1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ash (hymenoptera braconidae)

46 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 518,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với tên đề tài: “KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ

Trang 2

II

Trang 4

II

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với tên đề tài:

“KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ DINH DƯỠNG ĐẾN THỜI GIAN SỐNG CỦA THÀNH TRÙNG

ONG KÝ SINH MICROPLITIS MANIALE ASH

(HYMENOPTERA: BRACONIDAE)”

Do sinh viên Vi Hữu Trí thực hiện và đề nạp

Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Cán bộ hướng dẫn

Ts Lê Văn Vàng Ths Huỳnh Phước Mẫn

Trang 5

III

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo Vệ Thực Vật với tên đề tài:

“KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ DINH DƯỠNG ĐẾN THỜI GIAN SỐNG CỦA THÀNH TRÙNG

ONG KÝ SINH MICROPLITIS MANIALE ASH

(HYMENOPTERA: BRACONIDAE)”

Do sinh viên Vi Hữu Trí thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:

Chủ tịch hội đồng

Trang 6

Quê quán: tổ 7, ấp Thạnh Phước 2, xã Trung Thạnh, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ

Họ tên cha: Vi Văn Bé Hai

Nghề nghiệp: Nông dân

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hết

Nghề nghiệp: Nông dân

Tóm tắt quá trình học tập của bản thân:

Năm 1998-2003: trường tiểu học Trung An 5

Năm 2003-2007: trường trung học phổ thông Trung An

Năm 2007-2010: trường trung học phổ thông Trung An

Năm 2010-2014: bộ môn Bảo vệ thực vật, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ

Trang 7

V

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả luận văn

Vi Hữu Trí

Trang 8

Xin cảm ơn ban lãnh đạo trường Đại Học Cần Thơ; ban chủ nhiệm khoa NN & SHƯD, bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã tạo nhiều điều kiện để em hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn thầy Lê Văn Vàng (cố vấn học tập) và quý thầy, cô trong trường Đại Học Cần Thơ đã dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho em trong thời gian học tập tại trường

Chân thành biết ơn bạn Hồ Thị Xuân và anh Nguyễn Văn Nhí và tất cả các anh, chị trong bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt thí nghiệm

Cảm ơn các bạn lớp BVTV K36 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Vi Hữu Trí

Trang 9

VII

Vi Hữu Trí, 2014 ―Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của

thành trùng ong ký sinh Microplitis manilae Ashmead (Hymenoptera: Braconidae)‖ luận văn

kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật, bộ môn Bảo vệ Thực vật, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: Ts Lê Văn Vàng và Ths Huỳnh Phước Mẫn

TÓM LƯỢC

Đề tài Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của thành

trùng ong ký sinh Microplitis manilae Ashmead được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Phòng

trừ sinh học của bộ môn Bảo vệ Thực vật, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ từ tháng 5/2013 đến tháng 5/2014

Dinh dưỡng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của thành trùng ong ký sinh M manilae ở điều

kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm (29,57 ± 0,89 0C) Thành trùng ong ký sinh được nuôi trong ống thủy tinh (11 ml) ở các nồng độ dinh dưỡng: không cho ăn, nước cất, nước đường 4%, 10%, 50%, bão hòa, mật ong 4%, 10%, 50%, nguyên chất Kết quả cho thấy, các nồng độ dinh dưỡng thích hợp đối với sự phát triển của thành trùng ong ký sinh; trong đó, tuổi thọ trung bình của thành trùng ong ký sinh ở nghiệm thức mật ong 50% là 7,0 ± 3,6 ngày và là mức độ dinh dưỡng thích hợp nhất đối với sự phát triển của trùng ong ký sinh ở điều kiện phòng thí nghiệm

Yếu tố thức ăn vẫn ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tuổi thọ trung bình của thành trùng ong ký sinh ở điều kiện nhiệt độ 250C Ngoài ra, nhiệt độ cũng ảnh hưởng sự phát triển của

thành trùng ong ký sinh M manilae Thành trùng ong ký sinh được nuôi trong ống thủy tinh

(11ml) ở nhiệt độ 250C trong các điều kiện dinh dưỡng: không cho ăn, mật ong 10%, 50%, nguyên chất Kết quả cho thấy, tuổi thọ trung bình của thành trùng ong ký sinh ở nồng độ dinh dưỡng không cho ăn là 1,6 ± 0,6 ngày, mật ong 10% là 3,0 ± 1,8 ngày, mật ong 50% là 2,4 ± 1,4 ngày, mật ong nguyên chất là 2,6 ± 1,0 ngày Tuổi thọ trung bình của thành trùng ong ký sinh ở nhiệt độ 250C thấp hơn so với các nghiệm thức ở nồng độ dinh dưỡng tương đương ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm (29,50

C)

Trang 10

VIII

MỤC LỤC

Nội dung Trang

Danh sách bảng XI

Danh sách hình XII

Mở đầu 1

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 SÂU ĂN TẠP, SPODOPTERA LITURA FAB 2

1.1.1 Phân bố 2

1.1.2 Đặc điểm hình thái 2

1.1.3 Tập quán sống 2

1.1.4 Cách gây hại 2

1.1.5 Thành phần các loại ký sinh trên sâu ăn tạp Spodoptera litura 3

1.2 CÁC LOÀI ONG KÝ SINH THUỘC HỌ BRACONIDAE 4

1.2.1 Đặc điểm sinh học 4

1.2.2 Hình thái chung 5

1.3 ONG KÉN VÀNG, MICROPLITIS MANILAE ASH 5

1.3.1 Đặc điểm hình thái chung 5

1.3.1.1 Trưởng thành 6

1.3.1.2 Trưởng thành cái 6

1.3.1.3 Trưởng thành đực 6

1.3.1.4 Trứng 6

1.3.1.5 Ấu trùng 6

1.3.1.6 Ấu trùng tuổi 1 6

1.3.1.7 Ấu trùng tuổi 2 7

1.3.1.8 Ấu trùng tuổi 3 7

1.3.1.9 Nhộng 7

1.3.2 Khả năng dệt kén của ấu trùng ong M manilae 7

1.3.3 Vòng đời 7

Trang 11

IX

1.3.3 Tỷ lệ và tập tính vũ hóa của ong M manilae 8

1.3.5 Tỷ lệ giới tính của ong M manilae 8

1.3.6 Khả năng sinh sản của ong M manilae 8

1.3.7 Ảnh hưởng của tuổi kí chủ đến khả năng ký sinh ong M manilae 9

1.3.8 Ảnh hưởng của mật độ ấu trùng sâu ăn tạp S litura và mật độ của ong M manilae đến hiệu quả kí sinh của ong M manilae 10

