KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG YUCCA SCHIDIGERA VÀ PROBIOTICS LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ NÒI Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 DUYỆT CỦA KHOA NÔ
Trang 1KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 3KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG YUCCA SCHIDIGERA VÀ PROBIOTICS LÊN
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
TRỨNG GÀ NÒI
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS NGUYỄN THỊ KIM KHANG
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT CỦA BỘ MÔN
………
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình luận văn nào trước đây
Nguyễn Ngọc Hân
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trải qua gần 4 năm học tập và rèn luyện dưới giảng đường Đại học Cần Thơ, với sự tận tâm hướng dẫn, truyền dạy những kiến thức và kinh nghiệm quý báo của các thầy cô cùng sự nỗ lực của bản thân, hôm nay tôi đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp Trước khi rời khỏi mái trường kính yêu để chuẩn bị hành trang mới bước vào đời, tôi xin gởi đến tất cả mọi người lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất
Con xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ – người đã sinh ra, nuôi nấng, dạy dỗ và lo cho con ăn học đến ngày hôm nay
Quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Chăn nuôi – Thú y, bộ môn Di truyền giống vật nuôi, khoa Nông nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày… tháng … năm
Tác giả
Nguyễn Ngọc Hân
Trang 6TÓM LƯỢC
Thí nghiệm “Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca schidigera và
probiotics lên khả năng suất và chất lượng trứng gà Nòi” được thực hiện
nhằm tìm ra một khẩu phần thích hợp có tác động tốt nhất lên năng suất và chất lượng của trứng gà Nòi Bốn mươi con gà mái Nòi ở 72 tuần tuổi được sử dụng và được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn nghiệm thức thể hiện qua 4 khẩu phần ăn khác nhau như sau: đối chứng (ĐC) chỉ bao gồm thức ăn cơ sở (KPCS), KPCS + 50mg bột Yucca/kg thức ăn + 0,1% probiotics, KPCS + 50mg bột Yucca/kg thức ăn + 0,3% probiotics, KPCS + 50mg bột Yucca/kg thức ăn + 0,5% probiotics Thí nghiệm được lặp lại 4 lần, mỗi lần lặp lại là 2 con gà Thí nghiệm nuôi dưỡng được thực hiện tại trại gà của anh Châu Thanh Vũ ở ấp Thuận Tiến B, xã Thuận An, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, từ ngày 09/09/2014 đến ngày 04/11/2014
Kết quả phân tích cho thấy ở nghiệm thức gồm 50YC + 0,5% probiotics cho năng suất trứng và tỉ lệ đẻ cao hơn so với các nghiệm thức còn lại, khối lượng trứng và tỉ lệ lòng đỏ cũng được cải thiện, đồng thời cũng mang lại lợi nhuận cao nhất, tuy nhiên, không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Qua kết quả thu nhận được đề nghị nên sử dụng khẩu phần 50YC + 0,5% probiotics trong chăn nuôi gà Nòi sinh sản để cải thiện năng suất cũng như tỉ lệ đẻ nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Giới thiệu sơ lược một số giống gà ta được nuôi thông dụng ở Việt Nam 2 2.1.1 Gà Nòi 2
2.1.2 Gà Ri 2
2.1.3 Gà Đông Tảo 3
2.1.4 Gà Hồ 3
2.1.5 Gà mía 3
2.1.6 Gà Tàu vàng 3
2.1.7 Gà ác 4
2.1.8 Gà tre 4
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà mái đẻ 4
2.2.1 Nhu cầu năng lượng duy trì 4
2.2.2 Nhu cầu năng lượng sản xuất 5
2.2.3 Nhu cầu dinh dưỡng duy trì 6
2.2.4 Nhu cầu dinh dưỡng sinh trưởng 6
2.2.5 Nhu cầu dinh dưỡng đẻ trứng 7
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và sinh trưởng của gà 7
2.3.1 Chuồng trại 7
2.3.2 Giống 7
2.3.3 Giới tính 8
2.3.4 Điều kiện tiểu khí hậu 8
2.3.5 Tiêu chuẩn về dinh dưỡng 9
2.3.6 Chăm sóc và nuôi dưỡng 10
2.4 Giới thiệu về cây Yucca schidigera và các ứng dụng trong chăn nuôi 11
2.4.1 Giới thiệu về cây Yucca schidigera 11
2.4.2 Các ứng dụng của cây Yucca schidigera trong chăn nuôi 12
Trang 82.5 Giới thiệu một số vi khuẩn có lợi và ứng dụng của chúng trong chăn nuôi
14
2.5.1 Bacillus subtilis 15
2.5.2 Saccharomyces cerevisiae 15
2.5.3 Lactobacillus spp 15
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 17
3.1 Phương tiện thí nghiệm 17
3.1.1 Thời gian và địa điểm 17
3.1.2 Động vật thí nghiệm 17
3.1.3 Chuồng trại 17
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 18
3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 19
3.2 Phương pháp thí nghiệm 19
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 19
3.2.2 Quy trình phòng bệnh ở trại 20
3.2.3 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc 20
3.2.4 Phương pháp lấy mẫu 21
3.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 21
3.2.6 Hiệu quả kinh tế 23
3.2.7 Xử lý số liệu 23
Chương 4: KẾT QUẢ-THẢO LUẬN 24
4.1 Nhận xét chung về tình hình sức khỏe của đàn gà trong thời giang thí nghiệm 24
4.2 Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi 24
4.3 Khối lượng của gà qua các tuần tuổi 25
4.4 Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên năng suất trứng 26
4.5 Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên chất lượng trứng gà 29
