1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tâm lý của người nông dân đồng bằng sông cửu long

82 577 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 5,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong cả nước nói chung và ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là một việc làm hết sức khó khăn, phức tạp, một mặt do điều kiện kinh

Trang 1

LUẬN VĂN:

Tìm hiểu tâm lý của người nông dân

đồng bằng sông Cửu Long

Trang 2

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới đất nước một cách toàn diện, Đảng và Nhà nước ta

đã nhất quán thực hiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo

cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước Trong điều kiện một đất nước nông nghiệp, 80% dân số là nông dân, muốn phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm trước mắt phải hướng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Chính

vì thế Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn” [26; tr 24]

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong cả nước nói chung và ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là một việc làm hết sức khó khăn, phức tạp, một mặt do điều kiện kinh tế - xã hội, mặt khác do tâm lý sản xuất nhỏ của người nông dân quy định

Việc khắc phục tâm lý sản xuất nhỏ, tác phong, nếp sống, nếp nghĩ lạc hậu gắn liền với nền sản xuất nhỏ là rất cần thiết và là việc làm cực kỳ khó khăn, gian khổ Nhưng chính việc ấy lại đưa lại hiệu quả to lớn cho việc xây dựng xã hội mới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Những thói quen, nếp nghĩ, truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ, nên cần cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, lâu dài [19; tr 25]

Trang 3

Vì vậy, việc tìm hiểu tâm lý của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long là nhiệm vụ cấp thiết, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu vấn đề tâm lý sản xuất nhỏ Nhưng mới dừng lại ở từng khía cạnh tâm lý người nông dân nông thôn miền Bắc, miền Trung Việc tìm hiểu tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long thì chưa có công trình nào đề cập tới, có chăng chỉ là những bài viết mang tính khái quát ở một mặt nào đó của tâm lý người nông dân vùng đất mới

3 Giới hạn của luận văn

Luận văn nghiên cứu tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long với tư cách là một bộ phận của ý thức xã hội, nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu, tìm ra những biểu hiện đặc thù của tâm lý, trên cơ sở khảo sát ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (chủ yếu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang)

4 Mục đích và nhiệm vụ

- Xác định những đặc điểm của tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long qua khảo sát ở Kiên Giang và nêu một số giải pháp chủ yếu để phát huy tính tích cực, khắc phục biểu hiện tâm lý tiêu cực của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long

- Để thực hiện mục đích trên luận văn thực hiện những nhiệm vụ dưới đây:

Trang 4

- Phương pháp: Trong luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp, phân tích

tổng hợp, lịch sử, logíc, phương pháp điều tra xã hội học ở một số địa phương huyện, thị trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

6 Cái mới của luận văn

- Nêu lên sự biến đổi của tâm lý nông dân đồng bằng sông Cửu Long qua các thời kỳ lịch sử

Trang 5

7 ý nghĩa của luận văn

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu giảng dạy những vấn đề ý thức xã hội nói chung và các vấn đề về tâm lý của người nông dân nói riêng

- Giúp cấp ủy địa phương góp phần hoạch định chính sách đối với nông dân trong vùng Mặt khác cũng giúp Đảng, chính quyền Nhà nước tìm ra những phương thức giáo dục nhằm hạn chế những biểu hiện tiêu cực đối với một bộ phận cán bộ chủ chốt ở cơ sở có nguồn gốc xuất thân từ nông dân

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 6

Chương 1

Vấn đề tâm lý và những yếu tố tác động

đến việc hình thành tâm lý người nông dân

đồng bằng sông Cửu Long

1.1 Tâm lý nông dân

1.1.1 Tâm lý cộng đồng và đời sống tinh thần của xã hội

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác, đời sống xã hội được chia thành đời sống vật chất và đời sống tinh thần, trong đó đời sống tinh thần được nảy sinh trên cơ sở đời sống vật chất, và là sự phản ánh đời sống vật chất Mác viết: không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của nó, trái lại, chính tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ [16; tr 78] Trong ý thức xã hội, tâm lý xã hội và hệ tư tưởng là hai bộ phận chủ yếu cấu thành nội dung của nó Cả tâm lý xã hội và hệ tư tưởng đều do tồn tại xã hội quyết định, đều là sự phản ánh tồn tại xã hội nhưng sự phản ánh đó ở những trình độ khác nhau Tâm lý xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội ở trình

độ thấp, ở dạng ý thức thông thường còn hệ tư tưởng là sự phản ánh trình độ cao, ở dạng ý thức lý luận

So với tâm lý xã hội, hệ tư tưởng ở trình độ cao hơn nhưng không phải nảy sinh tự phát từ tâm lý xã hội Nó là kết quả phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất, những quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp trong xã hội bằng khái quát lý luận trên cơ sở những tư liệu đã có từ trước Nó chính là những tư tưởng, quan điểm đã

Trang 7

Trong xã hội có giai cấp, tâm lý xã hội mang tính giai cấp, những giai cấp khác nhau có sự khác nhau về tâm lý Sự khác nhau đó xuất phát từ sự khác biệt về lợi ích của họ Chủ nghĩa Mác không phủ nhận tính chất phổ biến của tâm lý xã hội, bởi

vì, tính phổ biến ấy không những không xóa bỏ tính giai cấp mà nhiều lúc còn tồn tại như tầng sâu của tính giai cấp

Tâm lý xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội Do đó, khi tồn tại xã hội thay đổi, tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi của nó Song, thực tế đã chứng minh rằng tâm lý xã hội

có sức bền vững, tính ỳ rất lớn Nó có thể tồn tại ngay khi cơ sở kinh tế - xã hội đã bị thay đổi Để khắc phục những nét tâm lý cũ, lạc hậu, Lênin đã chỉ rõ: “nhiệm vụ cơ bản của các cán bộ làm công tác giáo dục và của Đảng cộng sản - đội tiền phong trong cuộc đấu tranh là phải giúp đỡ việc rèn luyện và giáo dục quần chúng lao động để khắc phục những thói quen cũ, những tập quán cũ do chế độ cũ để lại" [9; tr 474]

Tâm lý cộng đồng là một bộ phận của đời sống tinh thần cộng đồng và thuộc lĩnh vực ý thức xã hội Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, tâm lý con người trở thành yếu tố cơ bản và biểu thị cho sự tiến bộ xã hội Hơn nữa, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Thông qua giao tiếp, thông qua tiếp thu các giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng mà mỗi cá nhân hình thành cho mình một hệ ý thức

về quan hệ

Trang 8

họ

Phương thức giao tiếp, cách thức hoạt động trong cộng đồng bị chi phối bởi những yếu tố “vật chất” tức là các điều kiện kinh tế - xã hội, địa lý, khí hậu của từng vùng mà cộng đồng đó tồn tại [13; tr 20] Vì vậy, phương thức giao tiếp, cũng như cách thức hoạt động đã để lại những dấu ấn tâm lý chung cho mỗi cộng đồng người

Từ đó cho chúng ta thấy, tâm lý cộng đồng như một tấm gương phản ánh những điều kiện sống mà con người đang tồn tại và phát triển Việc nghiên cứu điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng cho ta thấy những yếu tố đặc trưng trong tâm lý của mọi cộng đồng Nói một cách khác, tâm lý cộng đồng được hình thành trong lịch sử như một bộ phận của ý thức xã hội và tâm lý đó bị chi phối bởi cả những yếu tố bên trong

Tâm lý cộng đồng được hình thành trong đời sống tinh thần của con người và

bị tác động của cả những yếu tố bên ngoài, song sự tác động về kinh tế là tác động mạnh nhất và quyết định nhất Con người là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa trong đó có tâm lý cộng đồng Những con người hiện thực đang hành động theo các

Trang 9

quy luật kinh tế và chịu sự chi phối bởi sự phát triển nhất định của một trình độ lực lượng sản xuất Sự giao tiếp giữa các cá nhân trong cộng đồng phải phù hợp với sự phát triển ấy, với quá trình sản sinh ra các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần để thỏa mãn các nhu cầu của mình Sản xuất ra các giá trị tinh thần chỉ có thể được nhờ các phương tiện vật chất Con người giao tiếp với nhau trước hết để trao đổi các giá trị vật chất và thông qua đó con người sáng tạo ra các giá trị tinh thần Vì vậy, phương thức sản xuất và đời sống vật chất quyết định quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần Tuy nhiên tâm lý cộng đồng với tư cách là một hệ thống mở và nhạy cảm không hoàn toàn phụ thuộc vào các phương thức sản xuất; nó có sự vận động và phát triển nội sinh, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố ngoại sinh Mặt khác, đến lượt nó, tâm lý cộng đồng lại có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lực lượng sản xuất

