1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind

54 269 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạ cỏ không những là nơi chứa thức ăn mà còn là nơi xảy ra hàng loạt quá trình phân giải và các phản ứng sinh hóa xảy ra giúp cho việc tiêu hóa chất xơ như quá trình tổng hợp và hấp t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN TRUNG TRỰC

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG

CÁC NGUỒN ĐẠM KHÁC NHAU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, NITƠ TÍCH LŨY VÀ THÔNG SỐ DẠ

CỎ Ở BÒ LAI SIND

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: CHĂN NUÔI – THÚ Y

2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN TRUNG TRỰC

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG

CÁC NGUỒN ĐẠM KHÁC NHAU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, NITƠ TÍCH LŨY VÀ THÔNG SỐ DẠ

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN TRUNG TRỰC

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG

CÁC NGUỒN ĐẠM KHÁC NHAU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, NITƠ TÍCH LŨY VÀ THÔNG SỐ

DẠ CỎ Ở BÒ LAI SIND

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2014 Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2014

CÁC BỘ HƯỚNG DẪN DUYỆT CỦA BỘ MÔN

GS.TS Nguyễn Văn Thu

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 4

i

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi: Ban lãnh đạo Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng và các thầy cô trong bộ môn Chăn Nuôi

Tôi tên Nguyễn Trung Trực là sinh viên lớp Chăn Nuôi – Thú Y Khóa 37 niên khóa (2011-2015) Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

Cần thơ, ngày…tháng… năm2014

Trang 5

ii

LỜI CẢM TẠ

Trong thời gian theo học ở giảng đường Đại học tôi đã gặp không ít những khó khăn và thách thức nhưng tôi cũng vượt qua Đó là nhờ tình thương, sự giúp đỡ của ba mẹ, gia đình, thầy cô và bạn bè

Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô giáo Bộ môn Chăn nuôi và Bộ môn Thú y đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường

Kế đến tôi tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cha Mẹ Người đã nuôi nấng, dạy dỗ, chịu nhiều khó khăn gian khổ để tạo điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Thu và cô Nguyễn Thị Kim Đông đã dạy bảo, hướng dẫn tận tình, hết lòng quan tâm, nhắc nhở và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu để tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp này Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của thầy cố vấn học tập Hồ Quảng Đồ đã giúp đỡ cho tôi vượt qua những khó khăn trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ths Trương Thanh Trung, Ths Nguyễn Hữu Lai, Ths Huỳnh Hoàng Thi, K.S Phan Văn Thái, K.S Trần Thị Đẹp, các anh chị và các bạn làm việc trên phòng thí nghiệm E205, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi phân tích các chỉ tiêu và làm thí nghiệm

Cuối cùng tôi chân thành cảm ơn các bạn lớp Chăn Nuôi - Thú Y khóa 37

đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tại trường

Xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Trung Trực

Trang 6

iii

TÓM LƯỢC

Nghiên cứu này được thực hiện tại Trường Đại học Cần Thơ, khi bổ sung các nguồn đạm thích hợp trong khẩu phần để đánh giá khả năng khả năng sử dụng thức ăn, các thông số dịch dạ cỏ và sự tích lũy đạm của bò tăng trưởng Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hình vuông Latin với 4 nghiệm thức là cỏ lông tây không bổ sung (KBS), cỏ lông tây có bổ sung ammonium sulphate ((NH 4 ) 2 SO 4 ), cỏ lông tây có bổ sung bìm bìm (BB) và cỏ lông tây có

bổ sung thức ăn hỗn hợp (TAHH)

Kết quả cho thấy lượng DM tiêu thụ ở bò lần lượt là 4,20; 3,90; 4,16 và 4,43 kg/con/ngày của các nghiệm thức KBS, (NH 4 ) 2 SO 4 , BB và TAHH, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Lượng protein tiêu thụ của bò khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) giữa các nghiệm thức lần lượt là 0,260 kg; 0,329 kg; 0,306 kg và 0,316 kg của các nghiệm thức Kết quả về các chỉ tiêu dịch dạ cỏ và tích lũy đạm cũng không có sự khác biệt (P>0,05) giữa các khẩu phần

Kết luận, sự bổ sung các nguồn đạm trong thí nghiệm có xu hướng cải thiện protein tiêu hóa, nitơ tích lũy và tăng trọng của bò Lai Sind tăng trưởng.

Trang 7

iv

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC iii

DANH SÁCH BẢNG vii

DANH SÁCH HÌNH viii

Chương 1: Giới thiệu 1

Chương 2: Lược khảo tài liệu 2

2.1 Sơ lược về giống bò laisind 2

2.2 Đặc điểm tiêu hóa của gia súc nhai lại 2

2.2.1 Đặc điểm của cơ quan tiêu hóa 2

2.3 Hệ vi sinh vật dạ cỏ 5

2.3.1 Vi khuẩn (Bacteria) 5

2.3.2 Nấm (Fungi) 6

2.3.3 Nguyên sinh động vật (Protozoa) 6

2.4 Nhu cầu dinh dưỡng của vi sinh vật dạ cỏ 7

2.4.1 Các chất hữu cơ lên men 7

2.4.2 Nguồn nitơ (N) 7

2.4.3 Các chất khoáng và vitamin 8

2.5 Tác động tương hỗ của vi sinh vật dạ cỏ 8

2.6 Sự tiêu hóa thức ăn 8

2.6.1 Tiêu hóa xơ 8

2.6.2 Tiêu hóa tinh bột và đường 9

2.6.3 Tiêu hóa protein 10

2.6.4 Tiêu hóa chất béo: 11

2.7 Sự hấp thu 12

2.7.1 Hấp thu các axit béo bay hơi 12

2.7.2 Hấp thu urê 12

2.7.3 Hấp thu ion và vitamin 12

2.7.4 Sự hấp thu Glucose 13

2.7.5 Hấp thu và chuyển ngược axit amin từ máu vào dạ cỏ 13

Trang 8

v

2.7.6 Hấp thu ammoniac 13

2.8 Sơ lược về tỷ lệ tiêu hóa trên gia súc nhai lại 13

2.8.1 Hệ số tiêu hóa biểu kiến 13

2.8.2 Hệ số tiêu hóa thật 14

2.8.3 Đánh giá tỷ lệ tiêu hóa bằng phương pháp invivo 14

2.9 Sơ lược về thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 15

2.9.1 Cỏ lông tây (Bracharia multica) 15

2.9.2 Ammonium sulphate 15

2.9.3 Bìm bìm 15

2.9.4 Thức ăn hỗn hợp (TAHH) 16

Chương 3: Phương tiện và phương pháp thí nghiệm 17

3.1 Phương tiện thí nghiệm 17

3.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 17

3.1.2 Vật liệu thí nghiệm 17

3.2 Phương pháp thí nghiệm 18

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 18

3.2.2 Tiến hành thí nghiệm 19

Chương 4: Kết quả thảo luận 21

4.1 Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 21

4.2 Lượng thức ăn, dưỡng chất và năng lượng trao đổi của bò 22

4.3 pH, N-NH3 và axit béo bay hơi (ABBH) dịch dạ cỏ ở các thời điểm 0 giờ và 3 giờ24 4.4 Tỉ lệ tiêu hóa các dưỡng chất (%), cân bằng nitơ và tăng trọng của bò 25