4.5.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên chất lượng trứng gà qua các nghiệm thức 29
4.5.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên chất lượng trứng gà qua các tuần tuổi 30
4.5.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên chất lượng trứng gà qua từng nghiệm thức trong các tuần tuổi 31
4.6 Hiệu quả kinh tế 35
Trang 9Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
5.1 Kết luận 36
5.2 Đề nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ CHƯƠNG 40
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Quy định lượng khí thải trong chuồng nuôi gà 9
Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợp 10
Bảng 2.3: Quy trình phòng bệnh 11
Bảng 3.1: Quy trình tiêm phòng vaccin 20
Bảng 3.2: Thành phần thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 21
Bảng 4.1: Nhiệt độ chuồng nuôi 24
Bảng 4.2: Ẩm độ của chuồng nuôi 25
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của Yucca và probiotics lên khối lượng của gà qua các tuần tuổi (g/con) ( ±SD) 26
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên tiêu tốn thức ăn qua các nghiệm thức ( ±SD) 27
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên chất lượng trứng qua các nghiệm thức( ±SEM) 29
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên chất lượng trứng qua các tuần tuổi ( ±SEM) 31
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm và tuần tuổi lên khối lượng, màu và tỉ lệ các thành phần trứng ( ±SEM) 32
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm và tuần tuổi lên độ dày vỏ, đơn vị Haugh và các chỉ số trứng ( ±SEM) 34
Bảng 4.9: Lợi nhuận kinh tế 35
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Gà Nòi 2
Hình 2.2 Cây Yucca Schidigera 11
Hình 3.1 Trại gà thí nghiệm 17
Hình 3.2 Hệ thống chuồng nuôi tại trại 18
Hình 3.3 Hệ thống máng ăn và nước uống 18
Hình 3.4 Thức ăn hỗn hợp sử dụng trong thí nghiệm 19
Hình 4.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên năng suất trứng 28
Hình 4.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca và probiotics lên tỉ lệ đẻ 28
Trang 13Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Để nâng cao sản xuất và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn, các nhà chăn nuôi đã và đang ứng dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên, các chế phẩm sinh học để thay thế các loại kháng sinh gây ảnh hưởng đến sức khỏe
của người tiêu dùng Cây Yucca có tên khoa học là Yucca schidigera, thuộc họ
Agavaceae thường mọc nhiều ở sa mạc Mojave và Sonoran thuộc Đông Nam
Califonia Trong cây Yucca có hợp chất saponin có khả năng làm giảm được ammonia và mùi hôi chất thải trong chuồng nuôi do saponin có tác dụng đến chức năng của thận, làm tăng tốc độ phân giải loại bỏ urê, dẫn đến giảm thấp hàm lượng urê và ammonia trong máu (Kong, 1998) Bên cạnh đó, saponin còn có khả năng kết hợp với cholesterol trên màng protozoa, làm cho màng bị
phá hủy, bị ly giải và tế bào protozoa bị chết (Marka et al., 1998; Wang et al.,
1998) Mặc khác, cây Yucca còn ngăn ngừa một số bệnh nhiễm khuẩn của heo, gà, tôm, cá giúp kích thích tăng trưởng 10%, giảm 10 – 20% chi phí thức
ăn (Vũ Duy Giảng, 2010) Gần đây, kết quả nghiên cứu của Võ Hữu Nghị (2013) cho thấy việc bổ sung 50mg bột Yucca/kg thức ăn của gà đã cải thiện được tăng trọng và hiệu quả kinh tế cao hơn so với các khẩu phần không sử dụng bột Yucca
Các chế phẩm sinh học probiotics đã và đang được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm như là một nguồn thay thế kháng sinh chống lại các tác nhân gây bệnh để hỗ trợ và cải thiện tăng trưởng, nâng cao hiệu suất sản xuất Chúng cản trở các vi sinh vật gây bệnh, cân bằng hệ vi sinh đường tiêu hóa và tăng
hoạt động chống oxy hóa (Shen et al., 2011) và có vai trò quan trọng trong sự
phát triển của hệ miễn dịch (Rajput and Li, 2012) Một số loại vi sinh vật được
sử dụng như chế phẩm sinh học gồm Bacillus subtilis, Saccharomyces
cerevisiae, Lactobacillus, Streptococcus và nấm men (Oggioni et al., 2003;
Patterson and Burkholder, 2003; Huang et al., 2004; Koenen et al., 2004)
Sự kết hợp giữa Yucca và các chế phẩm sinh học là một trong những sự lựa chọn tốt cho sự tăng trưởng và sức khỏe của vật nuôi Dựa vào những thực tiễn trên, thí nghiệm được tiến hành ở trại chăn nuôi gà Nòi sinh sản với đề tài
“Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca schidigera và probiotics lên khả năng
suất và chất lượng trứng gà Nòi”
Mục tiêu đề tài nhằm xác định ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca
schidigera và probiotics lên năng suất và chất lượng trứng gà Nòi Từ đó tìm
ra khẩu phần tối ưu đạt hiệu quả kinh tế cao nhất và khuyến cáo cho người chăn nuôi sử dụng
Trang 14Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu sơ lược một số giống gà ta được nuôi thông dụng ở Việt Nam
2.1.1 Gà Nòi
Nguồn gốc: giống gà này có ở khắp các miền Việt Nam, thường gọi là gà chọi hay gà đá… Đặc điểm ngoại hình: con trống có lông màu xám, màu đỏ lửa xen lẫn các vệt xanh biếc, con mái có màu xám đá, vóc dáng to, chân cao, chân cao, cổ cao, thịt đỏ rắn chắc
