1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong mặt phẳng hình học 10

125 488 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do những ưu điểm của phương pháp trắc nghiệm khách quan như tính khách quan, tính bao quát, tính chuẩn mực và tính kinh tế nên nếu hệ thống câu hỏi được chuẩn bị chu đáo, cẩn thận thì hì

Trang 1

đại học quốc gia hà nội Trường đại học giáo dục

TRẦN NGUYấN HẠNH

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

KHÁCH QUAN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP

TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG - HèNH HỌC 10

luận văn thạc sĩ Sư phạm Toán

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

đại học quốc gia hà nội Trường đại học giáo dục

TRẦN NGUYấN HẠNH

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

KHÁCH QUAN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP

TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG - HèNH HỌC 10

luận văn thạc sĩ Sư phạm Toán

CHUYấN NGÀNH: Lý luận và phương pháp dạy học

(bộ môn Toán) Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NHỤY

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên trong Luận văn này, tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, hết lòng giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Nhụy

- người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tác giả trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo tổ Toán

và các em học sinh Trường THPT Vạn Xuân – Hoài Đức đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện thực nghiệm sư phạm góp phần hoàn thành Luận văn

Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, sự quan tâm giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, đã tạo điều kiện thuận lợi, tiếp sức để tôi hoàn thành Luận văn

Do khả năng và thời gian có hạn mặc dù tác giả đã cố gắng rất nhiều song bản Luận văn này chắc chắn không tránh khỏi sai sót Tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014

Tác giả

Trần Nguyên Hạnh

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

Danh mục các biểu đồ vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Một số vấn đề về đánh giá trong dạy học 5

1.1.1 Khái niệm đánh giá 5

1.1.2 Mục đích của đánh giá 5

1.1.3 Nội dung đánh giá 6

1.1.4 Những chức năng và yêu cầu đánh giá học sinh 8

1.1.5 Qui trình đánh giá 8

1.2 Một số vấn đề về kiểm tra 10

1.2.1 Khái niệm kiểm tra 10

1.2.2 Các hình thức kiểm tra 10

1.3 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học 11

1.3.1 Phương pháp quan sát 11

1.3.2 Phương pháp phỏng vấn 11

1.3.3 Phương pháp viết 11

1.4 Trắc nghiệm 12

1.4.1 Khái niệm về trắc nghiệm 12

1.4.2 Trắc nghiệm tự luận 13

1.4.3 Trắc nghiệm khách quan 14

1.4.4 So sánh trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan 15

1.4.5 Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan 17

1.4.6 Một số kỹ thuật trong xây dựng câu hỏi trắc nghiệm 23

1.4.7 Các tiêu chí của một bài trắc nghiệm khách quan 28

Kết luận chương 1 32

Trang 6

Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH

QUAN VỀ NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG 33

2.1 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong chủ đề đường thẳng 33

2.1.1 Nội dung cơ bản trong chủ đề đường thẳng 33

2.1.2 Các mục tiêu dạy học 36

2.1.3 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 36

2.2 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong chủ đề đường tròn 71

2.2.1 Nội dung cơ bản trong chủ đề đường tròn 71

2.2.2 Các mục tiêu dạy học 72

2.2.3 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về chủ đề đường tròn 72

2.3 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong chủ đề elip 82

2.3.1 Nội dung cơ bản trong chủ đề elip 82

2.3.2 Các mục tiêu dạy học 82

2.3.3 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về chủ đề elip 82

Kết luận chương 2 88

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 90

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 90

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 90

3.2 Phương pháp thực nghiệm 90

3.3 Kế hoạch thực nghiệm 90

3.4 Nội dung, tổ chức thực nghiệm 91

3.4.1 Xây dựng và sử dụng đề kiểm tra trắc nghiệm 91

3.4.2 Nội dung thực nghiệm 94

3.5 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 95

3.5.1 Kết quả thực nghiệm 95

Kết luận chương 3 101

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

PHỤ LỤC 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Bảng so sánh hai loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận và câu hỏi

TNKQ 16

Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra 15 phút TNKQ tại các lớp 10A1, 10A2 96

Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra 15 phút TNKQ tại các lớp 10D1, 10D2 97

Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra viết 15 phút của lớp 10A1, 10A2 97

Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra viết 15 phút của các lớp 10D1, 10D2 98

Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra viết 45 phút của lớp 10A1, 10A2 99

Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra viết 45 phút của lớp 10D1, 10D2 99

Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra 45 phút TNKQ lớp 10A1, 10A2 100

Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra 45 phút TNKQ lớp 10A1, 10A2 100

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu 3.1 Biểu đồ xếp loại điểm kiểm tra(tính theo %) giữa thực nghiệm

và đối chứng tại các lớp 10A1, 10A2 101 Biểu 3.2 Biểu đồ xếp loại điểm kiểm tra ( tính theo %) giữa thực

nghiệm và đối chứng tại lớp 10D1, 10D2 101

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, yêu cầu của sự hội nhập quốc tế đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam cần phải đổi mới một cách căn bản và toàn diện từ mục tiêu giáo dục, nội dung đến phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá Vì vậy Luật Giáo dục nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã

đề ra mục tiêu của giáo dục phổ thông: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là

giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ

và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Kiểm tra, đánh giá kết quả học học tập của học sinh là một khâu có vai trò quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học bộ môn toán nói riêng Nó đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học bộ môn, giúp giáo viên điều chỉnh việc dạy và giúp học sinh kịp thời điều chỉnh việc học của mình, góp phần củng cố, đào sâu, hệ thống hoá kiến thức và có tác dụng giáo dục học sinh về tinh thần trách nhiệm, thói quen đào sâu suy nghĩ, ý thức vươn lên trong học tập, thái độ làm việc nghiêm túc, trung thực

Theo chủ trương đổi mới giáo dục, yêu cầu cần đổi mới cả về chương trình, nội dung, về sách giáo khoa, về phương pháp dạy học, đồng thời đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá Do những ưu điểm của phương pháp trắc nghiệm khách quan như tính khách quan, tính bao quát, tính chuẩn mực và tính kinh tế nên nếu hệ thống câu hỏi được chuẩn bị chu đáo, cẩn thận thì hình thức thi trắc nghiệm khách quan sẽ phát huy nhiều tác dụng tích cực, góp phần thực hiện định hướng đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá

Mặc dù hiện nay đã có một số sách tham khảo viết về câu hỏi trắc nghiệm khách quan, song để phù hợp với thực tế dạy học, mỗi giáo viên cần

Trang 10

biết tự biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo cách riêng của mình, có thể dần dần từ từng bài, từng chương cho đến toàn bộ nội dung chương trình môn toán Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài là:

“Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung phương pháp toạ độ trong mặt phẳng - Hình học 10”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung phương pháp toạ độ trong mặt phẳng - Hình học 10 nhằm hỗ trợ trong quá trình dạy học và kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của học sinh

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, nghiên cứu chương trình, nội dung về phương pháp toạ độ trong mặt phẳng - Hình học 10

- Định hướng cách thức biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan và xây dựng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về phương pháp toạ

độ trong mặt phẳng - Hình học 10

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài

3 Câu hỏi nghiên cứu

Có thể xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về nội dung phương pháp toạ độ trong mặt phẳng - Hình học 10 không ?