Thứ hai, Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác đã chứng minh và kiểm nghiệm mối quan hệ phụ thuộc của tâm lý cộng đồng và đời sống tinh thần của xã hội, thông qua việc khẳng định sự kế thừa có chọn lọc các giá trị truyền thống

Kế thừa những mặt tích cực và loại bỏ những mặt tiêu cực trong các giá trị văn hóa truyền thống là nét đặc trưng nhất trong quá trình hình thành và phát triển tâm lý cộng đồng Quá trình chuyển tiếp từ xã hội này sang xã hội khác làm thay đổi lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và cả hệ thống chính trị, nhưng những yếu tố tâm lý lại tỏ ra bền vững hơn vì nó có sự kế thừa tâm lý cộng đồng và bao hàm cả việc phê phán các yếu tố tinh thần đã lạc hậu, đồng thời khắc phục những mặt hạn chế tồn tại của nó Sự giao lưu giữa cá nhân trong cộng đồng người mang bản chất xã hội - lịch sử đã tạo ra những nếp nghĩ, những tình cảm, thói quen Chính những hiện tượng tâm lý đó khi ăn sâu vào tiềm thức con người, nó có thể biến thành một sức mạnh vật chất Vì vậy, những biểu hiện tâm lý bên cạnh sự di truyền sinh học còn có

di sản xã hội, tức là khả năng chuyển tâm lý cộng đồng vào mỗi cá nhân Di sản này bao giờ cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội

Trang 10

Thứ ba, Cùng với những quy luật trên, tâm lý cộng đồng phát triển trong sự tác động qua lại giữa các cá nhân, các lĩnh vực của đời sống xã hội và sự giao lưu giữa các nền văn hóa [14; tr 14]

Sự phát triển của tâm lý cộng đồng bị ảnh hưởng bởi sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các lĩnh vực trong đời sống xã hội [23; tr 11]

Sự giao lưu giữa các vùng lãnh thổ, các miền, các nền văn hóa cũng ảnh hưởng rất lớn đến yếu tố tâm lý Chẳng hạn, khi được tiếp xúc với một nền văn hóa mới, khác

lạ, con người có điều kiện so sánh và từ đó đánh giá lại những giá trị văn hóa của mình

để thấy được những khác biệt và tương đồng giữa văn hóa của mình và văn hóa thế giới, cũng như văn hóa của vùng này với văn hóa của vùng khác Sự tương tác giữa các lĩnh vực và những ảnh hưởng của bên ngoài không phải lúc nào cũng có thể làm thay đổi bản sắc tâm lý cộng đồng, song nó có thể giúp con người có một tấm gương để nhìn kỹ lại mình, từ đó thấy rõ mình hơn

Như vậy, tâm lý cá nhân hay tâm lý cộng đồng cũng đều là sự phản ánh hiện thực khách quan, đặc biệt là sự giao tiếp giữa con người với con người Đồng thời nó chịu sự chi phối của hàng loạt các yếu tố bên ngoài mà trước hết là đời sống lao động của mỗi người và cộng đồng

1.1.2 Tâm lý nông dân

Tâm lý là sản phẩm của sự tác động qua lại bằng tín hiệu của hệ thống hữu sinh Khi nói đến bản chất của tâm lý, cần phân biệt khái niệm triết học của nó với khái niệm khoa học cụ thể của nó Khái niệm triết học của tâm lý gắn với vấn đề cơ bản của triết học Về mặt này khái niệm tâm lý cùng loại với khái niệm nhận thức luận, “ý thức”, “tư duy”, “nhận thức”, “lý tính”, “ý niệm”, tinh thần [23; tr 518] và được chủ

Trang 11

nghĩa duy vật biện chứng coi như là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao Đó

là sự phản ánh trực tiếp hiện thực khách quan

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tâm lý xã hội phản ánh tồn tại

xã hội Tồn tại xã hội bao gồm ba yếu tố cấu thành (phương thức sản xuất, hoàn cảnh địa lý, dân số) trong đó phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản nhất Do đó, ở một khía cạnh cụ thể, có thể nói tâm lý xã hội là sự phản ánh trực tiếp những đặc điểm của nền sản xuất xã hội ở giai đoạn lịch sử nhất định Với những nước mà ở đó, nền sản xuất nhỏ giữ vai trò chủ đạo thì tất yếu sẽ hình thành tâm lý sản xuất nhỏ - một dạng tâm

lý xã hội được nảy sinh, hình thành từ sự phản ánh những đặc điểm của nền sản xuất nhỏ đó

Khi nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người, là lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề cập đến loại hình sản xuất nhỏ, đặc biệt khi các ông phân tích sản xuất Châu á và xã hội tiền tư bản Trong các tác phẩm kinh điển, khái niệm “sản xuất nhỏ” nhiều khi được thay thế bởi các khái niệm “kinh tế tự nhiên”, "kinh tế gia trưởng”, "sản xuất hàng hóa giản đơn”, “kinh tế tiểu nông”, “sản xuất hàng hóa nhỏ”

Theo Mác: “Tiền đề của phương thức sản xuất của những người sản xuất nhỏ độc lập, làm việc cho bản thân, là ruộng đất thì chia manh mún, các tư liệu sản xuất thì phân tán [15; tr 287]

Trong tác phẩm Chống Đuy Rinh, khi bàn về các nền sản xuất có trước chủ nghĩa tư bản, Ăngghen viết: “Trước khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện, tức là trong thời trung cổ, ở đâu người ta cũng chỉ thấy toàn là nền sản xuất nhỏ, dựa trên cơ

sở quyền tư hữu của những người lao động về tư liệu sản xuất của mình như: nông nghiệp của người tiểu nông tự do hay nông nô, thủ công nghiệp ở thành thị Các tư liệu lao động - như ruộng đất, nông cụ, xưởng thợ, dụng cụ của người thợ thủ công - đều là

Trang 12

Lênin cũng chú ý đến đặc trưng của sản xuất nhỏ, Người viết: “Quyền tư hữu của nông dân đối với ruộng đất mà anh ta cày cấy là cơ sở của sản xuất nhỏ, là điều kiện cho nền sản xuất nhỏ ấy được phồn thịnh và đạt tới một hình thái điển hình” [11;

Như trên ta đã khẳng định sản xuất nhỏ đồng thời cũng là cơ sở để từ đó hình thành tâm lý nông dân, tâm lý tiểu tư sản Tuy vậy, tâm lý sản xuất nhỏ và tâm lý nông dân không hoàn toàn thống nhất, mà giữa chúng chỉ có những điểm tương đồng Khi ta nói tâm lý nông dân, tâm lý tiểu tư sản là ta chủ yếu đi vào xét ở khía cạnh giai cấp,

Trang 13

nhấn mạnh mặt giai cấp của vấn đề Chẳng hạn, khi ta nói tâm lý nông dân là nói tâm

lý của một giai cấp gắn liền với những điều kiện lao động sản xuất nông nghiệp, nông thôn Sản xuất nông nghiệp ở nước ta mang tính chất của một nền sản xuất nhỏ, những tính chất sản xuất nhỏ ấy cũng thể hiện ở sản xuất tiểu thủ công nghiệp

Tâm lý sản xuất nhỏ được chú ý ở các biểu hiện đặc trưng gắn với những điều kiện lao động của nền sản xuất nhỏ nói chung

ở nước ta hiện nay, nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ Những biểu hiện đó

có thể thấy được rất rõ trong những thói quen, suy nghĩ, tình cảm, hành động, trong lối sống của các cá nhân, trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn này chúng tôi chỉ tập trung phân tích những biểu hiện đặc thù của tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long, qua việc khảo sát tại tỉnh Kiên Giang, một tỉnh có thế mạnh nông nghiệp vào loại hàng đầu của khu vực

1.2 Cơ sở hình thành tâm lý của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long

1.2.1 Tác động của những yếu tố địa lý, khí hậu

Chủ nghĩa Mác cho rằng cơ cấu tâm lý của một cộng đồng xã hội phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế, là sự phản ánh kinh tế Song không thể nhìn đơn giản, máy móc, suy diễn tâm lý một cách phiến diện, bắt nguồn một cách trực tiếp từ kinh tế Tâm lý phản ánh kinh tế qua rất nhiều khâu trung gian như điều kiện địa lý, hệ thống chính trị, đạo đức xã hội, tôn giáo, văn hóa [23; tr 26] Tâm lý sản xuất nhỏ vừa là tàn dư của quá khứ do xã hội cũ để lại, vừa là sản phẩm hiện tại của tồn tại xã hội, vì vậy muốn hiểu rõ tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long trước hết phải xem xét những điều kiện cơ bản ảnh hưởng của nó

Trang 14

Điều kiện địa lý tự nhiên đồng bằng sông Cửu Long có những nét đặc thù Do lịch sử kiến tạo về cấu trúc, đồng bằng sông Cửu Long gồm ba bộ phận chính, rìa phía đông là dãy phù sa giáp với miền cao đông Nam bộ, ở giữa là một bộ phận phù sa mới nổi lên giữa sông Tiền và sông Hậu Đất đai ở đây nhiều màu mỡ, có thể trồng trọt quanh năm Phía sau là miền đất trũng Đồng Tháp Mười với độ chua mặn trung bình

và nay đang trong quá trình được cải tạo Khí hậu đồng bằng sông Cửu Long mang tính chất cận xích đạo và thể hiện rõ ảnh hưởng của hệ thống hoàn lưu Tây Nam từ ấn

Độ Dương tới Nhiệt độ trung bình hàng tháng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long vừa cao vừa ổn định Sự phân mùa không theo nhiệt độ mà theo biến động của lượng mưa Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa bắt đầu từ tháng

5 đến tháng 11 hàng năm Tháng 9, tháng 10 là tháng lũ lụt, nước sông Cửu Long lên

từ từ, khác hẳn thủy chế sông Hồng Nhưng lũ lụt đồng bằng sông Cửu Long xảy ra chủ yếu là do nước phía trên nguồn, vì khi bão đổ bộ vào khu Bốn cũ vượt qua Trường Sơn gây mưa lớn ở Trung hạ Lào và đông Campuchia thì có thể có lũ đột xuất ập tới đồng bằng sông Cửu Long ngay trong thời kỳ khô hạn

Với một nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào nước trời, chúng ta cần biết đến sự phân bố mưa theo thời gian và cả không gian, cùng với chế độ thủy văn và ảnh hưởng của thủy triều Cơ cấu thủy văn ở đây hàng năm không đồng đều do gió mùa Tây Nam

từ ấn Độ Dương đem mưa tới miền ven biển Rạch Giá và Cà Mau là nơi nhận được mưa sớm nhất, ngay từ tháng tư Phía Gò Công Tiền Giang lại là nơi nhận được mưa chậm đến hơn một tháng sau, cuối tháng tư, có khi sang tháng sáu Lượng mưa hàng năm trung bình giao động từ 1.300mm đến 2.000mm rải ra trên một địa hình đồng bằng bằng phẳng, trên 2/3 diện tích cao chưa đến 1 m so với mặt biển Đó chính là nguồn gốc của những dòng chảy bao gồm cả một mạng lưới sông rạch thiên nhiên chằng chịt bao quanh các tỉnh trong vùng, hình thành nên một hệ thống thủy văn dày đặc, tỏa đều khắp lãnh thổ cùng với các nhánh sông Đồng Nai

Trang 15

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên khoảng hơn 4 triệu ha trồng lúa nước, có độ màu mỡ cao Đất đai phì nhiêu, tài nguyên phong phú, thiên nhiên ưu đãi, dành nhiều thuận lợi cho con người Sông sâu, nước quanh năm mấp mé bờ chảy đều đặn Độ chênh lệch giữa mực nước và mặt đất không đáng kể Đó là điều kiện lý tưởng đối với nhà nông

Với điều kiện như trên, người nông dân đồng bằng sông Cửu Long làm ruộng chủ yếu dựa vào thiên nhiên Hàng năm vào tháng tư đầu mùa mưa, họ tiến hành vỡ đất hàng loạt, sau một thời gian mưa nhiều, hai con sông Tiền và sông Hậu dâng lên từ

từ, đưa nước vào đồng ruộng, đất đang được phơi ải, gặp nước trở lên thục, thích hợp với sự phát triển của cây lúa Người nông dân trong vùng chỉ cần gieo giống xuống và

cứ thế không cần phải làm cỏ, bỏ phân, sau một thời gian, đến tháng chín là được thu hoạch lúa ngắn ngày Còn loại lúa dài ngày gọi là lúa mùa, cũng chẳng phải tốn kém nhiều, chủ yếu là theo dõi sâu bệnh, hoặc một khi thấy lúa tốt quá, phải hãm lại bằng cách cắt bớt lá hay có thể dùng trâu bừa cho lúa dập xuống Phần lớn người nông dân trong vùng canh tác dựa vào sự ưu đãi của thiên nhiên Sau khi xuống giống, người nông dân chỉ ngồi trông trời, trông đất, trông mây cho tới khi được thu hoạch Cách thức sản xuất như trên, đã dẫn đến tâm lý “làm chơi ăn thiệt” Phương thức canh tác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, nghề nông phát triển phần lớn nhờ lượng phù sa đã làm cho lúa xanh tốt và năng suất cao ở vùng này đất đai tốt nhưng phân bổ không đều, có nơi mùa mưa trồng cây được, song đến mùa khô lại phải bỏ hoang, ngược lại, cũng có nơi giống này cấy thì được thu hoạch, giống loại khác cấy lại không được thu hoạch v.v Chính vì vậy giống trở thành vấn đề quan trọng đối với nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long Ngoài giống ra phân cũng có tác dụng mạnh đến quá trình phát triển nông nghiệp ở nơi đây, song có điều người nông dân trong vùng chỉ quen sử dụng phân hóa học; bởi vì nước sông hàng năm đã đem lại phù sa cho đồng ruộng thường xuyên Nếu bón nhiều phân hữu cơ như đồng bằng sông Hồng thì có vụ không được thu hoạch

Trang 16

Bên cạnh những yếu tố kỹ thuật, nước, phân, giống, khí hậu là yếu tố cũng ảnh hưởng đến nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu Long là vùng cận xích đạo có nhiệt độ trung bình hàng năm không chênh lệch bao nhiêu Xét về mặt thuận lợi vùng này có nhiệt độ thích hợp đối với canh tác lúa Lịch sử đồng bằng sông Cửu Long ít thấy có tình trạng gieo mạ hai ba lần trong một vụ ở đây có đặc điểm khí hậu trái ngược với đồng bằng sông Hồng, ở đồng bằng sông Hồng nhiệt độ chênh lệch các mùa khá cao, mùa đông là mùa rét nhất ở đồng bằng sông Cửu Long mùa đông lại

là mùa khô và có nhiệt độ cao nhất so với các mùa trong năm Về mùa đông, đồng bằng sông Hồng tuy chịu ảnh hưởng của cái rét gió mùa đông bắc làm cho hoa màu kém phát triển, nhưng vẫn sản xuất được Trong khi đó ở đồng bằng sông Cửu Long lại chịu ảnh hưởng cái hạn khô của gió mùa đông bắc làm cho nhiều nơi không thể trồng cấy được Đặc điểm tự nhiên như trên đã tác động đến tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long Thời gian từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, là thời gian nông nhàn chỉ có ăn chơi, nhậu nhẹt và giao lưu văn hóa

1.2.2 Điều kiện kinh tế

Tâm lý nông dân là một bộ phận của ý thức xã hội Vì lẽ đó, tâm lý của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long phản ánh chính đời sống và điều kiện sinh hoạt vật chất của họ Mặt khác, đời sống và điều kiện sinh hoạt vật chất của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của cơ cấu xã hội, cho nên tâm lý người nông dân nơi đây cũng dần dần biến đổi theo

