cơ học 52
3.4.8 Thiết bị lọc PVPP 52
3.4.9 Thiết bị lọc an toàn (Securox) 53
3.5 VỆ SINH AN TOÀN TRONG SẢN XUẤT 53
3.5.1 Vệ sinh công nhân 53
3.5.2 Vệ sinh nhà xưởng 54
3.5.3 Vệ sinh thiết bị và máy móc 54
3.5.4 An toàn PCCC 54
3.5.6 An toàn lao động 54
3.5.7 Hệ thống CIP 55
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
4.1 KẾT LUẬN 56
4.2 KIẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO vii
PHỤ LỤC SỐ LIỆU THEO DÕI viii
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Logo của công ty 2
Hình 2.2: Sơ đồ mặt bằng nhà máy 4
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức nhà máy 5
Hình 2.4: Hạt malt cắt dọc và ngang 6
Hình 2.5: Cấu tạo một đoạn amylose 7
Hình 2.6: Cấu tạo một đoạn amylopectin 8
Hình 2.7: Hoa houblon 12
Hình 2.8: Các hợp chất đắng trong hoa houblon 13
Hình 2.9: Công thức cấu tạo của α-acid đắng 13
Hình 2.10: Sự đồng phân hoá humulon 14
Hình 2.11: Công thức cấu tạo của β-acid đắng 14
Hình 2.12: Sự oxy hoá lupulon thành hulupon 15
Hình 2.13: Chế phẩm houblon 16
Hình 2.14: Nấm men Saccharomyces carlsbergensis 19
Hình 2.15: Cấu tạo diacetyl 22
Hình 2.16: Cơ chế hình thành diacetyl 23
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất bia tại nhà máy 24
Hình 3.2: Quy trình nghiền của nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây 25
Hình 3.3: Sơ đồ đường hoá nguyên liệu của nhà máy bia 29
Hình 3.4: Công đoạn lên men 34
Hình 3.5: Quy trình hoàn thiện sản phẩm 40
Hình 3.6: Đồ thị biểu diễn sự thay đổi hàm lượng diacetyl theo đời men sử dụng 44
Hình 3.7: Sự thay đổi hàm lượng diacetyl theo mật độ nấm men 45
Hình 3.8: Sự biến đổi nhiệt độ của tank theo thời gian lên men 46
Hình 3.9: Thiết bị sàng 47
Hình 3.10: Thiết bị nghiền búa 48
Hình 3.11: Cấu tạo thiết bị nghiền 49
Hình 3.12: Cấu tạo nồi nấu malt và gạo 49
Hình 3.13: Thiết bị lọc dịch nha 50
Hình 3.14: Thiết bị lắng xoáy 51
Hình 3.15: Tank lên men 51
Hình 3.16: Thiết bị lọc cơ học 52
Hình 3.17: Thiết bị lọc PVPP 52
Hình 3.18: Thiết bị lọc an toàn 53
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần hoá học của malt 7
Bảng 2.2: Yêu cầu đối với malt 10
Bảng 2.3: Chỉ tiêu chất lượng malt của nhà máy 11
Bảng 2.4: Thành phần của houblon khô 12
Bảng 2.5: Công thức cấu tạo các hợp chất của α - acid đắng 13
Bảng 2.6: Công thức cấu tạo các hợp chất β - acid đắng 14
Bảng 2.7: Tiêu chuẩn nước dùng cho sản xuất bia 17
Bảng 2.8: Bảng phân loại nước theo độ cứng 18
Bảng 2.9: Thành phần cơ bản của gạo trong sản xuất bia 20
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu đánh giá gạo dùng trong sản xuất 20
Bảng 3.1: Khối lượng mẻ nấu và thành phần phụ gia bổ sung trong quá trình nấu 27
Bảng 3.2: Tiêu chuẩn nước nha trong nhà máy 33
Bảng 3.3: Một số tiêu chuẩn bia sau khi lên men phụ của nhà máy 37
Bảng 3.4: Một số tiêu chuẩn bia TBF 39
Bảng 3.5 : Một số tiêu chuẩn bia thành phẩm 39
Bảng 3.6: Nhiệt độ của môi trường nước thanh trùng 42
Bảng PL1: Số liệu theo dõi lên men tank 8 lô 82 viii
Bảng PL2: Số liệu theo dõi lên men tank 20 lô 89 ix
Bảng PL3: Số liệu theo dõi lên men tank 5 lô 80 x
Bảng PL4: Số liệu theo dõi lên men tank 24 lô 90 xi
Bảng PL5: Số liệu theo dõi lên men tank 18 lô 84 xii
Bảng PL6: Số liệu theo dõi lên men tank III lô 86 xiii
Bảng PL7: Số liệu theo dõi lên men tank 14 lô 87 xiv
Bảng PL8: Số liệu theo dõi lên men tank 13 lô 105 xv
Bảng PL9: Số liệu theo dõi lên men tank 16 lô 107 xvi
Bảng PL10: Số liệu theo dõi lên men tank 23 lô 98 xvii
Bảng PL11: Số liệu theo dõi lên men tank 18 lô 112 xviii
Trang 11CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TỔNG QUAN
Bia là sản phẩm của quá trình lên men nhờ vi sinh vật mà chủ yếu là vi sinh vật đơn
bào trong điều kiện hết sức nghiêm ngặt, có tính chất đặc trưng giàu dinh dưỡng, độ
cồn thấp, cung cấp cho cơ thể một lượng calo lớn Bên cạnh đó, trong bia còn chứa
một lượng lớn các enzyme khá phong phú mà đặc biệt là nhóm enzyme kích thích
tiêu hóa amylase Xét về mặt kinh tế xã hội, vấn đề giao tiếp ngày càng tăng là một
trong những lí do để người tiêu dùng chú ý nhiều đến bia
Bia là một loại thức uống dinh dưỡng Uống bia với một lượng thích hợp rất có lợi
cho sức khỏe như: Dễ tiêu hóa, thông tiểu tiện, kích thích tuyến mật, giảm được sự
mệt mỏi sau ngày làm việc mệt nhọc
Bia đã được người Sumérien và Assyrien sản xuất từ cách đây hơn 5000 năm trước
công nguyên (TCN) Tuy nhiên đây chỉ mới là một loại thức uống lên men từ các loại
ngũ cốc Từ 4000 năm (TCN) những người Ai Cập đã có những loại bia như: Bia của
các nhà quý tộc, bia của Ai Cập Từ thời điểm đó cho đến nay, ngành công nghiệp
sản xuất bia không ngừng phát triển, nâng cao chất lượng bia Louis Pasteur đã cho
xuất bản quyển sách các “Nghiên cứu về bia” và từ đó những nghiên cứu khoa học về
sản xuất bia mới thật sự bắt đầu vào năm 1876
Bia được đưa vào Việt Nam từ năm 1890 cùng với sự có mặt của nhà máy bia Hà Nội
và Sài Gòn Bia được người Việt định nghĩa là loại đồ uống có độ cồn thấp được làm
từ nguyên liệu là malt đại mạch, houblon, nước và nấm men Ngoài ra, bia còn chứa
rất nhiều các vitamin, đường, acid amin… cung cấp giá trị dinh dưỡng
Trong quá trình sản xuất bia thì sự biến đổi sinh hóa là vô cùng quan trọng Ngoài
việc tạo thành các men bia, các sản phẩm chủ yếu là cồn và CO2 còn tạo ra nhiều sản
phẩm phụ khác như rượu bậc cao, ester, aldehyde… làm cho bia có hương thơm đặc
trưng Tuy nhiên, trong quá trình chuyển hóa ra các sản phẩm phụ có những sản
phẩm không mong đợi làm giảm chất lượng bia, ảnh hưởng tới người tiêu dùng
Diacetyl là một trong các sản phẩm đó
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu quy trình công nghệ sản xuất bia tại nhà máy, thu thập các thông số cơ bản
tại một số công đoạn chính trong quá trình sản xuất, các biến đổi tại các công đoạn
chính nhằm tìm hiểu một cách cơ bản công nghệ sản xuất bia Bên cạnh đó, khảo sát
những yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng diacetyl trong quá trình lên men
Trang 12CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty cổ phần bia Sài Gòn – Miền Tây là công ty trực thuộc Tổng công ty Bia –