1.3.9 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến ong M manilae 10

1.3.10 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian sống của ong M manilae trong điều kiện không sinh sản 10

1.3.11 Ảnh hưởng của kairomone lên khả năng định vị ký chủ của ong kén vàng 11

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 12

2.1 PHƯƠNG TIỆN 12

2.1.1 Dụng cụ 12

2.1.2 Hóa chất và vật liệu 12

2.2 PHƯƠNG PHÁP 12

2.2.1 Phương pháp chuẩn bị nguồn côn trùng thí nghiệm 12

2.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của dinh dưỡng (mật ong, nước đường) lên sự phát triển của ong M manilae ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm (T: 29,50C, RH: 69,7%) 13

2.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của dinh dưỡng (mật ong, nước đường) lên sự phát triển của ong M manilae ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm (T: 29,50C, RH: 69,7%) 15

2.2.4 Xử lý số liệu 15

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16

3.1 Thí nghiệm 1: khảo sát ảnh hưởng nồng độ dinh dưỡng mật ong 4%, nước đường 4%, nước đường 10% và nước cất đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ở điều kiện phòng thí nghiệm 16

3.2 Thí nghiệm 2: khảo sát ảnh hưởng nồng độ dinh dưỡng nước

đường 50%, nước đường bão hòa, nước cất và không cho ăn đến thời

Trang 12

X

gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ở điều

kiện phòng thí nghiệm 17

3.3 Thí nghiệm 3: khảo sát ảnh hưởng nồng độ dinh dưỡng mật ong 10%, mật ong 50%, mật ong nguyên chất và không cho ăn đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ở điều kiện phòng thí nghiệm 19

3.4 Thí nghiệm 4: khảo sát ảnh hưởng nồng độ dinh dưỡng mật ong 10%, mật ong 50%, mật ong nguyên chất và không cho ăn đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ở điều kiện phòng lạnh ở nhiệt độ 250c 20

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 23

4.1 Thảo luận 23

4.2 Đề nghị 23

Tài liệu tham khảo

Phụ chương

Trang 13

XI

DANH SÁCH BẢNG

2.1 Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của dinh dưỡng đến

thời gian sống của thành trùng ong M manilae trong phòng thí nghiệm

(T: 29,50C, RH: 69,7%)

14

2.2 Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của mật ong

đến thời gian sống của thành trùng ong M manilae ở nhiệt độ 250

C

15

3.1 Tỷ lệ ong còn sống và thời gian sống của thành trùng ong ký sinh

Microplitis manilae ở điều kiện phòng thí nghiệm

16

3.2 Tỷ lệ ong còn sống và thời gian sống của thành trùng ong ký sinh

Microplitis manilae ở điều kiện phòng thí nghiệm

17

3.3 Tỷ lệ ong còn sống và thời gian sống của thành trùng ong ký sinh

Microplitis manilae ở điều kiện phòng thí nghiệm

19

3.4 Tỷ lệ ong còn sống và thời gian sống của ong ký sinh Microplitis

manilae ở điều kiện nhiệt độ phòng

22

Trang 14

- 1 -

MỞ ĐẦU

Sâu ăn tạp (SAT) (Spodoptera litura Fab.) đối tượng gây hại quan trọng nhất trên rau cải tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (Trần Thị Ba và ctv., 1999) Theo Whalon et al (2011), S litura đã được ghi nhận kháng với 34 loại thuốc trừ sâu trong 237 trường hợp Do

sự phát triển của tính kháng thuốc, việc phòng trừ sâu ăn tạp bằng thuốc hoá học không mang lại hiệu quả cao và không mang tính bền vững (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Gần đây, do kinh tế phát triển đời sống xã hội được nâng cao đã đồng thời thúc đẩy nhu cầu đối với các sản phẩm nông nghiệp an toàn Canh tác nông nghiệp theo các tiêu chuẩn GAP đang ngày được mở rộng và yêu cầu đối với công tác bảo vệ thực vật theo hướng an toàn gia tăng Mặt khác, kinh tế phát triển lại phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp nên vấn đề hạn chế

sự ô nhiễm môi trường bởi dư lượng của hóa chất nông nghiệp là rất cấp thiết Các nổ lực nghiên cứu và áp dụng các biện pháp bảo vệ thực vật ít độc, ít tác động đến sức khoẻ con người và môi trường sinh thái đang được phát triển mạnh mẽ