Chương 5: Kết luận và đề nghị 28

5.1 Kết luận 28

5.2 Đề nghị 28

Tài liệu tham khảo 29

Phục lục 32

Trang 9

vi

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1: Thành phần hóa học của cỏ lông tây 15 Bảng 2.2: Thành phần hóa học (%DM) của các thực liệu 16 Bảng 2.3: Thức ăn hỗn hợp được phối trộn với công thức 40% cám, 40% bánh dầu dừa, 18% đậu nành ly trích và 2% muối 16 Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 19 Bảng 4.1: Thành phần dưỡng chất (%DM) các loại thức ăn dùng trong thí nghiệm 21 Bảng 4.2: Lượng thức ăn, dưỡng chất và năng lượng tiêu thụ 22 Bảng 4.3: Các thông số dịch dạ cỏ của bò trong thí nghiệm 24 Bảng 4.4: Tỉ lệ tiêu hóa (%), lượng dưỡng chất tiêu hóa, cân bằng nitơ và tăng trọng của bò trong thí nghiệm 25

Trang 10

vii

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Cấu tạo dạ dày của gia súc nhai lại 2

Hình 2.2: Sơ đồ trao đổi prôtêin của khẩu phần của gia súc nhai lại 11

Hình 3.1: Bò được nuôi thí nghiệm 17

Hình 3.2: Cỏ lông tây và bìm bìm trong thí nghiệm 17

Hình 3.3: các loại thức ăn bổ sung sử dụng trong thí nghiệm 18

Hình 3.4: Lấy dịch dạ cỏ của bò thí nghiệm 20

Hình 4.1: Hàm lượng DM tiêu thụ trong thí nghiệm 22

Hình 4.2: Năng lượng trao đổi ME 23

Hình 4.3: Lượng nitơ tiêu thụ và nitơ tích lũy 26

Trang 12

1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Hiện nay, tình hình dân số thế giới đang ngày một tăng làm cho nhu cầu

về lương thực, thực phẩm tăng Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (2014), nhu cầu tiêu thụ thịt bò ở Việt Nam khoảng 408 nghìn tấn (tăng gấp 2 lần so với năm 2013) Chăn nuôi bò trên cả nước nói chung và ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đang được Đảng và Nhà nước quan tâm phát triển Gần đây, bò Lai Sind được nuôi lấy thịt theo phương thức nuôi nhốt kết hợp với trồng cỏ

và bổ sung thức ăn tại chuồng, đang có xu hướng phát triển mạnh và góp phần

quan trọng trong thu nhập nông hộ (Nguyen Xuan Ba et al., 2007)

Một vấn đề khó khăn chính trong chăn nuôi gia súc nhai lại ở các nước đang phát triển là sự hạn chế về chất lượng của thức ăn Thức ăn chính cho gia súc nhai lại là các phụ phẩm nông nghiệp như rơm, thân bắp, ngọn mía… hoặc các loại cỏ mọc tự nhiên, chúng có giá trị dinh dưỡng thấp chứa nhiều xơ khó tiêu hoá (31–33 %), nghèo protein (2,2–3%), nghèo vitamin và muối khoáng (Võ Minh Gởi, 2005) Cung cấp đầy đủ thức ăn có chất lượng cao cho gia súc nhai lại để nuôi và duy trì được khả năng tăng trưởng của chúng trở nên một vấn đề thách thức lớn cho các nhà khoa học và các nhà chăn nuôi (Danh Mô và Nguyễn Văn Thu, 2008) Nếu được bổ sung thêm các loại thức ăn chất lượng cao như lá họ đậu, bột đậu nành, bột cá… hoặc urea có thể cải thiện được khả năng sử dụng các loại thức ăn thô kém chất lượng này (Nguyễn Văn Thu, 2000)

Theo xu hướng hiện nay, việc sử dụng các nguồn đạm như bìm bìm, thức

ăn hỗn hợp và Ammonium sulphate vào khẩu phần ăn cho gia súc nhai lại để nâng cao nguồn đạm và dưỡng chất cần thiết đã và đang thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Hơn nữa nghiên cứu gần đây bổ sung thức ăn giàu protein vào khẩu phần thức ăn của gia súc nhai lại cũng là giảm lượng khí mêtan

(Gworgwor et al., 2006) Xuất phát từ những vấn đề trên nghiên cứu “Ảnh

hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dịch dạ cỏ ở bò Lai Sind” được tiến hành nhằm xác định các

nguồn đạm bổ sung thích hợp lên khả năng sử dụng thức ăn, các thông số dịch

dạ cỏ và tích lũy đạm của bò Lai Sind Từ đó khuyến cáo các kết quả nghiên cứu đạt được vào trong thực tế sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi

Trang 13

2

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về giống bò laisind

Bò lai Sind thuộc nhóm bò Zebu, là kết quả lai giữa bò Sind với bò vàng Việt Nam được dùng để cày kéo, lấy thịt và sữa Tỉ lệ máu của bò Lai Sind thay đổi giữa các cá thể khác nhau, do đó ngoại hình và sức sản xuất thay đổi tương ứng

Ngoại hình mang đặc điểm trung gian giữa hai giống bò Sind và bò vàng Việt Nam, bò có đầu hẹp, trán giồ, tai to cụp xuống, bầu vú khá phát triển, lông màu vàng, vàng đậm hoặc vàng cánh dán, một số con có vá trắng (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004)

Khối lượng sơ sinh của bò Lai Sind 17 – 19 kg, khối lượng bò cái trưởng thành 270 – 280 kg, bò đực 400 – 450 kg Sản lượng sữa 1200 – 1400 kg/chu kỳ 240 – 270 ngày, tỷ lệ mỡ sữa 5 – 5,5 % Tỷ lệ thịt xẻ 48 – 49 % So với bò vàng Việt Nam, bò lai Sind có khối lượng tăng 30 – 35 % sản lượng sữa tăng gấp 2 lần, tỷ lệ thịt xẻ tăng 5% Bò Lai Sind chịu đựng kham khổ tốt, khả năng chống bệnh tật cao, thích nghi tốt được với khí hậu nóng ẩm

2.2 Đặc điểm tiêu hóa của gia súc nhai lại

2.2.1 Đặc điểm của cơ quan tiêu hóa

Nguồn: http://bioserv.fiu.edu Hình 2.1: Cấu tạo dạ dày của gia súc nhai lại Gia súc nhai lại là loài động vật rất giỏi trong việc lấy và nghiền thức ăn nhờ sự phối hợp của miệng lưỡi và răng Thức ăn được thấm ướt và nhào trộn để giúp cho quá trình tiêu hóa dễ dàng bởi nước tiết ra từ các tuyến nước bọt phát triển ở miệng Lưỡi của bò là cơ quan chủ yếu để lấy thức ăn linh hoạt và mạnh, mặt trên lưỡi nhám có thể thè ra ngoài cuộn cỏ đưa vào miệng Bò

