Nhằm giúp các bạn đánh giá hiệu quả kinh tế của các trang trại cũng như việc lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi và phương án đầu tư như thế nào để có hiệu quả và giảm bớt rủi ro là việc làm cần thiết, mời các bạn cùng tham khảo nội dung đề tài Đánh giá hiệu quả kinh tế các trang trại trên địa bàn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông, lâm,ngư nghiệp với quy mô, mức độ tập trung các yếu tố sản xuất tương đối lớn sovới các hình thức sản xuất thông thường của các hộ gia đình ở nông thôn Đây
là một mô hình kinh tế quan trọng giúp nông dân phát triển sản xuất, khai thác
và sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, nhân lực, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý,góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, giải quyết việc làm, tăng thu nhập,khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động,dân cư, xây dựng nông thôn mới
Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắnliền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn từng bước chuyển dịchlao động nông nghiệp sang làm các nghành phi nông nghiệp, góp phần thúcđẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Loạihình sản xuất này vừa nâng cao năng suất lao động, tỷ suất hàng hóa: vừa tạosản phẩm đồng nhất về chất lượng, tạo được thương hiệu, cạnh tranh với hànghóa nông sản thế giới Kinh tế trang trại đóng góp quan trọng trong nền kinh
tế của các quốc gia trên thế giới Thực tế cho thấy tác dụng nhiều mặt củakinh tế trang trại trong việc góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tạo
ra khối lượng nông sản hàng hóa ngày càng nhiều, góp phần giải quyết cácvấn đề kinh tế - xã hội, môi sinh môi trường của các địa phương và cả nước.Nhận thức được xu thế có tính quy luật đó, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm,khuyến khích kinh tế trang trại phát triển Với hàng loạt các văn bản phápluật, các chính sách được ban hành nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý, tạo điềukiện hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở nước ta Thực tế cho thấykinh tế trang trại Việt Nam phát triển mạnh từ sau nghị quyết 10 – NQ/TWcủa Bộ Chính trị tháng 4 năm 1988 Trong nghị quyết 4 BCHTW Đảng (khóa8) và nghị quyết số 06 (ngày 10/11/1998) của Bộ Chính trị khẳng định và
Trang 2khuyến khích phát triển kinh tế trang trại Ngày 2/2/2000 Chính phủ cũng banhành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại nhằm nêu bật vai trò và
đề ra các chính sách thúc đẩy loại hình kinh tế này
Tuy vậy, phát triển kinh tế trang trại hiện còn không ít khó khăn, vướngmắc Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại trong thời gian qua mangtính tự phát, thiếu sự quy hoạch tổng thể làm cho trang trại mạnh mún, khôngbền vững Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm sản xuất cũng như quản lý củachủ trang trại còn yếu và thiếu Sản phẩm của trang trại chủ yếu tiêu thụ quathương lái nên thường bị ép cấp, ép giá làm thiệt hại cho sản xuất Với tốc độphát triển kinh tế mang nhiều màu sắc mới, đa dạng hơn như hiện nay Đểkinh tế trang trại thực sự trở thành loại hình kinh tế năng động đáp ứng nhucầu hội nhập thì Nhà nước, nông dân cần phải có những lời giải, phương phápnhằm giải đáp, tháo gỡ nhiều bài toán khó khăn vướng mắc ở tầm vĩ mô và vi
mô liên quan đến nhận thức, cơ chế chính sách và các giải pháp cụ thể nhưđất đai, vốn lao động, khoa học công nghệ, tổ chức quản lý, thị trường …vàtrong tương lai có những loại hình trang trại nào? Nó sẽ hoạt động ra saotrong cơ chế thị trường? Làm thế nào để trang trại phát huy được tính ưu việtcủa từng địa phương và hoạt động có hiệu quả kinh tế cao hơn? Đó là vấn đềphức tạp, đòi hỏi phải có điều tra nghiên cứu rõ ràng mới có căn cứ cho các
cơ quan quản lý Nhà nước có được chính sách phù hợp cho loại hình kinh tếnày
Hương Khê là một huyện miền núi của tỉnh Hà Tĩnh, ở đây loại hìnhkinh tế trang trại phát triển khá phổ biến Tuy nhiên trong quá trình phát triểncòn nhiều tồn tại, trong đó hiệu quả kinh tế thấp chưa tương xứng với tiềmnăng của nó Vì vậy, đánh giá hiệu quả kinh tế của các trang trại cũng nhưviệc lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi và phương án đầu tư như thế nào để
có hiệu quả và giảm bớt rủi ro là việc làm cần thiết Chính vì thế, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế các trang trại trên địa bàn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh”.
Trang 31.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tiến hành nghiên cứu thực trạng hiệu quả kinh tế các trang trại trên địabàn huyện Hương Khê, tìm ra những khó khắn vướng mắc và đề xuất nhữnggiải pháp nhằm nâng cao hiệu kinh tế trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Hiệu quả kinh tế của các trang trại tại huyện Hương Khê như thế nào?
2 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trang trại và mứcảnh hưởng của chúng ra sao?
3 Những khó khăn cơ bản trong việc phát triển trang trại và nâng caohiệu quả kinh tế trang trại?
4 Những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại và nâng caothu nhập cho các chủ trang trại?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề có liên quan đến trang trại, hiệu quả và nâng cao hiệuquả kinh tế trong các trang trại ở trên địa bàn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 4- Phạm vi không gian
Nghiên cứu các trang trại ở huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
- Phạm vi thời gian
Số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài từ năm: 2008 - 2010
Thời gian nghiên cứu: tháng 1 năm 2010 đến tháng 5 năm 2010
- Phạm vi nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu các khía cạnh kinh tế xã hội bao gồm các yếu tố sản xuấtnhư đất đai, lao động, vốn, chi phí, kết quả và hiệu quả kinh tế các trang trại
Qua đó tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cáctrang trại trên địa bàn huyện Hương Khê
Trang 5PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại
Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại là những khái niệm khárộng và đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhưng còn nhiều mặt chưathống nhất Tuy nhiên, các học giả đều thống nhất quan điểm cho rằng, trangtrại là loại hình sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính làsản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sửdụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất vàcác yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôngắn với thị trường
Hiện nay, ở Việt Nam hai khái niệm trang trại và kinh tế trang trạinhiều khi được sử dụng như là hai thuật ngữ đồng nhất Tuy nhiên, đây là haikhái niệm không đồng nhất
Trang trại là đơn vị kinh tế sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả nông,lâm, thuỷ sản) gồm một người chủ trang trại họ vừa là người làm chủ vềruộng đất, làm chủ về tư liệu sản xuất vừa là người tổ chức sản xuất kinhdoanh, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mìnhvới mục đích chính là sản xuất hàng hoá và một phần sản phẩm được sử dụngcho tiêu dùng của gia đình
Trang trại là đơn vị sản xuất cơ sở trong nông nghiệp được phát triểntrên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân với mục đích chính là sản xuất hànghoá
Với mức độ phát triển cao, trang trại là một doanh nghiệp nông nghiệpsản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến, có khảnăng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, vừa sử dụng lao động gia
Trang 6đình, vừa sử dụng lao động làm thuê, tự chủ về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,thực hiện hạch toán kinh doanh.
Kinh tế trang trại (KTTT) là một hình thức tổ chức sản xuất trong nôngnghiệp với mục đích là sản xuất hàng hoá trên cơ sở tự chủ về ruộng đất, tưliệu sản xuất của hộ gia đình, tự hạch toán và tự chịu trách nhiệm về kết quảsản xuất kinh doanh
Như vậy, trang trại là khái niệm rộng hơn, là tổng thể các yếu tổ baogồm cả kinh tế, xã hội và môi trường Còn nói đến KTTT là chủ yếu đề cậpđến yếu tố kinh tế của trang trại và cũng là vấn đề mẫu chốt của các đơn vịkinh tế
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Sau đâychúng tôi xin đề cập đến một số quan điểm:
Phạm Minh Đức và cộng sự (1997), Báo cáo khoa học về nghiên cứu
xu thế phát triển kinh tế hộ nông dân và mô hình kinh tế trang trại ở miền Bắc, Viện kinh tế nông nghiệp, Hà Nội: “Trang trại là một loại hình sản xuất nông nghiệp hàng hoá của hộ, do một người chủ hộ có khả năng đón nhận những cơ hội thuận lợi, từ đó huy động thêm vốn và lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất
và dịch vụ những sản phẩm theo yêu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao”.
PGS Trần Đức cho rằng (1998), kinh tế trang trại vùng đồi núi, NXB Thống kê, Hà Nội: “Trang trại là chủ lực của tổ chức làm nông nghiệp ở các
nước bản cũng như các nước phát triển và theo các nhà khoa học khẳng định
là tổ chức sản xuất kinh doanh của nhiều nước trên thế giới trong thể kỷ XXI”.
Nguyễn Thế Nhã (1999), “Phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam thực
trạng và những giải pháp”, Hội thảo ĐHNN I, Hà Nội cho rằng: “Trang trại
là một loại tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc
Trang 7quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tổ sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động
tự chủ và luôn gắn với thị trường”.
PGS.TS Lê Trọng (2000), phát triển và quản lý trang trại trong nền
kinh tế thị trường, NXB Nông nghiệp, Hà Nội cho rằng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định”.
Ks Trần Hữu Quang cho rằng: “Trang trại là hình thức tổ chức sản
xuất nông nghiệp dựa trên cơ sơ lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra thu nhập chính cho gia đình đáp ứng nhu cấu xã hội”.
Theo nghị định 03/2000/NĐ - CP ngày 02/02/2000 của Chính Phủ vềkinh tế trang trại:
“Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng gắn bó với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”.
2.1.2 Đặc trưng của kinh tế trang trại
Theo các khái niệm trên thì kinh tế trang trại có những đặc trưng sau:
- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hànghoá với quy mô lớn
- Mức độ tập trung và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuấtcao hơn hẳn so với sản xuất nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như đất đai,
số đầu gia súc, lao động, giá trị nông thuỷ sản hàng hoá
Trang 8- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sảnxuất, biết áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao côngnghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và lao động làm thuê bênngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ.
- Những đặc trưng của kinh tế trang trại xuất phát từ những điểm khácbiệt mang tính bản chất của kinh tế trang trại so với các hình thức sản xuấtnông nghiệp tập trung khác và so với kinh tế hộ
- Quy mô sản xuất hàng hoá được thể hiện qua tỷ suất hàng hoá là đặctrưng cơ bản nhất của kinh tế trang trại Đây là chuẩn mực hàng đầu và quantrọng nhất để phân biệt một hộ nông dân sản xuất theo hình thức tiểu nông với
hộ sản xuất theo hình thức trang trại Kinh tế trang trại thực hiện sản xuất vớiquy mô lớn nhờ sự tập trung cao hơn với mức bình quân chung của kinh tế hộ
ở từng vùng về các nguồn lực và điều kiện sản xuất nên quy mô của kinh tếtrang trại lớn hơn nhiều so với mức bình quân chung của kinh tế hộ không chỉthể hiện bằng quy mô của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn…) mà cả
về quy mô thu nhập Vì mục đích của trang trại là sản xuất hàng hoá với quy
mô lớn nên thường phát triển theo hướng chuyên môn hoá hoặc chuyên mônhoá kết hợp với phát triển tổng hợp nhằm tận dụng tối đa ưu thế của vùng vàtránh rủi ro Nhu cầu và khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vàosản xuất của trang trại lớn hơn nông hộ tiểu nông nhằm đảm bảo khả năngcạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và hiệu quả thu được ngày càng cao
2.1.3 Tiêu chí nhận dạng và phân loại trang trại
2.1.3.1 Tiêu chí nhận dạng trang trại
Chúng ta dựa vào khái niệm và đặc trưng của trang trại để đưa ra nhữngtiêu chí nhận dạng trang trại gồm có tiêu chí về mặt định tính và tiêu chí vềmặt định lượng
Trang 9- Về mặt định tính: Đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất ra sản
phẩm hàng hoá Tiêu chí này được thống nhất đối với tất cả các nước trên thếgiới
- Về mặt định lượng: Thông qua các chỉ số cụ thể nhằm phân biệt đâu
là trang trại và đâu không phải là trang trại qua đó phân loại ra quy mô giữacác trang trại
- Trên thế giới: Để nhận dạng đâu là trang trại và đâu chưa phải là trangtrại hầu hết sử dụng chỉ tiêu định tính chung có đặc trưng là sản xuất hàng hoáchứ không phải là sản xuất tự cấp tự túc Chỉ một số nước sử dụng chỉ tiêuđịnh lượng để nhận dạng trang trại như: Mỹ, Trung Quốc… Chủ yếu là cácchỉ tiêu về diện tích, giá trị sản lượng hàng hoá, trong đó chỉ tiêu về diện tíchtrang trại ở mỗi nước khác nhau tùy thuộc vào quỹ đất Ở Nhật Bản, Đài Loanphân loại trang trại có diện tích từ 0,3ha đến 10ha trở lên
- Ở Việt Nam: Kinh tế trang trại được phát triển ở hầu hết các ngànhnông, lâm, ngư nghiệp Quy mô và phương thức sản xuất rất đa dạng
Theo nghi quyết của Chính phủ về kinh tế trang trại, ngày 26/06/2000.Liên bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và tổng cục thống kê đã banhành thông tư liên tịch 69/2000TTLT/BNN-TCTK về hướng dẫn về tiêu chí
để xác định trang trại Tiêu chỉ nêu rõ:
Mỗi hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đượcxác định là trang trại phải đạt cả hai tiêu chí định lượng dưới đây:
- Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân mỗi năm:
+ Đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồngtrở lên
+ Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
- Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế hộtương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế:
a Đối với trang trại trồng trọt:
Trang 10(1) Trang trại trồng cây hàng năm:
- Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung
- Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
(2) Trang trại trồng cây lâu năm:
- Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
- Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên
(3) Trang trại lâm nghiệp từ 10 ha trở lên
b Đối với trang trại chăn nuôi:
(1) Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò
- Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
- Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
(2) Chăn nuôi gia súc: lợn, dê
- Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên từ 20 con trở lên, đối với dê cừu
c Trang trại nuôi trồng thuỷ sản:
Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên
d Đối với các loại sản phẩm lâm nghiệp nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặcthù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản và thuỷ đặcsản thì tiêu chí xác định là giá trị hàng hoá
2.1.3.2 Phân loại trang trại
Hiện nay, có nhiều cách phân loại khác nhau đối với trang trại, tùy vàođặc điểm, điều kiện cụ thể ở từng nước, từng vùng Việc phân loại có ý nghĩaquan trọg trong việc nghiên cứu, phân tích và đưa ra các giải pháp phù hợpvới từng loại hình Sau đây là một số cách phân loại chính:
Trang 11a Phân loại theo hình thức tổ chức quản lý
- Trang trại gia đình: Là loại hình trang trại độc lập sản xuất kinh
doanh, mỗi gia đình có tư cách pháp nhân riêng do người chủ hộ hay người cónăng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý
- Trang trại liên doanh: Là kiểu trang trại do hai hay nhiều trang trại
hợp thành một trang trại lớn hơn để tăng them khả năng về vốn và tư liệu sảnxuất nhằm tạo ra sức cạnh với các trang trại khác có quy mô lớn và tận dụngđịnh hướng ưu đãi của nhà nước dành cho các trang trại lớn
- Trang trại hợp doanh: Là trang trại được tổ chức theo nguyên tắc một
công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sảnphẩm Loại trang trại này thường có quy mô lớn và được chuyên môn hoá sảnxuất, sử dụng lao động làm thuê là chủ yếu
b Phân loại theo hướng quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh
- Chủ trang trại hầu hết là người nông dân sống ở nông thôn Họ làngười trực tiếp quản lý sản xuất
- Chủ trang trại sống ở nơi khác nhưng vẫn điều hành trang trại
- Chủ trang trại là người sống ở thành phố, có trang trại ở nông thôn vàthuê người quản lý điều hành mọi hoạt động sản xuất của trang trại
- Trang trại uỷ thác cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất từng việctheo thời vụ hay liên tục nhiều việc
c Phân loại theo cơ cấu thu nhập
- Trang trại thuần nông: Là trang trại chủ yếu chăn nuôi, trồng trọtkhông có chế biến, sản phẩm sản xuất ra bán luôn Khi công nghiệp ngàycàng phát triển thì loại hình này ngày càng giảm
- Trang trại có thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp
d Phân loại theo cơ cấu sản xuất
- Trang trại kinh doanh tổng hợp: Kết hợp công nghiệp với tiểu thủ
công nghiệp
Trang 12- Trang trại chuyên môn hoá: Chuyên nuôi gà, vỗ béo lợn, nuôi bò thịt
hoặc bò sữa, trồng cây ăn quả…hoặc chuyên sản xuất nông, lâm, thuỷ sản làmnguyên liệu cho công nghiệp chế biến
e Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
- Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất từ đất đai, công cụ, máymóc, chuồng trại, kho bãi…
- Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất, một phần phải đi thuêngoài (có đất đai nhưng phải đi thuê máy móc công cụ)
- Chủ trang trại hoàn toàn không có tư liệu sản xuất, phải đi thuê toàn
bộ đất đai, máy móc, thiết bị, kho tàng, mặt nước, chuồng trại
2.1.4 Vai trò và xu hướng phát triển của kinh tế trang trại
* Vai trò
Trong nền nông nghiệp thế giới, trang trại là hình thức tổ chức cơ sởchủ yếu Ở nước ta, mặc dù mới được phát triển nhưng kinh tế trang trại đãthể hiện vai trò quan trọng và tích cực không những về kinh tế mà còn cả về
xã hội và môi trường
Về mặt kinh tế, các trang trại đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc phục tìnhtrạng sản xuất phân tán, manh mún tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tậptrung hàng hoá và thâm canh cao Mặt khác, qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là côngnghiệp chế biến và dịch vụ cho sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy, việcphát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền vớiviệc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả hơn các nguồn lựctrong nông nghiệp nông thôn so với kinh tế hộ Do vậy, phát triển kinh tếtrang trại góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nôngnghiệp, nông thôn và kinh tế hộ
Trang 13Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại có vai trò quan trọng trong
việc làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhậpcho lao động Điều này có ỹ nghĩa rất quan trọng trong giải quyết vấn đề laođộng và việc làm, một trong những vấn đề bức xúc trong nông nghiệp vànông thôn ở nước ta hiện nay Mặt khác, do trang trại được phát triển chủ yếu
ở những vùng khó khăn về cơ sở hạ tầng nên phát triển kinh tế trang trại còngóp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn Các hộ trangtrại là tấm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức quản lý kinhdoanh, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới về khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Vì vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào việc giải quyết cácvấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn ở nước ta
Về môi trường, do sản xuất kinh doanh tự chủ và lợi ích thiết thực, lâu
dài của mình mà các chủ trang trại đã luôn có ý thức khai thác hợp lý và quantâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinhthái trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng Đặc biệt, các trang trạitrung du miền núi đã góp phần tích cực vào việc phủ xanh đất trống, đồi núitrọc bảo vệ môi trường sinh thái
* Xu hướng phát triển của kinh tế trang trại
Các trang trại hình thành và phát triển theo những xu hướng chủ yếu sau:
- Tích tụ và tập trung sản xuất:
Sau khi hình thành các trang trại vẫn tiếp tục diễn ra quá trình tập trung
và tích tụ sản xuất Tuy nhiên, tính chất và mức độ tích tụ và tập trung lúc nàykhông hoàn toàn giống như tích tụ và tập trung các yếu tổ sản xuất của nông
hộ để hình thành trang trại Tích tụ và tập trung trong phát triển trang trại lúcnày là mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đểđứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường
- Chuyên môn hoá sản xuất:
Trang 14Sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hoá là xu hướng tất yếu trongsản xuất kinh doanh của trang trại vì muốn sản xuất hàng hoá phải đi vàochuyên môn hoá sản xuất Nhưng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nênchuyên môn hoá phải kết hợp với sản xuất đa dạng một cách hợp lý để khaithác có hiệu quả các nguồn lực đất đai, vốn, cơ sở vật chất - kỹ thuật, laođộng, đồng thời hạn chế rủi ro về thiên tai và biến động của thị trường.
- Nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hóa sản xuất:
Xu hướng nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất trong cáctrang trại là xu hướng tất yếu gắn liền với nâng năng suất lao động, năng suấtcây trồng vật nuôi Để làm được điều đó, các trang trại phải đầu tư xây dựng
và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất, tăng cường áp tiến bộ kỹthuật đặc biệt là công nghệ sinh học Mặc khác, phải xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho từng trang trại phù hợp với sự phát triển khoa học của vùng có sự
hỗ trợ nhất định của Nhà nước trong vấn đề xây dựng công trình nông thôn,nghiên cứu và phổ biến kỹ thuật thâm canh
- Hợp tác và cạnh tranh:
Các trang trại muốn sản xuất hàng hóa phải hợp tác và liên kết với nhau
và với những đơn vị, tổ chức khác Hợp tác để giúp nhau giải quyết tốt hơnnhững vấn đề của sản xuất kinh doanh như thủy nông, bảo vệ thực vật, các vật
tư đầu vào cho sản xuất và đặc biệt là đầu ra cho sản phẩm Đi đôi với việchợp tác các trang trại phải cạnh tranh với các tổ chức và đơn vị kinh tế khác
để tiêu thụ sản phẩm, tái sản xuất mở rộng
2.1.5 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
2.1.5.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là thỏa mãn nhu cầungày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, trong khi nguồn lựcsản xuất có hạn và ngày càng khan hiếm Do vậy, việc nâng cao hiệu quả xãhội là một đòi hỏi khách quan với mọi nền sản xuất xã hội Từ những giác độ
Trang 15nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm khác nhau vềhiệu quả kinh tế.
* Quan điểm 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bởi kết quả đạt được và
chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
* Quan điểm 2: Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Công thức tính:
H= Q – C
Xét trên phương diện kinh doanh, kết quả phép trừ trên là kết quả lợinhuận trong sản xuất Thực tế trong nhiều trường hợp không thực hiện đượcphép trừ hay phép trừ không có nghĩa Tuy nhiên nếu ta thực hiện được phép
so sánh kết quả của hai phép trừ với đại lượng chi phí bỏ ra như nhau, ta cóđược phần chênh lệch thì đây là hiệu quả kinh tế Hiện nay quan điểm này chỉ
sử dụng trong vài trường hợp nhất định Hệ số H (đại lượng tuyệt đối hay sốchênh lệch) chỉ phản ảnh được quy mô của hiệu quả nhưng không phản ảnhđược trình độ sử dụng nguồn lực (đầu vào)
Trang 16* Quan điểm 3: Hiệu quả kinh tế được xem xét trong phần biến động
giữa chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh Nó biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữaphần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí
tế, kết quả sản xuất luôn là hệ quả của chi phí sẵn có và chi phí bổ sung
2.1.5.2 Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bố và hiệu quả kinh tế
a Hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả kỹ thuật rất quan trọng trong sản xuất, đặc biệt là ở các quốcgia đang phát triển và các quốc gia có nguồn lực khan hiếm ít có cơ hội pháttriển hay việc phát triển công nghệ mới là rất khó khăn Ở những nước nàyviệc nâng cao lợi ích kinh tế được thể hiện bằng việc nâng cao hiệu quả kỹthuật hơn là phát triển công nghệ mới Hơn nữa, tất cả các hãng, các trangtrại, các nông hộ đều muốn sản xuất ở mức độ tốt nhất để đạt lượng tối đa hơn
là chỉ sản xuất ở mức sản lượng trung bình
Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm thu thêm trên một đơn vị đầu vào đầu
tư thêm Nó được đo bằng tỷ số giữa số lượng sản phẩm tăng thêm trên chiphí tăng thêm số này gọi là sản phẩm biên Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồnlực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuậtcủa việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữađầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và các sản phẩm khi nông dânquyết định sản xuất
Trang 17b Hiệu quả phân bổ
Hiệu quả phân bổ là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phíđầu tư thêm Nó là hiệu quả kỹ thuật nhân với giá trị sản phẩm và giá đầu vào
Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên Thực chất hiệu quả phân
bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các giá đầu vào và giá đầu ra, vì thế nó cònđược gọi là hiệu quả giá Việc xác định hiệu quả phân bổ giống như việc xácđịnh các điều kiện lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận
c Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệuquả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật
và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nôngnghiệp Nếu đạt một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổthì chỉ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh
tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật vàhiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế = Hiệu quả kỹ thuật x Hiệu quả phân bổ
2.1.5.3 Hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Hiệu quả xã hội là sự phản ánh mối tương quan giữa các kết quả các lợiích về mặt xã hội và sản xuất mang lại với chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả
đó như về việc giải quyết công ăn việc làm…
Hiệu quả môi trường: Hiệu quả đạt được làm tăng độ phì của đất, giảiquyết ô nhiễm môi trường
2.1.5.4 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Từ những quan điểm về hiệu quả kinh tế nêu trên cho chúng ta thấy hiệuquả là một phạm trù trọng tâm rất cơ bản của khoa học kinh tế và quản lý
* Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù kinh tế khách quan, nhưng
nó không phải là mục đích cuối cùng mà là mục tiêu của sản xuất Mục đíchcủa sản xuất là thỏa mãn tốt nhất nhu cầu về vật chất, tinh thần sáng tạo ra
Trang 18những kết quả hữu ích ngày càng cao của xã hội Nhưng đạt được mục tiêu vềhiệu quả kinh tế là với khối lượng nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng sảnphẩm có ích lớn nhất.
* Kết quả và HQKT có quan hệ khăng khít với nhau Kết quả là mộtđại lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nội dung và tùy thuộcvào từng thời điểm cụ thể để xác định
Trong nền sản xuất hàng hóa kết quả hữu ích đạt được chịu tác độngcủa các quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hóa, nền kinh tế thị trường quyluật hiệu xuất giảm dần và các quy luật kinh tế khác trong điều kiện kinh tế xãhội nhất định Trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa ngoài sự ảnh hưởngcủa các quy luật trên kết quả còn chịu ảnh hưởng của các quy luật tự nhiên,đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và đặc trưng của thị trường
Điều trên cũng cho thấy hiệu HQKT không chỉ là một phạm trù kinh tế
mà còn mang tính chất của phạm trù xã hội Mặt khác, trong nông nghiệp dotính đặc tù của nó nên việc xác định, so sánh hiệu quả kinh tế là khó khăn vàmang tính chất tương đối
* Hiệu quả là một đại lượng để đánh giá xem xét kết quả hữu ích đượctạo ra như thế nào từ nguồn chi phí bao nhiêu, trong điều kiện cụ thể nào và
có thể nhận được hay không Như vậy, HQKT liên quan trực tiếp đến các yếu
tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất
* Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp trong điều kiệnkinh tế thị trường, việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra có nhiều khó khăn:
* Những khó khăn trong xác định yếu tố đầu vào:
Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng tư liệu sản xuất vào nhiềuquá trình sản xuất không đồng đều Hơn nữa có loại rất khó để xác định giá trịđào thải và chi phí sửa chữa lớn Vì thế, việc khấu hao và phân bố chi phí đểtìm đúng chi phí sản xuất chỉ có tính tương đối
Trang 19Các chi phí sản xuất chung như phải xây dựng cơ sở hạ tầng, chi phíthông tuyên truyền, giáo dục đào tạo, khuyến cáo kỹ thuật cần phải được hạchtoán vào chi phí, nhưng thực tế không tính được một cách cụ thể Ảnh hưởngcủa thị trường làm giá cả biến động, mức độ trượt giá gây khó khăn trong việcxác định các loại chi phí sản xuất.
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên tác động lớn đến quá trình sản xuấtnông nghiệp và hiệu quả của nó Tuy nhiên, mức độ tác động của các yếu tốnày đến nay vẫn chưa có phương pháp xác định chuẩn
* Những khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra:
Kết quả sản xuất về mặt vật chất có thể lượng hóa để tính và so sánhtrong thời gian và không gian cụ thể nào đó Nhưng những kết quả về mặt xãhội, môi trường sinh thái, độ phì của đất, khả năng nông nghiệp cạnh tranhtrên thị trường của một doanh nghiệp hay của vùng sản xuất thì không thểlượng hóa và chỉ được bộc lộ trong thời gian dài Đó là việc khó khăn trongviệc xác định đủ và đúng các yếu tố đầu ra
Mong muốn của người sản xuất là tăng nhanh kết quả hữu ích hay mụcđích cuối cùng của sản xuất là đáp ứng tốt những nhu cầu về mặt vật chất,tinh thần, văn hóa xã hội Đồng thời, mục tiêu của người sản xuất là tiết kiệmcác yếu tố đầu vào để tăng nhanh kết quả hữu ích đó hay tăng hiệu quả kinh
tế Bản chất của HQKT là thực hiện tối ưu giữa yếu tố đầu vào với đầu ra
2.1.5.5 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Bất kỳ một quốc gia nào, một ngành nào hay một đơn vị sản xuất kinhdoanh đều mong muốn rằng với nguồn lực có hạn làm thế nào để tạo ra lượngsản phẩm lớn nhất và chất lượng cao nhất nhưng có chi phí thấp nhất Vì thếtất cả các hoạt động sản xuất đều được tính toán kỹ lưỡng sao cho hiệu quảcao nhất Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng lợi nhuận, từ đó các nhàsản xuất tích lũy vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng đổi mới côngnghệ tạo ra lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị trường…đồng thời không ngừng
Trang 20nâng cao thu nhập cho người lao động Đây chính là nguồn gốc để giải quyếtmọi vấn đề.
Đối với sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế các nguồn lựctrong đó hiệu quả sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng Muốn nâng caohiệu quả kinh tế các hình thức sử dụng đất nông nghiệp thì một trong các vấn
đề cốt lõi là phải tiết kiệm nguồn lực Cụ thể với nguồn đất đai có hạn yêu cầuđặt ra với người sử dụng đất là tạo ra được số lượng nông sản có số và chấtlượng nông sản cao nhất Mặt khác, phải không ngừng bồi đắp độ phì nhiêucủa đất Từ đó sản xuất mới có cơ hội để tích lũy vốn tập trung vào tái sảnxuất mở rộng
Nâng cao hiệu quả kinh tế là tất yếu của sự phát triển xã hội Tuynhiên, ở các đơn vị khác nhau thì có sự quan tâm khác nhau Đối với ngườisản xuất, tăng hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận Ngược lại, người tiêudùng muốn tăng hiệu quả chính là họ được sử dụng hàng hóa với giá thànhngày càng hạ và chất lượng hàng hóa ngày càng tốt hơn Khi xã hội càng pháttriển, công nghệ ngày càng cao, việc nâng cao hiệu quả sẽ gặp nhiều thuậnlợi Nâng cao hiệu quả sẽ làm cho cả xã hội có lợi hơn, lợi ích của người sảnxuất và người tiêu dùng ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, việc nâng caohiệu quả kinh tế phải đặt trong mối quan hệ bền vững giữa HQKT với hiệuquả xã hội và hiệu quả môi trường trước mắt và lâu dài
2.1.5.6 Hiệu quả xã hội
Trong điều kiện hiện nay, đối với các ngành sản xuất nói chung và sảnxuất nông nghiệp, lâm nghiệp nói riêng, khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinhdoanh không chỉ nhìn nhận đơn thuần về mặt kinh tế mà còn chú ý đế việc hàihòa kinh tế, xã hội và môi trường Những lợi ích mà xã hội thu được chính là
sự đáp ứng của trang trại đối với việc thực hiện chung của xã hội và của nềnkinh tế Sự đáp ứng này mang tính chất định tính và định lượng:
Trang 21Về mặt định lượng, đó là mức đóng góp của trang trại và ngân sách từ
hoạt động sản xuất kinh doanh như: Thuế giá trị gia tăng, Thuế lợi tức, Thuế
sử dụng đất…Đây là phần giá trị gia tăng từ hoạt động sản xuất kinh doanhcủa trang trại đóng góp cho xã hội Chỉ tiêu về số lao động có việc làm từ hoạtđộng của trang trại kể cả lao động trong gia đình và thuê ngoài Vì trong điềukiện của nước ta hiện nay nói riêng, các nước trên thế giới nói chung, việcgiải quyết lao động có việc làm là một trong những mục tiêu chủ yếu củachiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi đất nước
Về mặt định tính, đó là việc nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất tạo ra
một tập quán canh tác tiến bộ hơn tập quán cũ, trình độ chuyên môn củangười lao động, trình độ quản lý của chủ trang trại và làm gương lôi kéo giúp
đỡ các hộ phát triển sản xuất theo hướng tiến bộ Điều này góp phần vào việcnâng cao dân trí và đào tạo nhân lực cho đất nước Mặt khác, những ảnhhưởng đến kết cấu hạ tầng kinh tế như hoạt động của trang trại kéo theo sựgia tăng của năng lực sản xuất và kết cấu hạ tầng như giao thông, điện, côngnghiệp chế biến dịch vụ… đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp và nông thôn, tạo sự ổn định chính trị xã hội và công bằng trong
ăn chia phân phôi
2.1.5.7 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là kết quả thu được về mặt môi trường Biểu hiện
cụ thể là sự ảnh hưởng của đầu vào và đầu ra khi tiến hành sản xuất kinhdoanh của trang trại tác động đến môi trường sinh thái tự nhiên Những tácđộng này có thể là tích cực hoặc tiêu cực Nếu tác động tiêu cực thì cần phải
có những giải pháp để khắc phục hậu quả Nếu chi phí này lớn hơn lợi ích mà
xã hội thu được thì sự tồn tại của trang trại là không được chấp nhận Mỗitrang trại phải có trách nhiệm góp phần giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội
và môi trường sinh thái Lợi ích mà trang trại thu được phải lớn hơn phần chiphí mà xã hội bỏ ra cho sự tồn tại và phát triển của nó Có thể đánh giá bằng:
Trang 22- Khả năng phục hồi và bảo vệ được bao nhiêu diện tích rừng, giữ gìn
và quản lý tài nguyên và môi trường sinh thái
- Góp phần như thế nào đến phân bố lại lực lượng sản xuất của cácngành công nghiệp, giao thông, thương mại… và các lĩnh vực văn hoá xã hộiảnh hưởng đến cảnh quan môi trường sinh thái tự nhiên và văn hoá xã hội
2.1.6 Hiệu quả kinh tế trang trại
2.1.6.1 Nội dung đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp nôngthôn chủ yếu là dựa vào hộ gia đình Vì vậy, đánh giá hiệu quả kinh tế trangtrại là đánh giá hiệu quả kinh tế của hình thức tố chức sản xuất nông nghiệp.Đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại là đánh giá một cách đúng đắn có ý nghĩaquan trọng để chúng ta xem xét vai trò và tác dụng của trang trại Muốn đánhgiá đúng hiệu quả của trang trại chúng ta không chỉ căn cứ vào một chỉ tiêunào đó mà còn phải thiết lập một hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tếcho phù hợp, liên quan đến những vấn đề đặt ra xung quanh việc phát triểntrang trại như thế nào là tốt nhất Từ quan điểm đó, để đánh giá hiệu quả kinh
tế của các loại trang trại, theo chúng tôi cần đánh giá trên các giác độ sau:
* Kết quả sản xuất kinh doanh trang trại là những gì thu được sau mộtquá trình sản xuất kinh doanh (thường tính là một năm), đó là lượng sảnphẩm, hàng hóa nông sản, giá trị sản lượng hàng hóa, thu nhập mà các loạitrang trại thu được sau khi sử dụng các nguồn lực như đất đai, lao động, tiềnvốn hay nói cách khác là chi phí sản xuất Kết quả cao hay thấp bên cạnh phụthuộc nhiều đến nguồn lực còn các yếu tố khác như trình độ sử dụng cácnguồn lực, khả năng tổ chức sản xuất, kinh nghiệm,…của chủ trang trại Vìkết quả kinh tế của trang trại có thể hiểu là tổng giá trị sản xuất, giá trị giatăng, thu nhập hỗn hợp và lợi nhuận Trong đó:
- Tổng giá trị sản xuất trong năm (GO) là toàn bộ giá trị sản lượng màtrang trại có được sau một năm sản xuất
Trang 23-Giá trị gia tăng (VA) là giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ đi sản xuấttrung gian.
- Thu nhập hỗn hợp (MI) là phần còn lại của giá trị tăng thêm sau khitrừ đi chi phí khấu hao tài sản cố định, các khoản lãi vay và thuế (nếu có)
*Đánh giá kinh HQKT trang trại là một lĩnh vực rất rộng đòi hỏi ngườinghiên cứu phải có nhìn nhận đánh giá trên nhiều phương diện khác nhau củatừng loại hình trang trại, các lĩnh vực sản xuất trong cùng một trang trại Nókhác với việc đánh giá HQKT các ngành sản xuất riêng biệt khác như chănnuôi lợn thịt, trồng ngô, lúa…
* Trong điều kiện nguồn lực có hạn của trang trại, vấn đề đặt ra là làmsao sử dụng các nguồn lực một cách tiết kiệm mang lại kết quả cao hơn bằngcác phương án sản xuất, cách tổ chức quản lý…chính là hiệu quả của trangtrại Nếu nói kết quả phản ánh quy mô của cái “được” đó Vì vậy, hiệu quảkinh tế của các loại hình trang trại là so sánh các phương án sử dụng nguồnlực của các loại hình Cùng một điều kiện sản xuất hay cùng một loại sảnphẩm đầu ra nhưng mỗi trang trại tạo ra các kết quả khác nhau Như vậy, sosánh các phương án hay các kết quả khác nhau trong cùng một điều kiện sảnxuất đó chính là hiệu quả kinh tế
Đối với huyện Hương Khê, phần lớn các trang trại sản xuất thuần nông,nên khi đánh giá hiệu quả kinh tế chúng tôi chỉ đánh hiệu quả sử dụng cácnguồn lực nông nghiệp của trang trại, còn hiệu quả phi nông nghiệp kháckhông đề cập trong nghiên cứu này
2.1.6.2 Các yếu tổ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trang trại
Trong điều kiện nguồn lực có hạn và sự tác động của các quy luật khanhiếm không thể tạo ra kết quả bằng mọi giá mà phải dựa trên sự dụng nguồnlực ít nhất, lúc này phạm trù hiệu quả kinh tế ra đời Vì vậy, các yếu tố ảnhhưởng đến hiệu quả và hiệu kinh tế sẽ là :
a Nhóm nhân tố tự nhiên
Trang 24Trang trại là một loại hình sản xuất nông nghiệp, tư liệu sản xuất chủyếu là đất đai Thời tiết khí hậu có tác động trực tiếp và gián tiếp đến câytrồng vật nuôi.
* Đất đai: Những đặc tính về lý tính và hóa tính của đất đai qui định độphì nhiêu tốt hay xấu, địa hình có bằng phẳng hay không, vị trí của đất cóthuận lợi hay khó khăn cho giao thông đi lại vận chuyện vật tư sản phẩm phục
vụ cho sản xuất ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của sản xuất kinh doanh Qua đócho thấy đất đai tốt có thể tăng năng suất cây trồng vật nuôi, giảm chi phítrong quá trình sản xuất từ đó sẽ nâng cao được HQKT và ngược lại nếu đấtsản xuất không thuận lợi sẽ làm giảm HQKT trong sản xuất Đất đai là khâuthen chốt cho việc mở rộng quy mô
* Thời tiết, khí hậu: Cây trồng và gia súc gắn chặt với nhau ở các vùngsinh thái khác nhau đem lại hiệu quả khác nhau cả về năng suất và chất lượngsản phẩm từ đó cho hiệu quả khác nhau Ở ngưỡng nhiệt độ thích hợp (23 –
330C) các loại cây trồng vật nuôi sẽ phát triển tốt, ít mắc bệnh Ngoài ra, cácyếu tố như: độ ẩm, lượng mưa, nguồn nước…cũng hết sức quan trọng
b Nhóm nhân tố kinh tế xã hội
Trong thời đại công nghệ phát triển thì các yếu tố thuộc về điều kiện tựnhiên con người có thể hạn chế, khắc phục được cái không thuận lợi Vì thếnhóm nhân tố kinh tế xã hội (vốn, lao động…) có ảnh hướng lớn nhất tới hiệuquả kinh tế trang trại
* Vốn sản xuất: Vốn là điều kiện tiên quyết để phát triển trang trại Vốnđược sử dụng để xây dựng cơ sở vật chất trang trại, mua cây con giống, đầu
tư sản xuất, thuê lao động, mở rộng quy mô
* Lao động: Lao động là yếu tố hết sức quan trọng trong việc phát triểnkinh tế trang trại Tuy không đòi hỏi quá nhiều về trình độ nhưng chất lượnglao động ảnh hưởng sâu sắc tới HQKT Kiến thức và kĩ năng của người sửdụng nguồn lực, chẳng hạn sự tiếp thu kĩ thuật của người nông dân và năng
Trang 25suất cây trồng có quan hệ chặt chẽ đến kiến thức và kỹ năng canh tác Trình
độ và kinh nghiệm cũng có thể coi là các biến ảnh hưởng đến kết quả và hiệuquả kinh tế
* Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thị trường có vai trò quan trọng đốivới sản xuất kinh doanh và sự phát triển của xã hội Đây là khâu then chốt củasản xuất hàng hóa, thị trường chính là cầu nối giữa người sản xuất và ngườitiêu dùng Nó cho chúng ta biết kết quả sản xuất của một chu kỳ kinh doanh.Ngày nay, khi đời sống kinh tế xã hộ phát triển thì nhu cầu của người tiêudùng ngày càng tăng cao đòi hỏi thị trường phải cung cấp những sản phẩm cóchất lượng cao Cơ cấu thị trường bao gồm thị trường đầu vào và đầu ra củaquá trình sản xuất kinh doanh Chẳng hạn đối với thị trường nông nghiệp,phần lớn có tính cạnh tranh hoàn hảo hơn so với các ngành khác Vì vậy, tạo
ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đó các thành phần kinh tế trong nềnkinh tế quốc dân phải có quyền ngang nhau trong việc tạo vốn, sử dụng thôngtin, mua bán sản phẩm
* Các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ hành chính bao cấp sang nềnkinh tế thị trường, sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là hết sực quan trọng Nó
có thể khuyến khích sự phát triển của một ngành sản xuất nào đó hoặc ngượclại kìm hãm sự phát triển của ngành đó
Kinh tế trang trại phát triển khá nhanh trong nhiều năm qua tuy nhiênvẫn cần sự can thiệp giúp đỡ của Nhà nước để phát triển toàn diện hơn Chínhphủ cũng như các bộ ngành, các tỉnh cũng đã có nhiều chính sách nhằm thúcđẩy kinh tế trang trại Mới đây Chính phủ đã ban hành nghị định 41/2010/NĐ– CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn
Có hai nhóm chính sách, một là chính sách thông qua giá như chínhsách giá sản phẩm, chính sách đầu vào, thuế…có tác động trực tiếp đến kết
Trang 26triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, khuyến nông, cung cấp tín dụng, nghiên cứu vàphát triển… có tác động gián tiếp đến hiệu quả kinh tế
* Cơ sở hạ tầng của sản xuất cũng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp đến hiệu quả kinh tế Chúng bao gồm giao thông, thủy lợi, thôngtin, các dịch vụ về sản xuất và khoa học kỹ thuật Sự hỗ trợ của công nghệ chếbiến nông sản nhất là sự hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chuyênmôn hóa Đây là yếu tố cực kì quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớn, trong nhiềutrường hợp có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và phát triển của kinh
tế trang trại Điều này thể hiện rõ nhất ở các vùng dự án xây dựng các nhàmáy đường, nhà máy chế biến hoa quả…
c Nhóm nhân tố thuộc về kỹ thuật và tổ chức sản xuất
* Bản chất của kĩ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất Điều này
có nghĩa là đổi mới công nghệ có thể hướng tới việc tiết kiệm nguồn lực Sựphát triển công nghệ đòi hỏi phải đảm bảo sử dụng đầu vào tiết kiệm Vì vậyhiệu quả sử dụng nguồn lực phụ thuộc lớn vào công nghệ được áp dụng trongsản xuất Với cùng chủng loại và số lượng đầu vào nhưng sự thay đổi cáchthức và kỹ năng sử dụng sẽ dẫn đến thay đổi lớn trong hiệu quả kinh tế
* Giống cây trồng, vật nuôi: Đối tượng sản xuất của nông nghiệp làsinh vật nên nó tuân theo các quy luật sinh học Vì thế việc lựa chọn giốngcây trồng vật nuôi là hết sức quan trọng, phải lựa chọn những giống phù hợpvới điều kiện tự nhiên của vùng, phải thay đổi các giống mới…
* Cách thức tổ chức sản xuất
Việc lựa chọn một hình thức sản xuất hợp lý sẽ tạo điều kiện cho pháttriển trang trại Các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau sẽ đem lại HQKTkhác nhau
Trang 272.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Quá trính phát triển kinh tế trang trại trên thế giới và ở Việt Nam
Theo Nguyễn Đức Thịnh, 2001 “Kinh tế trang trại xuất hiện lần đầu
tiên ở một số nước Tây Âu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt Sau đó kinh tế trang trại phát triển ở tất cả các nước công nghiệp hóa châu Âu, Bắc Mỹ, châu Đại Dương cho đến ngày nay Ở châu Á kinh tế trang trại được hình thành và phát triển ở một số nước công nghiệp hóa đầu tiên ở châu lục này từ những năm 50 và đến nay cũng đang xuất hiện ở nhiều nước đang phát triển trên đường đi CNH Nước ta cũng bắt đầu phát triển kinh tế trang trại”.
- Nước Anh: Theo Đỗ Văn Viện và Đặng Văn Tiến, 2000 “ Cuối thế kỷ
XVII của cách mạng tư sản đã phá bỏ triệt để các bãi chăn thả gia súc công
và các cơ chế có lợi cho nông dân nghèo nên thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất và làm phá sản các nông trại nhỏ Sau chiến tranh thế giới II khi diện tích đất canh tác bình quân một trang trại tăng lên 36 ha nhưng các nông trại nhỏ có diện tích dưới 5 ha vẫn chiếm 1/3 tổng số”
- Ở Thái Lan: Nông trại gia đình đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ranông sản phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Số nông trại gia đình có4,5 triệu, quy mô đất canh tác bình quân một nông trại là 5,6 ha Trong đó:
Nông hộ có diện tích < 5 – 10 ha chiếm 28 %
Nông hộ có diện tích > 10 ha chiếm 14 %
Năm 1980 tổng số máy kéo của nông trại gia đình khoảng 460.000chiếc, đảm bảo cơ giới hóa khâu làm đất 60 %, cơ giới hóa trong khâu chếbiến cũng được phát triển mạnh, 84 % số làng xã có điện phục vụ sản xuất vàsinh hoạt
- Ở Mỹ: Nông trại phát triển chậm hơn ở các nước châu Âu từ 30 – 40 năm,đến nay quy mô đất canh tác bình quân 1 trang trại là 180 ha, ở đây 85% chủtrang trại canh tác đất canh tác của mình, chỉ có 15 % trang trại thuộc các tập
Trang 28đoàn nông, công nghiệp, các trang trại gia đình chiếm đa số, gồm 2 vợ chồng
và 1 – 2 con Thời gian gần đây xuất hiện hình thức trang trại hợp tác xã củamột số gia đình, loại này chiếm 10 -12 % diện tích đất canh tác
- Ở Hàn Quốc: Là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1954 HànQuốc thực hiện cải cách ruộng đất Nhà nước mua lại đất của chủ có trên 3 ha
để bán lại cho nông hộ thiếu đất với phương thức trả dần để tạo điều kiện chokinh tế hộ phát triển Từ 1965- 1971 tốc độ phát triển nông nghiệp tăng 2,5 %.Năm 1971 – 1978 tăng 6,9 %; 3/5 đất hoang được nông hộ khai thác sử dụng
có hiệu quả cao Từ năm 1875 tự túc được nhiều lương thực và nông sảnkhác, công nghiệp tăng 8 – 10 %/ năm Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theohướng hàng hóa với hệ thống cây, con, ngành nghề có giá trị kinh tế cao Thunhập nông nghiệp chiếm 35% tổng thu nhập
Ở Việt Nam, kinh tế trang trại ở nước ta được hình thành và phát triểnqua nhiều thời kỳ mỗi thời kỳ mang một biểu hiện hình thái riêng, để tìm hiểu
rõ hơn về tình hình phát triển kinh tế trang trại ở nước ta chia thành 3 thời kỳchính:
* Trước năm 1986:
Trong giai đoạn từ 1985 – 1986 Nhà nước ta thự hiện nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung, ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, chủ yếugiao cho các nông trường quốc doanh, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất quản lý
Hộ nông dân không được coi là đơn vị kinh tế tự chủ nên không được giaoquyền sử dụng đất Các chính sách của nhà nước được ban hành nhằm hạnchế thị trường tự do, ngăn cấm tự do giao lưu kinh tế nói chung, đặc biệttrong lĩnh vực nông nghiệp bộc lộ nhiều mâu thuẩn và tồn tại nghiêm trọng,đời sống nhân dân khó khăn Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước ta đã thấyđược phần nào trong quản lý kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, sửasai bằng việc ban hành chỉ thị 100 CT/ TW đây được coi là bước đột phá của
Trang 29Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên chỉ cải thiện được phần nào, vẫn còn gặpphải nhiều vấn đề khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế nói chung.
* Giai đoạn 1986 – 2000:
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (1986) của Đảng, đường lối đổimới toàn diện và sự vận dụng sáng tạo của địa phương đã tạo ra nhữngchuyển động mới trong nông nghiệp và nông thôn Các hộ gia đình hoạt độngtheo cơ chế thị trường, tự hạch toán, tự trang trải lấy thu bù chi làm ăn có lãi,đây chính là động lực cho các hộ gia đình hoạt động theo phương thức sảnxuất hàng hóa để trở thành “các trang trại gia đình” Cũng giai đoạn này Nhànước ban hành luật đất đai và nghị quyết 64/CP thể chế hóa chính sách đất đaiđối với các hộ gia đình và cá nhân trong việc kinh doanh nông nghiệp, tạođiều kiện cho cho trang trại phát triển nhanh về số lượng Kinh tế trang trại đã
có chỗ đứng và luôn phát triển một cách tích cực góp phần giải quyết việc làm
ở nông thôn, nâng cao năng suất lao động xã hội, góp phần phủ xanh đất trốngđồi núi trọc, khai phá những vùng đất hoang hóa ở nông thôn tạo ra ngày càngnhiều nông sản hàng hóa có chất lượng cho xã hội
Theo số liệu của tổng cụ thống kê đến năm 2000 cả nước đã có 57.069trang trại ở tất cả trên 61 tỉnh thành, trong đó tập trung lớn nhất là khu vựcđồng bằng sông Cửu Long 31.967 trang trại, tiếp đến là cùng Bắc Trung Bộ
và duyên hải miền Trung có 8.527 trang trại thấp nhất là vùng Đồng bằngSông Hồng 2.214 trang trại
Trang 30Bảng 2.1: Số trang trại phân theo vùng giai đoạn (2000 – 2008)
Chỉ tiêu
SL (trang trại)
CC (%)
SL (trang trại)
CC (%)
SL (trang trại)
CC (%)
SL (trang trại)
CC (%)
Đồng bằng sông Hồng 2214 3,89 6308 7,32 15222 13,43 17318 14,35 Trung du và miền núi
Long
31967 56,01 42945 49,85 54442 48,02 57483 47,63
Cả nước 57069 100 86141 100 113362 100 120699 100
Nguồn: Tổng cục thống kê (*): Số liệu sơ bộ năm 2008
* Từ năm 2000 đến nay
Nghị quyết TW số 03/CP ngày 2/2/2003 của chính phủ về kinh tế trangtrại đã mở ra cho trang trại một sức sống mãnh liệt, nó đã phát triển khánhanh và đa dạng ở khắp các vùng miền trên cả nước Cùng với nghị quyết số03/CP các bộ ngành đã ban hành các văn bản hướng dẫn, trong đó các chínhsách hỗ trợ khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, làm cho trang trại pháttriển tăng về số lượng và quy mô của từng trang trại
Cho đến nay, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước các trang trạikhông ngừng tăng lên về quy mô, diện tích và vốn, các chủ trang khôngngừng học hỏi và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào qua trình sản xuất Điều đóphản ánh trình độ đầu tư thâm canh ngày càng tăng theo hướng CNH, HĐH
Trang 31đất nước, ngày càng thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển cao hơn nữa phùhợp với xu thế hội nhập hiện nay.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản ViệtNam, trong định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn đã nhấn mạnh
“Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn” và “Chútrọng phát triển kinh tế trang trại; các loại hình kinh tế hợp tác…” Nghị quyếtHội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X càng nhấn mạnhthem về việc “đổi mới và xây dựng các mô hình kinh tế, hình thức tố chứckinh tế có hiệu quả ở nông thôn… để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướnggia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hóa lớn”
Có thể nói rằng, các chính sách trên đây đã là điều kiện rất cơ bản vàthuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển Phát triển kinh tế trang trại đã tạo ranhững vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, tọa điều kiện cho việc pháttriển công nghiệp chế biến, cung cấp một lượng lớn nông sản hàng hóa choxuất khẩu
Chính sách phát triển kinh tế trang trại, đặc biệt là ở vùng trungdu,miền núi không chỉ có ý nghĩa cho phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo ởvùng này Điều quan trọng hơn là đã khôi phục được độ che phủ đất, pháttriển môi trường sinh thái; khôi phục và phát triển được tập quán văn hóatruyền thống của các dân tộc, tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển
du lịch văn hóa – sính thái ở các địa phương
Trang 32Cơ cấu số trang trại các vùng năm 2008 (%)
14.35
3.66
15.08 7.86 11.43
47.63
Đồng bằng sông Hồng Trung du và miền núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2.1 Cơ cấu phân bổ trang trại trên cả nước năm 2008
Niên giám thống kê (2008) cả nước có khoảng 120.699 trang trại Khuvực Đồng bằng sông Cửu Long vẫn đứng đầu về số lượng với 57.483 trangtrại chiếm 47,63% tổng số trang trại cả nước, tiếp đến là khu vực Bắc Trung
bộ và duyên hải miền Trung có 18.202 trang trại chiếm 15,08% tổng số trangtrại cả nước, có số lượng trang trại ít nhất là khu vực trung du và miền núiphía Bắc có 4.423 trang trại chiếm 3,66% Bình quân mỗi năm số trang trạităng gần 6%, diện tích sử dụng trên 900.000 ha, đa số trang trại là quy mônhỏ Các trang trại trồng cây hàng năm là 34.361 trang trại, trang trại trồngcây lâu năm là 24.215 trang trại, trang trại chăn nuôi là 17.635 trang trại,trang trại nuôi trồng thủy sản là 34.989 Hàng năm, các trang trại tạo khoảng
30 vạn việc làm thường xuyên và 6 triệu ngày công lao động thời vụ, đónggóp cho nền kinh tế trên 12.000 tỷ đồng giá trị sản lượng Việc phát triểnnhanh cả số lượng lẫn chất lượng trang trại đã góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp nông thôn
2.2.2 Các nghiên cứu về kinh tế trang trại ở Việt nam
Nguyễn Xuân Cường (2009) Thực trạng và một số giải pháp chủ yếuphát triển kinh tế trang trại huyện Thiệu Hóa – Thanh Hóa Nghiêu cứu đưa rakết luận: Hiệu quả kinh tế của từng loại hình trang trại đem lại là khác nhau
Trang 33Loại hình trang trại tổng hợp có hiệu quả sử dụng vốn cao nhất một đông vốn
bỏ ra thu về được 1,16 đồng giá trị sản xuất và 0,24 đồng thu nhập Thấp nhất
là loại hình trang trại trồng cây lâu năm một đồng vốn bỏ ra thu được 0,54đồng giá trị sản xuất và o,14 đồng thu nhập
Nguyễn Bá Thẫm (2007) Tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế trangtrại và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại ơ Hương Sơn –
Hà Tĩnh Nghiên cứu cho thấy: Giá rị bình quân của một mô hình kinh tếtrang trại là 45,86 triệu đồng Trong tổng giá trị sản xuất của các mô hìnhkinh tế trang trại thì giá trị ngành chăn nuôi đạt lớn nhất (15,72 triệu đồng)chiếm 35,50%, giá trị ngành trồng trọt chiếm 29,02%
Lê Duy Anh (2006) Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình kinh tếtrang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Trong nghiên cứu chỉ rarằng hiệu quả vốn đầu tư MI = 0,49 (nghĩa là 1 đồng vốn đầu tư thu được 0,49đồng thu nhập hỗn hợp), hiệu quả sử dụng lao động đạt 158,75 triệu đồng/laođộng, mức thu nhập hỗn hợp trên lao động (MI/L) đạt 34,99 triệu đồng/ laođộng
Dương Trọng Nghĩa (2004) Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hìnhkinh tế trang trại ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Nghiên cứu cho thấy:Bình quân chung một trang trại có thu nhập hỗn hợp (MI) đạt 32,37 triệuđồng/năm và hiệu quả sử dụng chi phí trung gian (IC) là 0,30
Trên cơ sở kế thừa và phát huy các kết quả đã công bố, để góp phầnđánh giá đúng hiệu quả, vai trò và tác động của kinh tế trang trại đến đến việcphát triển nông nghiệp, nông thôn huyện Hương Khê, chúng tôi tiến hànhnghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại trang trại ở huyện HươngKhê và có những giải pháp nhắm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại ở địabàn nghiên cứu trong thời gian tới
Trang 34Phần III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hương Khê là một huyện miền núi của tỉnh Hà Tĩnh, nằm ở toạ độ:Phía Bắc giáp huyện Đức Thọ và Can Lộc
Phía Tây giáp huyện Vũ Quang và nước CHDCND Lào
Phía Nam giáp huyện Tuyên Hoá tỉnh Quảng Bình
Phía Đông giáp huyện Thạch Hà và Cẩm Xuyên
Hương Khê có 21 xã và một thị trấn, thị trấn Hương Khê nằm trên trụcđường Hồ Chí Minh cách thị xã Hà Tĩnh khoảng 45 Km về phía Đông
Diện tích tự nhiên toàn huyện la 127.680,16 ha, là huyện có diện tíchlớn nhất tỉnh, chiếm 21,21% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình của huyện bị chia cắt bởi nhiều hệ thống sông suối, núi đồitrùng điệp và thung lũng sâu tạo thành các kiểu địa hình khác nhau Địa hìnhnúi cao trung bình, địa hình núi thấp và đồi thoải lượn sóng xen kẽ với cácthung lũng, địa hình đồi bát úp và các cành đồng phù sa nhỏ hẹp ven sông.Chênh lệch độ cao giữa các vùng trong huyện là rất lớn Hương Khê là huyệnmiền núi, diện tích đồi núi chiếm 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đồngbằng và thung lũng hẹp chỉ chiếm 10%
Diện tích đất nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang và các bãi bồidọc theo hệ thống sông suối
3.1.1.3 Khí hậu thời tiết
Hương Khê mang đặc thù khí hậu của khu IV cũ, đó là khí hậu nhiệt
Trang 35- Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8 Khí hậu thường khô vànóng, nhiệt độ trung bình 33,50C, đặc biệt là từ tháng 6 đến tháng 7 nhiệt độlên đến 39 – 400C, chịu ảnh hưởng nặng của gió mùa Tây Nam (gió Lào).Cuối mùa nóng vào khoảng tháng 9 đến tháng 10 thường có mưa bão lớn gâynên lũ lụt cục bộ.
- Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, vào mùa này gió mùaĐông Bắc lạnh và kéo theo mưa phùn, nhiệt độ trung bình xuống dưới 200C,
có khi thấp nhất là xuống 4 - 60C Nhiệt độ trung bình năm của Hương Khê là24,50C
* Mưa: Lượng mưa trung bình năm khoảng 1590 – 2400mm
* Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình cả năm khoảng 86,2%
* Nắng: Tổng giờ nắng trung bình khoảng 1500h/năm
* Gió: Là một đặc trưng khí hậu phụ thuộc nhiều vào yếu tố địa hình.Trong thung lũng hướng gió trùng với hướng thung lũng
3.1.1.4 Thuỷ văn
Hương Khê có hai hệ thống sông chính là sông Ngàn Sâu, sông Rào Nổ vàsông Tiêm, ngoài ra còn có hệ thống suối, khe nhiều, chảy dọc theo địa bànhuyện
Do địa hình đồi núi dốc nên trong quá trình mưa to gây nên lũ quét vàngập úng, ngoài ra còn gây ra hiện tượng xói lở, rửa trôi đất vào mùa mưa,hạn hán cục bộ vào mùa khô
3.1.1.5 Những nhận định chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
* Thuận lợi
- Huyện có diện tích đất tự nhiên tương đối lớn, đất đai tương đối tốtthích hợp với nhiều loại cây trồng Cung cấp nguyên liệu cho chế biến vàhàng hoá, thay đổi kinh tế theo hướng CHH, HĐH
- Nguồn khoảng sản phong phú về chủng loại và phân bố ở nhiều nơicho phép phát triển các nghành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Trang 36- Do lao động tương đối lớn, có kinh nghiệm sản xuất, phong tục tậpquán độc đáo, quê hương cách mạng với nhiều di tích lịch sử có giá trị, cónhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp.
* Khó khăn và hạn chế
- Vị trí của huyện nằm sâu trong lục địa xa cảng, không có cửa khẩu,
xa các trung tâm kinh tế của tỉnh Vì thế nên việc giao lưu trao đổi hàng hoávới bên ngoài, thu hút vốn gặp khó khăn
- Địa hình chia cắt mạnh và những yếu tố bất lợi của thiên nhiên như lũlụt, hạn hán gây khó khăn, tốn kém trong xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng,
bố trí sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
- Tài nguyên khoảng sản có nhiều loại nhưng phần lớn các mỏ có trữ lượngnhỏ, rải rác không thuận lợi cho đầu tư khai thác và chế biến quy mô lớn
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
sử dụng
Cơ cấu đất đai, đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn 64,87% (2009).Diện tích đất nông nghiệp giảm dần năm 2008 giảm so với năm 2007 là1,35% tương ứng với 1136,35 ha Năm 2009 giảm so vơi năm 2008 là 0,4%tương ứng với 331,9 ha Bình quân trong 3 năm đất nông nghiệp giảm 0,87%,đất phi nông nghiệp tăng 8,42%, đất chưa sử dụng giảm 13,41% Năm 2009đất nông nghiệp bình quân/hộ nông nghiệp là 3,99 ha, giảm so với năm 2008
là 0,36 ha
Trang 37Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Hương Khê qua 3 năm (2007 – 2009)
ĐVT: ha
Tổng diện tích đất tự nhiên ha 127.680,16 100,00 127.680,16 100,00 127.680,16 100,00 100,00 100,00 100,00
I Đất nông nghiệp - 84.294,44 66,02 83.158,09 65,13 82.826,12 64,87 98,65 99,60 99,13 1.1 Đất sản xuất nông
nghiệp - 63.220,83 75,15 63.108,67 75,89 53.729,30 76,61 99,82 85,14 92,191.2 Đất lâm nghiệp - 17.583,82 20,86 16.756,36 20,15 15.844,64 19,13 95,29 94,56 94,93 1.3 Đất thuỷ sản - 1.298,13 1,54 1.455,27 1,75 1.913,28 2,31 112,11 131,47 121,40 1.4 Đất khác - 2.065,21 2,45 1.837,79 2,21 1.615,11 1,95 88,99 87,88 88,43
II Đất phi nông nghiệp - 28.945,09 22,67 31.728,52 24,85 34.026,76 26,65 109,62 107,24 108,42 III Đất chưa sử dụng - 14.440,63 11,31 12.793,55 10,02 10.827,28 8,48 88,59 84,63 86,59
* Một số chỉ tiêu bình quân
1 Đất NN/ hộ NN ha 4,72 - 4,37 - 3,99 - - -
-Nguồn: Phòng thống kê huyện Hương Khê
Trang 383.1.2.2 Tình hình dân số và lao động
Con người là yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia,mỗi vùng Khi nhìn vào tình hình dân số lao động của quốc gia, vùng người ta cóthể biết được quốc gia, vùng đó có phát triển hay không
Qua bảng 3.2 cho thấy: Dân số của toàn huyện năm 2007 là 108.547người, năm 2008 là 111.044 người tăng 2,3% tương đương với 2497 người, năm
2009 là 112.932 người tăng so với năm 2008 là 1,7% tương ứng với 1888 người.Bình quân 3 năm dân số tăng 2%
Sự dịch chuyển lao động diễn ra theo hướng tăng lao động khu vực phinông nghiệp và giảm lao động trong khu vực nông nghiệp Bình quân 3 năm số
hộ nông nghiệp giảm 3,18% và lao động nông nghiệp giảm 1,25% Năm 2007bình quân nhân khẩu/hộ là 4,45, trong đó có 2,01 lao động/hộ, bình quân có 4,58khẩu nông nghiệp/hộ nông nghiệp và bình quân 1,83 lao động nông nghiệp/hộnông nghiệp Đến năm 2009 bình quân nhân khẩu/hộ là 3,85, bình quân 1,81 laođộng/hộ, bình quân 4,89 khẩu nông nghiệp/hộ nông nghiệp và 2,59 lao độngnông nghiệp/hộ nông nghiệp Qua đó cho thấy số lượng hộ nông nghiệp, laođộng nông nghiệp và khẩu nông nghiệp giảm nhưng số lượng khẩu nông nghiệp,lao động nông nghiệp/hộ nông nghiệp lại tăng Qua đó cho thấy các hộ nôngnghiệp chủ yếu là thuần nông, họ không có lao động làm việc trong lĩnh vựckhác Mặt khác số lượng hộ nông nghiệp giảm nhanh hơn số khẩu nông nghiệp
và số lao động nông nghiệp
Trang 39Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Hương Khê qua 3 năm (2007 – 2009)
(%) Số lượng (%) Số lượng CC (%) CC 08/07 09/08 BQ
I Tổng số nhân khẩu Người 108.547 100,0 111.044 100,0 112.932 100,0 102,30 101,70 102,00
1 Khẩu nông nghiệp - 81.953 75,5 81.839 73,7 81.786 72,6 99,86 99,93 99,89
2 Khẩu phi nông nghiệp - 26.594 24,5 29.205 26,3 31.146 27,4 109,82 105,95 107,87
II Tổng số hộ Hộ 24.393 100,0 26.591 100,0 29332 100,0 109,01 110,31 109,66
1 Hộ nông nghiệp - 17.856 73,2 17.013 71,5 16.738 70,7 95,28 98,38 96,82
2 Hộ phi nông nghiệp - 6.537 26,8 9.578 28,5 12.594 29,3 146,52 131,49 138,80
III Tổng số lao động LĐ 48.846 100,0 52.174 100,0 53.078 100,0 106,81 101,73 104,24
1 Lao động nông nghiệp - 44.645 91,4 44.122 88,4 43.541 85,8 98,83 98,68 98,75
2 Lao động phi nông nghiệp - 4.201 8,6 8.052 11,6 9.537 14,2 191,67 118,44 150,67
IV Chỉ tiêu bình quân
-3 BQ khẩu nông nghiệp/ hộ
-4 BQ lao động nông nghiệp/
-Nguồn: Số liệu phòng thống kê huyện Hương Khê
Trang 403.1.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng
- Đường thủy: Hiện có khoảng 36 km sông Ngàn Sâu có phương tiện giaothông hạng nhỏ hoạt động
* Giáo dục – đào tạo
Hệ thống trường mầm non, tiểu và TH được phân bổ trên khắp địa bànhuyện Nhiều trường đã mở thêm điểm trường lớp học đến tận thôn bản để thuhút học sinh ở mọi lứa tuổi Hương Khê có 5 trường THPT
* Y tế
Huyện có một trung tâm y tế, 3 phòng khám đa khoa khu vực và 22 trạm y tế
cơ sở với tổng số giường bệnh là 186 giường Đến nay ngành y tế của huyện có 281lao động cho các tuyến Huyện có 12/22 trạm y tế cơ sở đạt chuẩn quốc gia
* Văn hóa
Trong những năm gần đây các phong trào hoạt động văn hóa văn nghệđược quan tâm tạo điều kiện phát triển ở mọi cấp, mọi ngành đặc biệt là phongtrào quần chúng ở các cơ quan, đơn vị và các thôn bản Hiện 100% số xã,phường, thị trấn có đội văn nghệ quần chúng, 22 bưu điện văn hóa xã
100% số xã phường, thị trấn có điện lưới quốc gia và 100% hộ được dùng điệnCác xã đều có bưu điện, trạm thu phát sóng truyền thanh, tỷ lệ dân số đượcphủ sóng phát thanh là 95% và sóng truyền hình là 85% Hệ thống bưu chính xãđược cũng cổ