Các loài côn trùng ký sinh được tìm thấy gần như trong tất cả các hệ sinh thái trên cạn, hiển thị một sự đa dạng sinh học, sinh thái rộng lớn, và sự thích nghi chuyên biệt Thành trùng cái đẻ trứng trong hoặc trên các loài côn trùng khác Các ấu trùng ký sinh phát triển bằng cách lấy dinh dưỡng từ các cơ quan của ký chủ, dẫn đến cái chết của ký chủ Vì thế, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sự phát triển của các quần thể côn trùng

gây hại (Wajnberg et al., 2008) Trong đó, họ ong kén nhỏ (Braconidae) là một trong những

họ lớn nhất (Quicke, 1987) và rất hữu ích (Wharton, 1993) trong bộ cánh màng

(Hymenoptera) Loài ong ký sinh Microplitis manilae Ash., thuộc họ ong kén nhỏ

(Braconidae), đã chứng tỏ là loài ong ký sinh rất có tiềm năng trong phòng trừ sinh học, đặc biệt trong các hệ thống công nghệ sinh thái (Engineering Ecology) của phòng trừ sinh học

bảo tồn (Conservation Biological Control) Loài ong M manilae được ghi nhận là loài ký sinh phổ biến nhất trên sâu ăn tạp S litura ở Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội và các vùng

phụ cận (Nguyễn Thị Thu Cúc và ctv., 2002; Khuất Đăng Long và ctv., 2004) Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và ctv (2002), nghiên cứu duy trì và phát huy vai trò của loài ong ký sinh này trên đồng ruộng là rất cần thiết cho chiến lược IPM để quản lý SAT tại ĐBSCL Vì vậy, việc

nghiên cứu xác định điều kiện thích hợp để nhân nuôi ong M manilae để góp phần tăng cường hiệu quả quản lý SAT của ong M manilae là rất cần thiết

Đề tài: ―Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của

thành trùng ong ký sinh Microplitis manilae (Hymenoptera: Braconidae)‖ nhằm xác định

các thông số sinh học và vật lý có ảnh hưởng đến sự phát triển của thành trùng ong ký sinh

M manilae

Trang 15

- 2 -

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SÂU ĂN TẠP, SPODOPTERA LITURA FAB

1.1.1 Phân bố

Sâu ăn tạp Spodoptera litura có phổ ký chủ rộng và thích ghi được nhiều điều kiện

khí hậu và thời tiết khác nhau Sâu gây hại khoảng 200 loại cây trồng (Nguyễn Văn Huỳnh

và Lê Thị Sen, 2011)

1.1.2 Đặc điểm hình thái

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) bướm có chiều dài thân từ 20 - 25

mm, sải cánh rộng từ 35 - 45 mm Cánh trước màu nâu vàng Bướm có đời sống trung bình từ

15 - 30 ngày Một bướm cái đẻ trung bình 300 trứng, có thể lên đến 900 - 2000 trứng nếu điều kiện thích hợp Thời gian đẻ trứng trung bình 5 - 7 ngày, có khi 10 - 12 ngày

Trứng có hình bán cầu, đường kính 0,4 - 0,5 mm Trứng mới đẻ màu trắng vàng, sau

đó chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro, đậm Ổ trứng có phủ lông từ bụng bướm cái Thời gian ủ trứng từ 4 - 7 ngày

Sâu có 5 - 6 tuổi phát triển trong thời gian 20 - 25 ngày Sâu nhỏ có màu xanh lục, càng lớn sâu chuyển dần thành màu nâu đậm Toàn thân có một sọc màu vàng sáng ở hai bên hông chạy từ đốt thứ nhất của bụng đến đốt cuối Dọc theo đường ấy có những điểm hình bán nguyệt Từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tám của bụng mỗi đốt có một chấm đen rõ; trong số đó hai chấm đen ở đốt thứ nhất to nhất và càng lớn hai chấm này gần như giao nhau thành một khoang đen trên lưng

Nhộng dài 18 - 20 mm, màu nâu hoặc màu nâu tối Cuối bụng có một đôi gai ngắn Thời gian nhộng từ 7 - 10 ngày

1.1.3 Tập quán sống

Bướm thường vũ hóa vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối Bướm hoạt động từ tối đến nửa đêm Sau khi vũ hóa vài giờ bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đẻ trứng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)

1.1.4 Cách gây hại

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) sâu vừa nở ăn gặm vỏ trứng, nếu bị động chúng bò phân tán ra chung quanh hoặc nhả tơ buông mình xuống đất; ở giai đoạn này sâu chỉ ăn gặm ở mặt dưới lá, chừa biểu bì trên và gân Ở tuổi hai, sâu bắt đầu phân tán và ăn gặm nhiều lá hơn Từ tuổi bốn, sâu thường trốn ánh sáng nên ban ngày sâu ẩn nơi tối hoặc chui xuống kẽ đất nứt, ban đêm chui lên ăn cây Ở tuổi lớn, sâu có tập quán ăn thịt lẫn nhau

và không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành và trái non

Trang 16

- 3 -

Theo Asiat (2013) ấu trùng tuổi một và ấu trùng tuổi hai sống theo đàn, ăn lá và chồi của đậu tương Sang ấu trùng tuổi ba phân tán, ăn lá già, cành, ngọn, hoa và quả gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây trồng Ngoài ra, ấu trùng tuổi nhỏ ăn vào thân thông qua cuống lá Chúng ăn vỏ và phần cốt lõi của thân tạo đường hầm trong thân cây dẫn tới cây bị chết Ấu

trùng của S litura còn được tìm thấy ở cụm hoa; số lượng trung bình được tìm thấy trên cây

cao nhất ở giai đoạn sắp ra hoa (Rowell, 1990) Ngoài ra, ấu trùng còn ăn rễ cây và vỏ lạc (Ghani, 2013)

1.1.5 Thành phần các loài ký sinh trên sâu ăn tạp Spodoptera litura

Theo Khuất Đăng Long (2007) tổng số các loài thuộc họ Braconidae, số loài biết được ký chủ chỉ chiếm 20%, hầu hết 70 loài ong ký sinh thuộc họ Braconidae đều có ý nghĩa lớn trong việc kìm hãm nhiều loại sâu hại trên cây lương thực và thực phẩm Đây là những loài có triển vọng phòng trị trong biện pháp sinh học phòng trừ sâu hại Số loài còn lại đều mang giá trị tiềm năng ở Việt Nam