Chỉ tiêu kinh tế: trọng lượng trưởng thành gà mái: 2,0 – 2,5 kg, gà trống: 3,0 – 4,0 kg (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002) Thời gian đạt trọng lượng thịt 5 tháng, sản lượng trứng bình quân 50 – 60 trứng/ năm Thời gian bắt đầu đẻ là
7 tháng Con trống được dùng để lai với gà Ri và các giống gà khác để sản xuất con lai nuôi thịt
có lông màu vàng đen dần ở phía cuối đuôi
Chỉ tiêu kinh tế: trọng lượng gà mái: 1,2 – 1,8 kg; gà trống: 1,5 – 2,1 kg Thời gian đạt trọng lượng thịt khoảng 4 - 5 tháng Gà Ri là giống phát dục sớm : 4- 4,5 tháng đã bắt đầu đẻ Sản lượng trứng đạt 120 - 150 quả/mái/năm Nếu nuôi tốt, thực hiện chế độ cai ấp khi có con có thể cho sản lượng 164 -
182 quả/mái/năm (Theo kết quả nghiên cứu của Viện chăn nuôi, 1970) Gà chỉ
đẻ 10 – 15 trứng là lại ấp, thời gian ấp gần 1 tháng Sức kháng bệnh tốt, dễ
Trang 15nuôi, chăm con tốt Thịt thơm ngon, dai, xương cứng, phẩm chất trứng cao Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng 2,5 – 3,5 kg
2.1.3 Gà Đông Tảo
Nguồn gốc: là giống gà thịt có nguồn gốc từ tỉnh Hưng Yên Đặc điểm ngoại hình: con trống có lông màu tía sẫm hoặc màu mận chín pha lẫn màu đen Con mái có lông màu vàng nhạt, mỏ, da và chân vàng Có vòng cổ chân
to, chân to cao, lưng phẳng rộng
Chỉ tiêu kinh tế: lúc trưởng thành mái nặng 2,5 - 3 kg, trống nặng 3,5 - 4
kg (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002) Thời gian đạt trọng lượng thịt khoảng 4 -
5 tháng Sản lượng trứng thấp 50 – 70 trứng/ năm Gà mái bắt đầu đẻ lúc 5 – 7 tháng
2.1.4 Gà Hồ
Nguồn gốc: từ làng Hồ, Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Gà Hồ cũng được nuôi phổ biến ở một số huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh cũ và một số vùng khác ở miền Bắc (Theo Lê Hồng Mận và Hoàng Hoa Cương, 1994) Đặc điểm ngoại hình: tầm vóc to, chân to, lưng rộng Con trống có màu lông mận chín, thẫm đen, da đỏ, con mái có lông màu xám Thân hình chắc khỏe, chậm chạp
Chỉ tiêu kinh tế: trọng lượng con mái: 2,7 kg, con trống: 4,4 kg Thời gian đạt trọng lượng thịt khoảng 6 tháng Thời gian gà mái bắt đầu đẻ khoảng
6 - 8 tháng Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2003) gà Hồ có sản lượng trứng đạt 60 quả/mái/năm, tỷ lệ trứng ấp 70 - 80%
2.1.5 Gà mía
Nguồn gốc: từ tỉnh Sơn Tây Đặc điểm ngoại hình: con trống có màu lông đỏ sẫm xen kẻ lông màu đen ở đuôi, đùi, lườn, hai hàng lông cánh xanh biếc Con mái có lông màu vàng nhạt xen kẽ long đen ở cánh đuôi, lông cổ có màu nâu Là giống gà hướng thịt, có tầm vóc to, ngoại hình thô, đi lại chậm Chỉ tiêu kinh tế: trọng lượng trưởng thành gà nặng 3 - 3,5 kg; gà trống đạt tới 5 kg (Lê Hồng Mận và Hoàng Hoa Cương, 1994) Thời gian đạt trọng lượng thịt khoảng 5 tháng Sản lượng trứng thấp 55 – 60 trứng/ năm Thời gian
gà mái bắt đầu đẻ khoảng 7 tháng
2.1.6 Gà Tàu vàng
Nguồn gốc: chủ yếu ở phía Nam, được ưa chuộng vì chất lượng thịt cao,
dễ nuôi Đặc điểm ngoại hình: gà bị pha tạp nhiều nhưng phần lớn có lông, chân và da đều màu vàng
Trang 16Chỉ tiêu kinh tế: trọng lượng trưởng thành gà mái: 1,6 – 1,8 kg, gà trống: 2,2 – 2,5 kg Thời gian đạt trọng lượng thịt là 6 tháng Sản lượng trứng bình quân 60 – 70 trứng/ năm (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002) Gà mái 6 tháng tuổi bắt đầu đẻ trứng, gà mái có đặc tính thích ấp, nuôi con giỏi Thích hợp với nuôi thả vườn
2.1.8 Gà tre
Nguồn gốc: Giống gà này thường gặp ở những vùng nông thôn phía Nam Đặc điểm ngoại hình: Gà có sắc lông sặc sỡ, nhanh nhẹn, thịt thơm ngon (nhiều nơi cũng nuôi để làm cảnh)
Chỉ tiêu kinh tế: Trọng lượng trưởng thành gà mái: 0,6 – 0,7 kg, gà trống: 0,8 – 10 kg (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002) Gà mái đẻ trứng trung bình (40 – 50 trứng/ năm)
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà mái đẻ
Tùy theo giống gà, tuổi gà, mục đích sử dụng gà và các phương thức chăn nuôi mà nhu cầu dinh dưỡng khác nhau Giống gà phát triển nhanh cần nhu cầu dinh dưỡng cao đặc biệt hàm lượng đạm trong thức ăn cao Gà còn nhỏ nhu cầu dinh dưỡng cao hơn
2.2.1 Nhu cầu năng lượng duy trì
Nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trước hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là sử dụng cho duy trì sự sống (Bùi Xuân Mến, 2007) Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản
và hoạt động bình thường Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiếu hoặc sự sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn của vật nuôi tăng thì sự sinh nhiệt cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm Sự sinh nhiệt cơ bản của gà con
Trang 17mới nở vào khoảng 5,5 calo trên một gam thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với gà mái trưởng thành thì chỉ cần phân nữa số năng lượng này
Năng lượng yêu cầu cho hoạt động có thể thay đồi đáng kể, thường được ước tính bằng khoảng 50% của sự trao đôi cơ bản Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện chuồng trại cũng như giống gia cầm được nuôi Sử dụng chuồng lồng làm giới hạn các hoạt động sẽ dẫn đến sự tiêu phí năng lượng thấp hơn, khoảng 30% của sự trao đổi cơ bản so với nuôi nền Khi năng lượng dư thừa sẽ được tích lũy thành mỡ mà không bị thải ra ngoài (Bùi Đức
Lũng và Lê Hồng Mận, 2001)
Mặc dù thực tế những động vật lớn hơn yêu cầu năng lượng duy trì thấp hơn trên một đơn vị thể trọng, nhưng tổng năng lượng cần cho những động vật lớn hơn lại cao hơn nhiều so với vật nhỏ hơn Từ quan điếm thực tiễn cho thấy, một gà mái sản xuất trứng có độ lớn cơ thể nhở nhất, đẻ trứng lớn và sức sống cao sẽ có khả năng chuyển đổi thức ăn thành sản phẩm đạt hiệu quả nhất,
vì tiêu phí năng lượng duy trì thấp
Hầu hết gà đang đẻ trứng và gà thịt đang sinh trưởng đều được cho ăn tự
do theo yêu cầu sản xuất Lượng thức ăn gia cầm tiêu thụ có liên quan trước hết đến nhu cầu năng lượng của gia cầm trong thời gian này Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ thức ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần Mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm hàng ngày có thể đo bằng kilocalo Năng lượng thấp, gà gầy, chậm lớn (Lê Hồng Mận, 2001)
2.2.2 Nhu cầu năng lượng sản xuất
Năng lượng thuần cần cho một mái đang có tỷ lệ đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng (Bùi Xuân Mến, 2007)
Gà mái có khả năng thay đối mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng trong khẩu phần Mức năng lượng tối thiêu trong khẩu phần cho gà đẻ không thể dưới mức 2640 Kcal ME/kg Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 Kcal ME/kg Thường thì mức năng lượng thực trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức độ của giá thức
ăn trong thực tế sản xuất Xây dựng khẩu phần ăn cho gia cầm được dựa trên khái niệm là gia cầm có xu hướng ăn để đáp ứng nhu cầu năng lượng của
chúng, giả định rằng khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng thiết yếu (Hill et al., 1956; Scott et al., 1982)
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (1994), nhu cầu năng lượng để sản xuất
1 quả trứng là:
ME-sxt = (P x 1,6)/0,8
Trang 18Trong đó:
P - Khối lượng của trứng (gam)
1,6 - Giá trị năng lượng của 1 gam trứng
0,8 - Hiệu quả sử dụng năng lượng cho sản xuất trứng
Đặc trưng của gia cầm là không có vùng nhiệt độ trung hòa rõ rệt (Dương Thanh Liêm, 2003) Khi nhiệt độ tăng cao gà phản ứng tự nhiên để chống lại là điều tiết thân nhiệt bằng cách tăng dần tần số hô hấp, ăn ít và uống nhiều nước Khi đó việc tăng năng lượng và protein trong khẩu phần là rất cần thiết để bù đắp hao tổn nói trên, nhưng khi nhiệt độ tiếp tục tăng quá 27% thì
cơ thể gà bắt đầu rối loạn, nếu nhiệt độ tiếp tục tăng nữa thì cơ thể gà không bị mất năng lượng như trên mà lúc này ta phải biết giảm năng lượng trong thức
ăn một cách hợp lý (Trần Thị Kim Oanh, 1998)
2.2.3 Nhu cầu dinh dưỡng duy trì
Theo Bùi Xuân Mến (2007) protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp,
vì thế yêu cầu về protein trước hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích của sản xuất Để đáp ứng nhu cầu protein thì các acid amin thiết yếu phải cung cấp đủ lượng và tổng lượng nitơ trong khẩu phần phải đủ cao và ở dạng thích hợp để cho phép tổng lượng acid amin không thiết yếu Sản phẩm thịt, trứng đều cấu tạo từ protid Không đủ protein trong thức ăn, năng suất chăn nuôi giảm Protid tham gia điều hòa quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng của thức ăn cho cơ thể, đồng thời nó còn cung cấp năng lượng cho cơ thể (Lê Hồng Mận, 1999)
Thiếu protein gà chậm lớn, còi cọc, gà đẻ kém, sinh bệnh tật… cần cân đối protein theo nhu cầu của gà con, gà thịt, gà đẻ… Các loại thức ăn giàu protein là bột cá, bột thịt, bột sữa, đậu tương, khô lạc Thường bổ sung vào thức ăn hai loại axít amin hay thiếu là lysine và methionine tổng hợp với tỉ lệ thấp (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 2001)
2.2.4 Nhu cầu dinh dưỡng sinh trưởng
Nhu cầu protein và acid amin của gia cầm non đang sinh trưởng là đặc biệt quan trọng Sự thiếu hụt của hoặc protein tông số hoặc là một acid amin thiết yếu nào đó đều làm giảm tốc độ tăng trưởng Phần lớn nhất vật chất khô tăng lên với sự sinh trưởng là protein Protein tham gia cấu tạo tế bào là thành phần quan trọng của sự sống, chiếm đến khoảng 1/5 khối lượng cơ thể gia cầm, 1/7-1/8 khối lượng trứng
Trang 19Protein là hợp chất hữu cơ quan trọng không có chất dinh dưỡng nào thay thế vai trò của protein trong tế bào sống vì phân tử protid ngoài cacbon, hydro, oxy còn có nitơ, lưu huỳnh, phospho mà ở các phân tử mỡ, bột đường không có Thiếu protein gà chậm lớn, còi cọc, gà đẻ kém, sinh bệnh tật… cần cân đối protein theo nhu cầu của gà con, gà thịt, gà đẻ… Các loại thức ăn giàu protein là bột cá, bột thịt, bột sữa, đậu tương, khô lạc Thường bổ sung vào thức ăn hai loại axít amin hay thiếu là lysine và methionine tổng hợp với tỉ lệ thấp (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 2001)