Rượu – Nước giải khát Sài Gòn
Tên giao dịch: Western – Sai Gon Beer Joint Stock Company
Tên viết tắt: WSB
Logo công ty
Hình 2.1: Logo của công ty
Địa chỉ: Đường số 2, Khu công nghiệp Trà Nóc, Quận Bình Thuỷ, T.P Cần Thơ
Điện thoại: +84-(0)7103-84.33.33
Fax: +84-(0)7103-84.32.22
Website: http://www.wsb-sabeco.com.vn
SACABECO là công ty liên doanh Bia Sài Gòn tại Cần Thơ được thành lập từ hợp
đồng liên doanh ký ngày 20/11/1996 giữa công ty Bia Sài Gòn và công ty Bia – Rượu
– Nước giải khát Hậu Giang Đến ngày 30/08/2000, công ty liên doanh bia Sài Gòn
tại Cần Thơ được giao lại cho công ty bia Sài Gòn thống nhất quản lý theo chủ
trương của Bộ Công Nghiệp (công văn số: 3005/CV-KHĐT ngày 03/08/2000) và
UBND tỉnh Cần Thơ (công văn số: 2615/UB ngày 09/08/2001) Sau ngày tiếp giao,
công ty bia Sài Gòn tiến hành xây dựng nhà xưởng sản xuất trên diện tích 2 ha Sau
đó, chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam
đã ký quyết định số: 39/QĐ-HĐQT ngày 31/08/2001 về việc thành lập nhà máy bia
Cần Thơ trực thuộc Công ty bia Sài Gòn
Ngày 01/01/2002, nhà máy bia Cần Thơ đi vào sản xuất chính thức Ngày
06/05/2003, Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp ban hành quyết định số 74/2003/QĐ-BCN
Trang 13về việc thành lập Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn Sau đó Tổng
công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn ban hành quyết định số: 138/TCT/HC
ngày 21/07/2003 đổi tên nhà máy Bia Cần Thơ thành nhà máy Bia Sài Gòn – Cần
Thơ trực thuộc Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn
Ngày 12/05/2004, Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp ban hành quyết định số
1035/QĐ-BCN về việc cổ phần hoá nhà máy Bia Sài Gòn – Cần Thơ, trong đó nhà nước nắm
giữ trên 50% cổ phần Ngày 24/11/2004 Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp ban hành quyết
định số 147/2004/QĐ-BCN về việc chuyển nhà máy Bia Sài Gòn – Cần Thơ thành
Công ty cổ phần bia Sài Gòn – Cần Thơ Tiếp theo Bộ Công Nghiệp có công văn số
1282/CV/TCCB ngày 16/03/2005 cho phép tổ chức đại hội cổ đông Trước khi
chuyển sang mô hình công ty cổ phần, hai đơn vị này là hai nhà máy đều trực thuộc
Tổng Công ty Bia – Rượu – NGK Sài Gòn (Sabeco), 100% vốn của Sabeco Công
suất lúc bấy giờ của Nhà máy Bia Sài Gòn – Cần Thơ là 25 triệu lít bia mỗi năm và
Nhà máy Bia Sài Gòn – Sóc Trăng là 23 triệu lít
Ngày 01/5/2005, hai Nhà máy Cần Thơ và Sóc Trăng được chính thức chuyển đổi
sang hình thức cổ phần, thành CTCP Bia Sài Gòn – Cần Thơ với vốn điều lệ là 90 tỷ
đồng và CTCP Bia Sài Gòn – Sóc Trăng với vốn điều lệ là 55 tỷ đồng Sabeco nắm
51% vốn điều lệ Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn – Miền Tây được thành lập trên cơ sở
hợp nhất hai đơn vị là Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn – Cần Thơ và Công ty Cổ phần
Bia Sài Gòn – Sóc Trăng theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông hợp nhất thông qua
ngày 27/5/2006 Tháng 7/2006, CTCP Bia Sài Gòn – Miền Tây được thành lập với
vốn điều lệ là 145 tỷ đồng, trong đó Sabeco chiếm 51% Gần đây hệ thống tổ chức
còn thành lập thêm một đơn vị nữa đó là Công ty TNHH một thành viên TMDV Bia
– Rượu – NGK Sài Gòn Công suất hiện tại của công ty là 25 triệu lít/năm và hiện tại
công ty đang cơ cấu lên 50 triệu lít/năm Tổng công ty chuyên sản xuất kinh doanh
các loại bia, rượu, cồn và nước giải khát với các nhãn hiệu Bia 333, Bia Sài Gòn
Lager (Sài Gòn Xanh), Sài Gòn Export (Sài Gòn Đỏ) và Sài Gòn Special
Tổng mức đầu tư khoảng 450 tỷ đồng
Tổng vốn điều lệ là 145 tỷ đồng
2.1.2 Vị trí địa lý
Đường số 2, Khu công nghiệp Trà Nóc, Quận Bình Thuỷ, Thành phố Cần Thơ Với
vị thế gần trung tâm thành phố và là trung tâm của Đồng Bằng sông Cửu Long với
hai tuyến đường sông, đường bộ nên việc nhập nguyên liệu và phân phối sản phẩm đi
các nơi khác thuận lợi
Trang 142.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.3.1 Sơ đồ mặt bằng của công ty
Nhà máy được bố trí hợp lý, thuận tiện cho việc sản xuất Sơ đồ mặt bằng của công ty
được mô tả trong Hình 2.2
1 Nhà xe 8,10 Nhà bảo vệ 19 Xưởng bảo trì 29 Khu lên men
2 Nhà vệ sinh 9 – 13 Công viên 20 Máy phát điện 30 Khu trữ men
3 Nhà ăn 14 Nhà nấu 21 CO2 thu hồi 31 Phòng CIP
4 Trạm biến áp 15 Silo malt, gạo 22 Máy lạnh 32 Phòng BBT
5 Xử lý nước thải 16 Khu xay xát 23 Khu xử lý nước 33 Phòng lọc bia
6 Kho thành phẩm 17 Kho malt, gạo 24.-27 Kho vật tư 34 Khu chai rỗng
7 Xử lý nước cấp 18 Lò hơi 28 Trạm phân phối điện
35 Khu chiết bia
Hình 2.2: Sơ đồ mặt bằng nhà máy
(Nguồn: Tài liệu Công ty cổ phần Bia Sài Gòn – Miền Tây)
Trang 152.1.3.2 Sơ đồ tổ chức nhà máy
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức nhà máy
2.1.4 Hệ thống quản lý chất lượng
Công ty sản xuất các loại bia chai Sài Gòn theo quy trình công nghệ của SABECO
với các dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị nhập từ Tây Âu, Mỹ
Công ty đã được cấp chứng nhận và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng An Toàn
Vệ Sinh Thực Phẩm theo ISO 9001: 2008, ISO 22000: 2005 trong sản xuất Hiện
nay, Công ty đang xây dựng hệ thống quản lý môi trường ISO 14001: 2005
Công ty đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải, đảm bảo nước thải ra môi trường đạt loại
A góp phần giữ gìn môi trường trong công ty và khu công nghiệp luôn xanh – sạch –
đẹp Đặc biệt, công ty là đơn vị đầu tiên trong ngành bia đưa vào sử dụng lò hơi đốt
trấu thay thế lò dầu FO đã giúp tiết kiệm hàng chục tỷ đồng mỗi năm cho công ty và
Nhà nước
2.2 NGUYÊN LIỆU TRONG SẢN XUẤT BIA
2.2.1 Malt
Malt là sản phẩm được chế biến từ các loại hạt ngũ cốc như đại mạch, tiểu mạch,
thóc, ngô,… Cho nảy mầm trong điều kiện nhân tạo và sấy đến độ ẩm nhất định với
những điều kiện bắt buộc Malt là nguyên liệu chính dùng trong sản xuất bia, hay
người ta còn nói malt là linh hồn của bia
2.2.1.1 Cấu tạo và vai trò của malt
Malt gồm 3 bộ phận chính:
Vỏ: Vỏ trấu, vỏ lụa và vỏ aleurone, chiếm 8 ÷ 15% trọng lượng hạt
Phôi: Là cơ quan sống, hô hấp của hạt, chiếm từ 2,5 ÷ 5% trọng lượng hạt
BAN GIÁM ĐỐC NHÀ MÁY