Theo Dương Việt Anh (2007) có bốn loài côn trùng ký sinh sâu ăn tạp S litura thuộc

hai bộ; bộ cánh màng Hymenoptera có hai họ ong kén nhỏ-Braconidae và họ ong cự Ichneumonidae, bộ hai cánh có một loài thuộc họ Tachinidae Hai loài ong ký sinh quan trọng

là Microplitis manilae và Microplitis prodeniae

Theo Nguyễn Đức Tùng (2007) kết quả khảo sát côn trùng ký sinh trên cây đậu cho thấy, có 24 loài ong và 3 loài ruồi ký sinh Trong số đó có 4 loài xuất hiện phổ biến Đó là

ong Microplitis prodeniae và ong Microplitis manila (ký sinh sâu ăn tạp), ong cự Trathala

flavor-orbitalis và ong Telenomus subitus (ký sinh bọ xít xanh vai đỏ)

Theo Shepard (1998) kết quả khảo sát các loài ký sinh trên cây đậu tương, có 82 loài

ký sinh thuộc 62 chi Trong đó bộ Hymentera chiếm ưu thế gồm: Ichneumonoidae (32 loài), Chalcidoida (31 loài), Prototrupoidae (9 loài) và Bethoidae (1 loài) Ba họ trong Ichneumonoidae gồm: Braconidae (19 loài), Ichneumonodae (16 loài), Aphiniidae (2 loài)

Theo Rowell (1990) số lượng ấu trùng S litura giảm do mức độ cao của ong Microplitis

manilae trong tháng 12

Theo Napompeth (1990) cả pha trứng và pha ấu trùng của sâu ăn tạp S litura đều bị

ong ký sinh, trứng bị hai loài thuộc họ Braconidae và Scelionidae, còn ấu trùng tuổi nhỏ bị một loài ký sinh thuộc họ Braconidae (trích dẫn bởi Dương Việt Anh)

Theo Nguyễn Thị Thu (2008) bộ ong ký sinh (Hymenoptera) có 17 loài thuộc 5 họ (chiếm 89,47% tổng số loài côn trùng ký sinh), trong đó họ ong ký sinh Eulophidae có số loài nhiều nhất (7 loài), họ ong đen kén trắng Braconidae có 4 loài, họ ong cự Ichneumonidae có

3 loài, họ ong Pteromalidae có 2 loài, ít nhất là họ ong đen ký sinh trứng Scelionidae chỉ có 1 loài; Bộ ruồi (Diptera) có 2 loài ký sinh thuộc 1 họ Tachinidae (chiếm 10,53%)

Kết quả nghiên cứu năm 2007 – 2008 ở Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn tỉnh Nghệ An thu thập được 19 loài côn trùng ký sinh sâu ăn tạp của 6 họ thuộc 2 bộ; trong đó bộ

Trang 17

- 4 -

Hymenoptera có 17 loài thuộc 5 họ, bộ Diptera có 2 loài thuộc họ Tachinidae; Trong đó loài

Oomyzus sp chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 30,24 % tổng số cá thể thu được) (Nguyễn Thị Thu,

2008)

Theo Nguyễn Thị Thu (2008) trên quần thể ruộng đậu tương côn trùng ký sinh xuất hiện đa dạng và phong phú, riêng đối với ký chủ sâu ăn tạp đã thu bắt được 19 loài côn trùng

ký sinh, tuy nhiên số cá thể bắt gặp lại tỷ lệ nghịch với số loài xuất hiện

1.2 CÁC LOÀI ONG KÝ SINH THUỘC HỌ BRACONIDAE

Ong ký sinh thuộc họ Braconidae là một trong nhóm có số lượng loài phong phú nhất Họ ong ký sinh Braconidae phân bố toàn cầu và có mặt ở mọi nơi Đây là nhóm ký sinh thực thụ ở côn trùng vì chúng chỉ tồn tại và phát triển từ những loài côn trùng khác Hiện tại

đã hệ thống được hơn 300 loài thuộc họ ong ký sinh Braconidae, trong đó có 70 loài đã biết

ký chủ là những loài ong có ý nghĩa và có khả năng sử dụng trong biện pháp sinh học phòng

trừ sâu hại ở Việt Nam (Khuất Đăng Long, 2007)

Theo Khuất Đăng Long (2007) họ ong ký sinh Braconidae là một trong những họ đa dạng và có phân bố ở những vùng địa lí khác nhau trên thế giới Tuy nhiên, các loài ong thường tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới ẩm trong đó có Việt Nam Sự phân bố của ong ký sinh thuộc họ Braconidae theo loài ký chủ cũng khá phong phú, phần lớn nhóm ong ký sinh thường gặp ký sinh ở pha ấu trùng tuổi nhỏ của những loài côn trùng khác Chính do phương thức sống này của chúng, nhiều loài có khả năng kìm hãm sự phát triển của các loài sâu hại

Vì vậy, việc xác định sự phân bố về địa lý và phân bố theo các loài ký chủ là những thông tin quan trọng trong việc nhập nội những loài ong ký sinh với mục đích phòng trừ sâu hại cây trồng

1.2.1 Đặc điểm sinh học

Theo Khuất Đăng Long (2007) những loài ký chủ của nhóm ong ký sinh Braconidae phần lớn là các loài côn trùng thuộc bộ cánh Vảy (Lepidoptera), cánh Cứng (Coleoptera), cánh nửa cứng (Hemiptera) và hai cánh (Diptera) Chúng thường ký sinh ở pha ấu trùng tuổi nhỏ, ít gặp hơn ở pha nhộng và thành trùng của các côn trùng khác

Theo Khuất Đăng Long (2007) ong cái các loài thuộc họ Braconidae thường chỉ đẻ trứng vào ký chủ có tuổi thích hợp, chúng đẻ một hoặc nhiều trứng vào bên trong hoặc trên

cơ thể ký chủ Cơ thể ký chủ vừa là thức ăn vừa là môi trường cho các pha phát triển của ong

ký sinh Ký chủ chỉ chết sau khi ấu trùng ong thành thục chui ra khỏi cơ thể để hóa nhộng bên ngoài hoặc làm kén ngay bên trong vỏ cơ thể ký chủ Đa số các loài ong tạo thành một kén, hoặc nhiều kén

