1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học thơ đường trong trường trung học cơ sở

107 1,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 684,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ THANH VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN ĐỒNG BỘ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG VÀO DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LUẬN VĂN TH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THANH

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN ĐỒNG BỘ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG VÀO DẠY HỌC

THƠ ĐƯỜNG TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THANH

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN ĐỒNG BỘ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG VÀO DẠY HỌC

THƠ ĐƯỜNG TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Đức

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp Luận văn Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn

chương vào dạy học thơ Đường trong trường THCS được hoàn thành, tác giả

xin trân trọng cảm ơn:

PGS.TS Trần Khánh Thành, Phó Chủ nhiệm khoa Sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội – người định hướng con đường học tập và nghiên cứu cho tác giả

PGS.TS Hà Văn Đức – nguyên Trưởng khoa Văn học, trường Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội – Cán bộ hướng dẫn khoa học – đã tận tâm chỉ bảo tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài

Các thầy giáo, cô giáo giảng viên Khoa Sư phạm, trường ĐHGD, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình theo học lớp

Cao học lý luận và phương pháp dạy học Ngữ văn khóa 2012 – 2014

Các bạn đồng nghiệp ở trường THCS Phương Mai – Quận Đống Đa – Hà Nội cùng các em học sinh đã tích cực hợp tác với tác giả trong quá trình khảo sát thực tế

Các tác giả những công trình khoa học được sử dụng làm tư liệu tham khảo trong Luận văn này

Mặc dù tác giả Luận văn đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, nhưng do năng lực còn hạn chế nên công trình không tránh khỏi thiếu sót Chân thành mong quý vị độc giả lượng thứ!

Hà Nội, tháng 12 năm 2014 Tác giả

Nguyễn Thị Thanh

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương 9

1.1.2 Các hướng tiếp cận chủ yếu 10

1.1.3 Mối quan hệ giữa các hướng tiếp cận 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 16

1.2.1 Thực trạng việc dạy học thơ Đường ở trường trung học cơ sở .16

1.2.2 Khảo sát thực tế 19

1.2.3 Kết luận về thực trạng 29

Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC TÁC PHẨM THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỒNG BỘ 32

2.1 Những yêu cầu khi dạy học tác phẩm thơ Đường theo hướng tiếp cận đồng bộ 32

2.1.1 Phù hợp với trình độ tiếp nhận và tâm lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở 32

2.1.2 Phát huy tính tích cực, chủ động của người học 35

2.1.3 Vận dụng thích hợp tri thức ngoài văn bản 39

2.1.4 Nắm vững đặc trưng thể loại thơ cổ điển 44

2.1.5 Bám sát văn bản 47

2.2 Những đề xuất về biện pháp dạy học thơ Đường 48

2.2.1 Phương hướng chung 48

2.2.2 Các biện pháp cụ thể 49

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 57

3.1 Giáo án thực nghiệm 57

Trang 6

3.2 Quá trình thực nghiệm 88

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 88

3.2.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 89

3.2.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 89

3.2.4 Kết quả thực nghiệm 91

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 96

Trang 7

DANG MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Khảo sát thực trạng dạy học bài Tĩnh dạ tứ của tác giả

Lý Bạch 30

Bảng 1.2 Khảo sát thực trạng dạy học bài Hồi hương ngẫu thư của

tác giả Hạ Tri Chương 31

Bảng 3.1 Thống kê kết quả kiểm tra HS về bài Tĩnh dạ tứ 91

Bảng 3.2 Thống kê kết quả kiểm tra HS về bài Hồi hương ngẫu thư 91

Trang 8

hệ đề tài, chủ đề và nội dung tư tưởng mà còn được coi là mẫu mực trong việc sử dụng ngôn từ vừa chính xác, vừa trau chuốt, vừa giản dị lại vừa uyên thâm Với tính chất hàm súc, ước lệ, cổ kính, trang nghiêm, chặt chẽ

về niêm luật, thể loại, thơ Đường đã vượt qua mọi thử thách về không gian - thời gian đến nay hàng ngàn năm đã trôi qua mà việc tiếp nhận vẫn diễn ra không ngừng

Thơ Đường có ảnh hưởng rất sâu đậm đối với nền học của các nước trên thế giới cũng như khu vực Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ qua lại lâu đời, mật thiết về nhiều mặt như lịch sử, văn hóa…Lẽ dĩ nhiên, thơ Đường - một kiệt tác của nền văn hóa nhân loại cũng có tác động sâu sắc đến văn học Việt Nam từ xưa đến nay Không chỉ vay mượn, người Việt Nam còn tiếp nhận Đường thi dưới nhiều hình thức khác nhau Quá trình này được diễn ra thường xuyên liên tục Chúng ta biết rằng, không thể có một nền văn hóa nào dù lớn và có ảnh hưởng sâu rộng đến đâu lại có thể liên tục phát triển triển một địa bàn khép kín, tách rời sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác Văn học là một thành tố cơ bản của văn hóa nên bản thân văn học cũng mang những đặc điểm cơ bản của văn hóa, trong đó có đặc điểm về sự giao lưu, ảnh hưởng như đã nói Như vậy quá trình giao lưu hội nhập văn học nước mình với văn học các dân tộc khác nói chung và văn học Trung Quốc nói riêng là một quá trình tất yếu Trong đó, thơ Đường đã có sức ảnh hưởng rất lớn tới nền văn học Việt Nam

Trang 9

1.2 Lí do sư phạm

Thơ Đường được đưa vào giảng dạy trong trường THCS (SGK Ngữ

văn 7 tập 1) gồm 4 tác phẩm: Vọng Lư sơn bộc bố (Lý Bạch), Tĩnh dạ tứ (Lý Bạch), Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương), Mao ốc vị thu phong sở

phá ca (Đỗ Phủ) Bốn tác phẩm trên được phân bố trong Phân phối chương

trình là 4 tiết (chiếm 33% tổng số tiết dạy các tác phẩm thơ trong chương

trình Ngữ văn 7 học kì I), trong đó 2 tác phẩm được dạy chính là: Tĩnh dạ tứ (Lý Bạch) và Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương), còn hai tác phẩm Vọng

Lư sơn bộc bố (Lý Bạch) và Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Đỗ Phủ) là hai

tác phẩm giáo viên hướng dẫn học sinh tự học Thơ Đường được đưa vào giảng dạy trong trường Phổ thông ở Việt Nam khá lâu nhưng vẫn là mảng thơ khó dạy đối với giáo viên và khó tiếp nhận đối với học sinh, đặc biệt là học sinh THCS Với rào cản về ngôn ngữ, về tư duy nghệ thuật, về khoảng cách thời đại… đã khiến giáo viên hiểu thơ Đường một cách thấu đáo đã là một việc khó, chưa nói đến việc giảng dạy thế nào cho hay, cho hấp dẫn để học sinh cảm được cái ý tình sâu xa trong thơ Đường Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên việc dạy – học thơ Đường ở trường THCS còn nhiều bất cập Giáo viên và học sinh vẫn còn khó khăn trong việc tiếp cận tác phẩm một cách toàn diện, sâu sắc Giờ học vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra Ngoài tiếp cận, tìm hiểu tác phẩm, giờ học cần phát huy vai trò chủ thể của người học Luật Giáo dục điều 28.2 đã chỉ ra rằng: “Phương pháp giáo dục Phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Từ những yêu cầu trên, nhiệm vụ hàng đầu đặt ra cho mỗi giáo viên không chỉ là đổi mới phương pháp dạy học mà còn phải đổi mới cả phương pháp tiếp cận tác phẩm

Trang 10

Từ những lí do trên, chúng tôi triển khai đề tài: “Vận dụng quan

điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học thơ đường trong chương trình ngữ văn ở trường trung học cơ sở” (sách giáo khoa ngữ văn 7, tập 1) với hi vọng sẽ cung cấp thêm một tư liệu phục vụ cho việc dạy

học của giáo viên, đồng thời giúp các em học sinh tiếp cận tác phẩm thơ Đường một cách toàn diện, hiệu quả

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu về thơ Đường ở Việt Nam

Thơ Đường đã đi vào Việt Nam từ rất lâu, gây được ảnh hưởng sâu rộng và được nhiều người yêu thích Trước thế kỉ XX, khi nền Hán học còn phát triển thì người Việt Nam (những người biết chữ Hán) đọc thơ Đường nguyên tác và tự hiểu được mà không cần bản dịch Đến những năm đầu thế kỉ XX, nền Hán học của nước ta suy tàn, chữ Hán dần dần được thay thế bằng chữ Quốc ngữ Khi ấy ta cũng bắt đầu thấy xuất hiện trên báo chí những bản dịch thơ Đường sang Quốc ngữ của những dịch giả nổi tiếng như Tản Đà, Ngô Tất Tố Những bản dịch này đã đưa thơ Đường đến với nhiều tầng lớp độc giả Việt Nam