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về nội dung phương pháp toạ độ trong mặt phẳng - Hình học 10 và sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học

5 Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động dạy và học môn Toán ở trường THPT

Trang 11

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Qui trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan về nội dung phương pháp toạ độ trong mặt phẳng - Hình học 10

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu lý luận về kiểm tra đánh giá, về câu hỏi trắc nghiệm khách quan, tổng quan về các kết quả nghiên cứu đã công bố và liên quan gần gũi với đề tài

- Nghiên cứu chương trình nội dung, sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên, và các tài liệu tham khảo về Hình học 10

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Tổng kết kinh nghiệm công tác giảng dạy của bản thân , học tập và tiếp thu kinh nghiệm các đồng nghiệp

- Nghiên cứu về đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá môn Toán tại trường THPT Vạn Xuân – Hoài Đức, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm tại các lớp 10A1, 10A2, 10D1, 10D2 tại Trường THPT Vạn Xuân – Hoài Đức, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội nhằm kiểm tra tính khả thi của đề tài

8 Đóng góp của luận văn

- Tổng quan về kiểm tra đánh giá trong dạy học và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá

Trang 12

- Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan sử dụng trong dạy học và kiểm tra đánh giá học sinh trong nội dung “Phương pháp toạ độ trong mặt phẳng - Hình học 10”

- Xây dựng một số giáo án kiểm tra đánh giá có sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm hỗ trợ để đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 : Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về nội dung phương pháp toạ độ trong mặt phẳng

Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số vấn đề về đánh giá trong dạy học

1.1.1 Khái niệm đánh giá

Theo bảng thuật ngữ đối chiếu Anh - Việt: “Đánh giá là quá trình hình

thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [6, tr.5]

Theo tác giả, đánh giá bao gồm một hệ thống các hoạt động nhằm thu thập số liệu, sản phẩm, báo cáo có giá trị thực về sự hiểu biết và nắm vững những mục tiêu đã đề ra Trong dạy học, quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong quá trình dạy học

Như vậy, trong dạy học đánh giá là một quá trình được tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về mục tiêu đào tạo Nó có thể bao gồm những sự mô tả, liệt kê về mặt định tính hay định lượng những hành vi (kiến thức, kỹ năng, thái độ) của người học, đối chiếu với những tiêu chí của mục đích dự kiến mong muốn, nhằm có những quyết định thích hợp

để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học

1.1.2 Mục đích của đánh giá

Theo tài liệu [7, tr.322 - 323], trong dạy học việc đánh giá học sinh nhằm các mục tiêu sau:

* Đối với học sinh

Việc kiểm tra và đánh giá có hệ thống, thường xuyên sẽ kích thích hoạt động học tập, cung cấp cho họ những thông tin phản hồi về quá trình học tập, khuyến khích năng lực tự đánh giá

Về tri thức và kỹ năng, việc đánh giá chỉ cho mỗi học sinh thấy mình đã lĩnh hội những kiến thức vừa được học đến mức độ nào, còn những sai sót, lỗ hổng nào cần phải bổ khuyết…

Trang 14

Việc đánh giá, nếu được khai thác tốt sẽ kích thích học tập không những

về mặt lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng mà còn cả về mặt phát triển năng lực trí tuệ, tư duy sáng tạo và trí thông minh

Về mặt giáo dục, việc kiểm tra, đánh giá nếu được tổ chức và tiến hành nghiêm túc sẽ giúp học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý chí vươn lên đạt những kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tự tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn và đặc biệt là phát triển năng lực tự đánh giá, một năng lực quan trọng đối với việc học tập của học sinh

* Đối với giáo viên

Việc đánh giá học sinh cung cấp những thông tin cần thiết, giúp người dạy xác định đúng điểm xuất phát hoặc điểm kế tiếp của quá trình dạy học, phân nhóm học sinh, chỉ đạo cá biệt và kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học Kiểm tra, đánh giá tạo cơ hội cho giáo viên xem xét hiệu quả của những cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đang thực hiện

* Đối với cán bộ quản lý giáo dục

Việc đánh giá học sinh cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy học trong một cơ sở, đơn vị giáo dục để có thể chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc; khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục

Như vậy việc kiểm tra, đánh giá học sinh có ý nghĩa về nhiều mặt: Nhằm nhận định thực trạng, định hướng và điều chỉnh hoạt động của học sinh đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và định hướng hoạt động dạy của giáo viên

1.1.3 Nội dung đánh giá

Theo các tài liệu [6, tr.24] ta có thể đánh giá nhận thức của học sinh theo 6 mức độ sau đây

+ Nhận biết

Trang 15

- Mức độ thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà học sinh đã học hoặc đã biết Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng)

- Mức độ vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết

sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào

đó Ở mức độ vận dụng yêu cầu học sinh áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định lý, định luật, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn Đây là mức độ thông hiểu cao hơn mức độ thông hiểu trên

- Mức độ phân tích là khả năng phân chia một thông tin thành các phần

Trang 16

thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng

- Mức độ tổng hợp là khả năng tổng hợp các thông tin nhỏ, có mối liên

hệ với nhau thành một thông tin tổng thể, khái quát

- Mức độ đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng

1.1.4 Những chức năng và yêu cầu đánh giá học sinh

Đánh giá học sinh đảm bảo 3 chức năng và 4 yêu cầu sau đây [7, tr 314]

- Chức năng khoa học: Nhận định chính xác một mặt nào đó trong thực trạng dạy và học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến nào đó trong dạy học Tuỳ mục đích đánh giá mà một hoặc vài chức năng nào đó sẽ được đặt lên hàng đầu

Trang 17

+ Xếp loại: Phân chia một tập hợp học sinh thành một vài loại theo tiêu chí nào đó

Ví dụ: Mỗi học sinh được xếp vào một trong 5 loại: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém

+ Thứ tự: Để phân hoá một cách “mịn” hơn đối với những học sinh ở cùng một mức xếp loại, giáo viên có thể dùng cách sắp thứ tự

Ví dụ: Xếp học sinh A thứ nhất, học sinh B thứ nhì, học sinh C thứ ba,… + Cho điểm: Nhằm khắc phục sự sai khác, hơn kém nhiều ít đến mức độ nào của việc lượng hoá theo cách sắp thứ tự, giáo viên sử dụng cách cho điểm

số theo thang đơn vị, thang tỉ lệ

Chú ý: Trong đánh giá học tập, cần cố gắng sao cho việc cho điểm ít nhất cũng thoả mãn yêu cầu của thang đơn vị

Ví dụ: Khi ra một đề kiểm tra, giáo viên dùng 10 câu hỏi độc lập với nhau, với mức độ khó khăn, phức tạp gần như nhau và quy định mỗi câu làm đúng được 1 điểm thì có thể coi là ta đã dùng một thang đơn vị (cũng là một thang tỉ lệ)

b, Lượng giá: Sự giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh

Có hai cách lượng giá:

+ Lượng giá theo tiêu chuẩn: Giải thích thông tin về trình độ kiến thức,

kỹ năng hoặc thái độ của học sinh được so sánh tương đối trong một tập hợp nào đó (chẳng hạn trong toàn lớp hay trong một khối lớp của một trường, của một huyện, của một tỉnh)

Ví dụ: Học sinh A trả lời đúng 8 câu hỏi trong bài kiểm tra trong khi đa

số các bạn trong lớp chỉ trả lời đúng 5 câu hỏi thì ta có thể thấy rằng học sinh

A thuộc diện khá so với cả lớp

+ Lượng giá theo tiêu chí: Sự giải thích thông tin về trình độ kiến thức,

kĩ năng hoặc thái độ của học sinh đối chiếu với những tiêu chí nhất định

Ví dụ: Trong một bài kiểm tra, đối chiếu điểm của một học sinh so với

Trang 18

số điểm tối đa có thể đạt được: Chẳng hạn so điểm của học sinh với số 10 (theo thang điểm 10 bậc)

c, Đánh giá: Đánh giá không dừng lại ở một sự giải thích thông tin về trình độ, kiến thức, kĩ năng hoặc thái độ của học sinh mà còn gợi ra những định hướng “ bổ khuyết sai sót hoặc phát huy kết quả”

Đánh giá vào 3 giai đoạn với 3 chức năng: đánh giá chuẩn đoán (trước khi học một nội dung nào đó); đánh giá từng phần (trong quá trình dạy học); đánh giá tổng kết (sau quá trình dạy học)

Ví dụ: Giáo viên không chỉ chấm điểm mà còn cần phải nhận xét, góp ý bài làm của học sinh về ưu điểm, sai sót, nguyên nhân và hướng khắc phục,…

d, Ra quyết định: Giáo viên quyết định những biện pháp cụ thể để giúp

đỡ học sinh, hoặc giúp đỡ chung cho cả lớp về những thiếu sót phổ biến hoặc

có những sai sót đặc biệt

1.2 Một số vấn đề về kiểm tra

1.2.1 Khái niệm kiểm tra

Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên năm 1996, thì “ kiểm tra là sự xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” Theo Trần Bá Hoành thì “việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá” [6, tr.15]

Như vậy, kiểm tra và đánh giá trong học tập là hai công việc có thứ tự và đan xen với nhau, nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng về thành tích học tập của học sinh Kiểm tra là phương tiện, là hình thức của đánh giá Muốn đánh giá được chính xác phải tiến hành kiểm tra (hoặc thi) theo những quy định chặt chẽ Kiểm tra và đánh giá có mối quan hệ mật thiết, trong đó kết quả của kiểm tra làm cơ sở cho việc đánh giá, mục đích đánh giá quyết định nội dung và phương pháp kiểm tra

1.2.2 Các hình thức kiểm tra

a, Kiểm tra thường xuyên

Quan sát một cách có hệ thống hoạt động của lớp học nói chung, của mỗi

Trang 19

học sinh nói riêng, qua các khâu ôn tập, củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

Tác dụng: Giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh cách dạy, học sinh kịp thời điều chỉnh cách học, tạo điều kiện vững chắc để quá trình dạy học chuyển dần sang những bước mới

Thực hiện vào cuối mỗi giáo trình, cuối năm học

Tác dụng: Đánh giá kết quả chung, củng cố, mở rộng chương trình toàn năm của môn học, chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học chương trình của năm học sau

1.3 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học

1.3.1 Phương pháp quan sát

Phương pháp này mang nặng tính chất định tính, thường được dùng trong đánh giá kết quả thực hành và được giáo viên thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình dạy học

1.3.2 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp này vừa mang tính chất định tính vừa mang tính chất định lượng, độ chính xác tương đối cao, có giá trị về nhiều mặt Nhưng không thích hợp cho việc đánh giá một lượng lớn kiến thức, trên nhiều học sinh, trong một thời gian ngắn Do đó, giáo viên thường sử dụng xen kẽ, kết hợp với các phương pháp khác khi tiến hành giảng dạy một bài cụ thể trên lớp

1.3.3 Phương pháp viết

Bao gồm hai loại tự luận và TNKQ (sẽ được trình bày trong mục 1.4)

Có thể hình dung hệ thống các phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học qua sơ đồ sau

Trang 20

1.4 Trắc nghiệm

1.4.1 Khái niệm về trắc nghiệm

Trắc nghiệm mà đối tượng là con người thì ta có thể hiểu theo định nghĩa sau : “Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học cho phép dùng một loạt những động tác xác định để nghiên cứu một hay nhiều đặc điểm nhân cách phân biệt được bằng thực nghiệm với mục đích đi tới những mệnh đề lượng hoá tối đa có thể được về mức độ biểu hiện tương đối của đặc điểm cần nghiên cứu” [7, tr.341]

Như vậy, ta có thể hiểu về trắc nghiệm như sau

+ Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học, trắc nghiệm được phát triển dựa trên những qui tắc có căn cứ khoa học như: thử nghiệm trắc nghiệm, phân tích, đánh giá độ tin cậy, xác định tính hiệu quả …

+ Dựa trên một loạt những động tác xác định, dễ thao tác, dễ tiến hành + Trắc nghiệm có thể được sử dụng để nghiên cứu, xác định một hay nhiều đặc điểm

+ Đối tượng nghiên cứu của trắc nghiệm là những đặc điểm nhân cách phân biệt được bằng thực nghiệm Những đặc điểm này được hiểu rất rộng, đối với học sinh thường là kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, năng lực…

Các phương pháp Kiểm tra, đánh giá

Luận văn

Nhiều lựa chọn

Ghép đôi

Đúng sai

Điền khuyết Trắc nghiệm khách quan

Trang 21

+ Mục tiêu của trắc nghiệm là đi tới những mệnh đề lượng hoá tối đa có thể được, kết quả được biểu thị bằng những con số

1.4.2 Trắc nghiệm tự luận

Trắc nghiệm tự luận là dạng trắc nghiệm dùng những câu hỏi mở còn gọi

là câu hỏi tự luận (ngược với TNKQ), đòi hỏi người học tự xây dựng câu trả lời Câu trả lời có thể là một đoạn văn ngắn, một bài tóm tắt, một bài diễn giải hoặc một tiểu luận Dạng này được xem là trắc nghiệm chủ quan vì việc đánh giá, cho điểm câu trả lời có thể tuỳ thuộc rất nhiều vào chủ quan người chấm,

từ khâu xây dựng đáp án, biểu điểm, xác định các tiêu chí đánh giá đến khâu đối chiếu bài trả lời với đáp án, biểu điểm… Vì vậy việc cho điểm thường không có tính tin cậy cao[7, tr 343]

Ưu điểm

- Sử dụng phương pháp kiểm tra bằng trắc nghiệm tự luận, chỉ trong khoảng thời gian ngắn có thể kiểm tra được số lượng lớn học sinh Kết quả của bài kiểm tra là những thước đo khách quan kiến thức của học sinh về những vấn đề thuộc phạm vi câu hỏi

- Qua bài kiểm tra giáo viên đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao: Tư duy trừu tượng, tư duy phê phán…

- Đánh giá được khả năng diễn đạt kiến thức của học sinh bằng ngôn ngữ viết (đánh giá được học sinh về khả năng trình bày chính xác, có hệ thống, có chọn lọc) Đánh giá được năng lực nhận thức: phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá …

- Kiểm tra bằng TNTL tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy lôgic Nhược điểm

Qua kiểm tra TNTL mỗi học sinh chỉ bộc lộ họ nắm vững kiến thức như thế nào về một phần nội dung trong chương trình vì các học sinh chỉ phải trả lời một số lượng ít câu hỏi Câu hỏi TNTL thường chỉ bao gồm một số nội dung hạn chế trong chương trình dễ dẫn tới khuynh hướng học lệch, học tủ của học sinh

Thông thường một bài trắc nghiệm tự luận gồm ít câu hỏi hơn một bài TNKQ nên chỉ kiểm tra được phạm vi hẹp của kiến thức

Trang 22

1.4.3 Trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) là dạng trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn Loại câu hỏi này cung cấp cho học sinh một phần hay tất cả thông tin cần thiết và đòi hỏi học sinh phải chọn một câu để trả lời hoặc chỉ cần điền thêm một vài từ (loại này còn gọi là câu hỏi đóng), được xem là TNKQ vì hệ thống cho điểm là khách quan Có thể coi là kết quả chấm điểm sẽ không phụ thuộc vào ai chấm bài TNKQ đó TNKQ phải được xây dựng sao cho mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng hoặc một câu trả lời

“tốt nhất”, mỗi câu hỏi thường được trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản Thực

ra nội dung của bài TNKQ cũng có một phần chủ quan theo nghĩa là nó đại diện cho một sự phán xét của một người nào đó về bài TNKQ

Ưu điểm

- Trong một khoảng thời gian ngắn, kiểm tra được nhiều nội dung kiến thức cụ thể, có thể đi vào nhiều khía cạnh khác nhau của một nội dung kiến thức

- Nội dung kiểm tra rộng, có tác dụng chống khuynh hướng học lệnh, học tủ của học sinh

- Số lượng câu hỏi nhiều, đủ độ tin cậy và đủ cơ sở đánh giá chính xác trình độ của học sinh

- Tuy việc soạn câu hỏi tốn nhiều thời gian, xong việc chấm bài nhanh chóng và chính xác Ngoài ra có thể sử dụng các phương tiện kỹ thuật để chấm bài một cách nhanh và chính xác

- Gây hứng thú và tính tích cực trong học tập của học sinh

- Giúp học sinh phát triển kỹ năng nhận biết, hiểu, ứng dụng và phân tích

- Với phạm vi kiểm tra rộng, bao quát chương trình thí sinh không thể chuẩn bị tài liệu để quay cóp Việc áp dụng công nghệ mới vào việc soạn thảo

đề thi TNKQ cũng hạn chế đến mức thấp nhất tiêu cực trong thi cử

Nhược điểm

- Kết quả kiểm tra bằng phương pháp TNKQ phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng các câu hỏi của người biên soạn câu hỏi Nếu là người ít kinh nghiệm, trình độ chuyên môn không cao thì phương pháp TNKQ ít phát huy

Trang 23

được các khả năng tư duy của học sinh như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá mà chỉ rèn luyện được trí nhớ máy móc

- Phương pháp TNKQ thường không đánh giá được tư tưởng, nhiệt tình hứng thú, thái độ của học sinh

- Phương pháp TNKQ không đánh giá được năng lực vận dụng kiến thức của học sinh trong trường hợp học sinh chọn câu trả lời đúng một cách ngẫu nhiên, vì vậy thông tin để lựa chọn phải đủ để ngăn ngừa việc ngẫu nhiên chọn đúng

1.4.4 So sánh trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm tự luận cho phép một sự tương đối tự do nào đó để trả lời một câu hỏi được đề ra, nhưng đồng thời đòi hỏi học sinh phải nhớ lại, hiểu được hơn là nhận biết thông tin, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của họ một cách chính xác Bài trắc nghiệm tự luận thường được chấm một cách chủ quan và các điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất Thông thường một bài trắc nghiệm tự luận gồm ít câu hỏi hơn một bài trắc nghiệm khách quan do phải cần nhiều thời gian để trả lời mỗi câu hỏi Trắc nghiệm khách quan thường có nhiều phương án trả lời được cung cấp cho mỗi câu hỏi nhưng chỉ có một phương án trả lời đúng hoặc đúng nhất, phù hợp nhất Bài trắc nghiệm được chấm điểm bằng cách đếm số lần mà người làm trắc nghiệm đã lựa chọn phương án trả lời đúng trong số các phương án đã được cung cấp Bài trắc nghiệm được gọi là khách quan vì việc cho điểm là khách quan chứ không mang tính chủ quan của người chấm như bài trắc nghiệm tự luận Thông thường một bài TNKQ có số lượng câu hỏi nhiều hơn bài trắc nghiệm tự luận

Một câu hỏi đặt ra : Trong hai hình thức thi kiểm trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan thì hình thức nào hiệu quả hơn? Trước hết có thể khẳng định ngay rằng dù hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá tối ưu đến đâu cũng không thể có hình thức phương pháp nào hoàn hảo tuyệt đối; mỗi hình thức phương pháp đều có các ưu điểm, nhược điểm nhất định Thông thường điểm mạnh của phương pháp này lại là điểm hạn chế của phương pháp kia, do vậy cần có sự kết hợp các phương pháp trong quá trình

Trang 24

kiểm tra đánh giá một cách có hiệu quả Ta có thể so sánh ưu điểm, hạn chế của trắc nghiệm tự luận và TNKQ thông qua bảng so sánh sau

Bảng 1.1: Bảng so sánh hai loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận

- Có thể đo những khả năng suy luận như sắp đặt ý tưởng, suy diễn, so sánh và phân biệt

- Có thể kiểm tra và đánh giá kiến thức của học sinh về các

sự kiện một cách hữu hiệu

- HS có thể tự diễn đạt tư tưởng, câu văn nhờ kiến thức và kinh nghiệm học tập

đã có

- Có thể đo lường khả năng suy luận, như sắp xếp ý tưởng, suy diễn, so sánh…

- Không đo lường kiến thức

về những sự kiện một cách hữu hiệu

Lĩnh vực

kiểm tra

đánh giá

- Có thể bao gồm nhiều lĩnh vực rộng rãi trong mỗi bài thi

Với nhiều câu hỏi bao quát khắp nội dung, chương trình giảng dạy, độ tin cậy của trắc nghiệm tăng lên

- Có thể kiểm tra, đánh giá được một lĩnh vực nhỏ trong mỗi bài thi Các câu trả lời thường dài, tốn thời gian, nên trong khoảng thời gian hạn định một bài thi chỉ có thể gồm một ít câu hỏi

về các vấn đề riêng biệt và phân biệt giữa chúng Nếu được thiết kế tốt có thể khuyến khích phát triển các

kỹ năng suy luận ở mức cao hơn

- Khuyến khích học sinh phát triển khả năng tổ chức, sắp xếp và cách trình bày các

ý tưởng một cách có hiệu quả

Trang 25

- Việc soạn thảo nhanh chóng không mất nhiều thời gian

Việc

chấm

điểm

- Chấm điểm nhanh chóng, chính xác và khách quan

- Chấm điểm thường mất nhiều thời gian, tính khách quan không cao

1.4.5 Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Có nhiều hình thức đặt câu hỏi TNKQ khác nhau, đó là:

- Câu hỏi đúng – sai

- Câu hỏi có nhiều lựa chọn

- Câu ghép đôi

- Câu điền khuyết

- Câu trả lời ngắn

1.4.5.1 Câu hỏi đúng - sai

Là những câu hỏi (hoặc câu xác định) được trả lời hoặc là “đúng” (Đ) hoặc là “sai” (S) cũng có thể có những câu trả lời là “có” hoặc “không” Loại câu hỏi này thường đơn giản, ít tốn công soạn thảo và có thể đạt được nhiều câu hỏi trong một khoảng thời gian nhất định

Ví dụ 1.1 Xác định tính đúng , sai của các khẳng định sau:

(A) Một đường thẳng hoàn toàn xác định nếu biết một điểm đi qua và 1 vectơ chỉ phương

(B) Một đường thẳng có duy nhất 1 vectơ chỉ pháp tuyến

(C) Các vectơ chỉ phương, vectơ pháp tuyến của đường thẳng khác vectơ -không

(D) Vectơ chỉ phương và vectơ pháp tuyến của một đường thẳng vuông góc với nhau

Đáp án : (A),(C),(D)- Đúng; (B) – Sai

Trang 26

Ví dụ 1.2 Xét tính đúng, sai của các khẳng định sau:

(A) Đường thẳng 2y  1 0 song song với trục Ox

(B) Đường thẳng 2xy 1 0 đi qua gốc toạ độ

(C) Đường thẳng x   song song với trục Ox 3 0

(D) Đường thẳng y có vectơ pháp tuyến là x n r (1;1)

Đáp án (A) – Đúng; (B),(C),(D) – Sai

Loại câu TNKQ này chỉ thích hợp cho việc kiểm tra những kiến thức sự kiện (mốc lịch sử, địa danh, tên nhân vật…) cũng có thể dùng đối với định nghĩa, khái niệm, các công thức….Chúng thường đòi hỏi trí nhớ, ít kích thích suy nghĩ, khả năng phân biệt học sinh giỏi và học sinh yếu, kém thấp

Khi viết loại câu TNKQ này cần chú ý:

- Chỉ nên sử dụng loại câu này một cách hạn chế Trong nhiều trường hợp có thể cải biến thành câu hỏi nhiều lựa chọn mà không làm giảm tính chính xác của việc đo lường

- Không nên chép nguyên văn những câu trong sách giáo khoa, vì làm như vậy chỉ khuyến khích học sinh học thuộc lòng một cách máy móc

- Cần đảm bảo tính đúng sai của câu là chắc chắn, không phụ thuộc vào quan niệm riêng của từng người

- Tránh dùng những cụm từ như “tất cả” , “không bao giờ” , “không một ai” , “đôi khi”… có thể dễ dàng nhận ra là câu đúng hay sai

- Tránh số lượng câu đúng và câu sai bằng nhau trong một bài TNKQ, vị trí các câu đúng cần xếp đặt một cách ngẫu nhiên

- Đề phòng trường hợp mà câu trả lòi đúng lại tuỳ thuộc vào một chữ, một từ hay một câu tầm thường, vô nghĩa

1.4.5.2 Câu hỏi có nhiều lựa chọn

Câu hỏi thuộc loại này gồm 2 phần: Phần gốc (phần câu dẫn) và phần lựa chọn Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa được hoàn tất) Phần lựa chọn gồm một số (thường là 4 hoặc 5) câu trả lời hay câu bổ sung để học sinh lựa chọn

Trang 27

- Phần gốc phải tạo ra cơ sở cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho sự lựa chọn được dễ dàng

- Phần lựa chọn gồm có nhiều lựa chọn, trong đó có một lựa chọn được dự định cho là đúng (hoặc là đúng nhất) Những phần còn lại được xem là câu

“nhiễu” hoặc “mồi nhử” hoặc “gài bẫy”, học sinh phải nắm vững kiến thức mới phân biệt được Điều quan trọng là làm sao những “mồi nhử” đều hấp dẫn ngang nhau đối với những học sinh chưa đọc kỹ hay chưa hiểu kỹ bài học

- Cũng có khi phần gốc của câu trắc nghiệm là một câu phủ định Trong trường hợp này ta nên gạch dưới hay in đậm những chữ diễn tả ý phủ định để học sinh khỏi nhầm lẫn vì vô ý

Ví dụ 1.3 Trong mặt phẳng cho đường thẳng d, số vectơ pháp tuyến của đường thẳng d là:

Đáp án: (D)

Ví dụ 1.4 Trong mặt phẳng tọa độ, cho đường thẳng  có phương trình:

2x3y 6 0 và điểm ( 1; 2)   Đường thẳng đi qua điểm A và vuông góc với đường thẳng  có phương trình là :

Ví dụ 1.5 Trong mặt phẳng tọa độ, cho đường thẳng  có phương trình:

2x3y 1 0 Trong các khẳng định sau, khẳng định nào sai :

(A) Điểm A(1;1) thuộc đường thẳng 

(B) Vectơ (3;2)nr là vectơ pháp tuyến của đường thẳng 

(C) Khoảng cách từ điểm O(0;0) đến đường thẳng  là 13

13 (D) Vectơ (1; 3)

Trang 28

Đối với loại câu hỏi có nhiều lựa chọn rất thông dụng, có khả năng áp dụng rộng rãi và cũng là loại câu hỏi có khả năng phân biệt học sinh giỏi với học sinh kém nhiều nhất, mức độ tin cậy cũng cao hơn nhiều so với câu đúng – sai Tuy vậy loại này tương đối khó soạn vì mỗi câu hỏi phải kèm theo một

số câu trả lời, tất cả đều hấp dẫn ngang nhau nhưng trong đó chỉ có một câu trả lời là đúng Vì vậy cần tránh những điều sau đây:

- Câu bỏ lửng không đặt ra vấn đề hay một câu hỏi rõ rệt làm cơ sở cho sự lựa chọn

- Những “mồi nhử” sai một cách rõ rệt, không hấp dẫn

- Câu trả lời có nhiều hơn 1 đáp án đúng (hoặc không có câu nào đúng) trong khi ta dự định chỉ có 1 câu trả lời đúng

- Phần gốc quá ruờm rà, gồm nhiều chi tiết không cần thiết

- Khi soạn thảo những câu lựa chọn, vô tình tiết lộ câu dự định trả lời đúng qua lối hành văn, dùng từ, cách sắp đặt, câu lựa chọn

1.4.5.3 Câu ghép đôi

Loại này thường gồm hai dãy (dạng cột, bảng) thông tin, một dãy là những câu hỏi (hay câu dẫn), một dãy là những câu trả lời (hay câu lựa chọn) Học sinh phải tìm ra từng cặp câu trả lời ứng với câu hỏi (cũng có thể câu trả lời được dùng hai hay nhiều lần để ghép với một câu hỏi)

Ví dụ 1.6 Ghép mỗi ý ở cột A với một ý ở cột B để được mệnh đề đúng:

30 (5) 900

Đáp án : A – 2; B – 3; C – 1; D – 5

Trang 29

Khi biên soạn câu hỏi trắc nghiệm này ta cần lưu ý một số điểm sau:

- Dãy thông tin đưa ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có liên quan với nhau

- Cột câu hỏi và câu trả lời không nên bằng nhau, nên có những câu trả lời dư ra hoặc có thể dùng một câu trả lời cho hai hay nhiều câu hỏi

- Thứ tự các câu trả lời không ăn khớp với thứ tự các câu hỏi để gây thêm khó khăn cho sự lựa chọn

1.4.5.4 Câu điền khuyết

Loại câu hỏi này thì câu dẫn có thể để một vài chỗ trống, học sinh phải điền vào chỗ trống những từ, cụm từ thích hợp (có thể cho trước một số từ, cụm từ để học sinh lựa chọn)

Ví dụ 1.7 Một đường thẳng có ………véc tơ chỉ phương

Đáp án : Vô số

Ví dụ 1.8 Góc giữa hai đường thẳng bằng 900 nếu chúng ………… Đáp án : vuông góc với nhau

Ví dụ 1.9 Chọn một trong những từ, cụm từ : duy nhất, vô số, hữu hạn,

một, hai điền vào chỗ trống trong phát biểu sau để có một mệnh đề đúng:

Qua một điểm nằm ngoài một đường tròn có thể kẻ được……tiếp tuyến với đường tròn đó

Đáp án: Hai

Trên thực tế, loại câu trắc nghiệm dạng điền khuyết không nên dùng trong câu trắc nghiệm hoàn toàn khách quan Tuy nhiên nếu câu trả lời rất ngắn và tiêu chuẩn đúng sai rõ rệt, ta có thể xen những loại câu này trong bài TNKQ Trong câu điền khuyết, câu dẫn có thể để một vài chỗ trống

Khi lập câu TNKQ loại này cần chú ý:

- Bảo đảm cho mỗi chỗ để trống chỉ có thể điền một từ hoặc một cụm từ thích hợp

- Tránh lấy lại ý tưởng, câu văn của bài học hay sách giáo khoa

- Chữ phải điền là chữ có ý nghĩa nhất câu

Trang 30

1.4.5.5 Câu trả lời ngắn

Câu trắc nghiệm loại này ít dùng hơn, vì tính “gọn nhẹ” của nó cũng kém hơn những loại trên Nói chung, loại câu trắc nghiệm điền khuyết hay trắc nghiệm có câu trả lời ngắn là loại TNKQ có câu trả lời tự do

Ví dụ 1.10 Số giao điểm tối đa có thể giữa một đường thẳng và đường tròn là bao nhiêu ?

Đáp án : 2

Khi soạn câu trắc nghiệm loại này cần chú ý:

- Câu hỏi phải ngắn gọn để chỉ trả lời bằng một chữ hay một câu ngắn, tránh lập câu quá dài, ý tứ rườm rà

- Tránh lập câu hỏi có thể trả lời bằng nhiều cách

- Câu hỏi phải rõ ràng, chính xác, không bàn cãi được

Trong các kiểu câu TNKQ đã nêu trên, kiểu câu đúng – sai và kiểu câu nhiều lựa chọn có cách trả lời đơn giản nhất Với nhiều loại câu hỏi TNKQ như thế, giáo viên phải hiểu rõ đặc điểm, công dụng của mỗi loại để lựa chọn loại nào là có lợi nhất, thích hợp với mục tiêu khảo sát, hay loại nào mà mình thấy có đủ khả năng sử dụng một cách có hiệu quả hơn cả

Từ sự phân tích từng loại câu hỏi trắc nghiệm trên, chúng tôi thấy rằng tốt nhất là nên sử dụng loại câu hỏi nhiều lựa chọn vì:

- Phạm vi sử dụng rộng rãi, dễ thực hiện đối với học sinh

- Đo đuợc nhiều mức độ nhận thức khác nhau: Biết, hiểu, vận dụng…

- Khả năng phân biệt học sinh giỏi với học sinh kém lớn

- Đánh giá được kiến thức của học sinh thu nhận được trong quá trình học tập trên một diện rộng Hạn chế được khả năng học tủ, học lệch của học sinh

- Chấm điểm khách quan, nhanh chóng, chính xác(có thể chấm bằng máy cho khối lượng lớn học sinh) Có độ tin cậy cao hơn hẳn các phương pháp kiểm tra, đánh giá khác

- Đảm bảo tính kinh tế: Khi đã lập được bộ câu hỏi thì có thể sử dụng ở

Trang 31

nhiều địa phương Có thể áp dụng những phương tiện hiện đại (như máy vi tính) vào các khâu làm bài thi, chấm điểm, lưu trữ và xử lý kết quả Đảm bảo tính khách quan, chính xác, tiện lợi

1.4.6 Một số kỹ thuật trong xây dựng câu hỏi trắc nghiệm

Để xây dựng được một bài TNKQ tốt, cần phải:

- Xác định rõ các mục tiêu giáo dục;

- Biên soạn các câu hỏi TNKQ phải gắn chặt với các mục tiêu

Để soạn một bài TNKQ, người ta thường thực hiện theo các bước sau:

* Xác định các mục tiêu trong bài TNKQ

Trước khi soạn thảo bài TNKQ, ta cần phải biết rõ những điều ta sẽ phải khảo sát và những mục tiêu nào ta đòi hỏi học sinh phải đạt được Muốn vậy

ta phải liệt kê các mục tiêu giảng dạy cụ thể, hay các năng lực cần phải đo lường Sau đó phải xác định là cần bao nhiêu câu hỏi cho từng mục tiêu Số lượng câu hỏi cần thiết sẽ tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của từng mục tiêu

và các vấn đề khác nhau cần phải được kiểm tra

Trong một bài TNKQ cũng cần phải lưu ý đến 2 yếu tố quy định số câu hỏi cần thiết đó là :

- Thời gian dành cho bài TNKQ

- Sự chính xác của điểm số trong việc đo lường kiến thức hay học lực mà

ta muốn khảo sát

* Lập ma trận hai chiều

Ma trận 2 chiều là một công cụ hữu ích có thể giúp cho những người soạn thảo trắc nghiệm chuẩn bị các câu hỏi phù hợp với các mục tiêu giảng dạy của mình Nó phân loại từng câu hỏi TNKQ ra thành hai chiều cơ bản

- Một chiều là chủ đề dạy học, các đề mục, hay nội dung quy định trong chương trình

- Một chiều là các mục tiêu giảng dạy hay các năng lực đòi hỏi ở học sinh

* Viết các câu hỏi trắc nghiệm

Dựa vào ma trận 2 chiều để soạn thảo các câu hỏi TNKQ

Trang 32

Điều quan trọng nhất là các câu TNKQ soạn thảo ra phải phát hiện, đo, đánh giá được những điều giáo viên cần tìm kiếm qua TNKQ

Khi viết các câu hỏi TNKQ cũng cần lưu ý tới một số điểm sau:

- Câu TNKQ cần được diễn đạt chính xác, gọn, không gây hiểu lầm, sai

- Không nên đưa vào câu TNKQ nhiều thông tin, nhất là những thông tin không cùng thuộc một loại kiến thức

- Tránh cung cấp những thông tin đầu mối, gợi ý dẫn đến câu trả lời

- Tránh những câu dẫn dập khuôn sách giáo khoa sẽ khuyến khích học sinh học vẹt để tìm ra câu trả lời đúng

- Tránh những câu TNKQ chỉ mang tính chất đánh lừa hay gài bẫy

- Đề phòng những câu thừa giả thiết hoặc có nhiều phương án trả lời đúng

- Tránh loại câu hỏi trắc nghiệm chỉ tra cứu đáp số, đòi hỏi học sinh phải tính toán công phu

Các phương án lựa chọn không phải đưa ra một cách tùy tiện mà phải căn cứ vào những sai lầm của học sinh có xảy ra thực sự

Ví dụ 1.11 Trong mặt phẳng tọa độ, cho hai đường thẳng d1 ; d2 có phương trình lần lượt là : 2xy 1 0;  x 3y Góc giữa hai đường 0thẳng d1; d2 là

Đáp án: (D)

Phương án (A), (D) là hai phương án gây nhiễu

Phương án (C), học sinh áp dụng công thức tính góc bị sai( thiếu dấu |.|)

Trang 33

mỗi phần có phù hợp không? Mỗi câu TNKQ soạn thảo cần được dùng thử trên nhóm nhỏ để điều chỉnh, hoàn thiện trước khi dùng cho một số đông học sinh

Do phạm vi sử dụng rộng rãi cùng với tính ưu việt của câu TNKQ có nhiều lựa chọn, chúng tôi đưa ra kỹ thuật xây dựng bài TNKQ gồm các câu hỏi nhiều phương án lựa chọn như sau :

Loại câu hỏi nhiều phương án lựa chọn gồm 2 phần, phần câu dẫn (hay phát biểu câu) và phần lựa chọn, thường gồm 4 hay nhiều hơn 4 phương án đưa ra, mà học sinh phải chọn một và chỉ một phương án đúng nhất, để trả lời cho câu hỏi hay hoàn thiện phát biểu Loại này đòi hỏi phải xây dựng tốt cả phần câu dẫn lẫn phần lựa chọn

Trang 34

+ Đặt các lựa chọn theo thứ tự một cách logic (đánh số từ nhỏ đến lớn, hoặc dùng chữ cái theo thứ tự)

+ Lựa chọn đúng phải được đặt một cách ngẫu nhiên giữa các lựa chọn (không được đặt ở một vị trí cố định)

+ Số các lựa chọn nên tối thiểu là 4, trong luận văn này tác giả chọn số phương án lựa chọn cho các câu hỏi là 4

+ Phương án đúng phải thể hiện tính đúng đắn, chắc chắn của nó

+ Các lựa chọn sai (hay câu nhiễu) nên biểu thị sai sót của học sinh theo chương trình học hơn là những nhầm lẫn khái niệm chung Những phương án nhiễu này phải sai sót theo một lí do đặc biệt nào đó (không quá rộng, không quá hẹp)

+ Phương án lựa chọn càng ngắn gọn càng tốt

* Việc trình bày và chấm bài TNKQ

- Trình bày bài TNKQ: Tuỳ theo tính chất của bài TNKQ (bài thi hay bài tập, làm ở lớp hay ở nhà) và điều kiện thiết bị, có thể trình bày bài TNKQ bằng:

+ Phương pháp hỏi miệng

+ Dụng cụ thính - thị

+ Tài liệu ấn loát

Cách trình bày bài TNKQ bằng tài liệu ấn loát là thông dụng nhất Bài TNKQ (nhất là bài thi) có thể in ra dưới 2 hình thức

Bài TNKQ có dành phần trả lời của học sinh ngay trên ở đó, ở loại này, mỗi câu hỏi đều có dành một phần trống để học điền vào đó câu trả lời hay đánh dấu câu mà mình lựa chọn, ngay sát với câu hỏi Với cách trình bày này

có ưu điểm là học sinh ít gặp phải trường hợp ghi nhầm số câu hỏi Nhưng có hạn chế là bài TNKQ in ra chỉ sử dụng được một lần

Bài TNKQ có bảng trả lời riêng biệt Cách trình bày bài này là mỗi học sinh được phát một bài thi TNKQ và một bảng trả lời riêng biệt Học sinh chỉ được phép trả lời trên bảng trả lời vào số câu hỏi tương ứng với số câu hỏi trên

Trang 35

bài thi TNKQ Phương pháp này khá thông dụng và tiện lợi vì bài TNKQ có thể dùng được nhiều lần, bài làm có thể chấm nhanh bằng tay hoặc bằng máy

Để tránh sự quay cóp, gian lận trong khi làm bài của học sinh, có thể đảo lộn thứ tự các câu hỏi, thứ tự đáp án trong mỗi câu hỏi để có những bộ bài thi khác nhau từ những câu hỏi giống nhau

Nếu có điều kiện, có thể trình bày bài TNKQ bằng máy chiếu hình Với phương pháp này ta có thể kiểm soát được thời gian ấn định cho bài TNKQ, buộc học sinh phải trả lời nhanh, đúng thời gian qui định cho từng câu hỏi, do vậy phần nào cũng tránh được sự gian lận và hiện tượng bài thi bị mất mát, thất lạc

- Cách chấm bài TNKQ

+ Nếu chấm bài bằng phương pháp thủ công bảng đục lỗ hay bằng phần mềm chấm trắc nghiệm trên máy vi tính thì bài trả lời phải là một tờ giấy riêng biệt với tờ đề thi

+ Trong trường hợp chấm bài TNKQ mà câu trả lời ngay trên bài thi, thường đặt bên phải (hay bên trái) ngay sát với câu hỏi TNKQ Người ta soạn một phiếu chấm bài làm bằng bìa cứng trên đó có chia những cột, mỗi cột riêng cho mỗi trang của bài thi Trên mỗi cột ấy người chấm ghi mỗi câu trả lời đúng vào đúng vị trí của những câu trả lời của học sinh để làm sao có thể

so sánh với nhau để chấm

+ Trường hợp học sinh trả lời câu hỏi TNKQ trên một bảng riêng biệt thì người chấm bài có thể sử dụng một bảng đục lỗ làm bằng bìa, có đục lỗ ở những câu trả lời đúng Khi đặt bảng đục lỗ áp lên bảng trả lời của học sinh, những dấu gạch của những câu trả lời đúng sẽ hiện lên qua lỗ đục, người chấm chỉ việc đếm số câu trả lời đúng rồi ghi điểm

+ Nếu có điều kiện có thể tổ chức một phòng hay trung tâm chấm bài bằng máy tính điện tử hay máy chấm bài Trung tâm này sẽ phụ trách việc in bài thi, chấm bài thi, tính điểm số…

Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin nói chung

Trang 36

và công nghệ phần mềm nói riêng thì chúng ta nên áp dụng phương pháp trộn

đề thi, chấm thi bằng máy tính (phần mềm chấm trắc nghiệm)

1.4.7 Các tiêu chí của một bài trắc nghiệm khách quan

Chất lượng của một quá trình đo lường nói chung, của mỗi bài TNKQ nói riêng, qua sử dụng được đánh giá bằng hai đặc trưng chính: Độ tin cậy và

độ giá trị Ngoài ra còn có các đặc trưng khác như độ khó, độ phân biệt cho các câu hỏi trong bài TNKQ và tính tiêu chuẩn của bài TNKQ [10, tr 62] Một bài TNKQ được gọi là đáng tin cậy đối với một tập hợp các thí sinh trong chừng mực mà điểm thu được cho các thí sinh trong tập hợp đó là không bị ảnh hưởng bởi các sai số biến hay sai số ngẫu nhiên Loại sai số này

là do các yếu tố ảnh hưởng đến bài TNKQ một cách không dự đoán được, do

đó đôi lúc chúng làm cho thí sinh đạt điểm cao hơn hoặc thấp hơn so với trình

độ của thí sinh ấy Nếu nhiều phép đo lường độc lập, được sử dụng đồng thời cho một thí sinh và điểm được lấy là điểm trung bình thì những sai số đó tự loại trừ lẫn nhau Và như vậy sai số biến không ảnh hưởng trực tiếp đến phép

đo lường nhưng ảnh hưởng đến độ chính xác của chúng

Những yếu tố đó làm cho sự đo lường quan sát được (điểm) khác với giá trị duy nhất mà ta hy vọng cho mỗi phép đo là không có sai số Đối với phần lớn các đặc tính bề mặt của người, đồ vật hay sự kiện thì có thể thiết kế các công

cụ có độ tin cậy (chính xác) cao Trong khi đó việc thiết kế các công cụ tin cậy cho phép đo các đặc tính về tinh thần như kết quả học tập, trí tuệ thì khó hơn rất nhiều Trong những trường hợp như thế sai số ngẫu nhiên được đưa vào quá trình đo theo các yếu tố liên quan đến thí sinh như điều kiện TNKQ chung, quá trình cho điểm và những gì liên quan đến công cụ đo lường Một

số đặc tính của học sinh có thể làm thay đổi kết quả của học sinh đó trong các lần đo là tình trạng sức khoẻ, mức độ động cơ, độ quan tâm , khả năng tập trung, may mắn trong đoán mò phương án trả lời…

Một công thức phổ biến để tính độ tin cậy của một bài trắc nghiệm là

“công thức 20” của Kuder – Richardson, thường được gọi tắt là KR20 :

Trang 37

1 2

Trong đó :

R: Là hệ số ước lượng của độ tin cậy

K: Số lượng cần TNKQ (số các câu hỏi trong bài TNKQ)

i

p : Tỉ lệ thí sinh trả lời đúng câu hỏi thứ i

i

q : Tỉ lệ thí sinh trả lời sai câu hỏi thứ i

S: Là độ lệch chuẩn của bài TNKQ

* Độ giá trị (độ hiệu lực)

Độ giá trị của một bài TNKQ là khả năng của bài TNKQ cho phép ta đo được cái mà ta định đo Kết luận về độ giá trị được xác định chỉ tuỳ thuộc vào dạng suy diễn nào đó (hay sự diễn dịch điểm số của bài TNKQ) Với bất kỳ công cụ đo lường nào, TNKQ nói riêng cũng có thể là có giá trị đối với kết luận này nhưng lại kém giá trị đối với các kết luận khác Có rất nhiều yếu tố gây chệch trong phạm vi TNKQ Những sai số liên quan đến đặc tính học sinh như đau ốm kinh niên, khôn ngoan (có kinh nghiệm) trong làm bài TNKQ, thái độ tiêu cực, khả năng đọc hiểu không tốt… Những sai số trong đo lường như câu hỏi dùng đo kiến thức, kỹ năng không thích hợp với TNKQ, sử dụng các chỉ dẫn không tốt… hoặc sai số do đặc tính quá trình TNKQ như yếu tố môi trường, sự lệch do người chấm

Như đã trình bày độ tin cậy và độ giá trị trong đo lường giáo dục là rất phức tạp Một quá trình đo lường (TNKQ nói riêng) có thể có độ tin cậy cao, nhưng giá trị lại thấp Điều đó có nghĩa là nếu bài TNKQ có độ tin cậy thấp thì không thể có độ giá trị cao ([10, tr.70])

* Độ phân biệt của câu hỏi

Độ phân biệt là khả năng phân biệt của một câu hỏi TNKQ đối với người

có năng lực cao, với người có năng lực thấp Độ phân biệt của câu hỏi TNKQ

Trang 38

thường được tính là hệ số tương quan giữa tổng số điểm của các thí sinh với việc trả lời đúng câu hỏi đó Trong việc thiết kế, xây dựng cấu trúc câu hỏi, đòi hỏi phải có độ phân biệt dương (tức là các thí sinh có tổng số điểm cao có khả năng trả lời đúng câu hỏi này hơn là những thí sinh có tổng số điểm thấp)

n : Là số lượng HS (số bài) trong mỗi nhóm (số học sinh ở các nhóm bằng nhau)

E: độ phân biệt của câu hỏi

Chỉ số E của một câu TNKQ từ :

+ 40% trở lên là rất tốt

+ 30% -39% là khá tốt nhưng có thể làm cho tốt hơn

+ 20% - 29% là tạm được, có thể cần phải hoàn chỉnh

+ Dưới 19% là kém, cần loại bỏ hay sửa chữa lại cho tốt hơn

* Độ khó của câu hỏi

Độ khó của mỗi câu hỏi được tính bằng tỉ số giữa thí sinh trả lời đúng câu hỏi đó trên tổng số thí sinh tham dự Một nhược điểm là giá trị độ khó sẽ phụ thuộc vào mẫu các nghiệm thể được chọn Ta có thể thấy rằng cùng một câu hỏi, nhưng đối với nhóm thí sinh yếu thì sẽ có độ khó cao, ngược lại với nhóm học sinh có khả năng khá thì nó sẽ có độ khó thấp hơn Độ khó P = (Số học sinh trả lời đúng câu hỏi)/ (tổng số học sinh tham dự)

Khi tiến hành lựa chọn câu TNKQ, căn cứ theo độ khó của nó trước tiên

ta phải gạt đi những câu nào mà tất cả học sinh đều không trả lời được, vì như thế là quá khó, hay tất cả học sinh đều làm được vì như thế là quá dễ Những câu loại này không giúp gì cho sự phân biệt học sinh giỏi với học sinh kém

Trang 39

Một bài TNKQ có hiệu lực và đáng tin cậy thường bao gồm những câu hỏi có

* Tiêu chuẩn để chọn câu hỏi tốt

Sau khi phân tích và tính toán các chỉ số, câu hỏi thoả mãn các tiêu chuẩn sau được xếp vào loại câu hỏi hay [10,tr 73]

- Độ khó nằm trong khoảng 40% < P < 60%

- Độ phân biệt E < 0,30 trở lên là thoả mãn về độ phân biệt

Trong thực tế, công việc phân tích câu hỏi được thực hiện dễ dàng nhờ các phần mềm vi tính, do các nhà chuyên môn soạn thảo (như chương trình QUEST & BIGSTEP) Tuy nhiên các chỉ số thống kê trên chỉ có ý nghĩa tương đối Mục tiêu chính của kiểm tra đánh giá thành quả học tập của học sinh về các mục tiêu, nội dung học đã đưa ra, nên việc so sánh bản thân nội dung của câu hỏi với các mục tiêu dạy học mới có ý nghĩa quyết định

* Độ khó của bài TNKQ

Độ khó của bài TNKQ được tính như sau: Đối chiếu điểm số trung bình của bài TNKQ với điểm số trung bình lí tưởng, điểm trung bình lí tưởng là trung bình cộng của điểm số tối đa có thể có được và điểm may rủi mong đợi Điểm may rủi mong đợi bằng số câu hỏi của bài TNKQ chia cho số lựa chọn của mỗi câu Như vậy, với một bài TNKQ 50 câu hỏi, mỗi câu có 5 lựa chọn, thì điểm may rủi mong đợi là 50 : 5 = 10 và trung bình lý tưởng sẽ là (50+10) : 2 = 30 Nếu trung bình thực sự của bài TNKQ ấy trên hay dưới 30 quá xa, thì bài TNKQ ấy có thể quá dễ hay quá khó ([10, tr.237])

Trang 40

Kết luận chương 1 Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình phức tạp và đòi hỏi nhiều công phu, cần có một hệ quy tắc và chuẩn mực, đồng thời phải lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp

Những kết quả nghiên cứu về TNKQ trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đã được nghiên cứu tương đối chặt chẽ, đầy đủ, khoa học, thực tiễn Tính ưu việt của phương pháp TNKQ so với phương pháp trắc nghiệm tự luận trong kiểm tra đánh giá đã được các nước phát triển và các nước trong khu vực quan tâm từ giữa thế kỷ trước Vấn đề là ở chỗ cần triển khai vận dụng phương pháp kiểm tra bằng TNKQ trong dạy học môn toán THPT

Hiện nay, trong trường phổ thông Việt Nam, việc đánh giá chủ yếu đề cập tới việc sử dụng các bài kiểm tra (dưới dạng trắc nghiệm tự luận) để đánh giá kết quả học tập của học sinh Tuy nhiên, việc sử dụng chủ yếu bằng hình thức kiểm tra tự luận cùng với những hạn chế trong quản lý, chỉ đạo là một nguyên nhân dẫn đến “bệnh thành tích” trong ngành giáo dục

Môn toán ở trường THPT, nói riêng là nội dung “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” ở hình học lớp 10 có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc triển khai hình thức kiểm tra bằng TNKQ, cần đầu tư nghiên cứu cả về nội dung và cách thức thực hiện kiểm tra kết quả học toán bằng TNKQ

Những điều lí luận về TNKQ trong kiểm tra, đánh giá giáo dục,cùng với thực tiễn dạy học, kiểm tra, nội dung “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” lớp 10 THPT đã giúp chúng tôi xây dựng bộ câu hỏi TNKQ

Ngày đăng: 17/09/2015, 07:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Ngọc Anh (2007), 229 bài toán trắc nghiệm hình học 10 ban cơ bản. Nxb Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: 229 bài toán trắc nghiệm hình học 10 ban cơ bản
Tác giả: Bùi Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Sư phạm
Năm: 2007
2. Nguyễn Phương Anh, Hoàng Xuân Vinh (2006), Luyện tập trắc nghiệm hình học 10. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện tập trắc nghiệm hình học 10
Tác giả: Nguyễn Phương Anh, Hoàng Xuân Vinh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
3. Văn Như Cương, Nguyễn Thị Lan Phương (2006), Bài tập trắc nghiệm và các đề kiểm tra hình học 10. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập trắc nghiệm và các đề kiểm tra hình học 10
Tác giả: Văn Như Cương, Nguyễn Thị Lan Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
4. Lương Mậu Dũng, Nguyễn Xuân Báu, Trần Hữu Nho, Nguyễn Hữu Ngọc, Lê Đức Phúc, Lê Mậu Thống (2008), Rèn luyện kĩ năng giải bài tập toán trung học phổ thông hình học phẳng tự luận và trắc nghiệm. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng giải bài tập toán trung học phổ thông hình học phẳng tự luận và trắc nghiệm
Tác giả: Lương Mậu Dũng, Nguyễn Xuân Báu, Trần Hữu Nho, Nguyễn Hữu Ngọc, Lê Đức Phúc, Lê Mậu Thống
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
5. Vũ Cao Đàm (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1997
6. Hà Thị Đức (1991), Kiểm tra đánh giá khách quan kết quả học tập của học sinh một khâu quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông. Tạp chí Thông tin khoa học (5), tr.25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đánh giá khách quan kết quả học tập của học sinh một khâu quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông
Tác giả: Hà Thị Đức
Năm: 1991
7. Phạm Gia Đức (1994), Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán trường THPT, Tạp chí nghiên cứu giáo dục (2), tr. 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán trường THPT
Tác giả: Phạm Gia Đức
Năm: 1994
8. Trần Văn Hạo, Nguyễn Mộng Hy, Nguyễn Văn Đoành, Trần Đức Huyên (2012), Hình học 10 (Ban cơ bản). Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình học 10 (Ban cơ bản)
Tác giả: Trần Văn Hạo, Nguyễn Mộng Hy, Nguyễn Văn Đoành, Trần Đức Huyên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
9. Trần Văn Hạo, Nguyễn Mộng Hy, Nguyễn Văn Đoành, Trần Đức Huyên (2012), Hình học 10 (Sách giáo viên). Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình học 10
Tác giả: Trần Văn Hạo, Nguyễn Mộng Hy, Nguyễn Văn Đoành, Trần Đức Huyên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
10. Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan (1999), Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá thành quả học tập. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá thành quả học tập
Tác giả: Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
11. Vũ Thế Hựu, Hoàng Việt, Minh Đức (2007), 604 bài tập trắc nghiệm và tự luận hình học 10. Nxb Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 604 bài tập trắc nghiệm và tự luận hình học 10
Tác giả: Vũ Thế Hựu, Hoàng Việt, Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2007
12. Nguyễn Mộng Hy, Đặng Trí Toàn (2006), Giải bài tập và câu hỏi trắc nghiệm hình học 10. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải bài tập và câu hỏi trắc nghiệm hình học 10
Tác giả: Nguyễn Mộng Hy, Đặng Trí Toàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
13. Phan Huy Khải, Trần Hữu Nam, Phan Doãn Thoại (2011), Bài tập chọn lọc Hình học 10. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập chọn lọc Hình học 10
Tác giả: Phan Huy Khải, Trần Hữu Nam, Phan Doãn Thoại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
14. Nguyễn Bá Kim (2003), Phương pháp dạy học môn Toán. Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
15. Trần Thành Minh, Phan Lưu Biên, Trần Quang Nghĩa (2006), Giải toán và câu hỏi trắc nghiệm hình học 10. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải toán và câu hỏi trắc nghiệm hình học 10
Tác giả: Trần Thành Minh, Phan Lưu Biên, Trần Quang Nghĩa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
16. Phan Hoàng Ngân (2007), Bài tập trắc nghiệm hình học 10. Nxb Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập trắc nghiệm hình học 10
Tác giả: Phan Hoàng Ngân
Nhà XB: Nxb Sư phạm
Năm: 2007
17. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường. Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2005
18. Trương Công Thành, An Nhật Hoan (2007), Câu hỏi trắc nghiệm hình 10. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi trắc nghiệm hình 10
Tác giả: Trương Công Thành, An Nhật Hoan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
19. Nguyễn Thế Thạch, Nguyễn Hải Châu, Quách Tú Chương, Nguyễn Trung Hiếu, Đoàn Thế Phiệt, Phạm Đức Quang, Nguyễn Thị Quý Sửu (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn toán lớp 10. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn toán lớp 10
Tác giả: Nguyễn Thế Thạch, Nguyễn Hải Châu, Quách Tú Chương, Nguyễn Trung Hiếu, Đoàn Thế Phiệt, Phạm Đức Quang, Nguyễn Thị Quý Sửu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Bảng so sánh hai loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong mặt phẳng   hình học 10
Bảng 1.1 Bảng so sánh hai loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận (Trang 24)
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra 15 phút TNKQ tại các lớp 10A1, 10A2 - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong mặt phẳng   hình học 10
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra 15 phút TNKQ tại các lớp 10A1, 10A2 (Trang 104)
Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra viết 15 phút của các lớp 10D1, 10D2 - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong mặt phẳng   hình học 10
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra viết 15 phút của các lớp 10D1, 10D2 (Trang 106)
Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra 45 phút TNKQ lớp 10A1, 10A2 - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong mặt phẳng   hình học 10
Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra 45 phút TNKQ lớp 10A1, 10A2 (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w