Họ ong ký sinh thuộc họ Braconidae bao gồm cả các loài ngoại ký sinh và các loài nội ký sinh, hiếm gặp ký sinh ở pha trứng Đến nay mới chỉ biết các loài thuộc phân họ Cheloninae ký sinh trứng ký chủ và phát triển đến giai đoạn sâu non của ký chủ (Khuất Đăng Long, 2007)

Trang 18

- 5 -

Theo Khuất Đăng Long (2007) một số phân họ gồm những loài ngoại ký sinh gồm Braconinae, Hormiinae và Doryctinae Những loài ong ngoại ký sinh thường có khả năng gây chết lâm sàng cho ký chủ trước khi ong cái ký sinh đẻ trứng lên cơ thể ký chủ Một số loài ong ký sinh không gây chết lâm sàng ký chủ trước khi đẻ trứng Ngoài ra, một số loài ong ký sinh sau khi đẻ trứng vào cơ thể ký chủ sẽ không cho phép ký chủ tiếp tục phát triển bình thường, làm cho ấu trùng tê liệt sẽ không di chuyển trong giai đoạn phát triển Và một số loài khác, sau khi đẻ trứng vào cơ thể ký chủ vẫn cho phép ký chủ phát triển bình thường

Theo Khuất Đăng Long (2007) ở nhóm ong nội ký sinh, các giai đoạn phát triển của

ký sinh xảy ra trong cơ thể ký chủ Ấu trùng thành thục của nhiều loài nội ký sinh xuất hiện vào lúc ký chủ hấp hối hoặc vào giai đoạn cuối, sau đó ấu trùng thành thục của ong ký sinh làm kén bên trong hoặc bên ngoài ngay bên cạnh hoặc cách xa cơ thể ký chủ

Sự lựa chọn các loài ký chủ cũng rất khác nhau ở các loài ong ký sinh thuộc họ Braconidae Tuy nhiên, thường gặp đa số các loài có sự lựa chọn ký chủ có quan hệ gần nhau

về phân loại học, hoặc ký chủ gần nhau về đặc điểm sinh học hoặc gần nhau về sinh cảnh mà tại đó ong ký sinh tìm kiếm ký chủ thích hợp (Khuất Đăng Long, 2007)

Theo Khuất Đăng Long (2007) các loài thuộc họ Braconidae có cơ chế định rõ giới tính đơn bội và lưỡng bội Những trứng không được thụ tinh đều là các cá thể đơn bội, còn trứng được thụ tinh là những cá thể lưỡng bội Như vậy, với những ong cái không được giao phối, chúng vẫn hoàn toàn có thể đẻ trứng, trứng phát triển bình thường, nhưng từ những trứng này chỉ phát triển và cho ra ong đực ở thế hệ con

1.2.2 Hình thái chung

Ong ký sinh thuộc họ Braconidae có chiều dài cơ thể rất khác nhau, không kể máng

đẻ trứng, chiều dài thân từ kích thước rất nhỏ 1 mm đến kích thước khá lớn, 30 - 40 mm Một

số ong có máng đẻ trứng dài hơn thân Đốt bụng thứ hai và đốt bụng thứ ba gắn liền nhau, giữa hai đốt này có khớp nối rõ ràng hoặc không rõ khớp nối Giữa đùi và đốt chân có hai đốt chuyển Mảnh gốc môi trên hoặc không giáp với hàm trên, giữa chúng tạo thành một hốc lõm sâu, hoặc mảnh gốc môi trên giáp với hàm trên, giữa chúng không tạo hốc lõm Hai hàm trên chụm nhau vào phía trong, khi đó hàm trên có 1 - 3 răng, hoặc chìa ra ngoài khi đó thường chỉ có từ 3 răng hoặc nhiều hơn

1.3 ONG KÉN VÀNG, MICROPLITIS MANILAE ASH

Ở Việt Nam, trong tập hợp 9 loài ong ký sinh thuộc giống Microplitis ở sâu ăn tạp S

litura, loài M manilae chiếm ưu thế hơn cả Ngoài ra loài này còn gặp ở một số loài sâu hại

khác thuộc họ ngài đêm Noctuidae như sâu xanh Helicoverpa armigera, sâu keo Spodoptera

mauritia, sâu đục quả đậu đỗ Maruca vitrata (Khuất Đăng Long, 2007)

Theo Khuất Đăng Long (2007) trong tập hợp ký sinh sâu ăn tạp, ong kén vàng M

manilae là loài thường xuyên có mặt và chiếm ưu thế Loài này được xem như yếu tố chìa

Trang 19

Theo Dương Việt Anh (2007) ong M manilae có đầu màu đen, râu đầu gồm 17 đốt,

dài 2,9 - 3 mm hình sợi chỉ, kích thước trung bình của ong là 2,91 - 3,01 mm, có ba đôi chân, hai đôi chân trước ngắn hơn đôi chân sau Chân có màu nâu óng bàn chân 5.5.5, phần giữa đốt chân có màu vàng đậm Mắt thường từ phía trước gần điểm tiếp giáp giữa ngực và bụng

có hình trông giống chữ thập khuyết, khi đưa ra ánh sáng dưới ánh sáng mặt trời thấy cánh có màu ánh đen ở phía đuôi cánh Các đốt bụng 1, 3, 5 màu vàng nâu, vòng nối giữa các đốt bụng tiếp theo có màu vàng nhạt Đầu, ngực và phần bụng của các đốt bụng còn lại màu đen Đốt bụng thứ 1, 2, 3 màu nâu sáng trong khi mới vũ hóa, khoảng 30 phút đến 1 giờ sau khi vũ hóa thì thấy chuyển sang màu nâu ong rõ nhất ở con đực