Từ thập niên 40 trở đi, các tuyển tập thơ Đường ngày càng phong phú,

số tuyển tập tái bản nhiều lần Trong đó có thể kể đến một số tuyển tập:

- Phiên dịch và khảo cứu thơ Đường (1940) của Ngô Tất Tố, sau này được tái bản thành Đường thi (Ngô Tất Tố) Trong tuyển tập này có 52 bài

thơ Đường được dịch

- Đường thi (1950) của Trần Trọng Kim tuyển dịch, đến năm 1995

được tái bản lại Tuyển tập này có 336 bài thơ Đường được dịch Mỗi bài thơ đều có nguyên văn chữ Hán, phiên âm Hán – Việt, chú thích ngắn gọn

và bản dịch thơ

- Tuyển tập Thơ Đường (2 tập) năm 1950 do Nam Trân tuyển thơ,

Hoa Bằng, Tảo Trang, Hoàng Tạo dịch nghĩa và chú thích Trong tuyển tập

Trang 11

này Nam Trân đã tuyển chọn nhiều bài dịch hay của các dịch giả nổi tiếng như: Tản Đà, Trúc Khê, Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng Tuyển tập này tuyển chọn dịch 356 bài thơ Đường, mỗi bài đều có phần phiên âm Hán – Việt, dịch nghĩa, chú thích và dịch thơ

- Tuyển tập Đường thi trích dịch (1958) của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi

Khánh Đàn, đến năm 2007 được tái bản Khối lượng các bài thơ được dịch lên đến 503 bài với các phần: Nguyên văn chữ Hán, chú giải, dịch nghĩa, dịch thơ

- Cuốn Thơ Đường – Tản Đà dịch (1989) do Nguyễn Quang Tuân

biên soạn, đến năm 2003 được tái bản Đây được coi là một trong các tuyển tập có giá trị và được nhiều người yêu thích Mỗi bài thơ đều có phần: Nguyên văn chữ Hán, phiên âm Hán Việt, chú giải ngắn gọn, phần dịch thơ

- Tập Thơ Đường (1996) của Khương Hữu Dụng dịch Trong tuyển

tập này, Khương Hữu Dụng chủ yếu dịch tác phẩm của 3 thi hào nổi tiếng đời Đường (Lý Bạch: 41 bài, Đỗ Phủ: 38 bài, Bạch Cư Dị: 29 bài) Mỗi bài đều có phần: Nguyên văn chữ Hán, phiên âm Hán Việt, chú thích ngắn gọn

và phần dịch thơ

- Tuyển tập Thơ Đường (1997) do Trần Trọng San biên dịch Tuyển

tập này gồm có hai phần:

+ Phần 1: Tác giả dịch các bài thơ của các nhà thơ đời Đường,

+ Phần 2: Tác giả tập trung dịch các thi phẩm của ba thi hào: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị

Mỗi bài thơ đều có nguyên văn chữ Hán, phiên âm Hán Việt, dịch nghĩa, chú giải, dịch thơ (song ngữ tiếng Việt – tiếng Anh)

- Cuốn Thơ Đường bình chú của Nguyễn Thế Nữu Mỗi bài thơ đều

có phần: dịch âm, dịch chữ, dịch nghĩa, dịch thơ và có mục xuất xứ bài thơ

và bài học trong thơ

Trang 12

- Cuốn Thơ Đường (2007) do Phạm Ánh Sao phỏng dịch Mỗi bài

thơ đều có nguyên văn chữ Hán, phiên âm Hán Việt, dịch thơ

Như vậy, từ năm 1940 đến nay ở Việt Nam đã có rất nhiều tuyển tập thơ Đường Các tác phẩm của Lý Bạch và Đỗ Phủ được dịch với số lượng nhiều nhất trong các nhà thơ Đường

1.2 Lịch sử dạy thơ Đường ở nhà trường Phổ thông

Dương Quảng Hàm là người đầu tiên đưa môn văn học Trung Quốc

vào chương trình nhà trường phổ thông trung học Cuốn Việt Nam văn học sử

yếu, xuất bản lần đầu tại Hà Nội, năm 1943 của ông là cuốn sách giáo khoa

Văn học được dùng ở bậc Phổ thông Trung học dưới thời Pháp thuộc trước Cách mạng tháng Tám Trong cuốn sách này, Dương Quảng Hàm đã giới thiệu năm nhà thơ Trung Quốc có ảnh hưởng lớn nhất đến văn chương Việt Nam là: Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Lý Bạch, Hàn Dũ, Tô Đông Pha Như vậy, trong ba đỉnh cao của thơ Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị thì Dương Quảng Hàm chỉ tuyển chọn Lý Bạch vào chương trình giảng dạy Trong cuốn sách này, Dương Quảng Hàm đã được giới thiệu về: thân thế,

tình hình tư tưởng, văn từ của Lý Bạch và giới thiệu bài thơ Tương tiến tửu

(Sắp kèo rượu) với mục đích làm rõ hơn nhận xét về tính tình tư tưởng của

nhà thơ Lý Bạch

Đến 1956 – 1979, SGK môn Văn không giới thiệu thơ Đường trong

chương trình Phổ thông Dựa vào tư liệu tham khảo Chuyên đề tiếp nhận thơ

Đường tại Việt Nam của tác giả Phạm Ánh Sao thì thơ Đường chính thức

được đưa vào chương trình Phổ thông ở Việt Nam từ năm 1989 – 1990

Cho đến nay, ở VN đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề giảng dạy Đường thi ở trường phổ thông Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như:

Trang 13

- Trong cuốn Thơ Đường ở trường phổ thông do Hồ Sĩ Hiệp tuyển và

biên soạn (Nxb Tổng hợp Khánh Hòa, Khánh Hòa, 1991) có những bài giới thiệu và phân tích một số bài thơ Đường nổi tiếng và các nhà thơ tiêu biểu

- Dạy học các tác phẩm thơ Đường ở trường THCS và THPT: Theo

chương trình ngữ văn mới của Lê Xuân Soan [10], trong đó có phần “Vị

trí, vai trò của phần thơ Đường trong chương trình SGK Ngữ văn trung

học, Thơ Đường trong nhà trường của Trần Ngọc Hưởng, Bình giảng thơ

Đường và việc dạy học thơ Đường ở trường PT của Nguyễn Thị Bích Hải ,

trong đó có phần “Vị trí của thơ Đường và việc dạy học thơ Đường ở

trường PT”, VHTQ với nhà trường – tập tiểu luận của Hồ Sĩ Hiệp, trong

đó có bài “Cái vỏ hình thức thơ Đường trong SGK văn học” Các bài viết này đã có công đề cập đến một nội dung quan trọng trong giảng dạy văn học cho HS PT, nhiều bài đã nêu được những ưu nhược điểm của công tác giảng dạy Đường thi

Cuốn Bình giảng thơ Đường (theo sách giáo khoa Ngữ văn mới) của

Nguyễn Thị Bích Hải (Nxb Giáo dục, H., 2003) cũng trình bày những kiến thức về thơ Đường và việc dạy học thơ Đường trong trường phổ thông, nêu những vấn đề có tính phương pháp trong việc tìm hiểu thơ Đường

Cuốn Thơ Đường bình giải của Nguyễn Quốc Siêu (Nxb Giáo dục,

tái bản lần thứ 5 năm 2005) đã giới thiệu lại và thêm phần bình những bài thơ Đường đã được chọn tuyển trong SGK Văn học 9 (sách chỉnh lí năm 1995) và Văn học 10 (ban KHXH) Trong đó cũng có nói đến một số chỗ chưa chính xác của một vài bản dịch thơ trong SGK, nhưng còn sơ lược, và

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, tìm hiểu về giá trị nội dung, nghệ thuật của những tác

phẩm thơ Đường trong trường THCS (Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch và Hồi hương

ngẫu thư của Hạ Tri Chương dạy chính; Vọng Lư sơn bộc bố của Lí Bạch, Mao ốc vị thu phong sở phá ca của Đỗ Phủ hướng dẫn đọc thêm)

- Khảo sát thực trạng dạy học thơ Đường trong trường THCS ở trường THCS Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội; trường THCS Ngô Sĩ Liên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội

- Đề xuất, xây dựng phương pháp dạy thơ Đường theo hướng tiếp cận đồng bộ;