Trang 14

3

không có răng hàm trên Thức ăn được nhai nhỏ là nhờ răng hàm dưới và lợi hàm trên Hầu là một ống ngắn thông với hốc mũi, miệng, thanh quản và thực quản, nhiệm vụ của hầu là dẫn thức ăn vào thực quản và đưa không khí vào khí quản Thực quản bao gồm phần cổ, phần ngực và phần bụng, nhiệm vụ chuyển thức ăn xuống dạ dày và lên miệng chia thành hai túi không đều nhau, túi trên dài túi dưới ngắn Gia súc nhai lại thuộc dạ dày kép làm thành một khối rất lớn chiếm nửa trái xoang bụng Dung tích dạ dày thay đổi theo tuổi con vật Dung tích dạ dày khoảng 120-140 lít, ở bò lớn có thể lên đến 200 lít

Bộ máy tiêu hóa của bò đặc biệt ở chỗ dạ dày gồm bốn túi là dạ cỏ, dạ tổ ong,

dạ lá sách và dạ múi khế Mỗi túi của nó có một đặc điểm cấu tạo và một nhiệm vụ khác nhau Trong điều kiện yên tĩnh gia súc sẽ bắt đầu nhai lại (sau khi ăn) nhanh hơn Cường độ nhai lại mạnh nhất vào buổi sáng và buổi chiều Hiện tượng nhai lại bắt đầu xuất hiện khi bê được cho ăn thức ăn thô (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2004)

2.2.1.1 Dạ cỏ

Là túi lớn nhất kéo dài từ sau cơ hoành đến xoang chậu, áp sát vùng hõm hông trái, dạ cỏ chiếm khoảng 85-90% toàn bộ dung tích dạ dày, tiêu hóa ở đây có ý nghĩa rất lớn Tiêu hóa 50-60% vật chất khô, 30-50% cellulose và hemicellulose được tiêu hóa nhờ vi sinh vật ở dạ cỏ trong quá trình không có

sự tham gia của men celluloza và hemicelluloza tiết ra từ gia súc, đây là điểm nổi bậc của gia súc đa vị (gia súc nhai lại) so với gia súc độc vị (Mc Donale et al.,1995) Độ pH=6,5-7,4 là một môi trường trung tính thuận lợi cho vi sinh vật phát triển Độ pH giảm hay tăng đều ảnh hưởng đến sự phát triển của vi sinh vật Môi trường dạ cỏ phụ thuộc vào: loại và khối lượng thức ăn ăn vào,

sự nhào trộn theo chu kỳ thông qua sự co bóp của dạ cỏ, sự tiết nước bọt và nhai lại, sự hấp thu các dưỡng chất từ dạ cỏ Chất chứa trong dạ cỏ trung bình

có khoảng 850-930g nước/kg, và tồn tại ở hai tầng: tầng lỏng ở phía dưới chứa nhiều tiểu phần thức ăn mịn, tầng phía trên khô hơn chứa nhiều thức ăn kích thước lớn

2.2.1.2 Dạ tổ ong

Là một túi nhỏ nhất phía sau cơ hoành và nằm đề lên sụn mõm kiếm xương ức Niêm mạc mặt trong có nhiều ô nhỏ giống như tổ ong, là nơi chứa thức ăn lỏng Rãnh thực quản dẫn thức ăn lỏng đã nhai lại qua dạ lá sách, còn các ngoại vật sẽ rơi vào dạ tổ ong Dạ tổ ong nối với dạ cỏ bằng một van lớn

và thức ăn di chuyển giữa hai dạ này khá dễ dàng Dạ tổ ong giúp đẩy các thức

ăn viên lên miệng cho bò nhai lại và thức ăn lên men giống như ở dạ cỏ Bò trưởng thành rãnh này ít có chức năng so với bò còn bú sữa mẹ

Trang 15

4

2.2.1.3 Dạ lá sách

Là túi hình bầu dục nằm bên phải mặt phẳng giữa, đối diện với xương sườn thứ 7 đến 11, nằm phía trên dạ cỏ và dạ múi khế Mặt trong dạ lá sách gồm nhiều phiến lá mỏng cong, xếp chồng lên nhau Dạ này có chức năng nghiền nát thức ăn và ép thức ăn đã nhai lại biến thành các miếng thức ăn mỏng và chắc Giữa dạ lá sách và dạ tổ ong có một van để giữa thức ăn lại trong dạ cỏ cho tới khi đường kính của thức ăn giảm xuống còn 1-2mm Dạ lá sách hấp thu đường, hấp thu chất khí, hấp thu 10-90% axit béo bay hơi, hấp thu muối (Butyrat, acetat, propionat), hấp thu NH3

2.2.1.4 Dạ múi khế

Sự tiêu hóa ở đây giống như ở dạ dày đơn, dạ múi khế bắt đầu từ dạ lá sách bằng một lỗ thông rồi phình to ra và nằm ngược chiều với dạ lá sách, cuối cùng thon lại rồi thông với ruột non bằng một lỗ hẹp gọi là hạ vị Phần còn lại của thức ăn mà vi sinh vật dạ cỏ chưa lên men nhưng có khả năng tiêu hóa sẽ được tiêu hóa bằng enzyme (Preston and Leng,1991) Dạ múi khế có nhiều nếp gấp ở mặt trong để tăng thêm diện tích hấp thu

Kết tràng: dài khoảng 8m, đường kính khoảng 5cm cuốn lại thành cuộn tròn nằm bên phải xoang bụng, kéo dài lên phía trên dưới các đốt sống hông Trực tràng: là đoạn cuối ruột già, mặt trên tiếp giáp xương khum, mặt dưới là bóng đái Hậu môn có cơ vòng hậu môn và co rút do thần kinh trung ương điều khiển

Trang 16

5

2.3 Hệ vi sinh vật dạ cỏ

Do điều kiện thuận lợi nên vi sinh vật dạ cỏ phát triển mạnh về số lượng,

đa dạng, vi sinh vật dạ cỏ có tới 200 loài (Theodorou và France, 1996) Vi sinh vật dạ cỏ gồm vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật, mycoplasma, các loại virus và thể thực khuẩn Nhưng vi khuẩn, nguyên sinh động vật, nấm mới đóng vai trò trong việc tiêu hóa chất xơ Vi sinh vật dạ cỏ biến đổi theo thời gian và phụ thuộc vào khẩu phần thức ăn của gia súc nhai lại Dạ cỏ không những là nơi chứa thức ăn mà còn là nơi xảy ra hàng loạt quá trình phân giải

và các phản ứng sinh hóa xảy ra giúp cho việc tiêu hóa chất xơ như quá trình tổng hợp và hấp thụ các chất dinh dưỡng, quá trình lên men, phân giải các chất hữu cơ, mặc dù dạ cỏ không có tuyến tiêu hóa Nhờ sự hoạt động của nhiều loại vi sinh vật trong dạ cỏ mà thức ăn được phân giải và tổng hợp thành các dưỡng chất cần thiết cho gia súc sử dụng Khi nhiệt độ dạ cỏ trong khoảng từ 38-420C, pH trong khoảng 6,8-7,2 các vi sinh vật trong dạ cỏ phát triển mạnh nhất về số lượng và đa dạng về thành phần