2.2.5 Nhu cầu dinh dưỡng đẻ trứng
Đối với gà mái đẻ, ngoài nhu cầu thức ăn để duy trì cơ thể còn cần lượng dinh dưỡng để sản xuất ra trứng, do đó cần bổ sung các chất dinh dưỡng như tinh bột, đạm, khoáng, vitamin vào khẩu phần ăn
Các chất hữu cơ trong thức ăn bao gồm: protein, lipid, cacbohydrate, trong đó carbohydrate chiếm tỉ lệ lớn nhất 40-60%, cung cấp năng lượng cho
cơ thể phát triển, duy trì các hoạt động sống bình thường, duy trì nhiệt độ, sản xuất thịt trứng…Khi năng lượng dư thừa sẽ được tích lũy thành mỡ mà không
bị thải ra ngoài (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 2001) Trong khẩu phần thức
ăn hàng ngày nếu thiếu hoặc thừa chất khoáng sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, khả năng sinh sản và sức chống bệnh của gia cầm (Trịnh Quang Khuê
và Nguyễn Văn Vinh, 2003)
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và sinh trưởng của gà
2.3.1 Chuồng trại
Trong chăn nuôi hiện đại, vật nuôi bị nhốt hoàn toàn nên kỹ thuật chuồng trại đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất của vật nuôi Chuồng trại quyết định điều kiện khí hậu và vệ sinh môi trường xung quanh vật nuôi Chuồng nuôi tốt sẽ tạo điều kiện tốt cho vật nuôi và cho năng suất tối đa Ngoài vật nuôi, người chăn nuôi cũng làm việc trong môi trường chăn nuôi và chuồng nuôi chính là phương tiện quyết định đến điều kiện làm việc của người lao động Các thiết kế khác nhau của chuồng nuôi sẽ quyết định năng suất lao
động của người chăn nuôi (Võ Văn Sơn, 2002)
2.3.2 Giống
Các giống gà khác nhau thì có khối lượng, tốc độ tăng trưởng và khả năng sử dụng thức ăn khác nhau Đối với những giống gà chuyên thịt có tầm vóc lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh, thành thục sinh dục muộn sẽ có năng suất cao nhưng sức đề kháng kém Giống gà chuyên trứng có tầm vóc nhỏ, sinh trưởng chậm nhưng thành thục sinh dục sớm Những giống gà kiêm dụng thì
Trang 20mang những đặc điểm trung gian giữa gà hướng trứng và gà hướng thịt về tầm
vóc và sức sản xuất (Dương Thanh Liêm, 2003)
Đối với các giống gà địa phương có tốc độ sinh trưởng chậm, sức đề kháng cao, chịu đựng tốt điều kiện khí hậu, chúng có thể sống trong điều kiện nuôi dưỡng thấp mà ít bị ảnh hưởng đến sức sống và khả năng sản xuất (Đào Đức Long, 2004)
2.3.3 Giới tính
Theo Đào Đức Long (2004), con trống có ảnh hưởng di truyền lớn đến cấu tạo thân tức là cấu tạo của bắp thịt Theo kết quả theo dõi của Nguyễn Văn
Bắc và ctv (2005) cho thấy từ 1-3 tuần đầu gà Tàu Vàng tăng trọng chỉ ở mức
tương đối nhưng sang tuần thứ 4 thì tăng trọng vượt lên Đối với con mái sự tăng trọng bắt đầu giảm nhẹ từ tuần 14 cho đến lúc xuất chuồng (16 tuần) còn con trống tăng trọng dần lên và bắt đầu chậm lại ở tuần 15 Tuy nhiên sự tăng trọng của con trống lúc nào cũng cao hơn con mái
2.3.4 Điều kiện tiểu khí hậu
2.3.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố điều kiện môi trường Nó gắn liền với đời sống của gà từ lúc phôi trong máy ấp đến lúc nở, trưởng thành và tái sản xuất, trong từng giai đoạn của gà đòi hỏi nhiệt độ khác nhau Nhiệt độ trong chuồng lý tưởng nhất đối với gà phát triển là 20-250C (Võ Bá Thọ, 1996)
2.3.4.2 Ẩm độ
Độ ẩm và nhiệt độ trong chuồng gà thường có liên quan với nhau và ảnh hưởng đến sức khỏe của gà Nếu nhiệt độ cao và ẩm độ cao làm giảm sự bốc hơi và tỏa nhiệt gây cho gà khó thở, đồng thời tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển
Nước ta thường có độ ẩm không khí rất cao, trên 75%, vì vậy dùng biện pháp giảm độ ẩm bằng hệ thống thông gió và giữ khô lớp độn chuồng là cách tốt nhất Bên cạnh đó, thực hiện tốt công tác vệ sinh như khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm và giảm mật độ nuôi cũng là cách hạn chế phát sinh độ ẩm trong trại Độ ẩm không khí tương đối thích hợp trong chuồng nuôi gia cầm, thường ở mức 60-70% (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.3.4.3 Chế độ chiếu sáng
Ánh sáng kích thích trao đổi chất, hoạt động nội tiết, làm tăng vận động
và kích thích tính thèm ăn
Trang 21Ánh sáng đến võng mạc mắt kích thích thần kinh truyền về vùng dưới đồi thị giác (hypothalamus), lên vỏ não rồi đến các cơ quan Ảnh hưởng gián tiếp đến tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục, từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh sản (Võ Văn Sơn, 2002)
Trong tuần đầu gà con được chiếu sáng 24 giờ/ngày Từ tuần tuổi thứ 2-4 giảm dần từ 23-20-14 giờ/ngày Từ tuần tuổi thứ 5-17 thì không cần chiếu sáng Chỉ dùng ánh sáng tự nhiên là đủ Từ tuần tuổi thứ 18-20 thì lại tăng độ chiếu sáng từ 14-15-16 giờ/ngày Từ 20 tuần tuổi trở đi (trong suốt thời gian
gà đẻ) độ chiếu sáng duy trì từ 16 giờ/ngày Đối với gà đẻ độ chiếu sáng rất quan trọng Nhưng ánh sáng phải thích hợp không sáng quá cũng không tối quá Ánh sáng tốt nhất là dùng bóng đèn điện 40W, một bóng đèn đủ chiếu sáng cho 10m2 Buổi tối để đèn sáng tới 10 giờ đêm và tắt đèn từ 10 giờ đêm tới 5 giờ sáng Gà thường ăn mạnh vào buổi tối từ 6-9 giờ và buổi sáng từ 5-9 giờ vì lúc đó thời tiết mát mẻ (Nguyễn Xuân Bình, 2004)