- Thiết kế giáo án và đưa vào thực nghiệm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những tác phẩm thơ Đường trong SGK Ngữ văn 7, Tập Một; NXB Giáo

dục; Hà Nội, 2007

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Các nội dung tiếp cận đồng bộ trong dạy học thơ Đường ở trường THCS

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi dựa trên những phương pháp chủ yếu sau:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như phân tích văn bản,

tổng hợp tài liệu, tư liệu về tác giả, tác phẩm

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tế như điều tra khảo sát hiện

trạng, phát phiếu điều tra, thống kê số liệu, thực nghiệm sư phạm từ đó rút ra kết luận

(Nguồn số liệu sử dụng trong Luận văn này được lấy từ việc khảo sát cụ thể tại trường THCS Phương Mai, Hà Nội Ngoài ra, được phép của đồng

Trang 15

nghiệp, chúng tôi có sử dụng một số tư liệu, hình ảnh trong quá trình dạy học

bộ môn ở các trường trong khu vực )

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Chương 2: Tổ chức dạy học tác phẩm thơ Đường ở trường trung học cơ

sở theo hướng tiếp cận đồng bộ

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương

Tác phẩm văn chương là một quá trình: hiện thực cuộc sống tác động đến nhà văn, những rung động của nhà văn trước cuộc sống cùng với tài năng nghệ thuật của họ sẽ cho ra đời những tác phẩm văn chương, tác phẩm văn chương khi đến với bạn đọc sẽ lại quay trở về tác động tới cuộc sống Tuy nhiên, đây không phải là một quá trình khép kín mà phát triển theo hướng

mở Mỗi tác phẩm sẽ có những tác động khác nhau đối với những người đọc khác nhau Mỗi người đọc sẽ tìm thấy giá trị của tác phẩm ở những khía cạnh khác nhau Điều đó phụ thuộc vào lứa tuổi, trình độ, hoàn cảnh của người tiếp nhận Tùy thuộc năng lực và bản lĩnh khoa học của mỗi người mà mỗi người có cách tiếp cận tác phẩm văn chương khác nhau Có người coi trọng hoàn cảnh lịch sử xã hội ra đời tác phẩm; có người đề cao cách đánh giá tác phẩm trong mối quan hệ tác động với bạn đọc; lại có người nhìn tác phẩm ở chính bản thân nó Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu điểm riêng Để việc tiếp cận tác phẩm văn học hiệu quả cần cần phải xem xét tác phẩm trên tất cả các mặt một cách đồng thời hợp lý, đúng mức vào quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm

Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương là quan điểm tiếp cận giá trị tác phẩm một cách toàn diện, khoa học Theo cố GS Phan Trọng

Luận “Một kết luận khoa học văn chương quan trọng và cơ bản đối với người

nghiên cứu và giảng dạy văn học là luôn luôn nắm vững một quan điểm tiếp cận đồng bộ, một sự vận dụng hài hòa các phương pháp lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩm văn chương Một phương pháp tiếp cận khoa học như vậy được xây dựng từ nhận thức đúng đắn về nguồn gốc của văn học, về bản chất cấu trúc và sinh mệnh của

Trang 17

tác phẩm văn chương và đó cũng là sự vận động nhuần nhuyễn những quan điểm khách quan và khoa học về việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể.” [17, tr.250]

Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Đọc và tiếp nhận

văn chương cũng khẳng định: “Hoạt động tiếp cận tác phẩm văn chương là

thao tác đầu tiên của cơ chế tiếp nhận Hoạt động này cần tiến hành một cách đồng bộ, không thể quá nặng, quá nhẹ với bất cứ một khunh hướng nào Khung hướng Tiếp cận lịch sử phát sinh quan tâm đến tính chất xã hội của tác phẩm, đến nguồn gốc nhận thức của văn học với đời sống Hướng tiếp cận bản thể tác phẩm đào sâu vào cơ cấu hình thức được sáng tạo của tác phẩm Đây là cách tiếp cận mang tính thẩm mỹ văn học Khuynh hướng Tiếp cận chức năng – tác động tuy không bao hàm nhiều thao tác trí tuệ phức tạp nhưng lại phải vận dụng sự sáng suốt của trái tim để sự cộng thông giữa những vấn đề của con người trong quá trình diễn ra tốt đẹp ” [8, tr.34]

Như vậy, tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương là một phương pháp

“khoa học quan trọng” để tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm văn chương Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào việc dạy – học Văn trong nhà trường Phổ thông là một phương hướng đúng đắn và cần thiết

1.1.2 Các hướng tiếp cận chủ yếu

1.1.2.1 Tiếp cận từ góc độ lịch sử phát sinh

Mỗi nhà văn đều được sinh ra trong một hoàn cảnh lịch sử và đều chịu

sự tác động trở lại hoàn cảnh lịch sử Do vậy, việc nghiên cứu Văn học phải dựa vào lịch sử là một tất yếu Mặt khác, mỗi nhà văn là một bản thể văn hoá,

là một cá nhân trong cộng đồng xã hội nên việc tìm hiểu cá nhân văn hoá của nhà văn ở một mức độ nào đó sẽ giúp cho người đọc hiểu hơn tác phẩm của

họ Văn học cũng như mỗi tác phẩm văn chương luôn ra đời trong những bối cảnh lịch sử xã hội văn hoá cụ thể Những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thông qua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm Thế nên muốn nghiên

Trang 18

cứu cụ thể một tác phẩm chúng ta phải tìm đến bối cảnh lịch sử và cuộc đời

nhà văn Bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh được viết vào năm 1968,

thời kì kháng chiến chống Đế quốc Mỹ Đây là thời điểm có ý nghĩa lớn lao, tác động trực tiếp đến mạch nguồn cảm xúc của bài thơ Lúc này, lớp lớp thanh niên đã phải từ biệt những gì thân thuộc nhất của tuổi thơ, của mái ấm gia đình, của quê hương để lên đường ra trận Chính vì vậy, trên đường hành quân xa, khi nghe thấy tiếng gà nhảy ổ - một âm thanh quen thuộc và vô cùng bình dị lại gợi lên trong lòng người chiến sĩ biết bao nhiêu cảm xúc thân thương về người bà, về kỉ niệm tuổi thơ Nếu chúng ta không hiểu được hoàn cảnh ra đời của tác phẩm thì khó có thể đồng cảm được với nỗi nhớ nhung

của nhà thơ Nếu tách Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương ra khỏi thời

đại mà ông đang sống và cuộc đời của nhà thơ thì chúng ta khó có thể hiểu nổi tâm trạng chơ vơ, lạc lõng, buồn tủi của nhà thơ trong giây phút khi vừa đặt chân tới quê hương của mình và cũng khó có thể hiểu được tình yêu quê hương tha thiết, sâu đậm của nhà thơ Nhà thơ Hạ Tri Chương (659 – 744), quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang),

đỗ tiến sĩ năm 695 và từ đấy ông sống ở kinh đô Trường An suốt 50 năm, làm quan tới chức Binh bộ Thượng thư, Bí thư giám Đương thời ông được vua Đường Huyền Tông coi trọng, khi từ quan về quê được vua tặng thơ, thái tử

và các quan đưa tiễn 50 năm làm quan ở kinh đô Trường An, có thể nói ông

là người đứng trên đỉnh cao của danh vọng, nhưng đến lúc cuối đời vẫn không nguôi nhớ về quê cũ, vẫn giữ được hồn quê khi trở về : “Hương âm vô cải mấn mao tồi” Nhưng khi trở về quê ở cái tuổi 80 – cái tuổi xưa nay hiếm thì chẳng còn ai nhận ra mình nữa: “Nhi đồng tương kiến bất tương thức Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai”

Và ông đã trở thành khách lạ ngay chính trên quê hương của mình Thật

là lạc lõng, bơ vơ; thật là buồn tủi, ngậm ngùi Nhưng cũng chính sự buồn tủi, ngậm ngùi này lại làm nên tứ thơ thấm đượm nỗi niềm quê hương xứ sở

Trang 19

Như vậy, tiếp cận theo khuynh hướng lịch sử phát sinh là một phương pháp tiếp cận hết sức quan trọng để tìm hiểu tác phẩm, là cơ sở để lí giải, đánh giá tác phẩm, giữa tác phẩm với hoàn cảnh mà nó ra đời Nhưng nếu quá coi trọng tính lịch sử của tác phẩm sẽ dẫn đến sự phiến diện trong nghiên cứu bởi nó dẫn đến chỗ thoát li văn bản, suy diễn chủ quan; bàn luận, lí giải văn bản một cách áp đặt Điều này, trong thực tế đã diễn ra với nền phê bình Việt Nam sau năm 1945 Không ít người đã lấy những hiểu biết của mình về hoàn cảnh lịch sử, về cuộc đời nhà thơ để giải thích và tìm hiểu tác phẩm Giá trị của các tác phẩm văn học nhiều khi chỉ được chú ý ở khía cạnh phản ánh cuộc đời thực, từ đó dẫn đến sai lầm: đồng nhất tác phẩm với cuộc đời thực Hiện thực ngoài đời không đồng nhất với hiện thực trong tác phẩm bởi hiện thực trong tác phẩm là hiện thực được nhà văn lựa chọn, phản ánh, đánh giá theo quan niệm thẩm mỹ của riêng mình Như vậy, khi tìm hiểu một tác phẩm văn học chúng ta cần phải tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời nhà văn nhà thơ vì nó giúp chúng ta hiểu được một số khía cạnh nào đó về tác phẩm, nhưng cũng không nên tuyệt đối hóa phương pháp tiếp cận này Để khắc phục những hạn chế của phương pháp tiếp cận theo khuynh hướng lịch sử phát sinh, chúng ta cần kết hợp với các phương pháp tiếp cận khác

1.1.2.2 Tiếp cận văn bản

Nếu như Tiếp cận lịch sử phát sinh là sự giao tiếp với xã hội về nghệ thuật ngoài tác phẩm thì Tiếp cận văn bản là giao tiếp với xã hội nghệ thuật trong tác phẩm Từ việc tìm hiểu văn bản mà khám phá tư tưởng nghệ thuật, chiều sâu tác phẩm, tiềm năng sáng tạo của người nghệ sĩ Hướng tiếp cận này quan tâm đến giá trị nội tại của tác phẩm Khi đọc tác phẩm, chúng ta phải chú ý đến câu chữ, tránh thoát li văn bản dẫn đến suy diễn một cách chủ quan thiếu căn cứ Tôi đã có dịp đi dự giờ của một giáo viên khi dạy bài thơ

Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) của nhà thơ Lý Bạch Khi

hướng dẫn học sinh tìm hiểu hai câu thơ đầu:

Trang 20

Chữ Hán: “Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương”

Dịch thơ: “Đầu giường ánh trăng rọi

Ngỡ mặt đất phủ sương”

Giáo viên đã đưa ra câu hỏi: “Nhà thơ Lý Bạch ngắm trăng ở vị trí nào?” Học sinh thứ nhất:

- Thưa cô, Lý Bạch ngồi ở trên giường ngắm trăng ạ

Cả lớp cười ồ lên, cô giáo hơi mất bình tĩnh nhưng cô hỏi tiếp:

- Có bạn nào có ý kiến khác không?

Học sinh thứ hai:

- Thưa cô, Lý Bạch nằm ở trên giường ngắm trăng ạ

Tiếng cười ồ lại vang lên, cô giáo luống cuống, mất bình tĩnh không biết xử lí như thế nào, cuối cùng cô đồng ý với cả hai ý kiến: “Có thể lúc đó

Lý Bạch đang ngồi ngắm trăng hoặc đang nằm ngắm trăng”

Như vậy, cách giải quyết đó của giáo viên đã biến một bài thơ hay, có sức lay động hàng triệu trái tim qua bao nhiêu thời đại thành một bài thơ tầm thường, dung tục và trở thành trò cười cho học sinh Giờ dạy – học Văn đã thất bại Nguyên nhân của sự thất bại đó là do giáo viên một phần vì mất bình tĩnh nhưng phần lớn là do kiến thức không vững vàng Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm, giáo viên đã không chú ý đến từng câu chữ trong văn bản nên đã dẫn đến tình trạng thoát li văn bản, cả học sinh và giáo viên đã rơi vào tình trạng: suy diễn chủ quan “Sáng tiền minh nguyệt quang” có nghĩa là: Ánh trăng sáng đầu giường Trong văn bản, không có từ nào, câu nào nói

về việc nhà thơ Lý Bạch ngồi hay nằm ngắm trăng Tình trạng suy diễn chủ quan đối với tác phẩm văn học không phải hiện tượng hiếm gặp đối với học sinh, nhưng giáo viên dạy văn cần phải có đầy đủ kiến thức, phương pháp, kĩ năng để thực hiện nhiệm vụ của một người thầy: là người định hướng, hướng

dẫn học sinh đi đúng hướng Với rào cản về ngôn ngữ, về tư duy nghệ thuật,

Trang 21

về khoảng cách thời đại… đã khiến những tác phẩm thơ Đường trở nên khó hiểu đối với học sinh và càng khó hơn trong việc cảm được cái ý tình sâu xa trong thơ Đường Khi học những tác phẩm thơ Đường học sinh thường suy diễn theo ý nghĩ chủ quan của mình Chính vì vậy, phương pháp tiếp cận văn bản đã thể hiện được ưu thế của mình khi được vận dụng vào tìm hiểu những tác phẩm thơ Đường nói riêng và các tác phẩm viết bằng chữ Hán nói chung Phương pháp tiếp cận này đã đảm bảo được tính khoa học chính xác của việc

phân tích giá trị của tác phẩm văn chương

1.1.2.3 Tiếp cận từ lịch sử chức năng

Tác phẩm văn học là một quá trình, tác phẩm được phôi thai từ sự chiếm lĩnh nghệ thuật về hiện thực của nhà văn và kết quả là người đọc có được một tác phẩm nghệ thuật Nhưng sự sống của nó chỉ thực sự bắt đầu khi trải qua quá trình chiếm lĩnh thẩm mỹ về tác phẩm của người đọc Văn bản chỉ trở thành tác phẩm khi có người đọc xuất hiện Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy đã có một nhận xét rất chính xác rằng: “ Khoa học văn chương trong hai thế kỷ gần đây có

ba phát hiện quan trọng: Thế kỷ XIX phát hiện ra tác giả, nửa đầu thế kỷ XX: tác phẩm, nửa cuối thế kỷ XX là độc giả Mối quan hệ ba ngôi này đã tạo ra một nhất thể, một chỉnh thể văn học mà tùy theo từng thời điểm và từng phương pháp tiếp cận người ta tôn một ngôi nào đó là trung tâm nhưng vẫn không đặt ra ngoài mối quan hệ với hai ngôi kia” Nếu như trước đây, khi phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường, người ta chỉ chú ý đến hai hướng tiếp cận chính là: Lịch sử phát sinh và Tiếp cận văn bản Trong những thập kỉ gần đây, lí luận văn học đã nhấn mạnh thêm hướng lịch sử chức năng Tác phẩm được nhìn trong mối quan hệ với người đọc Hướng tiếp cận này khai thác tác phẩm qua sự đồng cảm và sáng tạo của bạn đọc khi đọc tác phẩm Tác phẩm văn chương được coi như hệ thống mở Tác phẩm văn chương chỉ thực sự đi trọn vòng đời trong mối quan hệ với bạn đọc để trở lại với cuộc sống – nơi vốn là xuất phát điểm của tác phẩm

Trang 22

Sự tồn tại của tác phẩm không thể hình dung được nếu thiếu sự tham

dự của người đọc Quá trình tiếp nhận tác phẩm chính là sự đối thoại liên tục với tác giả trên mọi lĩnh vực, độc giả cũng là người đồng sáng tạo Độc giả làm sinh động hơn, phong phú hơn cách hiểu về tác phẩm văn chương Quan điểm tiếp cận tác phẩm theo hướng lịch sử chức năng sẽ giúp cho việc dạy – học môn Ngữ văn trong trường Phổ thông hiệu quả hơn, phát huy được sự sáng tạo, khả năng cảm thụ văn học của học sinh và khiến cho mỗi tác phẩm trở nên lí thú hơn với mỗi người đọc Trong giờ học Văn, giáo viên cần chú ý đến sự tương tác của tác phẩm văn học với người đọc Đây chính là cách tiếp cận mở Giáo viên cần để cho học sinh tự trình bày những cảm nhận, những suy nghĩ của mình về tác phẩm nhưng không có nghĩa là chấp nhận tất cả mọi cách hiểu của học sinh Cách hiểu được chấp nhận khi có sự lý giải hợp lý, có sức thuyết phục và mang tính giáo dục Để học sinh làm được điều đó, giáo viên cần cung cấp cho học sinh phương pháp tiếp cận các loại văn bản khác nhau và hướng học sinh vào những định hướng sư phạm Có như vậy mới đạt được mục tiêu giáo dục: Bồi dưỡng tình cảm, phát triển tư duy cho học sinh

1.1.3 Mối quan hệ giữa các hướng tiếp cận

Ba hướng tiếp cận trên đều cần thiết để đi vào khám phá tác phẩm văn chương, đặc biệt là đối với thơ Đường Không thể có cách hiểu, lý giải thấu đáo, toàn vẹn một tác nếu chỉ sử dụng một trong các hướng tiếp cận trên Bởi mỗi hướng tiếp cận đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Nói như

GS.TS Nguyễn Thanh Hùng “Hoạt động này cần tiến hành một cách đồng

bộ không thể quá nặng, quá nhẹ với bất cứ một khuynh hướng nào Khuynh hướng tiếp cận phát sinh quan tâm đến tính chất xã hội của tác phẩm, đến nguồn gốc nhận thức của văn học với đời sống Hướng tiếp cận bản thể tác phẩm đào sâu vào cơ cấu hình thức được sáng tạo của tác phẩm Đây là hướng tiếp cận mang tính thẩm mĩ văn học Khuynh hướng tiếp cận chức năng – tác động tuy không bao hàm nhiều thao tác trí tuệ phức tạp nhưng lại

Trang 23

phải vận dụng sự sáng suốt của trái tim để cộng thông giữa những vấn đề của con người trong suốt quá trình tiếp nhận” [8, tr.45] Tiếp cận đồng bộ

tác phẩm là cách tiếp cận khoa học, tối ưu, xuất phát từ bản chất văn học và quy luật tiếp nhận Khi giáo viên biết vận dụng hợp lý, linh hoạt các phương pháp tiếp cận để hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm sẽ tạo hiệu quả cao trong dạy học Ngữ văn ở trường Phổ thông Từ những ưu điểm đó, chúng tôi

đề xuất phương pháp dạy học thơ Đường theo quan điểm tiếp cận đồng bộ để tìm hiểu tác phẩm một cách sâu sắc, toàn diện

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng việc dạy học thơ Đường ở trường THCS

Do nhiều lý do khách quan, chủ quan, trong những năm vừa qua, việc dạy học Ngữ văn nói chung và thơ Đường nói riêng còn nhiều bất cập Trước hết, tôi

xin đề cập đến vấn đề rào cản về ngôn ngữ và vốn văn hóa của học sinh

Những tác phẩm thơ Đường được viết bằng chữ Hán – chữ tượng hình Chữ Hán đã du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc và dần dần được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực như: chính trị, văn hóa, giáo dục Sau khi nước ta giành được độc lập với chiến thắng Ngô Quyền (938), với tinh thần độc lập tự chủ, dần dần chữ Nôm đã ra đời Đến thế kỉ XII chữ Nôm đã được hình thành và phát triển có hệ thống Nó đã trở thành chữ viết dân tộc nhưng không thể thay thế hoàn toàn chữ Hán Chữ Hán được dùng ở Việt Nam trong vòng một ngàn năm cho đến mãi tận đầu thế kỷ thứ XX Năm

1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân học chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ được coi là chữ quốc gia và được đưa vào dạy trong trường học cho đến ngày nay Hiện nay, những người biết chữ Hán ở nước ta không phải là nhiều Và đặc biệt, học sinh lại càng không thể biết về loại chữ này Chính vì vậy, khi tiếp xúc với những tác phẩm được viết bằng chữ Hán khiến học sinh gặp rất nhiều khó khăn và giáo viên cũng rất lung túng khi hướng dẫn học sinh khám phá những giá trị của tác phẩm

Trang 24

Thơ Đường được đưa vào giảng dạy ở trường THCS (SGK Ngữ văn 7

tập 1) với số lượng tương đối nhiều, gồm 4 tác phẩm: Vọng Lư sơn bộc bố (Lý Bạch), Tĩnh dạ tứ (Lý Bạch), Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương),

Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Đỗ Phủ) Bốn tác phẩm trên được phân bố

trong Phân phối chương trình là 4 tiết (chiếm 33% tổng số tiết dạy các tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn 7 học kì I), trong đó 2 tác phẩm được

dạy chính là: Tĩnh dạ tứ (Lý Bạch) và Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương), còn hai tác phẩm Vọng Lư sơn bộc bố (Lý Bạch) và Mao ốc vị thu

phong sở phá ca (Đỗ Phủ) là hai tác phẩm giáo viên hướng dẫn học sinh tự

học Đối với HS lớp 7 (khoảng 13, 14 tuổi), việc tiếp cận những tác phẩm trên không phải là điều dễ dàng HS không chỉ gặp khó khăn về rào cản ngôn ngữ mà còn khó khăn về cả vốn văn hóa Vốn văn hóa của HS còn hạn chế nên việc khám phá vẻ đẹp của một tác phẩm thơ Đường quả là một việc khó khăn Chính vì vậy, việc dạy các tác phẩm thơ Đường ở trường THCS cũng chỉ như “cưỡi ngựa xem hoa”

Không chỉ gặp khó khăn về rào cản ngôn ngữ, về vốn văn hóa còn hạn chế của HS mà một thực trạng đáng lưu tâm nữa của việc dạy học thơ Đường ở trường THCS, đó là vấn đề phương pháp, phân phối chương trình

và phương tiện dạy học Trong những năm trở lại đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn được các nhà quản lý, các nhà khoa học, các phương tiện thông tin đại chúng đề cập đến với tần số rất cao Nó được coi là

sự thay đổi mang tính cách mạng của ngành Giáo dục Điều này được thể hiện ngay ở tên gọi cuốn SGK và phân môn giảng dạy: Giảng văn – Văn học

– Văn – Ngữ văn, Với bộ môn Ngữ văn, trong bài nghiên cứu Từ giảng văn

qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu văn bản văn học đăng trên tạp

chí Văn nghệ Quân đội điện tử số ra ngày 22 tháng 10 năm 2013, GS.TS Trần Đình Sử đã chỉ ra những hạn chế về mặt phương pháp luận của thao tác phân tích trong dạy học văn theo lối cũ, đồng thời khẳng định tính ưu việt của

Trang 25

phương pháp dạy học theo hướng đọc hiểu văn bản Việc dạy học văn theo hướng đọc – hiểu đã và đang được thực hiện ở trường THCS Đây là một hướng đi đúng và phát huy hiệu quả của việc dạy học Văn và đặc biệt là giảng dạy thơ Đường Trước khi hướng dẫn học sinh khám phá vẻ đẹp của một tác phẩm thì điều đầu tiên cần phải thực hiện là đọc văn bản và đi đến hiểu đúng về văn bản đó Đối với thơ Đường việc làm đó lại càng phải được chú ý và được thực hiện một cách nghiêm túc Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từng yếu tố Hán Việt từ đó hiểu nghĩa của các câu thơ và bài thơ Hầu hết giáo viên đều ý thức được điều này nhưng không thực hiện được một cách triệt để Để áp dụng phương pháp đọc – hiểu vào dạy học một tác phẩm thơ Đường phải mất khá nhiều thời gian Trong khi đó, mỗi bài thơ chỉ được phân phối dạy trong 1 tiết (45 phút) Để đủ thời gian dạy học trong 45 phút, nhiều giáo viên đã bỏ qua phần phiên âm chữ Hán và phần giải nghĩa từ mà chỉ chú ý đến dịch thơ Từ đó dẫn đến tình trạng thoát li văn bản chữ Hán, bình giảng phần dịch thơ

Việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung, dạy học Ngữ văn nói riêng đã tạo ra hiệu quả khá cao Tuy nhiên, không phải bài nào, tiết nào người dạy học cũng thành công với phương tiện đó và đặc biệt là với tiết dạy tác phẩm thơ trữ tình Nhưng hiện nay, nhiều giáo viên đã quá lạm dụng CNTT vào dạy các tác phẩm văn chương, trong đó có thơ Đường Chính vì vậy mà hiệu quả dạy học không cao Trong giờ học, HS bị phân tán bởi các phương tiện nghe – nhìn nên giảm khả năng liên tưởng, tưởng tượng dẫn đến tình trạng học sinh thụ động, không phát triển được tư duy HS tương tác với máy chiếu nhiều hơn với văn bản dẫn đến tình trạng không có rung cảm trước cái hay, cái đẹp của tác phẩm Mục đích của việc dạy Văn là bồi dưỡng phẩm chất, phát triển tư duy, đào tạo ra những chủ thể nhân văn, sáng tạo Với

những tác phẩm trữ tình, trong đó có thơ Đường , chỉ nên coi máy chiếu là

phương tiện hỗ trợ cho quá trình giảng dạy của giáo viên

Trang 26

Để khảo sát thực trạng dạy học thơ Đường ở trường THCS, chúng tôi

tập trung vào hai tác phẩm học chính trong trường THCS là: Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) của tác giả Lý Bạch và Hồi hương ngẫu thư của

tác giả Hạ Tri Chương

1.2.2 Khảo sát thực tế

1.2.2.1 Mục đích khảo sát

Khảo sát tình hình dạy học thơ Đường ở trường THCS hiện nay sẽ giúp chúng ta đánh giá được những việc đã làm được, những tồn tại trong quá trình DH tác phẩm, tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp thực hiện tối ưu nhất

1.2.2.2 Nội dung khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát việc dạy học tác phẩm thơ Đường của GV

và HS lớp 7 trường THCS Phương Mai

1.2.2.3 Đối tượng khảo sát

nay, chúng tôi tiến hành khảo sát các đối tượng cơ bản tham gia quá trình DH

trong nhà trường, đó là GV và HS

* Giáo viên Ngữ văn: các thầy cô giáo dạy Văn ở trường THCS Phương

Mai quận Đống Đa – Hà Nội

* Học sinh lớp 7 trường THCS Phương Mai: gồm các em học sinh lớp

7A1 (sĩ số 47 em); 7A2 ( sĩ số 40 em ) của năm học 2014 – 2015

* Tư liệu khảo sát:

- Sách giáo khoa Ngữ văn 7, Tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội – 2012

- Sách giáo viên Ngữ văn 7, Tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội – 2012

- Phiếu điều tra

- Vở ghi và bài làm văn của học sinh

*Thời gian khảo sát

Học kì I năm học 2014 – 2015

Trang 27

* Đối với giáo viên: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các thầy cô giáo ở

trường THCS Phương Mai Họ ở lứa tuổi khác nhau, giữ các vị trí công tác

và giảng dạy trong điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Các câu hỏi đều xoay quanh vấn đề “GV hiện nay tiếp nhận, cảm thụ và DH thơ Đường như thế nào?” Chúng tôi nhận được những câu trả lời khá phong phú, đa dạng phần nào phản ánh đúng với thực tế DH tác phẩm hiện nay

Chúng tôi phát phiếu điều tra cho GV và tiến hành khảo sát thông qua những câu hỏi sau đây:

Trang 28

- Đọc văn bản và trả lời câu hỏi trong SGK

- Tìm hiểu và soạn thêm những câu hỏi về hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, tác giả

- Tìm hiểu trước về tác phẩm và nêu cảm nhận, đánh giá của riêng mình về tác phẩm, về những hình ảnh, tình cảm trong thơ

- Các ý kiến khác

Câu 3:

Biện pháp chủ yếu khi DH thơ Đường là gì?

- GV thuyết giảng, HS lắng nghe, tiếp nhận

- GV hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản qua hệ thống câu hỏi gợi mở

- GV tổ chức cho HS đối thoại để tìm hiểu tác phẩm

Hướng tiếp cận nào được thầy cô ưu tiên sử dụng khi DH thơ Đường?

- Tiếp cận trong văn bản

- Tiếp cận những yếu tố ngoài văn bản

- Tiếp cận theo hướng lịch sử chức năng

- Ý kiến khác

Chúng tôi cũng đã tham gia những buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ

bộ môn về cách DH thơ Đường sao cho phù hợp nhất với yêu cầu hiện nay Phần đa GV nhất trí với hướng triển khai trong SGK Bên cạnh đó, một số

GV đã mạnh dạn đề xuất những cách DH mới đối với những tác phẩm này

Trang 29

Đây là tín hiệu đáng mừng trong xu hướng đổi mới phương pháp DH mà chúng ta đang thực hiện

Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành tham khảo một số giáo án tiết dạy tác

phẩm thơ Đường (Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch và Hồi hương ngẫu thư của Hạ

Tri Chương) cũng như dự giờ tại lớp Qua đây, chúng tôi nhận thấy, nhìn chung giáo án của GV đã cung cấp đầy đủ những kiến thức cơ bản cho HS trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tuy nhiên, các giáo án chưa chú trọng đến việc tiếp cận đồng bộ thơ Đường Có giáo án thiên về hướng tiếp cận lịch sử phát sinh, có giáo án thiên về tiếp cận văn bản hay loại thể Và hầu hết chưa chú trọng nhiều đến hướng tiếp cận lịch

sử chức năng Thực tế cho thấy chúng ta chưa có nhiều những giáo án DH thơ Đường thể hiện sự kết hợp đồng bộ, nhuần nhuyễn của các hướng tiếp cận này

* Đối với học sinh: Chúng tôi khảo sát bằng các hình thức phỏng vấn,

phát phiếu điều tra, kiểm tra kết quả học tập sau giờ dạy ở các mức độ và thời lượng khác nhau như kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 45 phút Đối với bài Tĩnh dạ tứ (Lý Bạch), hệ thống câu hỏi được chúng tôi

xây dựng như sau:

Câu 1: Cảm nhận của em khi học Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch ?

Câu 3: Để chuẩn bị cho bài học, các em thường làm gì?

A Soạn bài theo hướng dẫn trong SGK

Trang 30

B Đọc, tìm hiểu tác phẩm và các tài liệu liên quan ( SGK, Tài liệu tham khảo )

C Ý kiến khác

Câu 4: Trong giờ học tác phẩm này, các em có phương pháp học như thế

nào?

A Nghe thầy cô giảng, ghi chép

B Nghe thầy cô hướng dẫn, phát biểu, trao đổi với các bạn

C Nghe giảng, về nhà tự học

Câu 5: Ấn tượng sâu sắc nhất của em về tác phẩm này là gì?

A Cảnh thiên nhiên trong đêm trăng tĩnh lặng

B Tình yêu quê hương thường trực của người con xa quê

C Nghệ thuật của tác phẩm

Câu 6: Theo em, tác phẩm này đã có những thành công gì về nghệ thuật?

A Nghệ thuật đối

B Ngôn ngữ giản dị mà tinh luyện

C Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt

Câu 7: Sau khi học xong tác phẩm này, em có suy nghĩ gì?

Trang 31

Đối với bài Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương), hệ thống câu hỏi

được chúng tôi xây dựng như sau:

Câu 1: Cảm nhận của em khi học Hồi hương ngẫu thư của Lý Bạch ?

Câu 3: Để chuẩn bị cho bài học, các em thường làm gì?

A Soạn bài theo hướng dẫn trong SGK

B Đọc, tìm hiểu tác phẩm và các tài liệu liên quan ( SGK, Tài liệu tham khảo )

C Ý kiến khác

Câu 4: Trong giờ học tác phẩm này, các em có phương pháp học như thế

nào?

A Nghe thầy cô giảng, ghi chép

B Nghe thầy cô hướng dẫn, phát biểu, trao đổi với các bạn

C Nghe giảng, về nhà tự học

Câu 5: Ấn tượng sâu sắc nhất của em về tác phẩm này là gì?

A Tình huống cười ra nước mắt

B Tình yêu quê hương của người con xa quê lâu ngày, nay mới trở về quê hương

C Nghệ thuật đối

Trang 32

Câu 6: Theo em, tác phẩm này đã có những thành công gì về nghệ thuật?

A Nghệ thuật đối

B Xây dựng tình huống tự nhiên, bất ngờ

C Giọng điệu thơ đa dạng, biến hóa

Câu 7: Sau khi học xong tác phẩm này, em có suy nghĩ gì?

* Với sách giáo khoa: Chúng tôi khảo sát cấu trúc văn bản dạy học gồm mục Kết quả cần đạt, Văn bản, Chú thích, Câu hỏi phần Đọc – hiểu văn bản,

Ghi nhớ

- Mục Kết quả cần đạt: “Cảm nhận được tình quê hương được biểu hiện

một cách chân thành, sâu sắc qua bài thơ Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch và Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương, thấy được tác dụng của nghệ thuật đối trong thơ Đường và tầm quan trọng của câu cuối trong một bài thơ tuyệt cú” Đây chính là chủ đề và tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm mà học sinh

cần nắm rõ SGK đã nêu đầy đủ, ngắn gọn

- Mục Chú thích *: Mục này nêu khá ngắn gọn về tác giả Lí Bạch

nhưng cũng giới thiệu khá đầy đủ về nhà thơ: quê quán, cuộc đời, phong cách

Trang 33

nhà thơ, đề tài trong thơ Lí Bạch, hoàn cảnh sáng tác bài thơ Trong SGK Ngữ văn 7 trang 111 có giới thiệu: “Lí Bạch (701 – 762), nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đời Đường, tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê ở Cam Túc; lúc mới năm tuổi, gia đình về định cư ở làng Thanh Liên, huyện Xương Long thuộc Miên Châu (Tứ Xuyên) nên nhà thơ vẫn thường coi Tứ Xuyên cũng là quê hương của mình Từ trẻ, ông đã xa gia đình để đi du lịch, tìm đường lập công danh sự nghiệp Dẫu muốn góp phần cứu đời giúp dân song chưa bao giờ ông được toại nguyện Lí Bạch được mệnh danh là “tiên thơ” Thơ ông biểu hiện một tâm hồn tự do hào phóng Hình ảnh trong thơ thường mang tính chất tươi sáng, kì vĩ, ngôn ngữ tự nhiên mà điêu luyện Lí Bạch viết nhiều bài rất hay về chiến tranh, thiên nhiên, tình yêu và tình bạn ” Trong phần chú thích * SGK Ngữ văn 7, trang 123 các tác giả có giới thiệu thêm: “Có người nói thơ Lí Bạch tràn ngập ánh trăng Hình ảnh trăng trong thơ Lí Bạch hết sức đa dạng, ý nghĩa vô cùng phong phú Chủ đề của bài thơ rất quen thuộc: “Vọng nguyệt hoài hương” (Trông trăng nhớ quê), cách thể hiện rất giản dị mà độc đáo Thuở nhỏ, ông thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng Từ 25 tuổi, Lí Bạch đã xa quê và xa mãi Bởi vậy, cứ mỗi lần thấy trăng là nhà thơ lại nhớ tới quê nhà Bài thơ được viết theo hình

thức cổ thể, một thể thơ trong đó mỗi câu thường có 5 hoặc 7 chữ, song

không bị những quy tắc chặt chẽ về niêm luật và đối ràng buộc.” Như vậy, phần chú thích * trong SGK cũng đã giới thiệu khá đầy đủ về nhà thơ Lí Bạch và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Điều này giúp HS rất nhiều trong việc tìm hiểu giá trị của tác phẩm Tuy nhiên, trong SGK mới chỉ nhắc đến chủ đề “Vọng nguyệt hoài hương” trong thơ cổ mà không giải thích vì sao: vọng nguyệt lại hoài hương? Qua việc tìm hiểu chủ đề của bài thơ như SGK

đã nêu, ta thấy hình ảnh vầng trăng là hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng trong thơ cổ Nhưng SGK lại giới thiệu thêm: “Thuở nhỏ, ông thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng Từ 25 tuổi, Lí Bạch đã xa quê và xa

Trang 34

mãi Bởi vậy, cứ mỗi lần thấy trăng là nhà thơ lại nhớ tới quê nhà” thì ánh trăng trong thơ Lí Bạch lại được giới thiệu như một hình ảnh thực Liệu có sự mâu thuẫn?

- Phần văn bản: Nhan đề trong SGK, trang 123 có trình bày như sau:

VĂN BẢN:

CẢM NGHĨ TRONG ĐÊM THANH TĨNH

(Tĩnh dạ tứ)

Đọc nhàn đề này, GV sẽ hiểu là dạy học phần dịch nghĩa hoặc dịch thơ

chứ không phải là tìm hiểu tác phẩm xuất phát từ phần Phiên âm đến phần

Dịch nghĩa rồi Dịch thơ Chính vì sự hiểu nhầm này mà nhiều giáo viên chỉ

cho HS đọc phần Phiên âm một cách qua loa rồi tập trung giảng, phân tích,

bình bản dịch thơ

- Phần câu hỏi Đọc – hiểu văn bản: có 3 câu hỏi hướng dẫn HS

(1) Có người cho rằng trong bài Tĩnh dạ tứ, hai câu đầu là thuần túy tả

cảnh, hai câu cuối là thuần túy tả tình Em có tán thành ý kiến đó không? Vì sao?

(Gợi ý:

- Phải chăng trong hai câu đầu hoàn toàn không có suy tư, cảm nghĩ của con người?

- Và phải chăng hai câu cuối là tả tình thuần túy?

- Từ sự phân tích trên, rút ra kết luận về mối quan hệ giữa cảnh và tình trong bài thơ này.)

(2) Tuy không phải là một bài thơ Đường luật song Tĩnh dạ tứ cũng sử

Trang 35

(3) Dựa vào bốn động từ “nghi” (ngỡ là), “cử” (ngẩng), “đê” (cúi đầu)

và “tư” (nhớ) để chỉ ra sự thống nhất, liền mạch của suy tư, cảm xúc trong bài thơ

giá trị cơ bản của tác phẩm và phù hợp với khả năng của học sinh Tuy nhiên, chưa có câu hỏi thể hiện sự tương tác giữa học sinh với văn bản (tác động của bài thơ tới tình cảm của HS) Trong quá trình dạy học, người giáo viên có thể lựa chọn sử dụng một hoặc một vài câu hỏi để phục vụ cho giờ dạy Trong xu hướng đổi mới việc dạy học văn, giáo viên có thể xây dựng thêm những câu hỏi mang tính chất mở, liên hệ với bản thân HS Có như vậy, việc dạy học Văn mới có thể bồi dưỡng phẩm chất cho HS

* Với sách giáo viên: Trên cơ sở Chuẩn kiến thức kỹ năng do Bộ Giáo

dục và Đào tạo ban hành, chúng tôi quan tâm đến việc xác định kiến thức trọng tâm của tác phẩm, những yêu cầu về kỹ năng, về thái độ mà tài liệu nêu

ra cho người học Chức năng của SGV là đưa ra những định hướng có tính chất tham khảo cho người dạy Tùy theo trình độ, khả năng, tâm huyết của người dạy mà mỗi thầy cô có một cách tham khảo, vận dụng khác nhau Khảo sát những gợi ý trong SGV, chúng tôi nhận thấy, tài liệu này đã bám sát vào SGK và Chuẩn kiến thức kỹ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo để đưa ra những gợi ý hợp lý cho quá trình tiếp cận tác phẩm

Có thể khẳng định, những hướng dẫn của SGV mang tính khoa học, gợi mở cao cho cả người dạy và người học Đây sẽ là cơ sở cho việc xây

dựng các phương án dạy học thơ Đường theo hướng tiếp cận đồng bộ Người

dạy cũng có thể căn cứ vào đây để vận dụng các phương pháp, sử dụng các phương tiện dạy học thích hợp, tạo hiệu quả cao nhất cho quá trình tiếp cận Bản thân chúng tôi, trong quá trình dạy trên lớp, dạy thực nghiệm luôn chủ động bám sát tài liệu, vận dụng những ý gợi mở để xác định kiến thức trọng tâm, sử dụng phương pháp, kỹ năng phù hợp cho từng lớp, từng nhóm học

Trang 36

sinh Trong Chương 2 – Tổ chức dạy học thơ Đường theo hướng tiếp cận

đồng bộ, khi đề xuất các biện pháp thực hiện, chúng tôi sẽ sử dụng một số

câu hỏi trong phần Đọc – hiểu văn bản ,SGK Ngữ văn 7, Tập I nhằm đạt mục tiêu đề ra

1.2.3 Kết luận về thực trạng

1.2.3.1 Kết quả khảo sát và phân tích, đánh giá

Phương Mai thuộc quận Đống Đa – Hà Nội, chúng tôi nhận thấy vẫn còn một

số bất cập Cả người dạy và người học phải làm việc với cường độ cao mà hiệu quả chưa được như mong muốn Khả năng tiếp nhận và vận dụng của các em học sinh còn hạn chế

Về phía người dạy: Có thể khẳng định, trong các giờ dạy của mình

nói chung và giờ dạy thơ Đường nói riêng, các thầy cô giáo đã tận tâm, cố gắng hết sức nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh tác phẩm Tuy nhiên, hầu hết các thầy cô giáo chỉ chủ yếu sử dụng hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và hướng tiếp cận văn bản nên đã không phát huy được tính chủ động và sự sáng tạo của học sinh Ngay trong hướng tiếp cận văn bản, nhiều thầy cô chưa hiểu rõ được phần văn bản chữ Hán nên nhiều khi còn bình bản dịch thơ, hiểu bài thơ

theo cách suy diễn chủ quan

Về phía học sinh: Đối với HS, môn Ngữ văn luôn có giá trị thực tiễn

cao, không chỉ cung cấp tri thức mà còn định hướng lý tưởng, hoàn thiện nhân cách cho học sinh Nhưng do giáo viên chưa chú ý đến sự tương tác giữa HS với tác phẩm nên những tác phẩm thơ Đường trở nên xa lạ, không có

ý nghĩa thực tiễn khiến HS không thích thú học Nhiều giáo viên dạy thơ Đường còn khô khan, những bài học rút ra còn mang tính giáo điều, áp đặt Điều này cũng khiến học sinh học mang tính chất đối phó chứ không phải vì niềm say mê, hứng thú

Trang 37

Mặc dù chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THCS những năm vừa qua liên tục được thay đổi, hợp nhất, giảm tải, nhưng rõ ràng nó vẫn chứa đựng nhiều bất cập và hạn chế Đây là bộ sách soạn cho giáo viên – người dạy, chứ không phải cho học sinh – người học Bởi vậy, đã không phát huy được khả năng tự học của học sinh Mục đích, yêu cầu của môn học còn mang nặng tính hàn lâm, khô cứng mà chưa phù hợp với bối cảnh cuộc sống

xã hội và con người thời kỳ mở cửa, hội nhập thế giới Phương pháp dạy học,

dù đã được đổi mới, nhưng vẫn chỉ giới hạn ở một bộ phận giáo viên mà chưa lan tỏa đến toàn thể những thầy cô giáo đang đứng trên bục giảng Điều đó được thể hiện rõ qua kết quả khảo sát của chúng tôi:

Kết quả khảo sát thực trạng dạy học môn Ngữ văn của HS

trước khi tham gia thực nghiệm

Bảng 1.1 Khảo sát thực trạng dạy học bài Tĩnh dạ tứ của tác giả Lý Bạch

Câu 1: Cảm nhận của em khi học

Trang 38

Bảng 1.2 Khảo sát thực trạng dạy học bài Hồi hương ngẫu thư của

tác giả Hạ Tri Chương

Câu 1: Cảm nhận của em khi học Hồi

hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương ?

Câu 2: Em nhận thấy học bài thơ Hồi

hương ngẫu thư như thế nào?

Câu 3: Để chuẩn bị cho bài học, các

em thường làm gì?

Câu 4: Trong giờ học tác phẩm này, các

em có phương pháp học như thế nào?

Một lý do nữa khiến giờ dạy học thơ Đường chưa thành công là mức

độ khó của chính tác phẩm Phải khẳng định, trong chương trình Ngữ văn

THCS nói chung và Chương trình Ngữ văn 7 nói riêng, thơ Đường là tác

phẩm giàu giá trị nghệ thuật nhưng khó tiếp cận

1.3.2.2 Đề xuất phương pháp dạy học thơ Đường

thực tế giảng dạy ở trường THCS những năm vừa qua, chúng tôi đề xuất phương pháp dạy học thơ Đường theo hướng tiếp cận đồng bộ Hy vọng rằng, quan điểm này sẽ đem lại một cách nhìn mới cho thầy cô giáo và các em học sinh về những áng thơ nổi tiếng đời Đường Chúng tôi mong rằng phương pháp này sẽ không chỉ giúp các em học sinh nắm bắt toàn diện hơn giá trị tác phẩm mà còn giảm bớt những vất vả, khó khăn cho các thầy cô giáo trong

Trang 39

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC DẠY HỌC TÁC PHẨM THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỒNG BỘ 2.1 Những yêu cầu khi dạy học tác phẩm thơ Đường theo hướng tiếp cận đồng bộ

2.1.1 Phù hợp với trình độ tiếp nhận và tâm lý lứa tuổi học sinh THCS 2.1.1.1 Đôi nét về tâm lý lứa tuổi học sinh THCS

Lứa tuổi học sinh THCS có những biến chuyển mạnh mẽ về tâm – sinh lý, vì vậy, muốn việc tiếp cận tác phẩm trong giờ dạy học có hiệu quả, người dạy cần nắm rõ các đặc điểm tâm lý học sinh Lứa tuổi này có một

vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó

là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị” Ở độ tuổi mới lớn, học sinh bậc THCS hết sức nhạy cảm, tò mò, khả năng tư duy nhanh và luôn mong muốn được tìm tòi, thể hiện, khẳng định bản thân Người giáo viên cần nắm rõ đặc điểm chung này, trên cơ sở đó, chia nhóm, phân loại đối tượng để có câu hỏi, hướng tiếp cận phù hợp nhằm phát huy thế mạnh, hạn chế nhược điểm của các em Tuy nhiên, sự hiểu biết, vốn văn hóa của học sinh giai đoạn này cũng còn hạn chế, khả năng hứng thú say mê chỉ duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, vì vậy, người giáo viên lại phải căn cứ vào tính chất bài giảng, khối lượng kiến thức, thời lượng tiếp nhận để bảo đảm tính vừa sức cho các em Sức cuốn hút của giờ học không nằm ở chỗ người giáo viên đưa ra những vấn đề khó, có tính chất đánh đố người học mà ở chỗ vấn đề đó có phù hợp với tâm lý, trình độ, năng lực người tiếp nhận không,

có giàu tính nghệ thuật và có giá trị thực tiễn không

Ở lứa tuổi này, các em có ý thức về mình, có nhu cầu được khẳng định, được tôn trọng Ở nhiều em đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đối

Trang 40

với môn học, say mê học tập Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều khi khiến hứng thú của học sinh bị phân tán và không bền vững Chính vì vậy,

GV cần phải duy trì được hứng thú học tập của HS Trong giáo dục, giáo viên cần thấy được mức độ phát triển cụ thể ở mỗi em để kịp thời động viên, hướng dẫn học sinh khắc phục những khó khăn trong học tập và hình thành nhân cách một cách tốt nhất Bài học cần được giáo viên gắn với cuộc sống, làm cho HS hiểu rõ ý nghĩa của môn học để HS có hứng thú học tập GV cũng phải giúp đỡ các em biết cách học, có phương pháp học tập phù hợp Bên cạnh đó, người giáo viên cũng cần tạo cho lớp học môi trường thân thiện, gần gũi; tạo tâm thế cho các em trước, trong giờ học, quá trình tiếp cận sẽ hiệu quả hơn Những ý kiến nhận xét của thầy cô giáo về học sinh cần khéo léo, tế nhị nhằm động viên, khích lệ tinh thần, ý thức học tập của các em

2.1.1.2 Trình độ, năng lực tiếp nhận của học sinh lớp 7

Càng lớn lên, hoạt động học tập càng có vị trí quan trọng trong cuộc sống của HS và vai trò của nó trong sự phát triển của HS ngày càng to lớn Học tập là hoạt động chủ đạo nhưng vào tuổi này, việc học tập của các em có những thay đổi cơ bản.Việc học tập ở trường THCS là một bước ngoặc quan trọng trong đời sống của HS Ở các lớp dưới, các em học tập các hệ thống các

sự kiện và hiện tượng, hiểu những mối quan hệ cụ thể và đơn giản giữa các

sự kiện và hiện tượng đó Ở trường THCS, việc học tập của các em phức tạp hơn một cách đáng kể Các em chuyển sang tìm hiểu có hệ thống những cơ

sở của các khoa học, các em học tập có phân môn… Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc Điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập cao

Thái độ tự giác đối với học sinh lớp 7 cũng tăng lên rõ rệt Đối với HS lớp 7, thái độ đối với môn học do nội dung môn học và sự đòi hỏi phải mở rộng tầm hiểu biết chi phối Thái độ đối với môn học đã được phân hóa khá rõ

Ngày đăng: 17/09/2015, 07:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Khảo sát thực trạng dạy học bài Tĩnh dạ tứ  của tác giả Lý Bạch - Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học thơ đường trong trường trung học cơ sở
Bảng 1.1. Khảo sát thực trạng dạy học bài Tĩnh dạ tứ của tác giả Lý Bạch (Trang 37)
Bảng 1.2. Khảo sát thực trạng dạy học bài Hồi hương ngẫu thư  của - Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học thơ đường trong trường trung học cơ sở
Bảng 1.2. Khảo sát thực trạng dạy học bài Hồi hương ngẫu thư của (Trang 38)
Hình  thức  “cổ  thể”,  không - Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học thơ đường trong trường trung học cơ sở
nh thức “cổ thể”, không (Trang 68)
Hình  ảnh  thực  còn  sương - Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học thơ đường trong trường trung học cơ sở
nh ảnh thực còn sương (Trang 71)
Hình thức: nhóm 4 - Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học thơ đường trong trường trung học cơ sở
Hình th ức: nhóm 4 (Trang 72)
Hình  thức  giữa  hai  bài  thơ - Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào dạy học thơ đường trong trường trung học cơ sở
nh thức giữa hai bài thơ (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w