2.3.1 Vi khuẩn (Bacteria)

Trong dạ cỏ vi khuẩn chiếm số lượng 109-1011 tế bào/gram chất chứa dạ cỏ Vi khuẩn tự do chiếm khoảng 30%, vi khuẩn bám vào mẫu thức ăn chiếm khoảng 70%, vi khuẩn trú ngụ ở các nếp gấp biểu mô, vi khuẩn bám vào protozoa, vi khuẩn ở dưới dạng tụ do trong dung dịch dạ cỏ phụ thuộc vào các chất hòa tan, đồng thời cũng có một số lượng vi khuẩn di chuyển từ mẫu thức

ăn này sang mẫu thức ăn khác Thức ăn được chuyển khỏi dạ cỏ liên tục nên phần lớn vi khuẩn bám vào thức ăn sẽ được tiêu hóa đi Do đó, số lượng vi khuẩn tự do trong dịch dạ cỏ để xác định tốc độ công phá và lên men thức ăn Để phân loại vi khuẩn dạ cỏ người ta tiến hành dựa vào cơ chất mà vi khuẩn

sử dụng hay sản phẩm lên men cuối cùng của chúng

Vi khuẩn phân giải protenin: vi khuẩn peptostreptococus và Clostridium

có khả năng phân giải protein và amoniac lớn nhất Sự phân giải protein và axít amin để sản sinh ra amoniac trong dạ cỏ có ý nghĩa trong việc tiết kiệm nitơ và nguy cơ dư thừa moniac cần để cho các loài vi khuẩn dạ cỏ để tổng hợp nên sinh khối protein của bản thân chúng (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

Vi khuẩn phân giải xơ: chiếm một tỉ lệ nhỏ (<10%) trong tổng số các loài

vi khuẩn Là một loại vi khuẩn quan trọng nhất trong dạ cỏ của gia súc nhai lại Chúng tiết ra men phân giải chất xơ: cellose, hemicellulose, pectin

Trang 17

6

Vi khuẩn phân giải carbohydrat không phải xơ (NFC): số lượng của chúng tăng lên khi gia súc ăn những khuẩn phần giàu carbohydrat dễ lên men (tinh bột, đường, glucose, lactose, galactose,…) có trong các loại thức ăn hạt,

củ, cỏ xanh tươi, mật đường,…

Vi khuẩn lên men lactic: Có tác dụng lên men đường, chúng phát triển nhanh trong dạ cỏ có chứa ít streptococuse, vi khuẩn lên men lactic chiếm ưu thế khi khẩu phần ăn giàu cỏ khô hoặc thức ăn tinh Chúng còn có khả năng tổng hợp các axit béo bay hơi và các vitamin trong quá trình tiêu hóa cung cấp cho cơ thể vật chủ

Vi khuẩn tạo metan: vi khuẩn này rất khó nuôi cấy trong ống nghiệm nên những thông tin về chúng còn hạn chế Các loại vi khuẩn của nhóm này là Methano baccterium, Methano ruminantium, Methano forminium

Vi khuẩn tổng hợp vitamin: nhiều loại vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp các vitamin nhóm B và K

2.3.2 Nấm (Fungi)

Nấm là sinh vật đầu tiên xâm nhập và tiêu hoá thành phần cấu trúc thực vật bắt đầu từ bên trong làm giảm độ bền chặt của cấu trúc này và làm tăng sự phá vỡ các mãnh trong quá trình nhai lại Sự phá vỡ này tạo điều kiện cho vi khuẩn và men của chúng bám vào cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải cellulose Trong tất cả các loại nấm hiện diện trong dạ cỏ người ta có thể phân lập ra thành 5 loài bao gồm: Neocallimastix, Piromyces, Caecomyces, Ocpinomyces và Anaercomyces (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

2.3.3 Nguyên sinh động vật (Protozoa)

Protozoa có số lượng ít hơn vi khuẩn, trong 1ml dịch dạ cỏ chứa 105 –

106 protozoa, gồm 2 nhóm chính là Entodincomorphs và Holotrich, có vai trò chủ yếu trong tiêu hóa các chất bột đường, ngoài ra còn có một số loại protozoa tiêu hoá được cả cellulose Nhóm Entodincomorphs phát triển mạnh khi gia súc ăn nhiều xơ cùng với tinh bột còn nhóm Holotrich phát triển mạnh khẩu phần có nhiều xơ và bổ sung bằng rỉ mật hoặc cỏ non Protozoa phân hủy tinh bột và đường rồi dự trữ trong cơ thể dưới dạng poli-dextrain, do đó protozoa có khả năng đệm cho pH của dạ cỏ Nhiều nghiên cứu cho thấy protozoa không thể xây dựng protein cho bản thân từ các axít amin được Khi mật độ protozoa trong dạ cỏ tăng cao thì một lượng lớn vi khuẩn bị protozoa thực bào Mỗi protozoa có thể thực bào 600 – 700 vi khuẩn trong một giờ ở mật độ vi khuẩn là 109/ml dạ cỏ Do có hiện tượng này mà protozoa đã làm giảm hiệu quả sử dụng protein nói chung (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

Trang 18

7

2.4 Nhu cầu dinh dưỡng của vi sinh vật dạ cỏ

Quá trình tăng sinh và hoạt động của vi sinh vật dạ cỏ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó dinh dưỡng là yếu tố nhạy cảm nhất Nuôi gia súc nhai lại trước hết là nuôi vi sinh vật dạ cỏ và do đó điều quan tâm trước tiên là cung cấp đầy đủ dinh dưỡng theo nhu cầu của chúng Cũng như mọi cơ thể sống khác vi sinh vật dạ cỏ cần năng lượng, nitơ, khoáng và vitamin (Vu Duy

Giang et al., 2008)