Nhìn một cách khái quát, nền kinh tế đồng bằng sông Cửu Long phát triển qua những thời kỳ sau đây: nền kinh tế thời kỳ mới khai phá người nông dân phát triển kỹ thuật lúa nước cổ truyền dưới chế độ phong kiến Thời kỳ thứ hai dưới chế độ thực dân

cũ, Pháp biến đồng bằng sông Cửu Long thành vùng nông nghiệp độc canh, lạc hậu, thiết lập chế độ địa chủ để vơ vét lúa gạo xuất khẩu kiếm lời Thời kỳ thứ ba là thời kỳ

Mỹ Ngụy Thời kỳ thứ tư là nền kinh tế thị trường hiện nay, cách phân kỳ kinh tế nêu

Trang 17

trên chỉ mang tính chất ước lệ Nhưng mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế đã để lại những dấu ấn khác nhau trong tâm lý người nông dân vùng này Dưới đây là những đặc điểm kinh tế ảnh hưởng đến tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long qua các thời kỳ

Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII đồng bằng sông Cửu Long mới được khai phá Những người nông dân đàng ngoài tiến vào khai hoang vùng đất mới này, phần đông là những người nghèo khổ, bị thiếu thốn về vốn liếng, công cụ, trâu, bò cho nên đất đai mà họ khai thác lúc đầu chỉ mới được một diện tích nhỏ bé Điều nó đã đưa tới

sự hình thành nền kinh tế dựa trên chế độ tư hữu nhỏ là phổ biến Phương thức sản xuất như thế đã không cho phép người nông dân tập trung tư liệu sản xuất và trong sản xuất cũng không cho phép họ có sự hợp tác trên quy mô lớn, không có điều kiện cho con người phát huy sức mạnh của mình chống lại sự thống trị của thiên nhiên Người nông dân chỉ quen làm ăn trên miếng đất nhỏ bé của mình với công cụ thô sơ cầm tay, với kỹ thuật thủ công lạc hậu đã có từ ngàn xưa để lại theo phương thức canh tác cổ truyền Cơ sở ruộng đất ở thời kỳ này như Mác nói: “Là phòng thí nghiệm tự nhiên của anh ta” [14, tr 101], họ sản xuất bằng sự nỗ lực của cơ bắp là chủ yếu thì đương nhiên kiến thức khoa học kém phát triển Trong điều kiện như vậy, nhận thức của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là chủ nghĩa kinh nghiệm Chủ nghĩa kinh nghiệm thể hiện ở chỗ, phương pháp suy nghĩ dừng lại ở cái cụ thể, ở cái đơn nhất, ở mức độ cảm tính, trực quan, tư duy khái quát lý luận kém phát triển Chủ nghĩa kinh nghiệm khiến cho người nông dân có tư tưởng ỷ lại thiên nhiên, thiếu sáng kiến, ngại đổi mới Họ thường lấy kinh nghiệm của cá nhân, của người xưa, của cha ông làm chân lý vĩnh cửu

Đi vào vùng đất mới, thoạt đầu người nông dân trút bỏ được ách áp bức, bóc lột của bọn phong kiến, địa chủ Nhưng những khó khăn mới đã xuất hiện Trước mặt

họ, một thiên nhiên đầy ưu đãi nhưng cũng hết sức khắc nghiệt Những người đầu tiên

Trang 18

mà cả trong lao động, sản xuất và chiến đấu chống kẻ thù chung

Tinh thần đó phát triển song song với sự hình thành và phát triển của cấu trúc

xã, ấp và kết cấu kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long

Làng là nơi cư trú của người Việt ở đồng bằng sông Hồng, là đơn vị xã hội tương đối khép kín, sau lũy tre xanh, có ngôi đình làng, cây đa, giếng nước với quan hệ

họ hàng, làng xóm chặt chẽ dựa trên chế độ công điền, công thổ của làng xã

Đơn vị cư trú tương đương với làng ở đồng bằng sông Hồng là ấp ở đồng bằng sông Cửu Long Trên vùng đất mới, dân tứ phương di chuyển đến tụ họp ven các sông, lạch, kênh chằng chịt của lưu vực sông Cửu Long, tạo nên những ấp, xã mới, không nằm giữa những lũy tre xanh bao bọc mà được xây dựng theo bờ kênh rạch, đằng trước ghe thuyền qua lại, xung quanh là vườn cây ăn trái, đằng sau là ruộng vườn

Cùng với cấu trúc xã, ấp, chế độ sở hữu ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ đầu cũng không giống với đồng bằng sông Hồng, ở đồng bằng sông Cửu Long,

tỷ lệ ruộng đất công rất thấp (khoảng 3%), có nơi hầu như không đáng kể Chế độ tư hữu về ruộng đất sớm được xác lập; quan hệ họ hàng, làng xóm không bị ràng buộc chặt chẽ như ở đồng bằng sông Hồng

Trang 19

Chính sách cơ bản của thực dân Pháp đối với nông thôn Nam Bộ nói chung và đối với nông dân đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là tập trung cao độ ruộng đất vào tay địa chủ (bao gồm địa chủ người Việt và địa chủ người Pháp) và biến nông thôn Nam Bộ thành nơi sản xuất hàng hóa, biến lúa gạo Nam Bộ thành món hàng xuất cảng chính ở Đông Dương

Dưới tác động của chính sách đó, diện tích canh tác và lúa gạo hàng hóa ở đồng bằng sông Cửu Long tăng lên rất nhanh Nhưng diện tích canh tác càng tăng lên thì mức độ tập trung ruộng đất càng lớn Quá trình tập trung ruộng đất của thực dân Pháp gắn liền với quá trình bần cùng hóa, phá sản hóa người nông dân lao động Trong khi một số ít đại địa chủ, chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong cư dân nông thôn, nắm trong tay hầu hết ruộng đất canh tác thì đại bộ phận nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng cày

Họ phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, bị địa chủ bóc lột địa tô một cách nặng nề và hầu như lệ thuộc vào chúng Như vậy, từ khi Pháp xâm lược nền kinh tế của đồng bằng sông Cửu Long đã có bước phát triển từ tình trạng sản xuất nhỏ manh mún, tự cung, tự túc ở thời kỳ đầu khai phá đã chuyển dần thành nền sản xuất hàng hóa (sản phẩm chủ yếu là lúa gạo) Như Mác đã nói: “Phương thức sản xuất của họ như thế nào, thì phương thức tinh thần của họ như thế ấy” Từ chỗ tâm lý của người nông dân nơi đây sản xuất ra sản phẩm không phải mục đích để bán mà chủ yếu để ăn, có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít Điều kiện kinh tế ở thời kỳ này tác động mạnh đến tâm lý người nông dân, làm nảy sinh tư tưởng, dám nghĩ, dám làm, làm có tính toán hiệu quả Đến giai

Trang 20

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đặc biệt từ khi chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa Điều kiện kinh tế trong vùng phát triển nhanh chóng đã tác động đến tâm lý nông dân, làm nảy sinh tư tưởng, dám nghĩ dám làm, làm ăn lớn và có tính toán đến hiệu quả kinh tế Nếu trước đây các hộ nông dân có tâm lý làm nông nghiệp sao cho có

số lúa đủ ăn hoặc dưa thừa chút ít thì lúc này tâm lý sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp đã được nảy sinh không phải chỉ ở tầng lớp trung nông mà còn ở mọi người nông dân, khi có điều kiện cho phép Chính vì vậy mà hiện nay có hộ nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long một vụ làm tới 200 - 300 công ruộng và thu hoạch tới hàng trăm tấn lúa trong năm

1.2.3 Các yếu tố chính trị - xã hội

Nông dân đồng bằng sông Cửu Long cũng đã trải qua các thể chế chính trị, chế

độ phong kiến; chế độ thực dân cũ và mới và hiện nay là một xã hội phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mỗi một thể chế chính trị đã tác động vào tâm lý nông dân theo những cách rất khác nhau Chế độ phong kiến tồn tại ở đồng bằng sông Cửu Long không dài như ở đồng bằng sông Hồng Do vậy dấu ấn phong kiến trong tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long không rõ nét Chẳng hạn, theo tư tưởng phong kiến quy định một tôn ty trật tự rất nghiêm khắc; quan niệm về đẳng cấp trong

Trang 21

xã hội cũng rất chặt chẽ, thì ở đồng bằng sông Cửu Long những quy định đó chỉ có ý nghĩa tương đối Nếu người trọng dụng nhất theo quan niệm phong kiến là người có địa vị trong xã hội, thì quan niệm của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long trong lĩnh vực tình cảm lại có quan niệm “trọng nghĩa khinh tài” Mặt khác, quan niệm phong kiến quy định quan hệ cư xử chặt chẽ trong gia đình, thì ở người nông dân đồng bằng sông Cửu Long tâm lý này lại được mở rộng ra ngoài xã hội, ở đâu cũng thấy ba, thấy má, anh hai, chị hai, chú ba, anh ba, chị ba

So với hệ thống chính trị phong kiến thì hệ thống chính trị của đế quốc có ảnh hưởng đối với người nông dân đồng bằng sông Cửu Long nặng hơn Thời kỳ lịch sử từ năm 1945 đến 1975 chỉ dài 30 năm nhưng đặc biệt quan trọng đối với tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long Đây là thời gian cách mạng kháng chiến dồn dập

và sôi động nhất, nhiều khi một ngày hơn nhiều năm, hơn nhiều chục năm phát triển bình thường Các biến động chính trị đều lớn và sâu, bao gồm những biến đổi to lớn ở nông thôn Nam Bộ, ảnh hưởng đến ý thức tư tưởng của các tầng lớp dân cày ảnh hưởng đó tích cực có, song tiêu cực có và nhiều khi đậm nét

Thời gian này diễn ra cuộc đấu tranh cực kỳ quyết liệt trên các mặt trận tư tưởng, kinh tế chính trị, văn hóa để giành dân, chủ yếu đấu tranh để giành dân cày, giữa một bên là bọn đế quốc và ngụy quân, ngụy quyền, với một bên là Đảng cộng sản

và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Ta thì xây dựng củng cố liên minh công nông, địch thì phá hoại sự liên minh đó và lôi kéo giai cấp công nhân về phía giai cấp

tư sản thỏa hiệp, nhằm mở rộng cơ sở xã hội cho ngụy quyền

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta nói chung và đồng bào Nam Bộ nói riêng càng gần thắng lợi càng diễn ra hết sức ác liệt Tình hình đó đã tác động đến tâm lý người dân chẳng những ở thành phố, đô thị mà ngay cả ở vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long Tư tưởng ăn chơi, sống gấp, trụy lạc, buồn bã, tuyệt

Trang 22

1.2.4 Những yếu tố văn hóa tư tưởng

Gắn liền với sự lạc hậu về kinh tế là tình trạng lạc hậu về văn hóa Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý nông dân Trong chế độ cũ, giai cấp bóc lột đã nô dịch người nông dân bằng một nền văn hóa phản động Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long ít được học hành, lại bị tiêm nhiễm những ảnh hưởng xấu xa nhất của hệ tư tưởng của giai cấp bóc lột Do bị hạn chế bởi một trình độ văn hóa, khoa học thấp kém, người nông dân thường dễ chấp nhận những hình thức mê tín dị đoan, dễ bị trói buộc vào lễ giáo phong kiến

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng văn hóa lúa nước, văn hóa sông rạch, sông biển Dĩ nhiên nghề trông lúa nước ở đây được kết hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau như các loại rau củ, bầu bí, cây ăn trái và kết hợp với nghề phụ chăn nuôi, đánh

cá, thủ công nghiệp gia đình v.v

Tuy nhiên, nói đến bản sắc của nền văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, trước hết cần phải nói đến một nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, trong điều kiện cụ thể của vùng nhiệt đới Đặc trưng đó in dấu sâu sắc trên toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân nơi đây, ảnh hưởng rõ nét đến nếp sống, phong tục tập quán và nhiều nghi lễ khác của họ Đất và nước là hai yếu tố cơ bản nhất của điều kiện thiên nhiên gắn liền với nghề lúa nước và cũng vì thế đất, nước, trở thành gần gũi với người

Trang 23

Thấy dừa thì nhớ Bến Tre,

Thấy bông lúa đẹp thương người Hậu Giang

Văn hóa dân gian Nam Bộ đã thể hiện tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long và làm cái nền vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của các loại hình văn hóa dân tộc qua các thời kỳ biến động của đất nước

Dưới thời phong kiến hầu hết người nông dân đồng bằng sông Cửu Long không biết chữ, có chăng chỉ được số ít người con nhà giàu biết chữ Hán, chữ Nôm

Đến thời thực dân Pháp xâm lược, suốt ba mươi năm kể từ khi Pháp chiếm được đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Hà Tiên, Rạch Giá nói riêng cho đến hết thế kỷ XIX, thực dân Pháp chỉ mở được vài ba trường sơ học với số học sinh trên dưới 100 người Theo địa phương chí tỉnh Hà Tiên do hội nghiên cứu Đông phương phát hành năm 1901, tỉnh Hà Tiên có ba trường tổng, trường Bình Trị (Hòn Chông) có 25 học viên và trường Phú Quốc tại Dương Đông, học viên nhiều hơn một ít khoảng trên 30 học viên; Trường tỉnh lỵ Hà Tiên cũng khoảng 30 học viên

Trang 24

Sau cách mạng tháng 8/1945, dưới sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, Hồ Chí Minh chỉ ra nạn dốt là một trong những phương pháp thâm độc mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta Người cũng khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [20, tr 20] Người đã chỉ đạo chiến dịch chống nạn mù chữ trong cả nước

Thực hiện lời dạy của Bác, ở các vùng thị xã, thị trấn của đồng bằng sông Cửu Long đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, phong trào bình dân học vụ phát triển Trong khi

đó ở các vùng nông thôn, nông dân phần lớn là tá điền, là tay “rìu” nghèo khổ, cơm không đủ no, áo không đủ ấm, nên ít quan tâm đến việc cho con em đi học chữ “lấy táo

Trang 25

đong lúa, không ai lấy táo đong chữ” là quan niệm phổ biến của người nông dân nơi đây Nhiều gia đình nông dân mang nặng tư tưởng phong kiến, không cho con gái học chữ “sợ viết thư cho trai” [29, tr 95]

Dưới thời Mỹ Diệm, với ý đồ đưa thanh niên vào nhà trường để giáo dục theo tinh thần của chế độ “cộng hòa nhân vị” giả hiệu, hệ thống giáo dục có phát triển nhanh so với trước Nhưng điều đó không phải nhằm mục đích nâng cao sự hiểu biết của người nông dân , mà chủ yếu phục vụ âm mưu thống trị lâu dài của đế quốc Mỹ Nội dung giáo dục, kết hợp văn hóa với triết học phản động, nhằm mục đích chống cộng sản, chống Hiệp định Giơnevơ

Song song với hệ thống giáo dục của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và mới, trong suốt thời gian kháng chiến, hệ thống giáo dục cách mạng cũng được phát triển mạnh

mẽ ở đồng bằng sông Cửu Long Phần lớn các trường dân lập ở nông thôn và vùng giải phóng được hình thành do sự giúp đỡ quyên góp của nông dân Như vậy, trong thời kỳ này có hai hệ thống giáo dục đấu tranh lẫn nhau ở nông thôn thì hệ thống giáo dục cách mạng chiếm ưu thế ở đồng bằng sông Cửu Long dưới thời Mỹ-Ngụy nền giáo dục có phát triển hơn trước, nhưng nhìn chung ở trình độ thấp, phần lớn học tập trung chủ yếu ở thị trấn, thị xã nhằm phục vụ con em nhà giàu

Như vậy, nông dân đồng bằng sông Cửu Long, sống dưới thời Mỹ ngụy, bị áp bức về kinh tế, kìm hãm về văn hóa nghệ thuật, bế tắc về đời sống tinh thần Văn nghệ lành mạnh mang sắc thái dân tộc phản ánh hiện thực của xã hội, của cuộc sống thì bị bóp nghẹt, cấm đoán Văn hóa nghệ thuật rác rưởi lai căng lại được phát triển Tuồng chèo, thơ ca, mang giá trị truyền thống dân tộc bị lãng quên, hoặc muốn tồn tại phải phản ánh ca tụng chế độ Mỹ ngụy Tình trạng văn hóa như vậy đã dẫn đến đời sống tinh thần hết sức tiêu cực, làm nảy sinh tâm lý mê tín dị đoan phát triển không phải ở người già mà cả trong thanh niên, nạn rượu chè nhậu nhẹt lu bù không phải chỉ ở thành thị mà cả ở vùng nông thôn

Trang 26

Trong quá trình khai phá vùng đất mới nền văn hóa của người nông dân ở đây vẫn mang cốt cách Việt Nam qua những biểu hiện phong phú, độc đáo của nó Từ việc khai hoang, trồng cấy rất sáng tạo của nghề trồng lúa cổ truyền, tới việc lập ấp với cơ cấu, thiết chế ít nhiều thay đổi mà vẫn giữ được hình thức làng xã là cơ sở của nước, vẫn gắn làng với nước Mặc dù nảy sinh những điệu dân ca mới, nghệ thuật cải lương mới rất Nam Bộ, nhưng vẫn là ngôn ngữ Việt Nam, phản ánh tính cách, đặc sắc Việt Nam Đó là sự chung sống hòa hợp của nhiều dân tộc thiểu số với người Việt Có rất nhiều thứ tôn giáo khác nhau trong một vùng mà vẫn giữ được truyền thống khoan dung vốn có của dân tộc

Tóm lại, con người ta sản xuất như thế nào thì tình cảm của họ như thế ấy

Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long về tính chất và đặc điểm có những nét giống nông dân cả nước, song cũng có những biểu hiện đặc thù về tâm lý do các yếu tố khác nhau quy định

1.2.5 Những yếu tố tôn giáo

Xét về mặt lịch sử tôn giáo ở đồng bằng sông Cửu Long hình thành mới khoảng bảy tám thập kỷ Còn các tôn giáo thịnh hành ở nơi đây, từ buổi đầu khai phá vùng đất mới chủ yếu là tôn giáo truyền thống, đạo phật, lão giáo, ki tô giáo cùng với một vài tôn giáo khác Vào vùng đất mới dần dần cách thức sản xuất của người nông dân nơi đây có sự thay đổi Sự thay đổi của cách thức sản xuất làm cho các tôn giáo truyền thống ngày càng lu mờ Trước tình hình đó người nông dân muốn tìm một tôn giáo mới, khi thấy các tôn giáo cũ không còn thỏa mãn nhu cầu tâm linh tăng tục của bản thân

Bất kỳ một tôn giáo nào ra đời cũng do một bối cảnh lịch sử nhất định thai nghén và quy định Bất kỳ hiện tượng tôn giáo nào cũng nhằm đáp ứng một nhu cầu

Trang 27

Nếu chỉ xét riêng góc độ tôn giáo, đạo Cao Đài, Hòa Hảo đã tìm ra một lực thu hút, một cung cách thích hợp với tâm linh tôn giáo của những người nông dân tứ xứ đồng bằng sông Cửu Long, mà giáo sư Trần Văn Giàu và nhiều tác giả khác đã phân tích, “cùng với đó là những phong trào cứu thế nhuộm màu sắc yêu nước, một truyền thống yêu nước mặn mà của những người dân vùng đất mới" [8, tr 10] Những phong trào đó bắt nguồn từ giữa thế kỷ XIX với những tiên tri, những lời sấm truyền, những buổi tập đàn mang tính chất dân dã, nay lại thấm nhuần tư tưởng kiểu Phong Thần, Tây

Trang 28

Du, Thủy Hử, Đông Chu, Tam Quốc Người nông dân còn bị lôi cuốn vào những tổ chức Minh đạo, hay các đạo lớn nhỏ bồng bềnh trên sông nước, trong lúc đang chán ngán bởi sự suy thoái của đạo Phật, đạo Khổng và cũng không chịu chấp nhận đạo công giáo được thế lực thực dân nâng đỡ Đạo Cao Đài, Hòa Hảo một mặt đã phần nào tạo ra tình cảm tôn giáo mới song mặt khác lại đã dung tục hóa các giáo lý tôn giáo, nâng tôn giáo lên một bậc, thực ra chỉ nâng lên về mặt tổ chức

Các đạo giáo ở đồng bằng sông Cửu Long, thường không có giáo lý riêng mà chủ yếu vay mượn ở các tôn giáo truyền thống rồi cải biến cho hấp dẫn để thu hút tín

đồ Do vậy, tôn giáo nơi đây có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý tình cảm của người nông dân ảnh hưởng tích cực có như tôn giáo khuyên nhủ con người, điều chỉnh hành

vi của họ theo điều thiện, điều nhân, điều nghĩa, giáo dục con người hành thiện và luôn nhớ về cội nguồn Giáo dục con người làm điều nhân, điều nghĩa, yêu thương lẫn nhau

Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, biểu hiện tiêu cực của tín ngưỡng tôn giáo cũng thể hiện khá rõ nét ở người nông dân đồng bằng sông Cửu Long

Qua khảo sát của Viện nghiên cứu Tôn giáo của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia 1995 ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về đạo Cao Đài cho thấy

Bảng 2 [26; tr 15]

Trang 29

vi tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với những người theo đạo ở đồng bằng sông Cửu Long

Việc tin vào số mệnh cũng là điều cần lưu ý Đạo Cao Đài tin rằng đời sống con người, thậm chí cả những hành vi hàng ngày đều do Đấng Chí Tôn định đoạt, vì Thiên Nhãn (biểu tượng cho Đức Chí Tôn) thấu rõ mọi việc ở trần gian Qua khảo sát

tỷ lệ chiếm 68% tin vào số mệnh, 13% ngờ vực, 19% không tin Theo đạo Cao Đài,

Trang 30

Như vậy có thể nói, yếu tố tín ngưỡng tôn giáo đã ảnh hưởng đối với người nông dân đồng bằng sông Cửu Long qua các thời kỳ biến động của lịch sử Buổi đầu khai phá vùng đất mới từ thế kỷ XVII đến khi Pháp xâm lược tôn giáo truyền thống đã ảnh hưởng đến tâm lý tình cảm của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long Song

có thể nói sự ảnh hưởng này có phần kém sâu sắc và cũng không đậm nét Bởi vì, con người đồng bằng sông Cửu Long nói chung và người nông dân ở đây nói riêng đều là những người có tính cách tự do, không muốn những giáo lý tôn giáo truyền thống ràng buộc mình Chẳng hạn họ không chấp nhận giáo lý của đạo công giáo khi đôi trai gái cưới nhau phải đi Nhà thờ cho Cha làm phép Hay tối thứ bảy, ngày chủ nhật là ngày sinh ra Chúa phải đến Nhà thờ quỳ lạy suốt đêm Do vậy, dần dần các đạo truyền thống trở nên mờ nhạt không còn sức lôi cuốn tín đồ tham gia Để bù lại chỗ hổng trong đời sống tâm linh, ở thời kỳ này ngoài các đạo truyền thống như Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo, người nông dân đồng bằng sông Cửu Long đã sáng tạo ra những tôn giáo mới như Đạo Lành, Đạo Chuối, Đạo Nằm, Đạo Ngồi Tất cả những đạo này ra đời không

có mảnh đất tồn tại, mảnh đất chính là những giáo lý của đạo thu hút lòng người, không có điều đó không thể tồn tại Vì vậy, mà những đạo trên lúc mọc, lúc tắt và đến nay đã lặn tắt

Cao Đài và Hòa Hảo ra đời tuy muộn (Cao Đài ra đời ngày 07/10/1926; còn đạo Hòa Hảo ra đời ngày 18/5/1939 năm Kỷ Mão), nhưng sự phát triển của nó rất

Trang 31

nhanh và quy mô ngày càng lớn Hiện nay riêng đạo Cao Đài có khoảng hơn 2.000.000 tín đồ [35; tr 13], tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Sở dĩ đạo Cao Đài và Hòa Hảo đứng vững và tồn tại đến ngày nay là do nó có giáo lý thu hút được lòng người, nhất là đối với người nông dân Nam Bộ

Cả đạo Cao Đài và Hòa Hảo đều có mặt tích cực, tiến bộ Thuyết pháp của đạo Hòa Hảo không phân biệt kẻ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn Đạo khuyên tín đồ không nên khuất phục kẻ cường quyền nào và bỏ bạc một người khốn khó nào

Về luân lý đạo Cao Đài lại nhắc nhở mọi người phải quan tâm đến bổn phận đối với mình, với gia đình mình, với xã hội và sau cùng là đối với nhân loại

Về triết lý, đạo Cao Đài khuyên con người từ bỏ danh vọng, tiền tài và sự xa hoa, nói tóm lại đạo khuyên con người phải tự vượt qua những sự ham muốn vật chất

để sự bình thản cho tâm hồn

Những giáo pháp, luân lý và triết lý của đạo Cao Đài và Hòa Hảo đã ảnh hưởng rất lớn đối với người nông dân đồng bằng sông Cửu Long qua các thời kỳ Đặc biệt là giáo lý của đạo Hòa Hảo khuyên con người phải biết hy sinh bảo vệ tự do cho

xứ sở Huỳnh giáo chủ Hòa Hảo nói:

“Ta cảm thấy có bổn phận bảo vệ đất nước khi bị kẻ xâm lăng dầy đạp Ráng nâng đỡ xứ sở quê hương lúc nghiêng nghèo và làm cho trở nên cường thịnh Ráng cứu nước nhà khi kẻ ngoài thống trị Bờ cõi có lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu ta mới ấm

Hãy tùy tài, tùy sức, nỗ lực hy sinh cho xứ sở Nếu như không đủ tài đức đảm đương việc lớn, chưa gặp thời cơ giúp đỡ quê hương, ta phải ráng tránh đừng làm việc

Trang 32

Nghiên cứu tôn giáo đồng bằng sông Cửu Long ta thấy chính người nông dân nơi đây đã thực sự đem lại sức sống cho đạo Cao Đài và Hòa Hảo Khác với các tôn giáo khác đã hình thành trước khi du nhập vào Việt Nam, quá trình hình thành của đạo Cao Đài, Hòa Hảo cũng là quá trình người nông dân đồng bằng sông Cửu Long nhập đạo Bởi vậy chính họ có ảnh hưởng lớn, nếu không nói là quyết định nội dung sinh hoạt đạo Do nhu cầu của chính mình được sống trong cộng đồng, họ xây dựng nó thành một cộng đồng Với truyền thống tôn giáo của mình, họ đem theo nó vào đạo làm nên cốt lõi sinh hoạt đạo Những nhu cầu ấy chắc chắn còn tồn tại lâu dài Chừng nào mà đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo còn làm được cái chức năng đáp ứng nhu cầu của

họ thì còn tồn tại Xuất phát từ đấy mà chúng ta phải đối xử với Cao Đài, Hòa Hảo như đối xử với một cộng đồng nông dân Nam Bộ, đáp ứng thỏa đáng những nhu cầu chính đáng nói trên của họ, đồng thời cần thiết phải có những quy định riêng, thích hợp với đạo, đặc biệt về phương diện tổ chức và chức năng hoạt động để phòng ngừa sự lợi

Trang 33

dụng tôn giáo vào các hoạt động chính trị như trước đây và ngày nay còn có thể diễn

ra

Trang 34

Chương 2

Một số biểu hiện tâm lý người nông dân

đồng bằng sông Cửu Long

Đơn nhất, đặc thù, phổ biến là những phạm trù triết học thể hiện những mối liên hệ khách quan của thế giới, cũng như trình độ nhận thức những mối quan hệ ấy Những phạm trù này được hình thành trong tiến trình phát triển của nhận thức - thực tiễn Những sự vật và hiện tượng mang tính đặc thù, nhờ đó người ta phân biệt được cái này với cái kia, loại sự vật này với loại sự vật khác Cái đơn nhất là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định và không được lặp lại ở bất cứ một kết cấu vật chất khác nào Cái đặc thù là những nét đặc tính chung vốn chỉ tồn tại ở một số sự vật và hiện tượng, chứ không phải

ở mọi sự vật Đơn nhất, đặc thù, phổ biến nằm trong một mối liên hệ không tách rời nhau, chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, cái đơn nhất, cái đặc thù và cái phổ biến là sự phản ánh tính đa dạng của thế giới khách quan Cái đơn nhất, cái đặc thù, cái phổ biến nằm trong mối liên hệ của chúng Cái đơn nhất không thể tồn tại nếu không có cái phổ biến và cái đặc thù và trong điều kiện nào đó cái đơn nhất và cái đặc thù có thể chuyển thành cái phổ biến Mặt khác xét trong mối quan hệ này, cái này là phổ biến nhưng xét trong mối quan hệ khác nó lại trở thành cái đặc thù

Như đã phân tích ở chương 1, tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long bao gồm toàn bộ tình cảm, ước muốn, thói quen, tập quán, được hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phản ánh đời sống đó

Trang 35

Đồng bằng sông Cửu Long như đã nêu trên, đây là vùng đất mới được khai phá từ thế kỷ XVII, phần lớn nông dân người Việt ở đây đều có nguồn gốc từ miền Bắc, miền Trung vào khai thiên, lập địa Nhìn chung lúc mới tới khai hoang, phong tục tập quán, thói quen, đều giữ như ở quê hương bản quán Dần dần, do cách sản xuất thay đổi dẫn đến tâm lý, tình cảm có sự thay đổi cho phù hợp với điều kiện sinh hoạt mới

Nghiên cứu tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long ta thấy vừa có biểu hiện tâm lý phổ biến, vừa có biểu hiện tâm lý đặc thù Theo chúng tôi, tính phổ biến của tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long bắt nguồn từ nền tảng của sản xuất nhỏ Nền sản xuất dựa trên sở hữu nhỏ của người nông dân Sản xuất nhỏ là

cơ sở hình thành tâm lý nông dân nói chung, trong đó có tâm lý người nông dân đồng bằng sông Cửu Long

Theo quan niệm của Mác, Ăng ghen, Lênin về sản xuất nhỏ như đã nêu ở chương 1, chúng ta có thể khái quát nên một số đặc điểm chung của sản xuất nhỏ dưới đây:

1- Mục đích của nền sản xuất nhỏ không phải là để tạo ra những giá trị mà là

để duy trì sự tồn tại của người sở hữu cá thể và gia đình họ

2- Sản xuất nhỏ là nền sản xuất thủ công, kỹ thuật thô sơ, tiến triển chậm chạp

3- Sự phân công lao động hình thành một cách tự phát, được áp dụng theo truyền thống, có tính chất tự nhiên

4- Lao động cá thể chiếm ưu thế, sự phân công hợp tác chưa phải là tất yếu

Trang 36

5- Sản xuất tiến hành theo những phương pháp kinh nghiệm, mang tính chất phân tán, khép kín, biệt lập

6- Quan hệ xã hội mang tính chất tự nhiên

Những điểm trên là những đặc điểm khái quát của nền sản xuất nhỏ nói chung Trong điều kiện của nền sản xuất nhỏ đó, con người muốn tồn tại phải “một nắng, hai sương” thực sự vật lộn với thiên nhiên để tạo ra sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của mình Quá trình đó một mặt đã làm nảy sinh những tình cảm, tâm lý truyền thống tốt đẹp của người nông dân (như gắn bó với quê hương đất nước, tình yêu thương đất nước, yêu thương con người, yêu lao động ) những mặt khác, từ nền sản xuất nhỏ đã làm nảy sinh những thói quen nếp nghĩ, tính cách tiêu cực làm cản trở quá trình xây dựng xã hội mới

Như vậy, tính phổ biến của nông dân do sản xuất nhỏ quy định; còn tính đặc thù phụ thuộc vào điều kiện địa lý, phương thức canh tác của họ

ở Việt Nam, mỗi vùng đều có tâm lý chung nhưng lại có một số đặc điểm đặc thù

Đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất mới gồm 12 tỉnh với trên dưới 2 triệu hộ nông dân; do những yếu tố tác động như đã phân tích ở trên, nên tâm lý người nông dân có nhiều điểm đặc thù Biểu hiện tâm lý đặc thù của người nông dân nơi đây chủ yếu do điều kiện địa lý và phương thức canh tác trong quá trình sản xuất quy định

2.1 Tinh thần yêu nước

Nông dân đồng bằng sông Cửu Long, cũng như nông dân ở các vùng trong nước; đều có tinh thần yêu nước nồng nàn Tư tưởng yêu nước là dòng tư tưởng và tình

Trang 37

cảm bao trùm, chi phối toàn bộ đời sống, tâm lý của người nông dân Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng Vì vậy, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải dựa vào nông dân Khi còn sống Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Nông dân là một lực lượng to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân; Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật

sự, ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân" {21, tr 4]

Lòng yêu nước là yêu quê hương giàu đẹp, yêu nền văn hóa độc đáo, yêu tiếng

mẹ đẻ, yêu những phong vị riêng trong cách ăn ở, vui chơi Tinh thần yêu nước của mỗi người nông dân đồng bằng sông Cửu Long vừa có biểu hiện chung vừa có những biểu hiện đặc thù Đó là lòng yêu nước mãnh liệt và được phát huy thường xuyên, liên tục từ buổi đầu khai phá tới nay Đồng chí Lê Duẩn nói: “Lòng yêu nước mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất và bền bỉ nhất là lòng yêu nước của nông dân” [6; tr 30] Người nông dân ở đây sớm có truyền thống yêu nước là vì họ sống ở vùng đất thiên nhiên vừa

ưu đãi lại vừa khắc nghiệt Mặt khác họ phải sống cuộc đời tối tăm trước sự áp bức bóc lột của phong kiến, thực dân, đế quốc Lòng yêu nước đã giúp họ nổi dậy chiến đấu chống quân thù, chống sự áp bức về chính trị, chống lại những trật tự lễ giáo phong kiến, bóc lột, hạ thấp con người Yêu nước tha thiết, họ không chịu khuất phục trước

kẻ thù, quyết bám quê hương đánh giặc, yêu nước đã giúp họ có tinh thần quyết tâm cao, sẵn sàng hiến dâng tất cả, kể cả tài sản tính mạng cho Tổ quốc khi cần thiết Họ có thể từ bỏ gia sản, tự đốt phá nhà cửa của mình để khỏi lọt vào tay giặc, yêu nước là động lực thúc đẩy giúp họ chịu đựng gian khổ trong sản xuất và đấu tranh chống quân thù

Lòng yêu nước của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long thể hiện ở tư tưởng “thà chết đứng chứ không chịu sống quỳ, không chịu làm nô lệ”, họ chiến đấu quên mình cho quê hương đất nước Những tinh thần ấy được ghi lại trong sử sách, trong văn học, lưu truyền từ trước tới nay Từ ấp xã ở đâu cũng có di tích nhắc lại những cuộc chiến đấu đầy oanh liệt để bảo vệ quê hương xứ sở của mình

Trang 38

Quả thật yêu nước là tình cảm và tư tưởng tự nhiên phổ biến của người nông dân Việt Nam nói chung Chim luyến tổ, cá quen đồng, ai mà không yêu quê hương, yêu quê cha đất Tổ Tuy vậy, tình cảm yêu nước của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long được biểu hiện với tính cách riêng của họ Đó là tấm lòng chất phác, cương trực giản dị Văn thơ yêu nước thời chống Pháp xâm lược ở vùng này đã nêu rõ đức tính đó:

“Giặc Sài Gòn đánh xuống

Binh ngoài Huế không vô

Anh biểu em đừng đợi đừng chờ

Để anh đi lấy đầu thằng mọi trắng mà tế cờ nghĩa quân”

[33; tr 45]

Sau khi Phan Thanh Giản và Lâm Huy Hiệp được vua Tự Đức hạ lệnh cho ký hiệp ước (1862) dâng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho địch, căm thù "bọn quỷ trắng” chiếm đất đai, phá làng mạc, sát hại đồng bào, không hẹn nhau mà ở nơi nơi, các sĩ phu yêu nước đoàn kết với nông dân nổi dậy chống quân cướp nước, trừng trị bọn tay sai của chúng Tiêu biểu nhất là phong trào do Trương Công Định đứng đầu Tiếp đó hàng loạt phong trào chống Pháp cùng một lúc nổ ra ở các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Đó là phong trào của Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, phong trào của Phan Văn Đạt ở Long An; phong trào do Trần Xuân Hòa ở Mỹ Tho, phong trào do Đốc Đinh Kiều ở Đồng Tháp, phong trào do Trường Quyền ở Tây Ninh

Trang 39

Chủ nghĩa yêu nước phát triển cao làm xuất hiện chủ nghĩa anh hùng của người nông dân vùng đất mới Họ là những người có hành động dũng cảm không sợ khó khăn gian khổ, không sợ chết, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, nghĩa là hoàn thành nhiệm vụ đem lại lợi ích cho nhân dân, bảo vệ được chính nghĩa

Trước một đế quốc có vũ khí hiện đại, mặc cho triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, nhưng dũng khí của nghĩa quân do Trương Công Định lãnh đạo vẫn anh dũng xông lên giết giặc, bất chấp lệnh bãi binh của triều đình Thủ khoa Huân người con anh hùng của đất Mỹ Tho, Tiền Giang đã chiến đấu vô cùng anh dũng, không may bị rơi vào tay giặc Trong giờ phút mỏng manh, gươm kề tận cổ, súng kề tận tai, trên mui thuyền ông vẫn ung dung làm thơ, tỏ rõ ý chí và tâm trạng với đồng bào qua cái gông

mà giặc Pháp tròng lên cổ mình

“Hai bên thiên hạ thấy hay không ?

Một gánh cung thường há phải gông

Đến địa điểm xử tử, không để cho giặc chém đầu, thủ khoa Huân đã cắn lưỡi

tự tử

Chí quyết chết, cho tan đởm giặc

Hai câu thơ nói lên tinh thần dũng cảm chí anh hùng của một người lãnh đạo xuất thân từ nông dân đồng bằng sông Cửu Long

Trang 40

Dưới áp bức của phong kiến thực dân, mặc dù đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, nhưng cũng không giúp họ thoát khỏi cảnh đói nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc Trong xã hội có áp bức giai cấp, dẫn đến sự phân hóa giai cấp sâu sắc, “kẻ ăn không hết, người lần không ra” phải bỏ thôn ấp đi tìm con đường sống khác Một trong những biểu hiện tâm lý đặc thù của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long lúc này là họ thường mang trong mình tính mạo hiểm Khi bất mãn với hiện thực khách quan lên tới cao độ, thì hành động anh hùng mang tính chất bột phát, liều lĩnh, ngang tàng manh động, họ dám bất chấp tất cả

Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, hình ảnh ông Tám vườn trầu cho ta thấy điển hình về ý chí của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long Ông Tám khi bị Mỹ ngụy cướp đất, đã xông tới cầm dao cắm xuống mảnh đất của mình và nói: Thằng nào

có giỏi cứ vào đây, ông sẽ chết cùng mảnh đất này với bọn bay ý chí anh hùng của người nông dân nơi đây thể hiện dáng dấp của con người như Từ Hải, một mình một

cơ đồ, một biên thùy “chọc trời khấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai”

Trong chặng đường chiến đấu chống ngoại xâm, nhiều lúc người nông dân đồng bằng sông Cửu Long phải hy sinh, tổn thất, nhưng họ không sợ chết, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Cái chết không làm cho họ bi quan, dao động, mà chính cái chết đã tạo cho người sau tiếp bước Lời khí khái của Phan Văn Đạt một trong những người yêu nước xuất thân từ người nông dân ở vùng này trước khi bị thực dân Pháp hành hình đã thể hiện tinh thần yêu nước qua câu nói: “Ta căm giận vì lúc sống không ăn thịt được bọn bay, lúc chết sẽ ngấm ngầm giúp mọi người, ứng nghĩa giết chết bọn bay mới toại nguyện" [38; tr 206] Đó chính là tinh thần anh dũng và cũng là ý chí tin tưởng vào sự tất thắng của ngày mai

Như vậy, tâm lý yêu nước, chí anh hùng của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long trước khi có Đảng cộng sản lãnh đạo có biểu hiện khác biệt so với người

Ngày đăng: 17/09/2015, 00:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3:  [32; tr 25] - Tìm hiểu tâm lý của người nông dân đồng bằng sông cửu long
Bảng 3 [32; tr 25] (Trang 60)
Bảng 4:  [30; tr 30] - Tìm hiểu tâm lý của người nông dân đồng bằng sông cửu long
Bảng 4 [30; tr 30] (Trang 63)
Bảng 5  [30; tr. 20] - Tìm hiểu tâm lý của người nông dân đồng bằng sông cửu long
Bảng 5 [30; tr. 20] (Trang 68)
Bảng 6  [29, tr. 30] - Tìm hiểu tâm lý của người nông dân đồng bằng sông cửu long
Bảng 6 [29, tr. 30] (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w