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHẨM
TỔ ĐỘNG LỰC – BẢO TRÌ
Trang 16Nội nhũ: Chiếm từ 45 ÷ 60% trọng lượng hạt, giữ vai trò quyết định chất lượng của
hạt malt trong sản xuất bia Thành phần chủ yếu là tinh bột Cấu tạo hạt malt được
trình bày ở Hình 2.4
Hình 2.4: Hạt malt cắt dọc và ngang
(Nguồn: Briggs et al., 2004)
Vai trò của malt:
- Malt cung cấp toàn bộ lượng glucid (chủ yếu dưới dạng tinh bột) để chuyển hóa
thành đường, và từ đường chuyển hóa thành cồn và các chất khác Để giảm giá thành,
người ta có thể sử dụng ngũ cốc làm thế liệu, và lượng tối đa là 50% chứ không thể
thay thế hoàn toàn malt
- Malt chứa đầy đủ enzyme amylase để thủy phân tinh bột Nếu sử dụng thế liệu
nhiều thì lượng enzyme này cung cấp không đầy đủ và ta buộc phải bổ sung enzyme
từ bên ngoài vào
- Malt cung cấp khá đủ lượng protein và có chứa hệ enzyme protease để thủy phân
chúng Trong giai đoạn ươm mầm, hệ enzyme này được hoạt hóa mạnh mẽ Khi
chuyển sang giai đoạn nấu, chúng thủy phân protein tạo thành các phức chất có khả
năng giữ CO2 tốt, tạo vị bia đặc trưng
Trang 172.2.1.2 Thành phần hóa học của malt
Độ ẩm trung bình của hạt malt khi được công ty nhập về thường là 4 ÷ 5% Tuy
nhiên để tiết kiệm năng lượng, xu hướng hiện nay là bảo quản malt ở độ ẩm 4,5%
Bảng 2.1: Thành phần hoá học của malt
- Tinh bột: (C6H10O5)n là cấu tử quan trọng nhất, hình thành 58 ÷ 70% thành phần của
malt Kích thước hạt tinh bột lớn là 20 ÷ 30 µm và hạt tinh bột nhỏ là 1 ÷ 6 µm,
không có cỡ trung bình Tinh bột tập trung chủ yếu ở nội nhũ và chỉ một phần ít ở
phôi Trong môi trường giàu nước, tinh bột được thuỷ phân thành đường glucose
dưới tác dụng của acid mạnh hay tạo thành dextrin, maltose, glucose dưới tác dụng
của enzyme amylase (Nguyễn Thị Thu Thuỷ, 2006) Tinh bột là nguồn cung cấp chất
hoà tan chủ yếu cho dịch đường và được nấm men sử dụng Thành phần hạt tinh bột
gồm hai thành phần amylose và amylopectin
- Amylose: Cấu tạo dạng mạch thẳng, không phân nhánh, chứa từ 300 ÷ 1000 gốc
glucose Thành phần cấu tạo gồm các gốc α-D-glucopyranose, liên kết nhau bằng liên
kết 1-4 glycoside (Hình 2.5) Amylose dễ tan trong nước nóng tạo dung dịch có độ
nhớt không cao Tủa trong butanol và pentanol cho màu xanh đặc trưng với Iod
Hình 2.5: Cấu tạo một đoạn amylose
(Nguồn: http://www.tutorvista.com/chemistry/amylose-molecular-weight)
Trang 18- Amylopectin: Cấu tạo mạch phân nhánh Thành phần gồm các α-D-glucopyranose
liên kết với nhau Trên mạch thẳng, các gốc glucose liên kết với nhau bằng liên kết
1-4 glycoside, liên kết tạo nhánh là các liên kết 1-6 glycoside, khoảng 18 ÷ 20 gốc
glucose có một điểm phân nhánh (Hình 2.6) Amylopectin tan trong nước nóng tạo
dung dịch có độ nhớt cao Tủa trong butanol và pentanol Cho màu xanh đặc trưng
với Iod
Hình 2.6: Cấu tạo một đoạn amylopectin
(Nguồn: http://www.food-info.net/uk/carbs/starch.htm)
- Cellulose: Có khoảng 5 ÷ 6% tập trung ở vỏ trấu và là hợp chất tạo cấu trúc
Cellulose có cấu trúc là một chuỗi β-D-glucopyranose không phân nhánh Cellulose
không tan trong nước và không bị phá vỡ bởi enzyme của malt đại mạch Do vậy
cellulose không ảnh hưởng đến chất lượng bia
- Hemicellulose: Là thành phần chủ yếu của thành tế bào nội nhũ, bao gồm β-glucan
và pentosane kết hợp tạo nên khung bền vững cho thành tế bào nội nhũ
Hemicellulose gồm: 80 ÷ 90%, β-glucan và 10 ÷ 20% pentosane
- Đường: Hàm lượng đường trong malt chủ yếu là đường saccharose và một ít đường
glucose và fructose
- Các hợp chất chứa Nitơ: Được chia làm hai nhóm chính protein và các sản phẩm
thuỷ phân
- Protein: Là các chất chứa nitơ có phân tử lượng cao, khối lượng phân tử có thể từ
20.000 ÷ 300.000 Da, không tan trong nước, kết tủa khi đun sôi Nhóm protein phân
tử lượng cao là nguyên nhân gây đục bia Malt chứa các protein sau: Glutelin,
prolamin, globulin, albumin Các sản phẩm protein thuỷ phân hoà tan trong nước và
kết tủa khi đun sôi Hầu hết các sản phẩm thuỷ phân có trong bia thành phẩm
- Chất béo: Malt chứa khoảng 2,5% chất béo, nằm chủ yếu ở lớp aleurone và mầm
Chất béo hầu hết là triglyceride Các chất béo không hoà tan trong nước, ảnh hưởng
xấu đến bọt bia
Trang 19- Các hợp chất vô cơ: Trong malt có khoảng 2 ÷ 3% là các khoáng chất, trong đó chủ
yếu là các chất vô cơ Các chất vô cơ quan trọng bao gồm: Phosphate, silicate, muối
kali
- Các enzyme: Trong malt chứa chủ yếu các enzyme thuộc nhóm thuỷ phân như
amylase, protease, phosphatase, lipase
- Các hợp chất khác: Tuy với hàm lượng nhỏ nhưng polyphenol, tanin và vitamin có
tác động không nhỏ đến chất lượng bia và quá trình sản xuất
- Polyphenol và tanin: Nằm chủ yếu ở vỏ trấu và lớp aleurone của malt Với hàm
lượng cao chúng tạo cho bia có vị đắng chát khó chịu Hàm lượng của nó tăng theo
độ dày của lớp vỏ trấu
- Các vitamin: Là các nguyên tố dinh dưỡng được tạo ra do cây trồng Malt chứa các
vitamin như: Thiamin (vitamin B1), riboflavin (vitamin B2), acid ascorbic (vitamin
C), tocopherol (vitamin E)
2.2.1.3 Hệ enzyme trong malt
Hệ thống enzyme này gồm có: Alpha-amylase, beta-amylase và amilophosphatase,
phần lớn chúng tập trung ở phôi mầm và một ít được phân bố ở phần dưới của nội
nhũ hoặc trong màng ngăn giữa vỏ trấu và nội nhũ
a) Hệ enzyme thủy phân tinh bột
Enzyme amylase là enzyme thuỷ phân tinh bột thành đường Hệ enzyme amylase
gồm hai loại như α-amylase, β-amylase:
- α-amylase (EC 3.2.1.1): Dưới tác dụng của enzyme α-amylase, amylose bị phân
giải khá nhanh tạo thành oligosaccharide gồm 6 ÷ 7 gốc glucose, các mạch bị phân
cắt dần và bị phân giải chậm đến triosemaltose, maltose Sản phẩm thuỷ phân gồm
87% maltose, 13% glucose Còn amylopectin thì bị phân giải khá nhanh nhưng vì
α-amylase không cắt được liên kết α-1,6 glycoside nên sản phẩm cuối cùng có khoảng
72% maltose, 19% glucose, dextrin phân tử thấp và isomaltose là 8% Cơ chất của
α-amylase là tinh bột và dextrin, từ đó tạo ra sản phẩm là maltose và các dextrin mạch
ngắn Enzyme này hoạt động tối ưu ở pH = 5,8; nhiệt độ = 72 ÷ 76ºC
- β-amylase (EC 3.2.1.2): Được gọi là enzyme ngoại phân β-amylase phân giải 100%