2.4.1 Các chất hữu cơ lên men

Vi sinh vật dạ cỏ cần năng lượng cho duy trì và sinh trưởng Sự phát triển của vi sinh vật dạ cỏ tùy thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng sẵn có như ATP cho các phản ứng sinh hóa Trong dạ cỏ nguồn năng lượng ở dạng ATP chủ yếu là sản phẩm của quá trình lên men các loại carbohydrate Ngoài năng lượng, quá trình tăng sinh khối vi sinh vật dạ cỏ còn cần có các nguyên liệu ban đầu cho các phản ứng sinh hóa để tổng hợp nên các đại phân tử, trong đó quan trọng nhất là protein, axit nucleic, polysaccharide và lipid Các nguyên liệu để tổng hợp này, chủ yếu là khung carbon cho các axit amin, cũng phải lấy từ quá trình lên men các chất hữu cơ trong dạ cỏ Do vậy, trong khẩu phần cho bò phải có đủ các chất hữu cơ dễ lên men thì vi sinh vật dạ cỏ mới tăng sinh và hoạt động tốt

2.4.2 Nguồn nitơ (N)

Vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp tất cả các axít amin từ sản phẩm cuối cùng và sản phẩm trao đổi trung gian của quá trình phân giải carbohydrate và các hợp chất chứa nitơ Ngoài khung carbon và năng lượng (ATP) có được từ lên men carbohydrate, bắt buộc phải có nguồn nitơ thì vi sinh vật mới tổng hợp được các axit amin Nhiều tài liệu cho rằng 80 – 82 % các loại vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp protein từ amoniac Do nguồn nitơ chính cho quá trình sinh tổng hợp protein vi sinh vật trong dạ cỏ là amoniac nên việc đảm bảo nồng độ amoniac thích hợp trong dạ cỏ để cung cấp nguồn nitơ cho sinh trưởng của vi sinh vật được xem là ưu tiên số một nhằm tối ưu hóa quá trình lên men thức ăn Preston và Leng (1991), cho rằng nồng

độ NH3 thích hợp trong dạ cỏ là 50 – 250 mg/lít dịch dạ cỏ Nồng độ NH3 tối thiểu cần có trong dịch dạ cỏ tỷ lệ thuận với lượng chất hữu cơ ăn vào có khả năng lên men bởi vi sinh vật Mặc dù amoniac có thể là nguồn nitơ duy nhất cho sinh tổng hợp protein và các hợp chất chứa nitơ khác của nhiều loại vi khuẩn dạ cỏ, các loài vi khuẩn phân giải cellulose vẫn đòi hỏi có một số số

Trang 19

8

axit amin mạch nhánh hay các keto axít mạch nhánh làm khung cho việc tổng hợp chúng Các keto axít mạch nhánh này thường lại phải lấy từ chính sự phân giải các axít amin mạch nhánh của thức ăn Chính vì vậy, bổ sung NPN (để cung cấp amoniac) cùng với một nguồn protein phân giải chậm (để cung cấp đều đặn axit amin mạch nhánh) sẽ có tác dụng kích thích vi sinh vật phân giải

xơ (Vu Duy Giang et al., 2008)

2.4.3 Các chất khoáng và vitamin

Các loại khoáng, đặc biệt là phospho và lưu huỳnh, cũng như một số loại vitamin (A, D, E) rất cần cho vi sinh vật dạ cỏ và cần được bổ sung thường xuyên vì chúng thường thiếu trong thức ăn thô Phospho cần thiết cho cấu trúc axit nucleic và màng tế bào của vi sinh vật, cũng như cần cho các hoạt động trao đổi chất và năng lượng của chúng Lưu huỳnh là thành phần cần thiết khi tổng hợp một số axit amin

2.5 Tác động tương hỗ của vi sinh vật dạ cỏ

Vi sinh vật dạ cỏ, cả trong thức ăn và trong biểu mô dạ cỏ kết hợp với nhau trong quá trình tiêu hóa thức ăn, chúng cùng nhau tiêu hóa các loại thức

ăn mà không hoạt động riêng lẻ, một mình, loài này phát triển trên sản phẩm của loài kia Trong điều kiện bình thường giữa vi khuẩn và protozoa cũng có

sự cộng sinh, đặc biệt là trong tiêu hóa xơ Tiêu hóa xơ mạnh nhất khi có mặt

cả vi khuẩn và protozoa Protozoa nuốt và tích trữ tinh bột, hạn chế tốc độ sinh axít lactic, hạn chế giảm pH đột ngột nên có lợi cho vi khuẩn phân giải xơ Tuy nhiên giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh sinh tồn với nhau Khi gia súc ăn khẩu phần giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải cellulose giảm làm cho tỷ lệ tiêu hóa xơ thấp Mặt khác, khi protozoa ăn và tiêu hóa vi khuẩn sẽ làm giảm tốc độ và hiệu quả chuyển hóa protein trong dạ cỏ Loại bỏ protozoa sẽ làm tăng số lượng vi khuẩn trong dạ cỏ (Preston and Leng, 1987)

2.6 Sự tiêu hóa thức ăn

2.6.1 Tiêu hóa xơ

Cellulose và hemicellulose là thành phần chính của tế bào thực vật, chúng liên kết với lignin tạo thành polyme bền vững về lý học và hoá học Một đơn vị cellulose gồm hai phân tử glucose, cellulose nguyên chất là một chuỗi các cenlobiose lặp đi lặp lại bởi các liên kết -1,4 Như vậy cellulose nguyên chất gồm các đường đơn glucose Khoảng 80% cellulose và hemicellulose được phá vỡ bởi protozoa Protozoa phá vỡ màng cellulose ngoài việc tạo điều kiện cho vi khuẩn lên men cellulose còn tạo điều kiện để lộ

Trang 20

9

ra các thành phần dưỡng chất bên trong tế bào thực vật như tinh bột, đường, protein Một phần cellulose được protozoa ăn để tạo năng lượng sống cho bản thân chúng Protozoa cũng có thể tiêu hoá được một phần cellulose Chủ yếu cellulose và hemicellulose được len men bởi vi khuẩn để tạo ra các axít béo bay hơi cung cấp cho vật chủ Tiêu hoá xơ mạnh nhất khi có mặt cả vi khuẩn

và protozoa Một số vi khuẩn được protozoa nuốt vào có tác dụng lên men trong đó tốt với các điều kiện ổn định cho vi khuẩn hoạt động Một số loài ciliate còn hấp thu oxy từ dịch dạ cỏ giúp đảm bảo cho điều kiện yếm khí trong dạ cỏ được tốt hơn Protozoa nuốt và tích trữ tinh bột, hạn chế tốc độ sinh axit lactic, hạn chế giảm pH đột ngột, nên có lợi cho vi khuẩn phân giải

xơ Tuy nhiên giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh điều kiện sinh tồn của nhau Chẳng hạn, khi gia súc ăn khẩu phần ăn giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải xenluloza sẽ giảm và do

đó mà tỷ lệ tiêu hoá xơ thấp Đó là vì sự có mặt của một lượng đáng kể tinh bột trong khẩu phần kích thích vi khuẩn phân giải bột đường phát triển nhanh nên sử dụng cạn kiệt những yếu tố dinh dưỡng quan trọng (như các loại khoáng, amoniac, axit amin, isoaxit) là những yếu tố cũng cần thiết cho vi khuẩn phân giải xơ vốn phát triển chậm hơn Mặt khác, tương tác tiêu cực giữa vi khuẩn phân giải bột đường và vi khuẩn phân giải xơ còn liên quan đến

pH trong dạ cỏ Chenost và Kayouli (1997) giải thích rằng quá trình phân giải chất xơ của khẩu phần diễn ra trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH dịch dạ cỏ >6,2 ngược lại quá trình phân giải tinh bột trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH <6,0 Tỷ lệ thức ăn tinh quá cao trong khẩu phần sẽ làm cho axit béo bay hơi sản sinh ra nhanh, làm giảm pH dịch dạ cỏ và do đó mà ức chế hoạt động của vi khuẩn phân giải xơ Tác động tiêu cực cũng có thể thấy rõ giữa protozoa và vi khuẩn Như đã trình bày ở trên, protozoa ăn và tiêu hoá vi khuẩn, do đó làm giảm tốc độ và hiệu quả chuyển hoá protein trong dạ cỏ Với những loại thức ăn dễ tiêu hoá thì điều này không có ý nghĩa lớn, song đối với thức ăn nghèo nitơ thì protozoa sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn nói chung Loại bỏ protozoa khỏi dạ cỏ làm tăng số lượng vi khuẩn trong dạ cỏ Khẩu phần giàu các chất dinh dưỡng không gây sự cạnh tranh giữa các nhóm VSV, mặt cộng sinh có lợi có xu thế biểu hiện rõ Nhưng khẩu phần nghèo dinh dưỡng sẽ gây ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhóm VSV, ức chế lẫn nhau tạo khuynh hướng bất lợi cho quá trình lên men thức ăn nói chung

2.6.2 Tiêu hóa tinh bột và đường

Vi khuẩn và protozoa phân giải tinh bột thành polysaccharide, glycogen, aploectin, các sản phẩm này được lên men tạo thành axít béo bay hơi Đường (disaccharide, monosaccharide,…) một phần sẵn có ở thức ăn, một phần được

Trang 21

10

tạo thành từ sự lên men phân giải cellulose và hemicellulose…Các sản phẩm đường cũng được lên men tạo thành axít béo bay hơi và một ít axít lactic Nếu lượng axít lactic nhiều sẽ làm giảm pH dạ cỏ, ức chế hoạt động của vi sinh vật, gây nhiễm độc axít lactic Sản phẩm cuối cùng do vi sinh vật lên men cellulose, hemicellulose, tinh bột và đường là axít béo bay hơi và một ít béo có mạch carbon dài như axít valeric, axít caproic,…và các khí thể (CO2, H2, N2,

O2,…) Cường độ hình thành axít béo bay hơi mạnh (có thể đạt 4 lít/ngày) Các axít béo bay hơi được hấp thu, một phần đến gan oxy hóa tạo thành năng lượng cho cơ thể, một phần đến các mô bào (nhất là mô tuyến sữa)

2.6.3 Tiêu hóa protein

Protein được phân giải thành peptiol và axít amin bởi men proteaza và men peptidaza của vi khuẩn Phần lớn các axít amin tiếp tục bị vi khuẩn lên men để biến thành NH3, axít béo bay hơi Sau đó vi sinh vật dạ cỏ tổng hợp protein và axít amin cho cơ thể chúng từ NH3 Sự tiêu hoá protein ở dạ cỏ đã tạo ra một lượng lớn NH3 cho môi trường lên men của vi sinh vật Satter and Roffler (1977) đã đưa ra sơ đồ trao đổi protein ở động vật nhai lại Ngoài ra các hợp chất phi protein trong thức ăn như các axít amin, amid, nitrat cũng cung cấp một nguồn đáng kểNH3 Hàm lượng NH3 trong dạ cỏ rất quan trọng, chúng quyết định đến quá trình lên men phân huỷ xơ và các hợp chất carbonhydrate khác Một phần protein và axít amin tuy hoà tan trong dạ cỏ nhưng không bị phân huỷ ở dạ cỏ mà được đi xuống dạ múi khế và ruột non Phần protein này được gọi là protein “thoát qua” (bypass protein) Nhiều tài liệu cho thấy gia súc nhai lại có thể sử dụng 25-30% nitơ trong khẩu phần, từ nguồn đạm phi prôtêin mà gia súc nhai lại vẫn phát triển tốt (Bùi Đức Lũng và ctv, 1995)

Trang 22

11

Hình 2.2: Sơ đồ trao đổi protein của khẩu phần của gia súc nhai lại

(Bùi Đức Lũng và ctv, 1995)

2.6.4 Tiêu hóa chất béo

Lipid của thực vật rất dễ bị thuỷ phân trong dạ cỏ bởi ennzym lipase của

vi khuẩn tạo thành axít béo và tiếp tục lên men tạo thành axít béo bay hơi Phần lớn axít béo cao phân tử là các axít béo không no và dễ tách ra như: axít

1000g Protein thô của khẩu phần

Trang 23

12

oleic, axít linoleic, chúng được hấp thu trong dạ cỏ và được vi sinh vật hydro hoá, khi đó một lượng lớn axít sẽ bị biến đổi thành axít bão hoà (chủ yếu là axít stearic và axít palmitic) chỉ được hấp thu ở ruột non

2.7 Sự hấp thu

2.7.1 Hấp thu các axit béo bay hơi

Các axít béo bay hơi chủ yếu được sản xuất trong dạ cỏ là axít acetic (yếu tố tạo mỡ sữa), axít propionic (yếu tố tạo casein trong sữa), axít butyric (yếu tố tạo đường lactose) Các axít béo bay hơi chủ yếu được hấp thu bằng cách khuếch tán qua thành dạ cỏ Khoảng 25% được hấp thu ở phần sau dạ cỏ

và lượng này rời khỏi dạ cỏ cùng với thức ăn Qua biểu mô thành vách dạ cỏ chúng được hấp thu vào máu đến gan, một phần được giữ ở gan để oxy hóa cung cấp năng lượng cho bò hoạt động, phần khác được chuyển đến mô bào, nhất là mô mỡ và tuyến sữa để góp phần tạo thành các dưỡng chất trong sữa

và mỡ dự trữ cho cơ thể Ngoài ra trong dạ cỏ còn có thể tạo ra một số loại axít béo bay hơi khác ở dạng tự do trong dạ cỏ và chúng cũng được hấp thu với cơ chế khuếch tán qua thành vách dạ cỏ pH của dịch dạ cỏ có ảnh hưởng lớn tới

sự hấp thu các axít béo bay hơi, các nhà khoa học đã chứng minh rằng ở pH= 6,5 trong dạ cỏ có anion của axít béo và cả axít béo tự do Khi pH cao hơn 7- 7,5 tốc độ hấp thu các axít béo giảm rõ rệt, điều đó phụ thuộc vào nồng độ ion

H+, có lẽ liên quan với số lượng tương đối của axít béo ở dạng phân li Các tác giả nhận thấy rằng ngay đến tận 24-48 giờ sau khi ăn hàm lượng axít béo bay hơi trong máu tĩnh mạch cửa còn cao hơn trong máu động mạch

2.7.2 Hấp thu urê

Trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường, dạ cỏ không thấy hoặc chỉ thấy một ít urê, nhưng khi cho con vật ăn urê thì ở 20 – 48 phút đầu trong dạ cỏ có nhiều urê chưa phân giải, sau đó urê giảm dần, sau 75 – 80 phút thường chỉ còn thấy dấu vết hoặc một lượng không quá vài mg trong 100ml dịch dạ cỏ (N C Makartsev, 1968) Lý do mà hàm lượng urê ít trong dạ cỏ là do urê từ thức ăn hay từ máu chuyển vào qua vách dạ cỏ bị phân giải nhanh chóng bởi urê của vi khuẩn tạo thành amoniac và khí CO2 cho nên nồng độ urê trong dạ cỏ thường giảm rất nhanh

2.7.3 Hấp thu ion và vitamin

Tính ổn định tương đối của các thành phần ion trong dạ cỏ được duy trì nhờ sự hấp thu nhanh của các ion vô cơ và sự chuyển nước từ máu vào dạ cỏ khi áp suất thẩm thấu trong dạ cỏ ở mức ổn định Khi áp suất thẩm thấu của

Trang 24

bộ máy tiêu hoá và được hấp thu tại đó

2.7.5 Hấp thu và chuyển ngược axit amin từ máu vào dạ cỏ

Đa số các nhà nghiên cứu đều đi đến kết luận: axít amin có thể hấp thu từ xoang dạ cỏ vào máu và sự hấp thu này là một trong những con đường xâm nhập nitơ vào cơ thể từ ống tiêu hoá, trước khi lượng axít amin trong máu tĩnh mạch dạ cỏ có ít hơn so với máu động mạch, như vậy sự hấp thu các axít amin phụ thuộc vào mức độ của chúng trong dạ cỏ

2.7.6 Hấp thu ammoniac

Amoniac được giải phóng từ nguồn nitơ protein và phi protein bởi vi sinh vật dạ cỏ sẽ được hấp thu một phần ngay ở dạ dày trước Tốc độ hấp thu amoniac phụ thuộc vào chỉ số pH Ở môi trường kiềm sự hấp thu tiến hành nhanh hơn ở môi trường axít

2.8 Sơ lược về tỷ lệ tiêu hóa trên gia súc nhai lại

2.8.1 Hệ số tiêu hóa biểu kiến

Hệ số tiêu hoá hay còn gọi là tỷ lệ tiêu hoá Khi gia súc ăn một lượng thức ăn vào cơ thể phần lớn các chất có thể sử dụng được hấp thu để đồng hoá Phần còn lại không được tiêu hoá và hấp thu thải ra dưới dạng phân Hệ số tiêu hoá là phần trăm phần dinh dưỡng được tiêu hoá hấp thu trong tổng số thức ăn dđược cơ thể tiêu thụ Việc tính tỷ lệ tiêu hoá thực sự rất khó khăn trong thực tế, người ta chỉ sử dụng hệ số tiêu hoá tương đối hay tỷ lệ tiêu hoá biểu kiến

DCăn – DCphân

TLTHbk=

DCphân

Ghi chú: DC: dưỡng chất

Trang 25

14

2.8.2 Hệ số tiêu hóa thật

Các chất hữu cơ trong phân không chỉ là phần không tiêu hoá hấp thu trong thức ăn mà còn bao gồm các chất do sản phẩm của quá trình trao đổi chất sinh ra thải theo phân Một phần các chất dinh dưỡng được hấp thu nhưng không được sử dụng cho quá trình chuyển hoá trong cơ thể gia súc mà được bài thải ra theo nhiều đường Do đó tỷ lệ tiêu hoá biểu kiến phải được hiệu chỉnh lại, sau đó gọi là hệ số tiêu hoá thật

DCăn – ( DCphân – DCtđ ) TLTHDCthật =

DCăn

Ghi chú: DC: dưỡng chất

2.8.3 Đánh giá tỷ lệ tiêu hóa bằng phương pháp invivo

Khả năng sử dụng xơ thực vật của gia súc dựa trên cấu trúc của đường tiêu hoá và vi sinh vật cộng sinh, nhưng cũng cần phải dựa trên cấu tạo của răng, miệng, tuyến nước bọt và kích thước của gia súc Hoạt động phân huỷ xơ

có tương quan rất chặt chẽ với trọng lượng cơ thể, thời gian giữ lại thức ăn trong đường tiêu hoá có tương quan chặt với trọng lượng cơ thể Udén and Van Soest, (1984) và Van Soest et al., (1987), cũng chỉ ra tỷ lệ tiêu hoá của xơ rất liên quan với thời gian giữ lại thức ăn trong đường tiêu hoá Phương pháp

in vivo đánh giá rất xác thực hiệu quả sử dụng thức ăn của gia súc, thức ăn được ăn vào giữ lại trong đường tiêu hoá phân huỷ, phần còn lại thải theo phân Phương pháp này chưa nêu được các chất dinh dưỡng sau khi vào cơ thể

sẽ đi đâu và sử dụng vào mục đích gì, nhưng nó cũng đã nêu được mối quan

hệ giữa thức ăn và con vật, nghĩa là thức ăn sau khi vào cơ thể con vật được tiêu hóa nhiều hay ít sẽ là cơ sở để so sánh các loại thức ăn với nhau Việc xác định tỷ lệ tiêu hoá theo phương pháp này đòi hỏi phải thu nhặt phân hằng ngày, xác định lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày cùng lượng phân thải ra, phân tích thành phần thức ăn tiêu thụ và phân thải ra sẽ xác định được tỷ lệ tiêu hoá Phương pháp này cho mức tỷ lệ tiêu hoá biểu kiến chính xác, dễ dàng thực hiện trong điều kiện kỹ thuật phòng thí nghiệm chưa thật đầy đủ và áp dụng rộng rãi, ít tốn chi phí

Trang 26

15

2.9 Sơ lược về thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

2.9.1 Cỏ lông tây (Bracharia multica)

Loại cỏ thân bò trên mặt đất, rễ nhiều, thân dài 0,6-2,0m; lá to bản có lông Có nguồn gốc từ châu phi, thuộc giống cỏ đa niên, giàu protein, dễ trồng, chịu được đất ẩm ướt Ở Việt Nam cỏ được nhập trồng ở Nam Bộ từ năm 1887 tại các cơ sở chăn nuôi bò sữa, nay đã trở thành cây mọc tự nhiên ở khắp vùng miền của Việt Nam Cỏ lông tây thích hợp trồng ở các vùng đồng bằng, năng suất cỏ đạt 120 tấn/ha trong 5 lần cắt, được trồng ở vùng bùn lầy, đất ruộng, đất bãi, đất trên bờ đê, ven ao hồ, bờ song (Nguyễn Thiện, 2003) Cỏ lông tây được sử dụng như là nguồn cung cấp xơ chủ yếu trong khẩu phần Khoảng 30 ngày thì thu hoạch cỏ một lần, vào mùa khô phải đến 60 ngày mới thu hoạch được lúc đó cỏ cao 50-60 cm Khi cắt cỏ phải cắt cách mặt đất 5-10 cm

Bảng 2.1: Thành phần hóa học của cỏ lông tây (%DM)

Ghi chú: DM: vật chất khô; CP: protein thô; EE: béo thô; CF: xơ thô; NFE: Chiết chất không đạm; ME: năng lượng trao đổi, Lưu Hữu Mãnh và ctv (1999)

Phản ứng tạo ammonium sunflate: 2NH3 + H2SO4  (NH4)2SO4

2.9.3 Bìm bìm

Tên khoa học: Operculia turpethum

Bìm bìm là một loại dây keo bằng thên cuốn Thân mảnh, có điểm những lông hình sao Lá hìm tim, xẻ thùy, nhẵn và xanh ở mặt trên, xanh nhạt

và có lông ở mặt dưới, cuống dài, gầy, nhẵn Hoa màu hồng tím hay lam nhạt, lớn, mọc thành xim đến 3 hoa, ở kẽ lá Quả nang hình cầu, nhẵn, 3 ngăn; hạt

có 3 cạnh, lưng khum, hai bòn dẹt, nhẵn, màu đen hay trắng tùy theo loài, vào tháng 7 - 10 quả chín Tuy vậy bìm bìm có hàm lượng dưỡng chất khá cao và

Thực liệu DM OM CP NDF ADF Khoáng tổng số Cỏ lông tây 18,9 88,8 9,11 71,8 34,6 11,2

Trang 27

16

được người dân sử dụng trong chăn nuôi thỏ và cừu Bìm bìm được sử dụng

cả phần dây và lá (Y học cổ truyền, 2012)

Bảng 2.2: Thành phần hóa học(%DM) của các thực liệu

Thực liệu DM OM CP NDF ADF Ash

Nguyên liệu: cám, đậu nành ly trích, bánh dầu, muối

Tỉ lệ phối trộn thức ăn hỗn hợp trong thí nghiệm như sau cám 40%, bánh dầu dừa 40%, đậu nành ly trích 18%, muối ăn 2% Tỉ lệ thức ăn hỗn hợp trong khẩu phần là tương quan tiêu cực với lượng khí thải CH4 (Yan et al., 2000, trích Sejian et al., 2012) Tăng bổ sung thức ăn hỗn hợp giảm sản xuất CH4, làm tăng tỉ lệ của propionate của VFA trong dạ cỏ và do đó làm giảm hydro cung cấp cho tổng hợp CH4

Bảng 2.3: Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp

Thực liệu DM OM CP NDF ADF Tro ME,MJ Cám 85,2 89,8 12,6 39,5 20,7 10,2 10,4 Bánh dầu dừa 80,4 93,3 19,5 56,6 36,9 6,7 13,2 Đậu nành ly trích 79,6 92,9 40,6 25,7 15,1 7,1 13,1

Ghi chú: DM: vật chất khô; CP: protein thô; OM: vật chất hữu cơ; NDF: xơ trung tính; ADF: Xơ axit; Ash: khoáng tổng số, Nguyễn Văn Thu (2006)

Ngày đăng: 17/09/2015, 12:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Sơ đồ trao đổi protein của khẩu phần của gia súc nhai lại - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Hình 2.2 Sơ đồ trao đổi protein của khẩu phần của gia súc nhai lại (Trang 22)
Bảng 2.1: Thành phần hóa học của cỏ lông tây (%DM) - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Bảng 2.1 Thành phần hóa học của cỏ lông tây (%DM) (Trang 26)
Bảng 2.3: Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Bảng 2.3 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp (Trang 27)
Hình 3.1: Bò được nuôi thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Hình 3.1 Bò được nuôi thí nghiệm (Trang 28)
Hình 3.2: Cỏ lông tây (a) và bìm bìm (b) trong thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Hình 3.2 Cỏ lông tây (a) và bìm bìm (b) trong thí nghiệm (Trang 28)
Hình 3.3: các loại thức ăn bổ sung sử dụng trong thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Hình 3.3 các loại thức ăn bổ sung sử dụng trong thí nghiệm (Trang 29)
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 30)
Hình 3.4: Lấy dịch dạ cỏ của bò thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Hình 3.4 Lấy dịch dạ cỏ của bò thí nghiệm (Trang 31)
Bảng 4.1: Thành phần dưỡng chất (%DM) các loại thức ăn dùng trong thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Bảng 4.1 Thành phần dưỡng chất (%DM) các loại thức ăn dùng trong thí nghiệm (Trang 32)
Bảng 4.2: Lượng thức ăn, dưỡng chất và năng lượng tiêu thụ của bò trong thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Bảng 4.2 Lượng thức ăn, dưỡng chất và năng lượng tiêu thụ của bò trong thí nghiệm (Trang 33)
Hình 4.1: Lượng DM tiêu thụ của bò trong thí nghiệm  Bảng 4.2 và Hình 4.3 cho thấy lượng DM của cỏ lông tây tiêu thụ của 4  nghiệm thức dao động trong khoảng  3,69 –  4,20 kgDM/con/ngày (P &gt;  0,05) - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Hình 4.1 Lượng DM tiêu thụ của bò trong thí nghiệm Bảng 4.2 và Hình 4.3 cho thấy lượng DM của cỏ lông tây tiêu thụ của 4 nghiệm thức dao động trong khoảng 3,69 – 4,20 kgDM/con/ngày (P &gt; 0,05) (Trang 33)
Hình 4.2: Năng lượng tiêu thụ (kg/con/ngày) của bò thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Hình 4.2 Năng lượng tiêu thụ (kg/con/ngày) của bò thí nghiệm (Trang 34)
Bảng 4.3: Các thông số dịch dạ cỏ của bò trong thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Bảng 4.3 Các thông số dịch dạ cỏ của bò trong thí nghiệm (Trang 35)
Bảng 4.4: Tỉ lệ tiêu hóa (%), lượng dưỡng chất tiêu hóa, cân bằng nitơ và tăng trọng  của bò trong thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Bảng 4.4 Tỉ lệ tiêu hóa (%), lượng dưỡng chất tiêu hóa, cân bằng nitơ và tăng trọng của bò trong thí nghiệm (Trang 36)
Hình 4.3 Lượng nitơ tiêu thụ và nitơ tích lũy (g/con/ngày) của bò thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung các nguồn đạm khác nhau đến tăng trưởng, nitơ tích lũy và thông số dạ cỏ ở bò lai sind
Hình 4.3 Lượng nitơ tiêu thụ và nitơ tích lũy (g/con/ngày) của bò thí nghiệm (Trang 37)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w