1.3.1.2 Trưởng thành cái

Ong cái râu đầu ngắn hơn hoặc dài bằng thân, bụng hình bầu dục và có vằn vàng nâu

và vàng nhạt đan xen nhau khi nhìn từ phía trên xuống thấy rất rõ và bóng sáng hơn con đực; ống đẻ trứng ngắn (Dương Việt Anh, 2007)

I.3.1.3 Trưởng thành đực

Theo Dương Việt Anh (2007) ong đực có râu đầu dài hơn thân, chân màu đen đậm hơn ong cái Đôi chân sau dài, từ đốt chùy đến bàn chân màu đen, bụng thon dài hình chùy, khi nhìn sẫm màu hơn con cái

Trang 20

- 7 -

Theo Dương Việt Anh (2007) ấu trùng màu trắng trong, đầu thon dài, thấy xuất hiện

có ăng ten, phần nhọn của đốt cuối chưa tiêu biến hoàn toàn và dần tiêu mất ở cuối tuổi 2

từ 1,5-2,5 giờ (Dương Việt Anh, 2007)

Theo Khuất Đăng Long (2007) thời gian ấu trùng ong dệt kén từ 90 - 150 phút, nhộng ong ký sinh dạng trần nằm trong kén Kén có màu nâu xám hình bầu dục, chiều dài trung bình của kén 3,52 ± 0,08 mm, chiều rộng trung bình 1,14 ± 0,05 mm

1.3.2 Khả năng dệt kén của ấu trùng ong Microplitis manilae

Tỷ lệ dệt kén thành công của ấu trùng ong không chịu tác động của điều kiện môi trường và sự thay đổi đột ngột giữa môi trường bên trong và bên ngoài cơ thể ký chủ, cụ thể đạt cao nhất tại vụ hè thu 2006 với 94,12%, thấp nhất là 90,90% trong điều kiện của thí nghiệm, tại vụ Xuân năm 2007 tỷ lệ dệt kén thành công của ấu trùng ong đạt cao nhất là 96,74% và thấp nhất là 95% trong điều kiện của thí nghiệm (Dương Việt Anh, 2007)

1.3.3 Vòng đời

Theo Dương Việt Anh (2007) ong M manilae có vòng đời trung bình là 14 ± 0,36

ngày Trong đó pha ấu trùng đã chiếm một nửa thời gian hoàn thành vòng đời của ong ký

sinh M manilae Pha trứng có thời gian phát dục dao động trong khoảng 1 - 2 ngày, trung

bình 1,62 ± 0,11 ngày Tuổi 1 có thời gian phát dục từ 1 - 2 ngày, trung bình 1,62 ± 0,06 ngày, tuổi 2 có thời gian phát dục từ 2 - 3 ngày, trung bình 2,67 ± 0,09 ngày, tuổi 3 có thời gian phát dục 2 - 4 ngày, trung bình 2,9 ± 0,09 ngày, tổng giai đoạn ấu trùng có thời gian phát dục là 5 - 9 ngày, trung bình 7,19 ± 0,16 ngày Nhộng trong kén sau 4 - 6 ngày, trung bình 4,93 ± 0,01 ngày thì vũ hóa Trưởng thành sau khi vũ hóa tiến hành bắt cặp giao phối ngay và

đẻ trứng ký sinh lên ký chủ sau 4 - 8 giờ

Theo Huỳnh Phước Mẫn (2012) một chu kỳ sinh trưởng của ong kéo dài 14 ± 1,3 ngày Trong đó, thời gian từ ong cái đẻ trứng đến ấu trùng sâu non chui ra khỏi cơ thể ra khỏi

Trang 21

đẻ trứng của ong ký sinh 4 - 8 giờ Vòng đời ong ký sinh dao động 10 - 15 ngày, trung bình 12,04 ± 0,49 ngày

1.3.4 Tỷ lệ và tập tính vũ hóa của ong Microplitis manilae

Theo Lê Thị Huyền (2009) ở điều kiện nhiệt độ không khí từ 22 - 330C, ẩm độ từ 44

- 90% (trong phòng thí nghiệm), tỷ lệ vũ hoá của loài này đạt ở mức cao (91%) Vào tháng IV (26,90C) thì tỷ lệ vũ hoá của loài M manilae đạt 93%

Theo Khuất Đăng Long (2007) sau thời gian hoàn thành giai đoạn nhộng trong kén, thành trùng ong ký sinh bắt đầu cắn thủng kén để chui ra ngoài Gần như hầu hết các loài ong

ký sinh thuộc họ Braconidae là ong ký sinh bậc 1, đặc điểm chung là khi vũ hóa, chúng đều cắn thủng một đầu kén để tạo một chiếc nắp để chui ra ngoài Ong thường vũ hóa tập trung vào hai khoảng thời gian nhất định trong ngày, buổi sáng từ 6 giờ đến 10 giờ (30% đến 40%), buổi chiều từ 16 giờ đến 19 giờ (60% đến 70%) Trong điều kiện nhiệt đới, ngay sau khi vũ hóa, thành trùng ong ký sinh thường phải chịu tác động của ánh sáng rõ rệt và nhiệt độ cao vào thời gian giữa ngày, hai yếu tố này có tác động mạnh đến khả năng sống sót của ong ký sinh vừa mới vũ hóa Sự vũ hóa vào trong hai khoảng thời gian trong ngày: từ 6 giờ đến 10 giờ và từ 16 giờ đến 19 giờ có thể giúp thành trùng ong ký sinh tránh được nhiệt độ cao trong ngày, điều này hoàn toàn bất lợi vì làm mất nước và khô nhanh cơ thể