2.3.4.4 Thông thoáng
Yếu tố thông thoáng phụ thuộc vào kết cấu và kiểu chuồng Nếu gà sống trong điều kiện thông thoáng kém < 0,9 m3 không khí/giờ/kg thể trọng thì đàn
gà có nguy cơ mắc bệnh hô hấp và bẹnh Newcastle cao hơn bình thường.Nếu
gà sống trong điều kiện có sự trao đổi không khí tốt >5 m3 không khí/giờ/kg thể trọng thì khả năng mắc bệnh rất thấp (Lã Thị Thu Minh, 1997)
Trong một ngày đêm gà thịt thải ra trung bình 38 lít khí CO2/kg khối lượng sống của gà, gà lúc 60 ngày tuổi thì thải đến 58 lít
Bảng 2.1: Quy định lượng khí thải trong chuồng nuôi gà
2.3.4.5 Mật độ nuôi
Mật độ nuôi trong thời gian úm từ 0-3 tuần tuổi là 80 con/m2 Từ 3-18 tuần tuổi là 24-18 con/m2 Từ 18 tuần tuổi trở đi la 8-10 con/m2
2.3.5 Tiêu chuẩn về dinh dưỡng
Gà được cho ăn đầy đủ dinh dưỡng thì khả năng sinh trưởng cao hơn Nhu cầu dinh dưỡng trong thức ăn của gà theo tiêu chuẩn NRC (1985) được thể hiện qua Bảng 2.2
Trang 22Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợp
Các chất dinh dưỡng Gà 0-6 tuần tuổi Gà 7-14 tuần tuổi Gà 15-20 tuần tuổi
(Dương Thanh Liêm, 1999)
2.3.6 Chăm sóc và nuôi dưỡng
2.3.6.1 Cắt mỏ gà
Do bản chất của gà, đặc biệt là gà nuôi nhốt thường mổ lông ăn thịt lẫn nhau khi thiếu dinh dưỡng, nhiệt độ môi trường tăng cao, cường độ ánh sáng lớn, sự không đồng đều giữa các gà trong cùng ô chuồng Mặt khác gà thường dùng mỏ để cào làm thức ăn rơi vãi ra ngoài gây lãng phí thức ăn, tỷ lệ này thường chiếm khoảng 5% Cho nên cần thiết phải cắt mỏ gà Nên cắt mỏ gà vào lúc gà 6-8 tuần tuổi Chú ý cắt không quá 1/3 đầu ngọn của mỏ Không cho gà ăn 4 giờ trước khi cắt Sau khi cắt xong cho gà ăn ngay thì vết cắt đỡ chảy máu (Nguyễn Xuân Bình, 2004)
2.3.6.2 Quy trình vệ sinh phòng bệnh
Trong chăn nuôi gà, bên cạnh những vấn đề thức ăn, con giống…còn có khâu rất quan trọng là khâu vệ sinh phòng bệnh Để phòng bệnh có hiệu quả trước hết phải thực hiện các khâu sau: sát trùng chuồng, dụng cụ thí nghiệm và phòng bệnh bằng vacxin, trong đó thì khâu sát trùng chuồng và các dụng cụ thi rất quan trọng bởi vì nếu không được sát trùng thì sẽ có nhiều mầm bệnh, khi
đó sử dụng vacxin để ngừa nhưng bệnh vẫn có thể xảy ra Có hai phương pháp sát trùng phổ biến nhất là sát trùng bằng nhiệt và sát trùng bằng hóa chất Nhưng ngày nay người ta thường sử dụng phương pháp sát trùng bằng hóa chất (Châu Bá Lộc, 1997)
Trang 23Bảng 2.3: Quy trình phòng bệnh
miễn dịch
Độ dài miễn dịch
Marek Tiêm bắp đùi lúc 1 ngày tuổi Sau 7 ngày Suốt đời gà Newcastle chủng F
(Nguyễn Xuân Bình, 2004)
2.4 Giới thiệu về cây Yucca schidigera và các ứng dụng trong chăn
nuôi
2.4.1 Giới thiệu về cây Yucca schidigera
2.4.1.1 Phân loại khoa học
Cây Yucca Schidigera thuộc giới: Plantae, (không phân hạng)
Angiospermae, (không phân hạng) Monocot Bộ: Asparagales Họ:
Asparagaceae Chi: Yucca Loài: Y schidigera Danh pháp hai phần là Yucca
schidigera (Roezl ex Ortgies, 1871)
Hình 2.2 Cây Yucca Schidigera
(http://wikipedia.org/wiki/Yucca_schidigera)
Trang 242.4.1.2 Nguồn gốc và phân bố
Cây Yucca có tên khoa học Yucca schidigera, là loại cây thuộc họ
Agavaceae Cây Yucca còn được gọi là cây Mojave Yucca, vì nó là cây bản địa ở sa mạc Mojave và sa mạc Sonoran thuộc Đông Nam Califonia, ở Nam Nevada, Tây Arizona Nó cũng là loài bản địa ở Mexico, Yucca thường mọc ở những dốc sa mạc đá và miền sa mạc Creosote Chúng chịu đựng được sự nung nóng của mặt trời và không cần nước Cây Yucca là loài cây có hoa và
có thể cao đến 5 m
2.4.1.3 Đặc điểm sinh học
Môi trường sống của chúng là trên sườn núi sa mạc đá giữa độ cao 300 - 1.200 m và có thể lên đến 2.500 m Chúng là loài phát triển mạnh trong điều kiện ánh nắng mặt trời đầy đủ và nền đất thoát nước tốt Nó cũng không cần
nước vào mùa hè và có quan hệ gần gũi với loài Yucca baccata
2.4.1.4 Thành phần dinh dưỡng
Trong cây Yucca có hợp chất saponin rất đặc biệt, saponin khi thủy phân cho glycon (gốc đường, bao gồm glucose, arabinose, xylose và axít glucoronic) và aglycon (gốc sapogenin, bao gồm saponin trung tính và saponin
axít) (Sapa et al., 2009)
Hợp chất saponin đang có trên thị trường hiện nay chủ yếu lấy từ cây
Yucca (Yucca schidigera) Để thu hoạch saponin của cây Yucca, người ta đem
thân cây ngâm nước hoặc sấy khô Nếu làm theo kỹ thuật sấy khô thì thân cây sau khi sấy đem nghiền thành bột, đó là bột saponin yucca Nếu làm theo kỹ thuật ngâm nước thì thân cây sau khi ngâm nước được ép lấy dịch, đó là “dịch chiết yucca” (thực chất là dịch ép bằng cơ giới chứ không phải là dịch chiết bằng dung môi)
Bột hay dịch chiết của cây Yucca không phải chỉ có saponin mà còn có những hóa thực vật khác, đó là oligosaccharide, phenol, stilbene, resveratrol
có vai trò là các chất chống oxy hóa (resveratrol cũng rất giàu trong nho và là một chất chống oxy hóa mạnh, rất tốt đối với việc ngăn ngừa các bệnh tim mạch và ung thư) (Vũ Duy Giảng, 2010)
2.4.2 Các ứng dụng của cây Yucca schidigera trong chăn nuôi
Với các hóa chất thực vật có trong cây, đặc biệt là saponin, bột hay dịch chiết của cây Yucca đã được dùng làm phụ gia thức ăn chăn nuôi với các vai trò: kiểm soát ammonia và mùi hôi của chất thải, điều chỉnh sự lên men dạ cỏ, kháng protozoa, tương tác giữa saponin với cholesterol, hoạt tính bề mặt và
Trang 25chức năng của ruột, nâng cao đáp ứng miễn dịch, cải thiện năng suất sinh sản, hạn chế tỷ lệ đẻ non
2.4.2.1 Vai trò kiểm soát ammonia và mùi hôi
Chiết chất saponin của Yucca bổ sung vào thức ăn cho gà hay lợn đã thấy giảm được ammonia và mùi hôi của chất thải trong chuồng nuôi Có 2 cơ chế giải thích cho việc giảm ammonia, một là chiết chất của cây Yucca có tác dụng đến chức năng của thận, làm tăng tốc độ phân giải loại bỏ urê, dẫn đến giảm thấp hàm lượng urê và ammonia trong máu, thứ hai là do stilbene có trong Yucca đã có tác dụng ức chế hoạt tính urease, hạn chế sự phân giải urê thành ammonia (Kong, 1998)
Cho chó và mèo ăn chiết chất Yucca cũng thấy giảm được mùi hôi ở phân, các nhà khoa học cho rằng đã có sự kết dính trực tiếp giữa các thành phần gây mùi của phân với một vài thành phần của chiết chất Yucca Giải thích này dựa trên thử nghiệm đưa chiết chất Yucca vào một dung dịch chứa các hợp chất như dimethyl disulfide, dimethyl sulfide, indol và skatol đã thấy mùi hôi giảm theo đánh giá mùi của người
2.4.2.2 Vai trò điều chỉnh sự lên men dạ cỏ
Saponin có khả năng kháng protozoa, cơ chế này được thực hiện do sự kết hợp của saponin với cholesterol trên màng protozoa, làm cho màng bị phá hủy, bị ly giải và tế bào protozoa bị chết Protozoa trong dạ cỏ ăn vi khuẩn để
sử dụng nguồn nitơ của vi khuẩn (một protozoa trong mỗi giờ có thể ăn 600 -
700 vi khuẩn) và phân giải protein vi khuẩn cho ra ammonia Nhờ saponin, protozoa bị tiêu diệt, khả năng ăn vi khuẩn giảm và từ đó cũng giảm được khả năng phân giải protein, giảm hàm lượng ammonia hình thành trong dạ cỏ
(Marka et al., 1998; Wang et al., 1998)
2.4.2.3 Vai trò chống bệnh protozoa của saponin
Vai trò chống bệnh của protozoa của saponin đã được chứng minh đối với bệnh giardiasis, một bệnh đường ruột phổ biến của người và động vật trên
khắp thế giới gây ra bởi Giardia lamblia Bệnh lây qua đường thức ăn, nước
uống, triệu chứng điển hình của bệnh là tiêu chảy cấp hoặc mãn và giảm hấp thu, dẫn đến mệt mỏi, gầy yếu, giảm khả năng lao động Saponin yucca đã thấy có tác dụng tiêu diệt hiệu quả giardia tropozoite trong đường ruột
(McAllister et al., 1998)
2.4.2.4 Saponin và hệ thống miễn dịch
Saponin thì đặc biệt hiệu quả khi là tá dược của vaccine antiprotozoa, tá dược saponin trong vaccine này tạo cho vaccine có khả năng tấn công
Trang 26protozoa ở cả hai phía, cả trong trong đường ruột lẫn trong đường máu Ngoài
ra, saponin cũng được chứng minh là có khả năng tăng sự phân chia của tế bào miễn dịch, kích thích sự sản sinh cytokine, nhờ đó hoạt hóa được lympho B sản sinh kháng thể Saponin cũng có tác dụng kết hợp với cholesterol ngăn ngừa chúng không bị oxi hóa trong kết tràng (Rao and Sung, 1995)
Với vai trò là tá dược (adjuvant) của vaccine, saponin làm tăng khả năng hấp thu các đại phân tử nhờ đó cải thiện hiệu quả của vaccine tiêm và uống Một loại tá dược saponin được sử dụng rộng rãi có tên là Quil A, đó là saponin của cây Quillaja saponaria tinh chế Quil A đã được dùng để chế tạo phức kích thích miễn dịch (ISCOM: immunostimulating complex); ISCOM được pha chế như sau: hòa tan protein của virus trong chất làm sạch, loại bỏ chất làm sạch rồi thêm Quil A, kết quả là có một micelle với Quil A được bao bọc bởi một lớp protein virus ISCOM có khả năng kết dính với cholesterol của màng
tế bào đại thực bào (macrophage) hoặc tế bào trình diện kháng nguyên, nhờ đó việc hấp thu của tế bào cơ thể với ISCOM được dễ dàng ISCOM có vai trò
chống lại một số virus, bao gồm cả virus leukemia của họ mèo (Osterhaus et
al., 1985) và HIV (Wu et al.,1992)
2.4.2.5 Tiêu hóa mỡ
Saponin có ảnh hưởng tích cực đến sự tiêu hóa và hấp thu lipid bằng cách nhũ hóa mỡ và tạo micelle giúp niêm mạc ruột hấp thu dễ dàng hơn (Vũ Duy Giảng, 2010)
2.5 Giới thiệu một số vi khuẩn có lợi và ứng dụng của chúng trong chăn nuôi
Probiotics là sinh vật sống có ảnh hưởng tốt đến vật chủ nhờ vào sự biến đổi hệ sinh vật gắn với vật chủ, từ đó cải thiện khả năng sử dụng thức ăn, nâng cao khả năng chống bệnh của vật chủ và cải thiện môi trường xung quanh
(Verschuere et al., 2000) Chế phẩm sinh học vi khuẩn đã được sử dụng trong
chăn nuôi gia cầm như một nguồn thay thế kháng sinh chống lại các tác nhân gây bệnh để hỗ trợ và cải thiện tăng trưởng và hiệu suất sản xuất Chúng có tác dụng cân bằng hệ vi sinh đường tiêu hóa và tăng hoạt động chống oxy hóa
(Shen et al., 2011) Ngoài ra, các vi khuẩn còn tăng cường giúp đường tiêu
hóa chống sự xâm nhập các mầm bệnh và duy trì hoạt động của vi sinh vật
(Gong et al., 2002), từ đó ổn định hệ vi sinh vật và tỷ lệ mắc bệnh cũng giảm (Hooge et al., 2004)
Trang 272.5.1 Bacillus subtilis
Bacillus subtilis là thành viên của quần thể vi khuẩn mucosaassociated
trong manh tràng của gà (Gong et al., 2002) Duc et al (2004) và Cartman et
al (2008) cho thấy các bào tử của Bacillus subtilis nảy mầm trong đường tiêu
hóa của gà
Bacillus subtilis là bào tử đã được chứng minh để tăng cường phản ứng
của tế bào lympho máu ngoại vi của con người như Phytohaemagglutinin và
concanavalin A (Spreafico et al., 1980) Trên một loạt các nồng độ, Bacillus
subtilis bào tử có khả năng gây một biểu hiện gia tăng của kháng nguyên
MLR3, MLR4 (Mixed Lymphocyte Response) và HLA- DR (nhân bạch cầu
kháng nguyên) của các tế bào đơn nhân ngoại vi (Fais et al., 1987)
Bacillus subtilis trong chăn nuôi gà thịt giúp tiêu thụ oxy để tạo ra một
môi trường thuận lợi hơn đối với các loài kỵ khí có lợi, loại trừ một số vi
khuẩn gây bệnh, đặc biệt là vi khuẩn E coli, Salmonella enterica, Clostridium
perfringens (Jin et al., 1996; La Ragione and Woodward, 2003), là enzyme
sản xuất (Hosoi et al., 2000) và tăng cường đáp ứng miễn dịch (Yurong et al., 2005; Huang et al., 2008)
2.5.2 Saccharomyces cerevisiae
Saccharomyces cerevisiae là một loại vi sinh vật thuộc chi
Saccharomyces, lớp Ascomycetes, ngành nấm
Saccharomyces cerevisiae trong chế độ ăn uống của gà thịt với tỉ lệ
5ppm đã cải thiện được hiệu suất do hấp phụ độc tố aflatoxin của thành tế bào của nấm men và loại bỏ chất độc hại này cho phân trong đường ruột Ngoài ra các men cũng kích thích miễn dịch đường ruột, tăng bảo vệ chống lại các độc
tố vi sinh vật gây bệnh, do thành tế bào của nấm men chứa mananoligosaccharides được cho là tăng cường sự phát triển của sinh vật có
lợi trong ruột như Lactobacillus spp, Bacillus subtilis làm tăng hiệu suất tăng
trưởng và khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng của gia cầm (Chiang and Hsiem, 1995)
Riverdin (1996) cho rằng có tác dụng làm nâng cao chất béo trong sữa
dê Cải thiện số ngày đẻ trứng, hệ số chuyển hóa thức ăn, khối lượng trứng và chất lượng lòng đỏ (Tortuero and Fernandez, 1995)
2.5.3 Lactobacillus spp
Hỗn hợp Lactobacillus spp và Streptococcus spp tăng sự sinh trưởng và chức năng miễn dịch ở heo con Lactobacillus spp còn làm tăng khả năng tiêu hóa dinh dưỡng cho gia cầm Lactobacillus spp là nhóm vi khuẩn được sử
Trang 28dụng rộng rãi nhất trong chế tạo probiotics (Champ et al., 1983) Các chủng
Lactobacillus được tìm thấy và phân lập nhiều ở trong đường ống tiêu hóa của
động vật, trong các phế phụ công nghiệp sản xuất bia, rượu, đường và sản phẩm lên men, Trong các sản phẩm này có chứa hàm lượng axít lactic rất
cao là tiềm năng để sản xuất probiotics (Pedersen et al., 2004)
Trang 29Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 3.1 Phương tiện thí nghiệm
3.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: từ ngày 9/9/2014 đến ngày 4/11/2014
Địa điểm: thí nghiệm được tiến hành tại trại gà của anh Châu Thanh Vũ,
ấp Tuận Tiến B, xã Thuận An, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
Hình 3.1 Trại gà thí nghiệm
3.1.2 Động vật thí nghiệm
Động vật thí nghiệm là 40 gà Nòi nuôi tại trại gia đình, tại thời điểm khảo sát đàn gà đang ở giai đoạn 72 tuần tuổi Gà được tiêm phòng và tẩy ký sinh trùng đầy đủ theo định kỳ
3.1.3 Chuồng trại
Điều kiện khí hậu: trại nuôi chịu ảnh hưởng chung của thời tiết vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm mùa mưa và mùa khô Trại được xây dựng trong vườn cây nên khí hậu khá mát mẻ, không quá nóng khi trời nắng và tránh được gió mạnh khi trời mưa
Chuồng gà thí nghiệm được thiết kế theo hệ thống chuồng hở, nền chuồng lót trấu được trộn men vi sinh khử mùi dày 60 cm, xung quanh xây được bao bọc bằng lưới B40 cao khoảng 2 m, kết hợp bạt cao su có thể kéo lên xuống để che mưa gió Dãy chuồng được thiết kế theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, mái chuồng lợp tolevới kích thước 30 x 6 m có lót một lớp mốp làm la phông chống nóng
Trang 30Trại có tổng mái là 200 con, xây dựng sau vườn nhà, tránh xa khu dân
cư Bên trong gồm 2 dãy chuồng, 2 dãy gồm 2 chuồng tầng lồng xếp chồng lên nhau, tầng lồng thấp nhất cách mặt đất 50 cm, kích thước mỗi ô chuồng là
40 x 53 cm (Hình 3.2)
Hình 3.2 Hệ thống chuồng nuôi tại trại
Hệ thống máng ăn được làm bằng nhựa được phân bố theo từng dãy, việc cho ăn được thực hiện thủ công Hệ thống máng uống tự động lắp phía trên lồng, gà uống nước tự do bằng núm uống gắn vào ống nhựa, phía trên có bồn chứa nước, nước từ bồn chứa sẽ tự động chảy theo ống nhựa đến các núm uống Có bồn chứa nước sẽ giúp cho việc pha thuốc vào nước hay chủ động nguồn nước uống cho gà một cách dễ dàng hơn (Hình 3.3)
Hình 3.3 Hệ thống máng ăn và nước uống
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm
Thức ăn cung cấp cho gà mỗi ngày 2 lần và loại thức ăn sử dụng nuôi gà tại trại là thức ăn hỗn hợp dạng viên của công ty Cargill sản xuất (Hình 3.4) Thực liệu của thức ăn: Khô dầu đậu nành, bắp, tấm, bột cá, cám gạo, bột xương thịt,… acid amin, vitamin, khoáng bổ sung, Yucca, probiotics