amylose thành maltose Phân giải 54 ÷ 58% amylopectin thành maltose Do mỗi
nhánh của amylopectin có từ 20 ÷ 25 phân tử glucose nên sau khi thuỷ phân tạo 10 ÷
12 phân tử maltose
Khi tới liên kết α-1,4 glucoside gắn với liên kết α-1,6 glucoside, β-amylase sẽ ngưng
tác dụng, phần saccharide còn lại là dextrin phân tử lớn β-limit dextrin β-amylase, có
trong hạt malt ở dạng liên kết cũng như dạng tự do, nhưng trong quá trình ươm mầm
hoạt tính của enzyme này sẽ tăng dần Với sự tham gia của enzyme này, tinh bột malt
sẽ bị phân cắt thành đường maltose Enzyme này hoạt động tối ưu ở pH = 5,5 ÷ 5,8;
nhiệt độ = 62 ÷ 65ºC (Nguyễn Thị Thu Thuỷ, 2006)
Trang 20b) Hệ enzyme protease
Trong hạt đại mạch, toàn bộ hệ thống enzyme này ở trạng thái liên kết, hầu như
không hoạt động Nhưng khi chuyển qua giai đoạn ươm mầm thì hoạt tính chung của
hệ enzyme protease tăng nhanh
- Protease: Sẽ tấn công lên các phân tử protein nguyên thủy để tạo ra các sản phẩm
trung gian như: Pepton, peptide, polypeptide, hoạt động tối ưu với pH = 5,1; nhiệt độ
= 50 ÷ 55ºC
- Peptidase: Nó sẽ phân cắt các peptide có sẵn trong hạt đại mạch và những peptide
trong malt do protease phân giải để tạo thành các acid amin trong hạt malt, hoạt động
tối ưu với pH = 7,3 ÷ 7,9; nhiệt độ = 40 ÷ 45ºC
- Amidase: Chúng sẽ tấn công các muối amide để hình thành NH3 và acid amin, góp
phần làm thay đổi tính chất và hàm lượng của protein trong hạt malt, các enzyme
amidase có hoạt động tối ưu ở pH = 7,3 ÷ 8,0; nhiệt độ = 45 ÷ 50ºC
c) Hệ enzyme esterase (phosphatase)
Hệ thống enzyme esterase (phosphatase) gồm có: Saccharophosphatase, phytase,
glyxerophosphatase, nucleotidase… Tham gia thúc đẩy và xúc tác cho các quá trình
ester hoá trong quá trình nảy mầm Enzyme phytase phá mối liên kết ester của phytin
và giải phóng ra rượu inozide và acid phosphoride tự do
Phytase có hoạt động tối ưu ở pH = 5,0 ÷ 5,5; nhiệt độ = 40 ÷ 50ºC Các enzyme
khác như: Saccharophosphatase, glyxerophosphatase, nucleotidase sẽ phá các mối
liên kết ester tương ứng của các hợp chất hữu cơ có chứa phosphate và giải phóng ra
acid phosphoride tự do
2.2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá
Để đảm bảo chất lượng cho thành phẩm và yêu cầu của nước nha, malt là một trong
những nguyên liệu chính trong sản xuất bia Một số tính chất của malt được trình bày
ở Bảng 2.2
Bảng 2.2: Yêu cầu đối với malt
Chỉ tiêu kiểm tra Yêu cầu
(Nguồn: Tài liệu Công ty cổ phần Bia Sài Gòn – Miền Tây)
Để đảm bảo cho chất lượng nước nha và thành phẩm bia cuối, công ty đã đưa ra một
số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng malt ở Bảng 2.3
Trang 21Bảng 2.3: Chỉ tiêu chất lượng malt của nhà máy
Chỉ tiêu Yêu cầu
Ngoại quan Màu vàng rơm, không có mốc, không sâu mọt
Độ sạch Không lẫn nhiều tạp chất, lượng hạt vỡ tối đa là
0,5%, lượng hạt bệnh tối đa là 1%
Houblon (Humulus lupulus) thuộc họ Gai mèo (Canabinaceae), là cây lưu niên đơn
tính (30 ÷ 40 năm), có chiều cao trung bình từ 10 ÷ 15 m, lá cây to bằng bàn tay
Trong sản xuất bia chỉ sử dụng hoa cái chưa thụ phấn Hoa đực không được sử dụng
bởi vì nó rất nhỏ, chứa ít lượng phấn hoa (lupulin), chất đắng cũng rất kém Hoa có
dạng hình chùy, dài từ 3 ÷ 4 cm, khi chín có màu vàng đến vàng óng Hệ thống phân
loại thực vật của houblon:
Giới (regnum): Plantae
Ngành (divisico): Magnoliophyta
Lớp (class): Magnoliopsida
Bộ (ordo): Rosales
Họ (familia): Cannabaceae
Chi (genus): Humulus
Loài (species): Humulus lupulus
Trang 22Thành phần của một hoa như sau: Cuống 5 ÷ 6% tính theo chất khô của hoa, trục 7 ÷
8%, lupulin 19 ÷ 20%, cánh và nhị hoa 66 ÷ 67% Hiện nay trên thế giới đang trồng
trên 100 giống hoa houblon khác nhau Loại thực vật này chỉ thích hợp với khí hậu
ôn đới nên được trồng nhiều ở Đức, Liên Bang Nga, Pháp, Mỹ, Trung Quốc và Triều
Tiên,… Về nguyên tắc, hoa houblon có thể dùng ở dạng tươi nhưng để bảo quản
được lâu và dễ vận chuyển ta cần sấy khô chúng đến hàm ẩm 11%
Hình 2.7: Hoa houblon
(Nguồn: http://lasuccursale.com/1952/le-houblon-et-la-biere)
2.2.2.2 Vai trò của hoa houblon
- Tạo cho bia có vị đắng dịu, tạo cho bia có hương thơm đặc trưng
- Làm tăng khả năng tạo và giữ bọt, độ bền keo và ổn định sản phẩm
2.2.2.3 Thành phần hóa học của houblon
Thành phần hóa học của hoa houblon phụ thuộc vào chủng giống, điều kiện khí hậu,
đất đai gieo trồng và kỹ thuật canh tác,… Thành phần hóa học của hoa houblon được
Trang 23- Nước: Hoa houblon tươi mới hái chứa khoảng 75% nước Sau khi sấy nhanh ở
50oC, lượng nước còn lại khoảng 11 ÷ 13% Hoa houblon sấy khô sẽ dễ bị rụng cánh
và bị mất một phần hạt lupulin nhưng bảo quản dễ dàng hơn
- Các hợp chất đắng: Trong hoa houblon, các hợp chất đắng có giá trị nhất và nằm
trong các hạt lupulin Chúng tạo ra vị đắng dịu rất đặc trưng
Hình 2.8: Các hợp chất đắng trong hoa houblon
(Nguồn: Bùi Thị Quỳnh Hoa, 2009)
- α-Acid đắng (humulon): Là hợp chất chủ yếu tạo vị đắng cho bia, có vị đắng mạnh
và có khả năng kháng khuẩn Nhóm α-acid đắng (Hình 2.9) có sáu hợp chất:
Humulon, cohumulon, adhumulon, prehumulon, posthumulon, 4-deoxyhumulon
Hình 2.9: Công thức cấu tạo của α - acid đắng
(Nguồn: www.geocities.com/bierbrouwen/ingredienten.html)
Sáu hợp chất trên khác nhau ở vị trí nhóm R trong công thức cấu tạo thể hiện trong
Bảng 2.5:
Bảng 2.5: Công thức cấu tạo các hợp chất của α - acid đắng
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv., 2007)
Nhựa mềm (5 ÷ 6%)
β-acid đắng (3 ÷ 4%)
α-acid đắng
(6 ÷ 9%)
Nhựa cứng (1 ÷ 2%) Acid đắng Nhựa đắng
Trang 24Khả năng hòa tan của α-acid đắng ở trong nước vào khoảng 500 mg/L, trong dịch
đường thì ít hơn và trong bia thì hầu như hòa tan không đáng kể (10 ÷ 30 mg/L) Độ
kiềm của dung môi càng cao thì khả năng hòa tan của chúng càng nhiều Giai đoạn
đun sôi dịch đường với hoa houblon, các hợp chất humulon (Hình 2.10a) không hòa
tan trực tiếp và mà chúng phải trải qua một giai đoạn trung gian là quá trình đồng
phân hóa Các đồng phân, cis-isohumulon (Hình 2.10b) và trans-isohumulon (Hình
2.10c), hòa tan và bị thuỷ phân thành các sản phẩm có độ đắng cao hơn rất nhiều so
với các hợp chất nguyên thủy
Hình 2.10: Sự đồng phân hoá humulon
- β-acid đắng (lupulon): Là dạng hợp chất tinh thể, màu trắng, nóng chảy ở nhiệt độ
92oC β-acid đắng (Hình 2.11) bao gồm 4 hợp chất: Lupulon, colupulon, adlupulon
và prelupulon
Hình 2.11: Công thức cấu tạo của β - acid đắng
(Nguồn: www.geocities.com/bierbrouwen/ingredienten.html)
Các hợp chất khác nhau ở nhóm R trong công thức cấu tạo thể hiện trong Bảng 2.6:
Bảng 2.6: Công thức cấu tạo các hợp chất β - acid đắng
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv., 2007)
Trang 25Cũng giống như α-acid đắng, β-acid đắng dễ dàng hòa tan trong ester, methanol Khả
năng hòa tan trong nước, trong dịch đường của β-acid đắng thấp hơn rất nhiều so với
α-acid đắng Khi đun sôi với dịch đường, lupulon cũng bị đồng phân hóa sau đó mới
bị phân cắt nhưng với tốc độ rất chậm Nếu bị oxy hóa, β-acid đắng chuyển thành
hulupon (Hình 2.12) Phản ứng kéo dài, hulupon sẽ polyme hóa và trở thành nhựa
mềm và sau đó là nhựa cứng (Bùi Thị Quỳnh Hoa, 2009) Nhựa mềm là sản phẩm ở
giai đoạn đầu của quá trình polyme hoá Giai đoạn này thì độ đắng và khả năng
kháng sinh chỉ còn một phần Tuy nhiên, khả năng hoà tan cao nên độ đắng tạo ra
trong dịch đường lớn Nhựa đắng là sản phẩm cuối cùng của quá trình polyme hoá
Nhựa đắng không còn khả năng hoà tan vào dịch đường và bị thải theo cặn lắng
Hình 2.12: Sự oxy hoá lupulon thành hulupon
- Nhựa mềm: là polyme của các acid đắng, là chất vô định hình, chưa xác định được
về thành phần hóa học Khả năng hòa tan nhựa mềm vào dịch đường cao hơn β-acid
đắng, vì vậy chúng tạo ra được lực đắng khá lớn cho bia Đây là hợp phần rất có giá
trị của chất đắng
- Nhựa cứng: là polyme của acid đắng nhưng ở mức độ cao hơn nhiều so với nhựa
mềm Chúng được hình thành trong quá trình sấy và bảo quản Cấu tử này hầu như
không hòa tan vào nước và dịch đường Chúng bị thải ra ngoài theo cặn lắng, đây là
hợp phần không có giá trị trong sản xuất bia
- Tinh dầu thơm: Hoa houblon có chứa 0,3 ÷ 1% tinh dầu thơm, với những loại hoa
houblon thơm có thể lên đến 3 ÷ 4% Các tinh dầu thơm được tạo thành trong các đài
lupulin Tinh dầu hoa houblon không phải đơn chất mà có hơn 200 hợp chất Chúng
chia thành 3 nhóm: Hydrocacbon, các hợp chất chứa lưu huỳnh và các hợp chất chứa
oxy Tinh dầu thơm tạo ra cho bia mùi thơm đặc trưng, rất nhẹ nhàng và dễ chịu
Trong thời gian đun sôi dịch đường với hoa houblon, có đến 98% lượng tinh dầu
thơm bay theo hơi nước, chỉ còn lại khoảng 2% trong bia (Hoàng Đình Hòa, 2005)
- Polyphenol: Giá trị công nghệ lớn nhất của polyphenol là chúng được dùng để kết
lắng và loại bỏ các hợp chất protide cao phân tử ra khỏi dịch đường, làm ổn định
thành phần và tăng độ bền keo cho bia thành phẩm Tất cả các hợp chất polyphenol
đều thuộc nhóm flavonoid, phong phú về chủng loại, đa dạng về cấu trúc và khác
nhau về tính chất Chúng dễ dàng thực hiện phản ứng ngưng tụ để tạo thành các
oxy hoá
Trang 26oligome và dễ dàng polyme hóa để tạo thành polyme Polyme này dễ dàng kết hợp
với protein tạo thành các phức không tan Tất cả những hợp chất polyphenol như thế
được gọi là tanin (Hoàng Đình Hòa, 2005)
2.2.2.4 Chế phẩm từ hoa houblon
Nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây sử dụng hai chế phẩm hoa houblon là houblon viên
và houblon cao (Hình 2.13) Cao hoa thu được bảo quản trong hộp bằng kim loại có
khối lượng 1 kg Nhà máy sử dụng houblon cao có hàm lượng α-acid đắng là 52,5%,
với khối lượng sử dụng đối với tank nhỏ là 1827 g (tank lớn là 2008 g), cho mẻ nấu
của tank nhỏ là 420 hL (tank lớn là 880 hL) Vai trò chủ yếu của houblon cao là tạo
vị đắng cho bia
Nhà máy sử dụng houblon viên có hàm lượng α-acid đắng là 10,3%, với khối lượng
sử dụng đối với tank nhỏ là 2175 g (tank lớn là 2363 g), cho mẻ nấu của tank nhỏ là
420 hL (tank lớn là 880 hL) Houblon viên là chế phẩm giàu lupulin trong đó có chứa
toàn bộ tinh dầu Khả năng bảo quản các hoa viên phụ thuộc vào khâu đóng gói, loại
bỏ không khí Lượng oxy dư phải ít hơn 0,5% thể tích, nạp đầy khí trơ vào bao bì để
ngăn chặn không khí thâm nhập vào bao bì trong quá trình bảo quản, sử dụng bao bì
có bốn lớp trong đó có một lớp nhôm Vai trò quan trọng của houblon viên là cung
cấp tinh dầu thơm cho bia, tạo cho bia có mùi thơm đặc trưng Ngoài ra, hounlon viên
còn cung cấp một lượng polyphenol có hoạt tính cao trong quá trình kết hợp với
protein tạo phức tanin – protein không tan Sử dụng houblon viên sẽ giảm lượng bã
thải ra do trong quá trình sản xuất đã loại bỏ phần cuống và cánh hoa và khả năng
đồng phân hoá cũng được cải thiện hơn
Nước là một trong những nguyên liệu chính dùng trong sản xuất bia Thành phần và
tính chất của nước ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình công nghệ và chất lượng
thành phẩm Trong quá trình sản xuất malt và bia cần một lượng nước rất lớn như để
Trang 27ngâm đại mạch trong sản xuất malt, hồ hóa, đường hóa, rửa men, rửa thiết bị, cung
cấp cho lò hơi… Chất lượng nước ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bia Một số tiêu
chuẩn của nước trong sản xuất bia ở Bảng 2.7
Bảng 2.7: Tiêu chuẩn nước dùng cho sản xuất bia
Tổng vi sinh vật hiếu khí Khuẩn lạc/mL ≤ 100
(Nguồn: Bùi Thị Quỳnh Hoa, 2009)
2.2.3.1 Thành phần
Nước chứa rất nhiều các muối hoà tan ở dạng ion, trong đó nhiều nhất là những
cation Ca2+, H+, Na+, K+, Fe2+, Mn2+, và Al3+ và các anion OH, HCO3 , Cl, SO4 ,
NO3 , SiO3 và PO4
Trang 28Nguyên nhân gây nên độ cứng của nước là do muối của Ca2+ và Mg2+ Độ cứng của
nước chia ra làm 2 loại:
- Độ cứng tạm thời hay còn gọi là độ cứng cacbonat (có thể loại bỏ được) tạo nên bởi
các muối bicacbonat và cacbonat của Ca2+ và Mg2+
- Độ cứng vĩnh cữu hay còn gọi là độ cứng không cacbonat (hay độ cứng sunfat) hình
thành do các sản phẩm của phản ứng giữa các acid sunfuric, clohydric, nitric với một
số muối khoáng
Bảng 2.8: Bảng phân loại nước theo độ cứng
Phân loại Độ cứng
ºH mg đương lượng/L Nước rất mềm 0 ÷ 4 0 ÷ 1,4
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv, 2007)
2.2.3.2 Nước sử dụng trong nhà máy bia
Nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây sử dụng nước do nhà máy nước Cần Thơ cung cấp
và được xử lý trước khi sử dụng
- Nấu bia: Thành phần và tính chất của nước ảnh hưởng đến quá trình hồ hoá, đường
hoá Các bicacbonat và cacbonat trong nước sẽ hoà tan những chất đắng trong vỏ
malt tạo vị đắng khó chịu cho dịch đường và bia Đặc biệt Na2CO3 và NaHCO3 hoà
tan các chất chát của malt gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng của bia
- Pha bia: Nước dùng để pha bia có cùng nguồn gốc với nước sử dụng cho nấu nước
malt Nhưng nước pha bia phải khử oxy làm lạnh nhanh đến 2oC và đưa vào tank
chứa Nước pha bia được kiểm tra hàm lượng oxy không quá 0,05 ppm
- Nước dùng để rửa men và thiết bị: Nước dùng để rửa men và thiết bị đòi hỏi phải
sạch, không chứa nhiều hợp chất hữu cơ và vi sinh vật Nước dùng để rửa thiết bị
không được chứa NH3và các nitric
2.2.4 Nấm men
Nấm men là loài vi sinh vật đơn bào, có khả năng sống trong môi trường dinh dưỡng
có chứa đường, nitơ, photpho và các chất hữu cơ, vô cơ khác Chúng là các vi sinh
vật dị dưỡng có khả năng sống trong cả điều kiện hiếu khí và yếm khí Nấm men
Trang 29trong công nghệ sản xuất bia thường là chủng thuộc giống Saccharomyces, gồm có
nấm men chìm và nấm men nổi:
- Nấm men chìm: Hầu hết các tế bào khi quan sát thì nảy chồi đứng riêng lẻ hoặc cặp
đôi Hình dạng chủ yếu là hình cầu Thời gian lên men dài, nhiệt độ lên men thấp 6 ÷
9oC Tạo thành chùm và lắng xuống đáy thiết bị lên men, dễ lọc, dễ thu nhận để tái sử
dụng Thường dùng để sản xuất bia vàng và bia có độ cồn thấp
- Nấm men nổi: Tế bào nấm men mẹ và con sau khi nảy chồi thường dính lại với
nhau tạo thành chuỗi tế bào nấm men Hình dạng chủ yếu là hình cầu hoặc ovan với
kích thước 7 ÷ 10 µm Thời gian lên men ngắn, nhiệt độ lên men cao 14 ÷ 18oC Lơ
lững trong dịch lên men, tập trung ở vùng bề mặt nên khó lọc, khó thu hồi để tái sử
dụng Thường dùng để sản xuất bia đen và bia có độ cồn cao Sự khác nhau giữa nấm
men nổi và nấm men chìm là khả năng lên men các loại đường trisaccharide, ví dụ
như raffinose Nấm men chìm có thể sử dụng hoàn toàn đường raffinose trong khi đó
nấm men nổi chỉ sử dụng được 1/3 đường raffinose Ngoài ra chúng còn khác nhau
về khả năng hô hấp, khả năng trao đổi chất khi lên men và khả năng hình thành bào
tử Quá trình trao đổi chất của nấm men chìm chủ yếu xảy ra trong quá trình lên men,
còn của nấm men nổi xảy ra mạnh trong quá trình hô hấp, vì vậy sinh khối nấm men
nổi thu được nhiều hơn nấm men chìm Nấm men chìm có nồng độ enzyme thấp hơn
nấm men nổi Khả năng tạo bào tử của nấm men chìm lâu hơn và hạn chế hơn nấm
men nổi Nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây sử dụng phương pháp lên men chìm Quá
trình lên men xảy ra trong 21 ngày Nấm men Saccharomyces carlsbergensis (Hình
2.14) được sử dụng trong quá trình lên men chìm
Hình 2.14: Nấm men Saccharomyces carlsbergensis
(Nguồn:https://www.google.com.vn/search?q=Saccharomyces+carlsbergensis&es_sm=93&tbm=isch&tbo=u
&source=univ&sa=X&ei=00VLU_yHFJfp8AXHuoDADw&ved=0CEAQsAQ&biw=1366&bih=667)
2.2.5 Thế liệu
Nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây sử dụng gạo trong công đoạn nấu dịch đường với tỉ
lệ 25% Nhà máy sử dụng thế liệu gạo nhằm mục đích:
- Hạ giá thành sản phẩm, tăng cường độ bền keo
Trang 30- Hàm lượng protein cao phân tử và tanin trong gạo rất thấp, hạn chế ảnh hưởng xấu
đến chất lượng bia, gạo hàm lượng tinh bột rất cao, hàm lượng protein thấp
- Sản xuất bia nhẹ hơn và sáng màu hơn bia sản xuất hoàn toàn bằng malt
Bảng 2.9: Thành phần cơ bản của gạo trong sản xuất bia
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv, 2007)
Gạo là sản phẩm phụ, nhưng cũng góp phần trong quá trình thủy phân và tiêu chuẩn
của nước nha Sau đây là tiêu chuẩn gạo của công ty dùng trong sản xuất được cho ở
Bảng 2.10
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu đánh giá gạo dùng trong sản xuất
Tên chỉ tiêu Yêu cầu
Màu sắc Đồng nhất, không hạt mốc, sạn, rác, hôi
Trong công nghệ sản xuất bia, ngoài những nguyên liệu chính vừa nêu trên người ta
còn dùng đến một số chất phụ gia nhằm nâng cao chất lượng của bia sản phẩm Tùy
theo yêu cầu kỹ thuật công nghệ mà sử dụng chúng với những hàm lượng khác nhau
và được chia thành 2 nhóm:
* Phụ gia gián tiếp: Sử dụng trong quy trình công nghệ nhưng không được phép có
mặt trong thành phẩm
- Harborlite, hyflo, standan, PVPP là các bột trợ lọc được nhập khẩu Harborlite tạo
màng lần 1, hyflo dùng để tạo màng lần 2, standan tạo màng lần 3 trong quá trình lọc
ống
Trang 31- PVPP (poly vinyl polypyrolidone): Dùng làm bột trợ lọc trong máy lọc đĩa nhằm
hấp thụ polyphenol làm tăng độ trong cho bia Đây là hợp chất hữu cơ dạng bột
không tan trong tất cả các dung môi và trương nở trong nước Bột PVPP rất đắt tiền
và có khả năng tái sinh nên được sử dụng vĩnh cửu
* Phụ gia trực tiếp: Sử dụng trong quy trình công nghệ và được phép có mặt trong
sản phẩm cuối với sự kiểm soát chặt chẽ về hàm lượng cho phép
- Acid lactic
+ Ở nồi gạo và nồi malt: Để điều chỉnh pH thích hợp cho hoạt động của
enzyme amylase
+ Ở nồi đun sôi: Để điều chỉnh pH dịch nha đạt giá trị mong muốn
- Canxi clorua (CaCl2): Được bổ sung vào nồi malt nhằm mục đích tạo tính bền cho
enzyme, để điều vị và điều chỉnh pH khối cháo trong giai đoạn 65oC xuống 5,6 thích
hợp cho β-amylase hoạt động
- Caramel: Cho vào dịch nha khi đun sôi với houblon để tạo độ màu cho bia
- Kẽm sulfat (ZnSO4): Kích thích sự tăng sinh khối của nấm men Nếu thiếu kẽm
nấm men lên men chậm, nhưng nếu quá cao sẽ gây độc cho nấm men
- Enzym Ultraflo Max: Giúp hệ enzyme amylase bền nhiệt hơn để quá trình đường
hóa tốt hơn
- Enzym Termamyl SC: Enzyme dùng trong nấu và dịch hóa với họat tính α-amylase
cao giúp phân cắt tinh bột rất nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển hóa tinh
bột thành các thành phần mạch ngắn hơn một cách triệt để nhất Do enzyme có họat
tính mạnh và chịu được nhiệt độ cao nên dịch cháo sau khi nấu trở nên loãng hơn, dễ
dàng bơm sang các bồn đường hóa
- Maturex L (α-acetolactate decarboxylase): Là enzyme giúp rút ngắn quá trình lên
men và hạn chế sự tạo thành dieactyl trong quá trình lên men
- Vicant: Là phụ gia cho vào bia có thành phần cấu tạo là erythobate và sodium
metabisulphite Được sử dụng như là chất chống oxy hóa giúp ổn định mùi vị, màu
sắc cho bia
- Britesorb D300CE: Bản chất là enzyme protease dùng phân hủy các hợp chất cao
phân tử hạn chế sự hình thành kết tủa lạnh gây đục bia trong quá trình bảo quản
Một số hóa chất sử dụng trong nhà máy
- Chlorine: Là chất hóa học có tác dụng oxy hóa và sát khuẩn rất mạnh được dùng
trong nhà máy với mục đích chính là khử trùng nhằm diệt hay bất hoạt các vi sinh vật
trong nước
Trang 32- Trimeta HC: Là hóa chất tẩy rửa, vệ sinh có tính acid, sử dụng trong quy trình vệ
sinh cho các tank lên men và tank chứa bia trong điều kiện vẫn còn CO2 (không cần
bơm đuổi CO2 trước khi vệ sinh)
- Soude (NaOH): Được dùng làm vệ sinh trong quá trình làm vệ sinh thiết bị Có tính
năng chống khuẩn men dại phát triển, do trong bản thân bồn CIP chứa dung dịch do
đó, có thể dự trữ dung dịch soude trong bồn CIP trong thời gian dài mà không bị
nhiễm khuẩn Khả năng tẩy rửa cao nhất là trong điều kiện nhiệt độ cao và trong cùng
nồng độ thì khả năng tẩy rửa càng lớn hơn
- Acid Nitric (HNO3): Là một acid mạnh, có tính tẩy rửa mạnh loại trừ được các cặn
trong các tank lên men và các tank chứa bia
- Oxonia Active (P3-Oxonia): Là chất vệ sinh khử trùng, có tác dụng diệt khuẩn đặc
biệt hiệu quả trong mọi điều kiện kể cả trong điều kiện nước lạnh, không tạo bọt,
không nhất thiết phải tráng rửa lại thiết bị Là chất khử trùng trên căn bản là acid
peracetide sử dụng cuối cùng trong các công đoạn vệ sinh thiết bị trong ngành chế
Trong quá trình lên men chính nấm men chuyển hóa đường thành rược ethanol và
CO2 Ngoài những sản phẩm chính được tạo thành, còn có một số chất khác cũng
đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành mùi vị của bia…
Diacetyl là chất lỏng không màu đến vàng nhạt, có mùi hôi cực mạnh và vị đắng gắt
rất khó chịu, tác động mạnh đến hệ thần kinh con người Chỉ số diacetyl cho tất cả
các loại bia bán ra thị trường được công ước bia châu Âu quy định “hàm lượng
diacetyl không được vượt quá 0,1 mg/L” Diacetyl làm cho bia có mùi vị không ngon
và kéo dài thời gian lên men (Hoàng Đình Hòa, 2002)
Công thức cấu tạo:
Hình 2.15: Cấu tạo Diacetyl
(Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/diacetyl)
Tên quốc tế: 2,3-Butanedione
Công thức phân tử: C4H6O2
Trang 33Khối lượng phân tử: 86,0892 g/mol
Khối lượng riêng: 0,990 ở 15oC
Nhiệt độ tan chảy: -2 đến -4oC
Nhiệt độ sôi: 88oC
Diacetyl là một vicinal diketones, có cấu tạo như Hình 2.15, được hình thành từ rất
sớm khi men bia được hấp thu oxy trong quá trình sinh sản Trong quá trình lên men,
giai đoạn lên men chính tạo ra nhiều diacetyl và hàm lượng này sẽ giảm dần trong
giai đoạn lên men phụ Quá trình giảm diacetyl phụ thuộc vào:
- Nhiệt độ lên men: Nhiệt độ lên men càng tăng thì tốc độ loại bỏ diacetyl càng
nhanh
- Thời gian lên men phụ: Thời gian càng dài thì khả năng loại bỏ diacetyl tăng
- Mật độ nấm men: Mật độ ban đầu càng cao thì tốc độ thải bỏ diacetyl càng tốt
Hình 2.16: Cơ chế hình thành diacetyl
(Nguồn: Hoàng Đình Hòa, 2005)
Trang 34CHƯƠNG 3 QUY TRÌNH SẢN XUẤT BIA
3.1 QUY TRÌNH SẢN XUẤT BIA
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất bia tại nhà máy
Công đoạn nấu nước nha
Làm lạnh nhanh Đun với Hops
Nước 50oC Nước 30oC
Nấm men, malturex
Công đoạn hoàn thiện sản phẩm
Nghiền
Tồn trữ
Nghiền
Nấu
Trang 353.2 THUYẾT MINH QUY TRÌNH
3.2.1 Nguyên liệu
Nguyên liệu chính (malt và gạo) được xe tải vận chuyển về công ty, sau khi nhân
viên kiểm tra nếu đạt yêu cầu của công ty sẽ cho nhập kho Nguyên liệu sẽ qua hệ
thống cân định lượng để nhập vào các silo chứa
Malt và gạo sẽ được nhập lên silo chứa nhờ hệ thống gàu tải gồm hai silo chứa malt
mỗi silo có dung tích tối đa là 250 tấn và ba silo chứa gạo mỗi silo có dung tích tối đa
là 40 tấn Nguyên liệu trong quá trình sản xuất có thể bị lẫn tạp chất như rễ còn sót
trong malt, rác, đất, đá, sạn,… Vì thế cần phải trải qua quá trình làm sạch nguyên liệu
trước khi đưa vào chế biến
3.2.2 Nghiền
* Mục đích: Nghiền nhỏ nguyên liệu nhằm mục đích khi đường hoá thu được nhiều
chất hoà tan nhất có lợi cho sản xuất dịch đường Tuy nhiên, yêu cầu của công đoạn
nghiền là thu được những chất hoà tan có lợi và hạn chế tối đa các hợp chất không
mong muốn hoà tan vào dịch đường làm giảm chất lượng dịch đường
* Quy trình nghiền malt và gạo:
Hình 3.2: Quy trình nghiền của nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây
Nguyên liệu được xuất ra từ đáy silo và được xích tải chuyển đến sàng tách tạp chất
Sàng tách tạp chất có vai trò loại bỏ các tạp chất lớn còn lẫn trong malt và gạo như
rơm rạ, dây… Sau đó, nguyên liệu được chuyển đến máy tách đá, máy áp dụng
nguyên tắc chênh lệch tỷ trọng để tách đá sỏi Trong máy tách đá còn có nam châm
để loại bỏ kim loại Sau khi sàng sạch tạp chất, nguyên liệu được đưa đến cân tự
động Nguyên liệu đã cân được đưa đến máy nghiền và tiến hành nghiền Bột được
trữ lại trong silo chứa bột
Sàng tách tạp chất Máy tách đá Cân định lượng Máy nghiền Silo chứa bột Malt và gạo từ silo
Trang 36* Phương pháp nghiền nguyên liệu: Nghiền nguyên liệu có rất nhiều phương pháp
được sử dụng như: Nghiền khô, nghiền ướt, nghiền ẩm, Nhà máy sử dụng phương
pháp nghiền búa đối với gạo và nghiền ướt đối với malt
Nghiền ướt
- Vỏ trấu được bảo toàn và phần nội nhũ được nghiền
- Thể tích của hạt bột và độ xốp của bã khi lọc dịch tăng, vì thế thời gian lọc
dịch đường rút ngắn và hiệu suất chiết đạt được cao
- Không khí xâm nhập vào dịch hèm, tạo cơ hội cho những phản ứng oxy hóa
không mong muốn xảy ra
- Chi phí thiết bị tốn kém
Nghiền búa
- Nghiền gạo thành bột mịn giúp năng suất đường hoá tăng, cặn tạo thành ít
- Năng suất nghiền lớn
- Dễ dàng khống chế kích thước hạt bột phù hợp
- Vệ sinh dễ dàng
- Bột được nghiền mịn làm tăng khả năng hoà tan của tanin và tạo β-glucan cản
trở quá trình lọc
- Nguyên liệu trước khi đưa vào nghiền phải đảm bảo sạch các tạp chất như đá,
sỏi, các mảnh kim loại…
- Mức độ nghiền nguyên liệu
- Độ mịn của bột nghiền có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất thu hồi và chất
lượng dịch đường Bột nghiền được nhà máy kiểm tra thường xuyên bằng cách
lấy khoảng 150 ÷ 200 g mẫu và dùng các rây phân loại tiêu chuẩn để đánh giá
mức độ nghiền
3.2.3 Quá trình hồ hóa
Hồ hóa là khả năng trương nở của tinh bột trong nước khi tăng nhiệt độ tạo thành
dung dịch keo Vì vậy, tạo cấu trúc lỏng lẻo để các enzyme amylase dễ dàng tác dụng
nhằm giúp cho quá trình đường hóa dễ dàng hơn
Nhiệt độ hồ hóa của tinh bột gạo: 61 ÷ 83oC
Bổ sung malt lót: Nhằm bổ sung hệ enzyme amylase trong malt để giúp quá trình
thủy phân tinh bột một phần, làm giảm độ nhớt của khối cháo
Trang 37Bảng 3.1: Khối lượng mẻ nấu và thành phần phụ gia bổ sung trong quá trình nấu
Nồi
nấu Nguyên liệu
Đơn
vị tính
Số lượng
Thời điểm cho vào nồi Chi chú Tank
nhỏ
Tank lớn
bột malt
pH = 5,5 ÷ 5,6 CaCl2 Kg 3,77 4,16
Nồi
chờ E.Termamyl SC mL 171 187 Khi bắt đầu rửa bã
Đang sử dụng 45g/L tấn malt
Acid lactic mL 1600 2000 pH = 5,3 ÷ 5,4
Caramel mL 1800 2500 Độ màu nước nha
đạt 9,0ºEBC ZnSO4 gr 9,5 10,4
(Nguồn: Tài liệu Công ty cổ phần Bia Sài Gòn – Miền Tây)
Malt lót lần một cũng ngăn ngừa hiện tượng cháy khét đáy nồi nhờ lớp vỏ malt
Xuống gạo: Gạo được hoà từ từ vào nước 30oC theo phương tiếp tuyến để ngăn ngừa
hiện tượng vón cục khi vào nồi gạo
Giai đoạn 72 o C lần 1: Nâng lên 72oC amylose hòa tan mạnh, hoạt động của enzyme
tăng lên (chủ yếu là hệ amylase) Làm cho tinh bột của tấm bị thủy phân một phần,
còn amylopectin thì hấp thụ nhiều nước tạo nên sự trương phồng của tinh bột
Giữ 72 o C, thời gian 15 ÷ 20 phút: Là nhiệt độ tối thích cho enzyme α-amylase hoạt
động Enzyme này thủy phân tinh bột thành các maltose, glucose, maltotriose và các
Trang 38dextrin phân tử thấp Giai đoạn này gọi là dịch hóa một phần tinh bột và làm giảm độ
nhớt của tinh bột dưới tác dụng của enzyme α-amylase
Giai đoạn 83 o C chỉ giữ trong 5 phút: Giai đoạn này enzyme α-amylase hầu như đã bị
vô hoạt Nhằm tăng khả năng hồ hóa tinh bột (dịch hóa) bởi tinh bột gạo hồ hóa ở
nhiệt độ 61 ÷ 83oC, giai đoạn này cũng làm tăng độ nhớt của khối cháo
Giai đoạn 72 o C lần 2 giữ 15 ÷ 20 phút: Enzyme α-amylase thủy phân tinh bột thành
các maltose, glucose, maltotriose và các dextrin phân tử thấp Đồng thời làm giảm độ
nhớt của khối cháo, tiếp tục dịch hóa tinh bột lần hai và giúp cho quá trình đun sôi dễ
dàng hơn
Giai đoạn 100 o C giữ trong 1 phút: Enzyme α-amylase đã bị vô hoạt hoàn toàn khi
tăng lên 80oC, làm nhừ khối cháo và hồ hóa hoàn toàn tinh bột
3.2.4 Quá trình đường hóa
Quá trình đường hoá là quá trình chuyển tinh bột thành đường làm nguồn thức ăn cho
nấm men để tạo ra rượu và CO2 Mục đích là tạo ra được càng nhiều chất chiết và
chất lượng dịch đường cao Phần lớn các chất chiết được tạo ra nhờ các phản ứng
thuỷ phân
3.2.4.1 Một số quá trình xảy ra ở nồi nấu malt
Giai đoạn 50 o C: Hoà trộn bột malt vào nước ở nhiệt độ 50oC Đây là giai đoạn đạm
hoá, protein cao phân tử sẽ được thuỷ phân thành các đoạn peptid ngắn và acid amin
Acid amin là nguồn thức ăn cung cấp đạm cho nấm men phát triển sinh khối, là một
cơ chất của phản ứng maillard hình thành màu cho dịch đường Tỉ lệ peptide, acid
amin, protein còn có vai trò quan trọng trong việc tạo và giữ bọt cho bia thành phẩm
Trong giai đoạn đạm hoá, nồi nấu malt được bổ sung CaCl2, cung cấp ion Ca2+ và ion
Cl- cho dịch cháo, giúp tăng khả năng bền nhiệt của hệ enzyme amylase
Giai đoạn 65 o C, giữ trong 35 phút: Dịch cháo từ nồi gạo được bơm qua nồi malt
Nhiệt độ của nồi malt sau khi hồi cháo là 65oC, nhiệt độ thích hợp cho β-amylase
hoạt động Sản phẩm của quá trình thuỷ phân tinh bột dưới tác dụng của β-amylase là
đường maltose Maltose được nấm men sử dụng trong quá trình lên men Đây là giai
đoạn quan trọng trong quá trình đường hoá cũng như toàn bộ quy trình sản xuất Nếu
giai đoạn này đường hoá không đạt hiệu quả, hàm lượng maltose thấp sẽ ảnh hưởng
đến độ lên men và vị của bia Khi nồi malt đạt 65oC được 10 phút thì đo pH để xác
định pH tối ưu cho quá trình đường hóa
Giai đoạn 75 o C, giữ trong 25 phút: Nồi malt được gia nhiệt đến 75oC Nhiệt độ 75oC
thích hợp cho α-amylase hoạt động Enzyme α-amylase tiếp tục thuỷ phân phần tinh
bột còn sót thành đường đơn, maltose, và các dextrin mạch ngắn Giai đoạn 75oC
giúp thuỷ phân hoàn toàn tinh bột thành các chất hoà tan trong dịch đường, không
Trang 39còn tinh bột vì tinh bột ảnh hưởng đến chất lượng bia thành phẩm Nồi nấu malt được
nâng lên 76oC nhằm bù mất nhiệt trong quá trình bơm dịch đường qua máy lọc
Trong quá trình lọc vẫn đảm bảo nhiệt độ thích hợp cho α-amylase tiếp tục hoạt
động, khi giữ nhiệt 75oC được 10 phút thì tiến hành đo tinh bột tránh tuyệt đối tinh
bột còn sót lại Malt và gạo được tiến hành đường hoá theo sơ đồ đường hoá như
Hình 3.3
Hình 3.3: Sơ đồ đường hoá nguyên liệu của nhà máy bia
(Tài liệu kỹ thuật của Công ty Bia Sài gòn – Miền Tây)
3.2.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đường hoá
Chất lượng malt: Nếu hàm lượng acid amin được tạo ra trong quá trình nảy mầm đủ
cho nấm men sử dụng, tạo màu cho bia thì không nên giữ giai đoạn 50oC quá lâu
Nếu giữ quá lâu thì lượng protein cao phân tử bị thuỷ phân quá nhiều làm cho bia có
vị nhạt nhẽo hay không có hậu vị và độ bền bọt kém
Nhiệt độ: Nhiệt độ là một trong những điều kiện quan trọng để hệ enzyme thuỷ phân
hoạt động tốt Nhiệt độ tối thích cho các hệ enzyme thuỷ phân hoạt động thì sẽ thu
được chất hoà tan cao
Giá trị pH: pH cũng có vai trò như nhiệt độ là một trong những điều kiện để enzyme
tăng hoạt tính thuỷ phân Ngoài ra pH còn có vai trò trong quá trình lọc, lên men…
Khuấy trộn: Trong quá trình đường hoá, khuấy trộn giữ một vai trò quan trọng Khi
gia nhiệt cần tăng tốc độ khuấy trộn đảm bảo nhiệt độ được đồng đều trong toàn bộ
khối cháo Trong quá trình đường hoá, nếu cánh khuấy quá mạnh sẽ tạo điều kiện cho
oxy xâm nhập vào và tạo lực kéo, đồng thời làm biến đổi cấu trúc các hợp chất có
trong dịch hèm Nếu sử dụng cánh khuấy quá ngắn sẽ gây phân tách khối dịch cháo