1.3.5 Tỷ lệ giới tính của ong Microplitis manilae

Theo Dương Việt Anh (2007) tỷ lệ giới tính của ong M manilae ở vụ hè thu năm

2006 đạt cao nhất trong điều kiện của phòng thí nghiệm với tỷ lệ ong cái là 43,75% và thấp nhất trong điều kiện phòng thí nghiệm là 40,32%, vụ đông xuân năm 2007 đạt cao nhất với tỷ

lệ ong cái 39,80% và thấp nhất là 36,36%

Theo Lê Thị Huyền (2009) ở nhiệt độ và ẩm độ là 26,860C, ẩm độ 72,37% thì tỷ lệ ong cái nhiều hơn so với ở nhiệt độ 28,510C, ẩm độ 71,88% Khi tăng nhiệt độ lên làm tỷ lệ ong cái xu hướng giảm xuống và tỷ lệ ong đực tăng lên

1.3.6 Khả năng sinh sản của ong Microplitis manilae

Theo Dương Việt Anh (2007) khả năng sinh sản của ong M manilae không cao,

trong số 281 ấu trùng ký chủ chỉ có 135 ấu trùng bị nhiễm có 25 ấu trùng nhiễm một trứng (chiếm 18,52%), trong khi đó có tới 110 cá thể ấu trùng nhiễm từ 2-7 trứng (chiếm 81,48 %)

Theo Huỳnh Phước Mẫn (2012) ong đẻ trứng liên tục kéo dài đến 11 ngày Trong đó

tỷ lệ ong cái đẻ trứng đến ngày thứ 5 là 100%, sau đó giảm dần đến ngày 11 chỉ còn 11,1%

Trang 22

- 9 -

Theo Lê Thị Huyền (2009) ong M manilae cho hiệu quả ký sinh cao nhất sau ngày thứ nhất vũ hóa Điều này chứng tỏ trong nhân nuôi và nhân thả nên sử dụng ong ký sinh M

manilae từ ngày thứ nhất sau vũ hóa để đạt hiệu quả ký sinh cao

1.3.7 Ảnh hưởng của tuổi ký chủ đến ong Microplitis manilae

Theo Dương Việt Anh (2007) hiệu quả ký sinh của ong M manilae đạt giá trị cao

nhất trong điều kiện phòng thí nghiệm (85,71%) ở sâu non tuổi 3 và không có khả năng ký sinh ở tuổi 6 Thành trùng của ong ký sinh 3 ngày tuổi có hiệu ký sinh cao hơn cả và đạt giá

trị 78,57% Theo Huỳnh Phước Mẫn (2012) hiệu quả ký sinh của thành trùng cái của ong M

manilae ở ấu trùng sâu ăn tạp S litura tuổi 3 cao hơn ấu trùng sâu ăn tạp S litura tuổi 2

Theo Qui (2013) tỷ lệ ký sinh của ong M manilae khác nhau đáng kể ở các độ tuổi

khác nhau của ấu trùng ký chủ từ tuổi 1 đến tuổi 5 Tỷ lệ ký sinh của ong cái ở ấu trùng ký chủ tuổi 2 và tuổi 3 cao hơn ở các tuổi khác của ấu trùng ký chủ Tỷ lệ ký sinh của ong cái ở tuổi 2 và tuổi 3 khác nhau không đáng kể

Theo Qui (2013) ấu trùng của ký chủ ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của ong ký sinh Giai đoạn phát triển của ấu trùng của ong trên ấu trùng ký chủ tuổi 4 là ngắn nhất, thời gian phát triển dài nhất khi ấu trùng ong ký sinh phát triển trên ấu trùng ký chủ tuổi 2 và tuổi

3 Ngoài ra, ấu trùng ký chủ ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng của nhộng của ong ký sinh

M manilae Khối lượng nhộng của ong ký sinh thấp nhất khi phát triển trên ấu trùng ký chủ

tuổi 1 và khối lượng của nhộng ong ký sinh cao nhất khi phát triển trên ấu trùng ký chủ tuổi

3

Theo Qui (2013) khả năng sinh sản hàng ngày cao nhất của ong ký sinh cái là 11,3, 16,0, 11,5, 4,4 trứng trên mỗi ong cái theo thứ tự tương ứng ở các tuổi 1, 2, 3, 4 Ong cái không ký sinh trên ấu trùng ký chủ tuổi 5 Thời gian ký sinh của ong cái dài nhất khi ký sinh trên ấu trùng ký chủ tuổi 2

Theo Rijapakse và ctv (1985) ong ký sinh cao ở ấu trùng ký chủ tuổi 1 và tuổi 2, ít hơn ở ấu trùng ký chủ tuổi 3 Và cao nhất xảy ra ở ấu trùng ký chủ tuổi 2 Ong ký sinh ấu trùng ký chủ ở tuổi 4 ít hơn so với các tuổi khác Ngoài ra, có sự khác biệt rất lớn ở nhóm ấu

trùng ký chủ tuổi 2 và ấu trùng ký chủ tuổi 3 Thời gian ấu trùng và nhộng của ong M

manilae giống nhau ở các nhóm ấu trùng ký chủ tuổi 1, 2, 3 Ở nhóm ấu trùng ký chủ tuổi 4,

thời gian phát triển từ trứng đến nhộng và từ nhộng đến thành trùng cao hơn 2 ngày Ngoài

ra, ở nhóm ấu trùng ký chủ tuổi 1 có nhiều ong ký sinh đực vũ hóa hơn đáng kể, trong khi đó

ở nhóm ấu trùng tuổi 2 có nhiều ong ký sinh cái vũ hóa hơn Không có sự khác biệt tỷ lệ của hai giới tính ong ký sinh vũ hóa ở nhóm ấu trúng ký chủ tuổi 3 và tuổi 4

1.3.8 Ảnh hưởng của mật độ ấu trùng sâu ăn tạp và mật độ của ong Microplitis manilae đến hiệu quả ký sinh của ong Microplitis manilae

Theo Dương Việt Anh (2007) hiệu quả ký sinh của ong M manilae trên ấu trùng sâu

ăn tạp S litura bị ảnh hưởng bởi tuổi ấu trùng ký chủ, mật độ ký chủ và tuổi của ký chủ

Trang 23

- 10 -

Theo Lê Thị Huyền (2009) khả năng ký sinh của ong M manilae phụ thuộc mật độ của ong

M manilae và mật độ ấu trùng sâu ăn tạp S litura

Theo Lê Thị Huyền (2009) khi ở mật độ 10 ấu trùng sâu ăn tạp thì nên thả 3 cặp ong đạt tỷ lệ ký sinh cao nhất 80,00% Mật độ ong tăng từ 1 đến 3 cặp thì tỷ lệ ký sinh tăng nhưng nếu tăng đến 4, 5 cặp thì tỷ lệ ký sinh giảm Khi ở mật độ 15 ấu trùng sâu ăn tạp thì ta có thể thả ở 3 mức 3, 4, 5 cặp ong đều cho tỷ lệ ký sinh cao trên 80,00% Tỷ lệ ký sinh này có thể kiểm soát được mật độ sâu rất tốt ở mật độ 15 ký chủ sâu ăn tạp Khi ở mật độ 25 ấu trùng ký chủ sâu ăn tạp đạt tỷ lệ ký sinh cao nhất ở các mật độ ở mức 3, 4, 5

Theo Khuất Đăng Long (2007) hiệu quả ký sinh của ong cái M manilae phụ thuộc khá rõ rệt vào mật độ ấu trùng sâu ăn tạp S litura trên đồng ruộng Nếu hiệu quả ký sinh

được tính số lượng ấu trùng ký chủ bị nhiễm bởi một cặp ong ký sinh trong thời gian 24 giờ thì hiệu quả ký sinh sẽ tăng lên nếu tiếp xúc cùng lúc nhiều ấu trùng ký chủ Tuy nhiên, trên

thực tế ở loài M manilae, khi mật độ ấu trùng sâu tăng lên, khả năng sinh sản của ong cái chỉ

đạt tới một ngưỡng nhất định

1.3.9 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến ong Microplitis manilae

Theo Qui (2012) tỷ lệ sống sót ở các giai đoạn ấu trùng, giai đoạn nhộng và giai đoạn

thành trùng của ong M manilae có sự khác biệt đáng kể ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau

Ngoài ra, nhiệt độ ảnh hưởng đến các giai đoạn trứng, giai đoạn ấu trùng, giai đoạn nhộng, giai đoạn thành trùng một cách đáng kể Theo đó, thời gian phát triển cho trứng, ấu trùng và thành trùng ngắn lại khi nhiệt độ tăng từ 17 - 32oC

Ngoài ra, nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của ong M manilae Khả

năng sinh sản của thành trùng cái ở 17, 20, 23, 26, 29oC cao hơn đáng kể so với ở 32o

C, nhưng không có sự khác biệt ở điều kiện nhiệt độ trong khoảng từ 17 đến 29o

C Khả năng sinh sản hàng ngày của thành trùng cái là 21,4, 21,2, 20,4, 22,6, 26,4 và 27,4 trứng tương ứng

ở 17, 20, 23, 26, 29 và 32oC Thành trùng cái đẻ hầu hết trứng ở giai đoạn sớm và đạt mức cao nhất Giai đoạn đẻ trứng rút ngắn khi nhiệt độ tăng từ 17 đến 32 oC (Qui, 2012)

1.3.10 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian sống của ong Microplitis manilae trong

điều kiện không sinh sản

Theo Dương Việt Anh (2007) yếu tố thức ăn có ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian

sống của ong ký sinh M manilae Thời gian sống cao nhất trong điều kiện phòng thí nghiệm

ở công thức mật ong nguyên chất là 8 ngày, trung bình 4,29 ± 0,66 ngày, ở công thức mật ong 10% thời gian sống cao nhất trong điều kiện phòng thí nghiệm là 6 ngày, trung bình 3,08

± 0,34 ngày Ở công thức nước lã thời gian sống cao nhất trong điều kiện phòng thí nghiệm là

3 ngày, trung bình 1,67 ± 0,6 ngày Qua đó, mật ong nguyên chất là thức ăn phù hợp nhất trong điều kiện phòng thí nghiệm

1.3.10 Ảnh hưởng của kairomone lên khả năng định vị ký chủ của ong kén vàng

Ngày đăng: 17/09/2015, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên  Trang - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ash  (hymenoptera braconidae)
ng Tên Trang (Trang 13)
Bảng 2.1 Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của dinh - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ash  (hymenoptera braconidae)
Bảng 2.1 Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của dinh (Trang 27)
Bảng 2.2 Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của mật - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ash  (hymenoptera braconidae)
Bảng 2.2 Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của mật (Trang 28)
Bảng  3.1  Thời  gian  sống  của  thành  trùng  ong  M.  manilae  khi  ăn  mật  ong  4%,  nước - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ash  (hymenoptera braconidae)
ng 3.1 Thời gian sống của thành trùng ong M. manilae khi ăn mật ong 4%, nước (Trang 29)
Bảng 3.2 Thời gian sống của thành trùng ong  M. manilae khi ăn nước cất, nước đường - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ash  (hymenoptera braconidae)
Bảng 3.2 Thời gian sống của thành trùng ong M. manilae khi ăn nước cất, nước đường (Trang 30)
Bảng  3.3  Thời  gian  sống  của  thành  trùng  ong  M.  manilae  khi  ăn  mật  ong  10%, - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ash  (hymenoptera braconidae)
ng 3.3 Thời gian sống của thành trùng ong M. manilae khi ăn mật ong 10%, (Trang 32)
Bảng 3.4 Thời gian sống của thành trùng ong M. manilae khi ăn mật ong 10%, 50%, và - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dinh dưỡng đến thời gian sống của thành trùng ong ký sinh microplitis manilae ash  (hymenoptera braconidae)
Bảng 3.4 Thời gian sống của thành trùng ong M. manilae khi ăn mật ong 10%, 50%, và (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm