1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển công nghệ nhập khẩu nhằm tăng cưởng năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay ( nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần tiến bộ quốc tế AIC)

95 545 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ THỊ BƯỞI PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NHẬP KHẨU NHẰM TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC NỘI SINH VỀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRO

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ BƯỞI

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NHẬP KHẨU NHẰM TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC NỘI SINH VỀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN

TIẾN BỘ QUỐC TẾ - AIC)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.72

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ BƯỞI

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NHẬP KHẨU NHẰM TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC NỘI SINH VỀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN

TIẾN BỘ QUỐC TẾ - AIC)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.72

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thanh Bình

Hà Nội, 2014

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI CẢM ƠN 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lí do nghiên cứu 6

2 Lịch sử nghiên cứu 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 10

4 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Mẫu khảo sát 11

6 Câu hỏi nghiên cứu 11

7 Giả thuyết nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Kết cấu của luận văn 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Các khái niệm cơ bản 12

1.1.1 Khái niệm công nghệ 12

1.1.2 Khái niệm phát triển công nghệ 14

1.1.3 Khái niệm về năng lực nội sinh nói chung 15

1.1.4 Khái niệm năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ 17

1.1.5 Khái niệm chuyển giao công nghệ 22

1.1.6 Hình thức và phương thức chuyển giao công nghệ 24

1.1.7 Khái niệm nhập khẩu công nghệ 25

1.1.8 Các hình thức nhập khẩu 25

1.2 Vai trò của chuyển giao công nghệ đối với doanh nghiệp 27

1.3 Vai trò của nhập khẩu công nghệ 30

1.4 Tiêu chí đánh giá năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của doanh nghiệp 32

1.4.1 Tiêu chí đánh giá năng lực 33

1.4.2 Tiêu chí đánh giá về nguồn lực 33

1.5.Kinh nghiệm các nước về nâng cao năng lực nội sinh vê khoa học và công nghệ trên thế giới 36

1.5.1 Hàn Quốc 37

Trang 4

2

1.5.2 Nhật Bản 41

1.5.3 Trung Quốc 44

TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG I 46

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ NHẬP KHẨU VÀ NĂNG LỰC NỘI SINH VỀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ) 48

2.1.Đánh giá chung về việc sử dụng công nghệ nhập khẩu tại các doanh nghiệp hiện nay 48

2.2.Thực trạng năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 53

2.2.1.Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế 53

2.2.2 Thực trạng về nhập khẩu công nghệ tại công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế 58

2.2.3 Thực trạng năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế 63

TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG II 73

CHƯƠNG 3 PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NHẬP KHẨU LÀ GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ ĐỂ TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC NỘI SINH VỀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 74

3.1 Các căn cứ để nhập khẩu công nghệ 74

3.1.1 Tính tất yếu khách quan của nhập khẩu công nghệ 74

3.1.2 Chính sách nhập khẩu công nghệ 77

3.1.3 Nhu cầu và thách thức đối với doanh nghiệp 83

3.2 Phát triển công nghệ nhập khẩu là giải pháp hiệu quả để tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp 84

TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG III 87

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 5

LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Khoa học quản lýđã dạy và giúp tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa Khoa học quản lý - chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy chủ nhiệm bộ môn, các thầy cô trong trường và ban lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện và hỗ trợ trong suốt quá trình tôi tham gia học tập và nghiên cứu tại Trường

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Lê Thanh Bình đã giành thời gian, công sức hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thầy đã có những ý kiến đóng góp hữu ích nên tôi đã học hỏi và tiếp thu nhiều kiến thức lý luận, phương pháp luận và thực tiễn để áp dụng vào nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế, các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu

Trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn, tuy đã nỗ lực hết mình nhưng nội dung luận văn vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót cần chỉnh sửa.Tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý Hội đồng, của các thầy, cô giáo trong khoa để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 6

4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế: AIC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế AIC………58 Bảng 2.2: Bảng cơ cấu ngành hàng nhập khẩu………61 Bảng 2.3: Bảng cơ cấu ngành hàng ủy thác nhập khẩu……… 63 Bảng 2.4: Bảng trị giá kim ngạch nhập khẩu qua 2 phương thức chính…….64 Bảng 2.5: Báo cáo tài chính tóm tắt 2011-2013……… 71 Bảng 2.6: Thống kê tóm tắt giá trị cung cấp sản phẩm công nghệnhập khẩu chủ yếu từ Nhật Bản tại Việt Nam……… 72 Bảng 2.7: Thống kê số lượng sản phẩm của hoạt động phát triển công nghệ phân phối trên thị trường……… 75

Trang 8

bị tách rời với hệ thống sản xuất Kết quả là, hoạt động sản kinh doanh vẫn nằm bên lề của sản phẩm tri thức, làm hạn chế khả năng cạnh tranh và phát triển kinh tế của các nước đó Tuy nhiên, tại rất nhiều nước đang phát triển khác vẫn duy trì nhưng nỗ lực tăng cường sản sinh công nghệ bằng cách tập trung vào việc du nhập, sử dụng, lắp ghép và thay đổi các công nghệ nhập khẩu Việc chuyển đổi từ tình trạng du nhập để trở thành nước sáng tạo công nghệ mới đòi hỏi một sự đầu tư học hỏi công nghệ lâu dài, nghĩa là, cần tích lũy năng lực để có thể tạo ra những thay đổi công nghệ phức tạp hơn Bởi vì, cho dù việc phù hợp hóa các công nghệ nhập khẩu hiệu quả đến đâu đi nữa, các doanh nghiệp ở các nước cần đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và cho các nỗ lực sản sinh công nghệ của chính mình Trong giai đoạn hiện nay của nước ta, việc sử dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hầu hết là sử dụng các công nghệ nhập khẩu bởi

vì quỹ dành cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các doanh nghiệp hạn chế.Đối lập với quỹ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của nhà nước, quỹ nghiên cứu và phát triển công nghệ tư nhân nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.Nói cách khác, các doanh nghiệp có xu hướng tài trợ rất ít cho các công trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có giá trị thương mại trong ngắn hạn, cho dù nghiên cứu khoa học có thể đem đến cho công chúng giá trị thụ hưởng vô cùng to lớn Do đó, trong giai đoạn hiện nay, với nhu cầu công nghệ tăng cao trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng năng lực công nghệ của nước ta còn hạn chế, vì vậy cần có giải pháp nhất định để tăng cường khả năng công nghệ của đất nước gắn liền với hệ thống

Trang 9

sản xuất để tăng khả năng cạnh tranh và phát triển kinh tế Chính vì những lí

do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển công nghệ nhập khẩu nhằm tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế - AIC)” để làm đề tài nghiên cứu cho mình

vi đề tài này tôi xin được tổng quan 3 công trình nghiên cứu được xem là gần với những quan tâm của đề tài và quan trọng hơn là những phát hiện trong các công trình này, có những nội dung sẽ được sử dụng làm luận cứ, có những nội dung sẽ trở thành câu hỏi nghiên cứu khi tôi xây dựng đề cương nghiên cứu

này: “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu & triển khai trong các

cơ sở sản xuất ở Việt Nam” - Trần Ngọc Ca, Báo cáo đề tài cấp bộ Hà Nội, 6 – 2000; Đề tài : “các biện pháp tăng cường năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam” của Nguyễn Danh Sơn

và các tác giả (2003); Đề tài: “Chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, thực trạng và giải pháp” Nguyễn Văn Hoàn và các tác giả (2005), Báo cáo

đề tài cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Thương mai, Bộ Thương mại

2.1 Đề tài: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và R&D trong các

cơ sở sản xuất ở Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Ca, 2000 Tác giả lựa chọn phân tích 2 mảng chính sách được xem là ảnh hưởng khá rõ nét tới hoạt động

Trang 10

và ban hành một số văn bản chính sách còn vội vàng, nội dung quy định còn quá chung và chưa thể hiện sự hiểu biết thấu đáo về đặc thù của hoạt động đổi mới công nghệ và R&D nên hiệu quả còn thấp

b Chính sách về nhân lực có tầm quyết định quan trọng trong đổi mới công nghệ và R&D trong doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp còn cấp bách hơn chính sách tài chính

c Giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp theo kiểu trọng cung bằng cơ chế khuyến khích trực tiếp cho doanh nghiệp khi họ đổi mới nếu không quan tâm xử lý các vần đề nằm trong các yếu tố của kinh tế vĩ mô, vào nhu cầu cạnh tranh và tính cấp thiết của đổi mới thì hiệu quả của các chính sách đẩy sẽ rất thấp và tình trạng chung của đổi mới công nghệ và R&D trong doanh nghiệp sẽ còn tiếp tục yếu

2.2 Đề tài: “Các biện pháp tăng cường năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam” của Nguyễn Danh Sơn

và các tác giả (2003) Ở đề tài nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu về thực trạng năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của Việt Nam để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường năng lực này để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước

- Về định hướng giải pháp, đề tài đưa ra biện pháp tăng cường năng lực nội sinh về KH&CN theo hai hướng: Một là,tăng cường tiềm lực/ các nguồn lực KH&CN; hai là, tăng cường xã hội hóa trong huy động và sử dụng tiềm lực/ nguồn lực KH&CN

- Về các giải pháp chiến lược và tăng cường năng lực nội sinh về KH&CN tác giả đưa ra nhóm các giải pháp đối với việc nâng cao từng năng lực: Năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực ra quyết định về đổi mới định hướng phát

Trang 11

triển KH&CN, năng lực định hướng và phối hợp các hoạt động KH&CN, năng lực hỗ trợ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

Đề tài nêu lên những hạn chế về nguồn lực tại Việt Nam như hiện nay sẽ ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao năng lực nội sinh về KH&CN, từ đó đưa ra quan điểm nhà nước cần có quyết tâm, sự lựa chọn khôn ngoan và thông minh với các giải pháp chính sách kịp thời, hiệu quả thì nước ta hỗ trợ và đồng hành cùng các doanh nghiệp có thể rút ngắn quá trình này và sớm phát triển Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

2.3 Đề tài: “Chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, thực trạng và giải pháp” Nguyễn Văn Hoàn và các tác giả (2005), Báo cáo đề tài cấp Bộ,

Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Thương mại Đề tài với mục tiêu nghiên cứu là:

- Làm rõ vai trò của chính sách nhập khẩu công nghệ và những yêu cầu đặt

ra cho việc điều chỉnh và hoàn thiện chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam

- Phân tích thực trạng chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao

và tác động của nó đến việc nhập khẩu và sử dụng chính trong các doanh nghiệp giai đoạn (1991-2001)

- Đề xuất những vấn đề về điều chỉnh chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao của Việt Nam đến năm 2020

Đề tài nêu nổi bật được vai trò chính sách nhập khẩu công nghệ để đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tuy nhiên, với hiện trạng chính sách của Việt Nam thời điểm đề tài nghiên cứu vẫn chưa có quy định về nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao mà nó được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản pháp quy của Chính phủ, dẫn đến không phải bất cứ đơn

vị nào có nhu cầu nhập khẩu công nghệ có thể nắm bắt được tường tận các văn bản đó.Từ phân tích thực trạng, đề tài nghiên cứu đã đưa ra 6 đề xuất liên quan đến điều chính chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao của Việt Nam đến năm 2020

Trang 12

10

- Hoàn thiện chính sách về nhập khẩu và chuyển giao công nghệ

- Hoàn thiện hệ thống các chính sách liên quan đến nhập khẩu và chuyển giao công nghệ

- Đổi mới công tác quản lý và tổ chức nhập khẩu công nghệ

- Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác làm chủ công nghệ nhập khẩu

- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các hiệp hội ngành phát triển

- Xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện chiến lược phát triển công nghệ quốc gia

Đây là một trong những đề xuất có tính chiến lược quốc gia và gắn doanh nghiệp với yêu cầu phát triển năng lực nội sinh của đất nước thông qua chính sách nhập khẩu công nghệ.Đến thời điểm hiện tại, các nội dung đề xuất vẫn còn có giá trị thực tế

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đưa ra giải pháp nhằm tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của doanh nghiệp

4 Phạm vi nghiên cứu

Nhằm giới hạn phạm vi nghiên cứu theo mục tiêu của đề tài đã đặt ra, tôi tập trung nghiên cứu giải pháp nhằm tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của doanh nghiệp thông qua giải pháp phát triển công nghệ nhập khẩu

và ở giải pháp phát triển công nghệ, đề tài chú trọng đến khía cạnh phát triển theo chiều rộng hay phổ cập công nghệ (phát triển về lượng – Extensive Development of Technology): mở rộng công nghệ, nhân bản công nghệ để có

số lượng nhiều hơn

- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế - AIC

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 – 2013

Trang 13

5 Mẫu khảo sát

Hoạt động phát triển công nghệ nhập khẩu từ Nhật Bản tại Công ty Cổ phần tiến bộ quốc tế - AIC

6 Câu hỏi nghiên cứu

Giải pháp nào để tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Phát triển công nghệ nhập khẩu là giải pháp hiệu quả để tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Đề tài đi sâu phân tích tài liệu về công nghệ nhập khẩu, các hình thức nhập khẩu, phân tích các mối quan hệ liên quan đến vấn đề nghiên cứu như vai trò của nhập khẩu công nghệ, tiêu chí đánh giá năng lực nội sinh về công nghệ để từ đó nêu ra vai trò của phát triển công nghệ nhập khẩu

- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Đề tài sử dụng phương pháp này để nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm của các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc những năm 60-70 trở lại đây, từ đó, đưa ra giải pháp cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài, ngoài ra, đề tài nghiên cứu trường hợp của công ty AIC để đưa ra những đánh giá và chứng minh giả thuyết nghiên cứu đưa ra

9 Kết cấu của luận văn

Với mục đích và phạm vi nghiên cứu nêu trên, nội dung của luận văn

có bố cục như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài

Trang 14

12

Chương 2 Thực trạng sử dụng công nghệ nhập khẩu và năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế)

Chương 3 Phát triển công nghệ nhập khẩu là giải pháp hiệu quả để tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1.Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm công nghệ

Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biển đổi các nguồn lực thành sản phẩm [5;

điều 3]

Theo định nghĩa này có thể hiểu công nghệ gồm hai phần khác nhau là phần cứng và phần mềm.Phầm mềm của công nghệ bao gồm các phương pháp, quy trình hay bí quyết được sử dụng nhằm biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.Phần cứng của công nghệ bao gồm công cụ, phương tiện (máy móc, thiết bị, dụng cụ) được sử dụng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm

Theo Các Mác “công nghệ làm nổi bật thái độ tích cực của con người đối với tự nhiên, vạch rõ quá trình sản xuất trực tiếp ra đời sống của con người và những điều kiện của đời sống xã hội của họ, cũng như những khái niệm tinh thần bắt nguồn từ điều kiện ấy” Quan niệm này do Các Mác trình

bày trong bộ Tư bản đã chỉ ra: một là, thông qua công nghệ, bộc lộ mối quan

hệ của con người với tự nhiên; hai là, thông qua công nghệ, bộc lộ mối quan

hệ giữa người với người; ba là, thông qua công nghệ, hình thành nên mối

quan hệ biện chứng tự nhiên – con người – xã hội… Bản thân các yếu tố của công nghệ cũng được hình thành thông qua mối quan hệ ấy

Đây cũng chính là quá trình con người nắm bắt các quy luật của tự nhiên và vận dụng chúng vào trong các hoạt động sống của mình Cải tạo, đổi mới, phát triển để ngày càng phát triển hơn nữa

Trang 15

Định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á -

Thái Bình Dương (ESCAP): “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình

và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiếtbị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ ESCAP đã chỉ ra bốn thành phần cơ bản của công nghệ”,

gồm 1

:

• Kỹ thuật: bao gồm các máy móc thiết bị hay các công cụ và phương tiện kỹ thuật Đây là thành phần cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào, nhờ đó mà con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong hoạt động sản xuất

• Con người: Bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ được trong mọi hoạt động, kể các tố chất sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức và kỷ luật lao động, các tri thức của người lao động tham gia vào quá trình sản xuất

• Thông tin: Bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về con người và tổ chức; các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật Thành phần thông tin là tập hợp tất cả các tri thức hiện được tích luỹ trong công nghệ

• Tổ chức: Bao gồm các hoạt động tổ chức và quản lý sản xuất, với tư cách là nhân tố kết nối các thành phần khác của công nghệ

Quan niệm trên đây của ESCAP về công nghệ được coi là bước ngoặt lịch sử về vấn đề này vì nó không chỉ coi công nghệ là quy trình chế tạo vật phẩm cụ thể (vật thể) mà còn mở rộng khái niệm công nghệ ra các lĩnh vực khác như dịch vụ và quản lý (phi vật thể) Sau này, một số nhà quản lý công nghiệp Nhật Bản còn mở rộng hơn nữa trong quan niệm về công nghệ, khi cho ràng công nghệ gồm 5 yếu tố (5M): Management (quản lý), Money (tiền vốn), Market (thị trường), Machine (máy móc), Materials (nguyên vật liệu), tức là đưa là cả tiền vốn, nguyên vật liệu và thị trường vào thành phần của

1

Xem GS Nguyễn Đức Bình, GS.TS Lê Hữu Nghĩa, GS.TS Trần Hữu Tiến (đồng chủ biên): Góp phần nhận thức thế giới đương đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, xem sdđ, tr99

Trang 16

14

công nghệ Các tác giả Dahlman C.J và Westphal L.E còn mở rộng khái niệm

đến mức cho rằng: “Công nghệ bao gồm các quá trình vật chất chuyển hóa các đầu vào thành các đầu ra và kết cấu xã hội có liên quan đến quá trình chuyển hóa này”2

1.1.2 Khái niệm phát triển công nghệ

Khái niệm Phát triển công nghệ và triển khai công nghệ trong Tiếng Việt đều chỉ tương ứng với một từ tiếng Anh là “Development of Technology” Để thống nhất cách hiểu và sử dụng khi tham khảo các tài liệu và các nội dung có liên quan, chúng ta cần phân biệt cách dùng đúng nghĩa của 2 từ này trong Tiếng Việt, trước hết cần phân biệt rõ khái niệm “phát triển” và “triển khai”

Nội hàm: Tạo ra cái mới hoặc hoàn

thiện, làm thay đổi về căn bản cái đã có

để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn Cái mới,

cái được hoàn thiện (tức phát triển) có

thể có hai khía cạnh chính: Phát triển

về số lượng và phát triển về chất lượng

Nội hàm: Tiến hành thực hiện một công việc, một nội dung nào đó hay đưa một nội dung vào cuộc sống

Ngoại diên: Là tất cả các hoạt động tìm

tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể

làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn

về chất lượng hoặc cả hai

“Triển khai” là việc làm nhằm thực hiện hay đưa một nội dung công việc nào đó vào cuộc sống Người ta thường nói: Triển khai nghị quyết, triển khai

dự án, triển khai kỹ thuật, triển khao hoạt động nghiên cứu… Đó chính là việc thực hiện cái đã được định sẵn, theo ý đồ đã có từ trước mà không có

Trang 17

sáng tạo hay phát triển thêm cái mới (không hàm ý nghiên cứu)

Trong hoạt động KH&CN, các khái niệm phát triển và triển khai thường gắn với khái niệm công nghệ Đó là Phát triển công nghệ và triển khai công nghệ

Phân biệt Phát triển công nghệ và Triển khai công nghệ

Phát triển công nghệ là sáng tạo ra sản phẩm hay công nghệ mới hoặc đổi mới một cách căn bản công nghệ đã có

Phân loại Phát triển công nghệ3:

- Phát triển công nghệ theo chiều sâu hay phát triển về chất lượng công nghệ (Intensive Development of Technology hay Upgrading of Technology) nhằm sáng tạo ra công nghệ mới hay làm cho công nghệ cũ trở thành có tính năng tốt hơn, sản phẩm của công nghệ có chất lượng tốt hơn bằng cách thay đổi có tính căn bản công nghệ đã

- Phát triển công nghệ theo chiều rộng hay phổ cập công nghệ (phát triển về lượng – Extensive Development of Technology): mở rộng công nghệ, nhân bản công nghệ để có số lượng nhiều hơn

Triển khai công nghệ: Là đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất hay nhân bản công nghệ để có nhiều công nghệ cùng loại Triển khai công nghệ được hiểu là phát triển công nghệ theo chiều rộng

Trong luận văn này, tôi sử dụng khái niệm Phát triển công nghệ theo chiều rộng hay là phổ cập công nghệ và đi sâu phân tích nó trong trường hợp ứng dụng cụ thể tại Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế

1.1.3 Khái niệm về năng lực nội sinh nói chung

Khái niệm năng lực nội sinh là khái niệm tương đối mới Việc đi sâu nghiên cứu và cụ thể hóa khái niệm chỉ được bắt đầu bằng đề tài nghiên cứu:

3

Tham khảo bài viết của ThS Nguyễn Đăng Hải, Khái niệm nghiên cứu, Tạp chí Hoạt động Khoa học số

4.2001

Trang 18

16

“Những vấn đề năng lực trong khoa học và công nghệ phục vụ hiện đại hóa” của chủ nhiệm đề tài Nguyễn Sỹ Lộc năm 1994 “Năng lực nội sinh” hiểu theo nghĩa chung nhất là năng lực bên trong có thể thực hiện được những hoạt động nhất định để đạt những kết quả cụ thể ở trình độ nhất định

Trong một báo cáo của Liên Hiệp Quốc có giải thích: “Năng lực nội sinh”

là thứ năng lực sinh ra bên trong một xã hội và nó tự sản Nghĩa thực tế của thuật ngữ năng lực nội sinh được hiểu là năng lực ra quyết định độc lập và có

cơ sở phù hợp nhất với tình hình cụ thể mà một nước đang trải qua trong một thời điểm nào đó Tuy nhiên, với khái niệm năng lực nội sinh, chúng ta cũng cần phân biệt với khái niệm nội lực Nội lực chỉ nguồn lực đã có sẵn bên trong giới hạn không gian nhất định Nội lực đồng nghĩa với nguồn lực bên trong, đối nghĩa với nguồn lực bên ngoài, còn năng lực nội sinh không nhất thiết chỉ nguồn lực bên trong mà đó là sự kết tinh tổng hợp các nguồn lực cả bên trong và bên ngoài để tạo nên một khả năng có thể giải quyết được một nhu cầu phát triển nội tại của hệ thống Tuy nhiên, cái quan trọng nhất là khả năng đó chủ động từ bên trong, được quyết định từ bên trong, bởi nhu cầu bên trong và phục vụ cho sự phát triển của bên trong Ý nghĩa của từ nội sinh hoàn toàn không có ý nghĩa bài ngoại hay đối lập với xu hướng quốc tế hóa, hội nhập với thế giới bên ngoài Trái lại, một năng lực nội sinh cao là tiền đề cho việc hội nhập hợp tác quốc tế với phạm vi và trình độ cao hơn

Do đó, phát huy năng lực nội sinh, xét về chiến lược thì cao hơn nhiều phát huy nội lực, hiệu quả cao hơn nhiều tận dụng nội lực, bởi vì nó thu hút cả nguồn lực bên ngoài, kết hợp và biến nó thành sức mạnh bên trong

Khái niệm năng lực nội sinh nhấn mạnh vào khía cạnh tổ chức, quản lý, vận dụng sức mạnh của thời đại, của cộng đồng để rút ngắn chặng đường phát triển hơn là các yếu tố hạ tầng cơ sở theo mô hình truyền thống Tuy nhiên, tổ chức và quản lý luôn đòi hỏi sự phù hợp nhất định với cơ sở hạ tầng, và ngược lại

Năng lực nội sinh gắn chặt với mục tiêu phát triển Không có năng lực chung chung, mà phải là xuất phát từ nhu cầu phát triển

Trang 19

Năng lực nội sinh gắn chặt với năng lực cạnh tranh Năng lực nội sinh mạnh thể hiện ra ngoài là năng lực cạnh tranh mạnh vì đó là phương thức phổ biến để duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp, hay của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt cùng với toàn cầu hóa Năng lực nội sinh gắn chặt với mọi lĩnh vực của hoạt động hay chủ thể cụ thể và sự phối kết hợp giữ năng lực nội sinh của các lĩnh vực/chủ thể trong nền kinh tế quốc dân tạo nên nội lực, sức mạnh bên trong của một quốc gia

1.1.4 Khái niệm năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ

Ở Việt Nam, trong các văn bản của quản lý nhà nước sử dụng thuật ngữ năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ Trong đề tài nghiên cứu này, tôi cũng sử dụng thuật ngữ này và nó cũng tương ứng với thuật ngữ “endogenous capacity in science &technology” mà trong một số tài liệu Tiếng Anh sử dụng Vậy, năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ là gì?

Năng lực nội sinh về KH&CN là một khái niệm tác nghiệp xuất phát từ một diễn đàn toàn cầu của Liên hiệp quốc (LHQ) là cuối những năm 70 của thế kỷ XX Lần đầu tiên khái niệm này được nêu thành luận điểm bao trùm là tại Hội nghị Viên (Cộng hòa Áo) năm 1979, và sau đó trong đợt tổ chức tổng kết 10 năm Chương trình hành động Viên (VPA Vienna Program of Action) vào năm 1989 tại Đại hội đồng LHQ đã trở thành một khái niệm tác nghiệp trung tâm trong các đề án lớn về chính sách khoa học phục vụ phát triển cho các nước thế giới thứ ba trong đó có Việt Nam Theo các tài liệu của Liên

hiệp quốc thì “năng lực nội sinh về KH&CN” là khả năng ra quyết định một cách có tổ chức của một chủ thể về việc phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ vì các mục tiêu phát triển, giải quyết các nhu cầu cơ bản của dân chúng”

“Năng lực nội sinh về KH&CN” thực chất là năng lực làm chủ quá trình phát triển KH&CN của đất nước, bao gồm xác nhận mục tiêu, xây dựng

và sử dụng tiềm lực KH&CN có khả năng huy động các nguồn lực KH&CN

cả trong và ngoài nước để phục vụ thiết thực và hiệu quả cho phát triển”

Trang 20

18

Khái niệm của LHQ nhằm cung cấp một phạm trù nền tảng để xây dựng những quan điểm của tổ chức này xung quanh việc phát triển và chuyển giao công nghệ cho các nước nghèo trong bối cảnh trên thế giới đã diễn ra sự phân cực giàu nghèo một cách sâu sắc, ngăn cách nhau bởi trình độ phát triển

mà trước hết là trình độ KH&CN

Trên thực tế, với bối cảnh hiện tại của nước ta, có thể nhận thấy, trình

độ phát triển của nước ta còn thấp, để đáp ứng nhu cầu thay thế nhập khẩu, thì nhiều công nghệ có thể mua qua con đường nhập công nghệ và hợp tác đầu tư nước ngoài.Tuy nhiên, các sản phẩm công nghệ cao không dễ gì mua được, và không phải thứ gì các nước mạnh cũng đem bán.Đặc biệt là các công nghệ có tầm quan trọng chiến lược, có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế và ổn định chính trị Do đó, yêu cầu đặt ra đối với các nước đi sau như Việt Nam là cần nâng cao năng lực tự chủ, để sản sinh ra năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của chính mình Vì vậy, để hiểu rõ năng lực nội sinh về khoa học

và công nghệ, chúng ta cần đi sâu nghiên cứu về nội hàm của khái niệm này

Hiện nay, với nội hàm khái niệm “năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ” có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, theo “Các cách tiếp cận về năng lực công nghệ”, tài liệu về tổng quan KHCNMT do Trung tâm thông tin

tư liệu KHCN Quốc gia xuất bản năm 2000 thì có tới 6 cách tiếp cận khác nhau với những nội hàm khác nhau như cách tiếp cận của ngân hàng thế giới, cách tiếp cận của Viện nghiên cứu phát triển Thái Lan, cách tiếp cận của Fransman, cách tiếp cận của Dore, cách tiếp cận của Desai, cách tiếp cận của Lall

Tuy nhiên, ở đề tài này, tôi tiếp cận nội hàm khái niệm này thông qua kết quả nghiên cứu trực tiếp của tác giả TS Nguyễn Sĩ Lộc: “Những vấn đề về năng lực nội sinh trong KHCN phục vụ công nghiệp hóa” và cách tiếp cận của Fransman để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình

Ở đề tài của tác giả Nguyễn Sĩ Lộc đã nêu lên 3 yếu tố chính tạo nên năng lực nội sinh về trong KH&CN của một quốc gia:

Trang 21

- Khả năng nhận thức tường tận nhu cầu của phát triển của chính mình qua lăng kính khoa học và công nghệ và nêu thành nhiệm vụ khoa học kỹ thuật cần giải quyết và có thể giải quyết được, nói cách khác có thể thanh toán được

- Khả năng thẩm định công nghệ, tức là nhận thức và đánh giá được những công nghệ đã có trên thị trường thế giới hoặc trong nước để

có thể chọn trúng những công nghệ hoặc những khâu công nghệ cần thiết còn thiếu phù hợp với hoàn cảnh riêng của đất nước, trong đó, quan trọng là làm sao không tổn hại môi trường để có thể duy trì phát triển bền vững

- Khả năng thiết lập các cơ chế chính sách nhất định sao cho có thể huy động những lực lượng cần thiết trong xã hội để thực hiện kỳ được những giải pháp công nghệ đó, mang lại hiệu quả thiết thực cho công cuộc phát triển

Theo cách tiếp cận của Fransman thì năng lực công nghệ của một quốc gia bao gồm các yếu tố4

: Năng lực tìm kiếm và lựa chọn các công nghệ nhập khẩu thích hợp

- Năng lực nắm vững và sử dụng có hiệu quả các công nghệ nhập khẩu;

- Năng lực thích nghi công nghệ nhập khẩu cho phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước;

- Năng lực đổi mới, phát triển công nghệ hiện có ở trong nước;

- Năng lực tìm kiếm, đổi mới và đột phá trong lĩnh vữ nghiên cứu và triển khai trong nước;

- Năng lực nghiên cứu cơ bản trong nước

Thông qua 2 cách tiếp cận này, tôi nhận thấy, năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ quan trọng nhất là là khả năng đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của chính mình thông qua tìm kiếm, tiếp nhận, thích nghi, vận dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong điều kiện cụ thể của đất nước,

4

http://www.doko.vn/82264,ngày 22/3/2014

Trang 22

20

thậm chí cao hơn nữa là cải tiến, sáng tạo và phát triển công nghệ nhập khẩu Năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của một quốc gia bao gồm: Năng lực nội sinh ở cấp độ vĩ mô và ở cấp độ vi mô5

Ở cấp độ vĩ mô, năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của một quốc gia bao gồm:

- Năng lực nghiên cứu khoa học;

- Năng lực ra quyết định về phát triến khoa học và công nghệ;

- Năng lực định hướng và phối hợp các hoạt động khoa học và công nghệ;

- Năng lực hỗ trợ đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp;

Ở cấp độ vi mô, năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ thể hiện ở năng lực công nghệ của các doanh nghiệp

Với phạm vi của đề tài nghiên cứu này, tôi đi sâu nghiên cứu ở cấp độ

vi mô - năng lực công nghệ của các doanh nghiệp, để đưa ra cơ sở làm thế nào

để tăng cường năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ nói chung và tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ cho các doanh nghiệp nói riêng (vì trong môi trường các doanh nghiệp, quỹ cho các hoạt động về khoa học rất ít

ỏi, chủ yếu về công nghệ)

Tích chất nội sinh trong năng lực công nghệ của các doanh nghiệp thể hiện ở khả năng các doanh nghiệp có thể tiến hành, thực hiện được các nội hàm (yếu tố) của năng lực công nghệ gồm: Năng lực vận hành, năng lực giao dịch, năng lực đổi mới, năng lực hỗ trợ, cụ thể 6

: Năng lực vận hành thể hiện ở việc doanh nghiệp có thể biến đổi có hiệu quả các loại đầu vào thành những sản phẩm đầu ra tương ứng với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp:

5

Có thể tham khảo thêm: Nguyễn Danh Sơn và các tác giả (2003), các biện pháp tăng cường năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam, http://123doc.vn/document/2256989, 10/9/2013

6

Nguồn: Có thể tham khảo chi tiết trong: “Các cách tiếp cận về năng lực công nghệ”, tài liệu tổng quan khoa

học công nghệ môi trường, NXB Trung tâm Khoa học tư liệu Khoa học công nghệ quốc gia, 2000)

Trang 23

+ Năng lực sử dụng hiệu quả thiết bị và nhà máy hiện có;

+ Năng lực lập kế hoạch và điều hành các hoạt động sản xuất;

+ Năng lực khắc phục hư hỏng và tiến hành các công việc bảo dưỡng để dự phòng, ngăn chặn và bảo dưỡng khi có sự cố;

+ Năng lực thay đổi nhanh để chuyển sang các model mới;

+ Năng lực sử dụng các hệ thống thông tin và điểu khiển máy tính hóa nhằm trợ giúp thông tin và tạo ra các mạng lưới phục vụ hoạt động sản xuất

- Năng lực giao dịch thể hiện ở việc doanh nghiệp lập kế hoạch và thực hiện các giao dịch công nghệ Cụ thể là:

+ Năng lực lập các luận chứng và nêu ra một cách rõ ràng những công nghệ sẽ được mua/bán dựa trên sự nghiên cứu tỷ mỷ về kỹ thuật và chuyển những tham số của quy trình cơ bản vào việc bố trí nhà máy và thiết bị;

+ Năng lực nhận dạng người bán/người mua công nghệ phù hợp và thực hiện các công việc đánh giá đúng đắn loại công nghệ phù hợp với nguồn lực và chiến lược của mình;

+ Năng lực nhận dạng các phương thức mua/bán công nghệ;

+ Năng lực đàm phán hiệu quả những điều khoản giao dịch công nghệ

- Năng lực đổi mới thể hiện ở doanh nghiệp đưa ra được những đổi mới công nghệ và áp dụng vào thực tiễn sản xuất nhằm củng cố công việc kinh doanh hiện có, tạo ra những hoạt động kinh doanh mới và khai thác các cơ sở công nghệ mới Cụ thể là:

+ Năng lực làm lại (bắt chước) công nghệ đã có được;

+ Năng lực thực hiện được những đổi mới sản phẩm;

+ Năng lực thực hiện được những đổi mới quy trình;

+ Năng lực tạo ra những đổi mới hệ thống;

+ Năng lực tạo ra những đổi mới làm đòn bẩy cho khả năng cốt yếu

Trang 24

22

- Năng lực hỗ trợ thể hiện ở việc doanh nghiệp tạo ra được nền tảng

và động lực phát triển cân đối, kết hợp và hoàn thiện các năng lực vận hành, giao dịch và đổi mới Cụ thể là:

+ Năng lực xây dựng được kịch bản phát triển dựa vào công nghệ với một tầm nhìn chiến lược;

+ Năng lực tìm được những nguồn cấp vốn và nhận được vốn với lãi suất cạnh tranh để mở mang và tăng trưởng;

+ Năng lực tiếp cận có hiệu quả những nguyên liệu đầu vào cần cho sản xuất;

+ Năng lực lập kế hoạch và quản lý dự án;

+ Năng lực lập kế hoạch và thực hiện các chương trình để phát triển vững chắc nguồn lực con người;

+ Năng lực tạo ra tri thức và chiết suất những kỹ năng tiềm tàng Với cơ sở nội hàm khái niệm năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ nêu ra ở trên là cơ sở lý luận để phân tích các yếu tố đánh giá về năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, làm cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay

1.1.5 Khái niệm chuyển giao công nghệ

Chuyển giao công nghệ (CGCN) là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.[3; điều 3].Trong đó 7

:

- Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ: là việc chủ sở hữu công nghệ chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công nghệ cho tổ chức, cá nhân khác Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ

7

Luật chuyển giao công nghệ (2006), Chương II, điều 16,17

Trang 25

- Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ: tổ chức, cá nhân cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng công nghệ của mình

Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm:

+ Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ;

+ Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụng công nghệ cho bên thứ ba;

+ Các quyền khác liên quan đến công nghệ được chuyển giao

Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ

Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam là việc chuyển giao công nghệ

giữa các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam

Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là việc tổ chức, cá

nhân hoạt động ở nước ngoài chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam

Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài là việc tổ chức, cá

nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam chuyển giao công nghệ cho tổ chức,

cá nhân hoạt động ở nước ngoài

Trang 26

24

Xét về yếu tố pháp lý CGCNlà một hoạt động nhằm chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền sử dụng một công nghệ từ chủ thể này sang chủ thể khác, trên cơ sở hợp đồng CGCN đã được thỏa thuận, phù hợp với các quy định của pháp luật Bên chuyển giao có nhiệm vụ CGCN có kèm hoặc không kèm máy móc, thiết bị, dịch vụ cho bên nhận chuyển giao Bên nhận chuyển giao có nghĩa vụ thanh toán các khoản cho bên chuyển giao để tiếp thu, sử dụng các kiến thức công nghệ đó theo các điều khoản đã ghi trong hợp đồng

Xét về yếu tố nội tại công nghệ được xem gồm hai phần: phần cứng (máy móc, thiết bị…) và phần mềm (quy trình, công thức, bí quyết…) CGCN chủ yếu thuộc phần mềm của công nghệ.Phần cứng của công nghệ được mua bán trên cơ sở các quan hệ thương mại thông thường, vì nó có hiện vật cụ thể và giá cả ấn định.Tuy nhiên, vì phần mềm của công nghệ thường được thể hiện trên những phương tiện, thiết bị cụ thể, cho nên trong quá trình CGCN luôn phải giải quyết mối quan hệ với phần cứng Phần cứng chỉ được coi là đi kèm công nghệ được chuyển giao lần đầu, còn các lần tiếp theo chỉ đơn thuần là máy móc, thiết bị… bởi vậy, giá cả phần cứng đi kèm công nghệ được chuyển giao rất khác với giá cả phần cứng khi chuyển giao độc lập

1.1.6 Hình thức và phương thức chuyển giao công nghệ

a) Hình thức chuyển giao công nghệ [3; điều 12]

Việc chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:

- Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập;

- Phần chuyển giao công nghệ trong dự án hoặc hợp đồng sau đây: + Dự án đầu tư;

+ Hợp đồng nhượng quyền thương mại;

+ Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp;

Trang 27

+ Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ;

+ Hình thức chuyển giao công nghệ khác theo quy định của pháp luật b) Phương thức chuyển giao công nghệ[3; điều 18]

Phương thức CGCN bao gồm:

+ Chuyển giao tài liệu về công nghệ;

+ Đào tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ theo thời hạn quy định trong hợp đồng CGCN;

+ Cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ đưa ra công nghệ vào sản xuất với chất lượng công nghệ và chất lượng sản phẩm đạt các chỉ tiêu và tiến độ quy định trong hợp đồng CGCN;

+ Phương thức chuyển giao khác do các bên thỏa thuận

1.1.7 Khái niệm nhập khẩu công nghệ

Nhập khẩu công nghệ được hiểu là một quốc gia này nhập khẩu công nghệ từ một quốc gia khác (có thể nhập khẩu đầy đủ hoặc không đầy đủ các thành phần của công nghệ) nhằm mục đích đầu tư đổi mới hoặc thay thế công nghệ cũ để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ và đảm bảo các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường

1.1.8 Các hình thức nhập khẩu

a) Nhập khẩu trực tiếp

Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu, trong đó, doanh nghiệp phải trực tiếp làm mọi khâu của quá trình kinh doanh nhập khẩu, như tìm kiếm đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng… và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh nhập khẩu

Khi sử dụng hình thức này, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của mình.Độ rủi ro của hình

Trang 28

vụ giao dịch trực tiếp và tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình Thương nhân nhận ủy thác không được sử dụng hạn ngạch hoặc giấy phép do Bộ Thương mại cấp cho mình để nhận ủy thác nhập khẩu

c) Nhập khẩu hàng đổi hàng

Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lưu, đó là hình thức nhập khẩu đi đôi với xuất khẩu.Phương tiện thanh toán trong hoạt động này không dùng tiền mà chính là hàng hóa Mục đích từ hàng đổi hàng là vừa thu lãi từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu vừa xuất khẩu được hàng hóa ra thị trường nước ngoài Người nhập khẩu đồng thời cũng là người xuất khẩu

Hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu phải có giá trị tương đương nhau, đảm bảo điều kiện cân bằng về mặt giá cả, điều kiện giao hàng và tổng giá trị hàng hóa trao đổi

d) Tạm nhập tái xuất

Tạm nhập tái xuất là hình thức doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa nhưng không phải để tiêu thụ tại thị trường trong nước mà là để xuất khẩu sang một nước khác nhằm thu lợi nhuận Những mặt hàng này không được gia công hay chế biến tại nơi tái xuất.Hàng hóa vừa phải làm thủ tục nhập khẩu vừa phải làm thủ tục xuất khẩu sau đó

Trang 29

1.2 Vai trò của chuyển giao công nghệ đối với doanh nghiệp

Trong hệ thống nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết

có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo Các doanh nghiệp được kỳ vọng góp sức vào sự phát triển chung của các ngành công nghiệp hỗ trợ hoặc đóng vai trò là nhà cung ứng dịch vụ, sản phẩm đầu vào cho các doanh nghiệp nước ngoài hoặc các dự án lớn của Nhà nước Tuy nhiên hiện nay, đa số doanh nghiệp chưa tham gia hoặc tham gia chưa nhiều vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi mới trong doanh nghiệp của Việt Nam còn thấp.Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ còn rất ít Số lượng nhà khoa học, chuyên gia làm việc trong các doanh nghiệp chỉ chiếm 0,025% trong tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp Khoảng 80 - 90% máy móc và công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp của Việt Nam là nhập khẩu và 76% từ thập niên 1980 - 1990, 75% máy móc và trang thiết bị

đã hết khấu hao

Vậy, làm thế nào để các doanh nghiệp có thể tiếp nhận được các công nghệ mới, thì ở đề tài này, tôi phân tích một số vai trò của chuyển giao công nghệ nói chung và vai trò đối với sự phát triển của các doanh nghiệp

Chuyển giao công nghệ có vai trò to lớn đối với nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của mỗi nước nói riêng (bao gồm cả các doanh nghiệp trong nước) Chuyển giao công nghệ có lợi ích cho cả bên giao và bên nhận Đối với bên tiếp nhận: Họ có được công nghệ có trình độ cao hơn, do công nghệ họ tiếp nhận đều là công nghệ của nước ngoài có trình độ cao hơn công nghệ trong nước đặc biệt là ở nước ta việc chuyển giao công nghệ từ nước

Trang 30

28

ngoài có thể nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, nâng cao năng suất lao động Trong khi công nghệ trong nước lại cũ kỹ, lạc hậu.Bên cạnh đó, thông qua chuyển giao công nghệ, bên tiếp nhận có thể tiết kiệm được nguồn lực Thay

vì đầu tư nguồn lực cho nghiên cứu triển khai công nghệ nội sinh, họ có thể đi mua công nghệ nước ngoài, còn nguồn lực đó họ có thể đầu tư để phát triển công nghệ được mua về hoặc đầu tư cho lĩnh vực khác

Đối với bên chuyển giao: Họ thu lợi nhuận từ hoạt động chuyển giao công nghệ, kéo dài vòng đời công nghệ được chuyển giao để tạo điều kiện thâm nhập vào thị trường nước ngoài

Công nghệ tạo ra năng suất lao động cao hơn cùng sự phong phú về chủng loại sản phẩm phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của thị trường, nó là vũ khí cạnh tranh của các doanh nghiệp, nền kinh tế có vai trò to lớn đối với vấn đề môi trường trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và quá trình chế tác, sử dụng Với xu thế hội nhập, quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, với cùng trình độ phân công lao động, chuyên môn hóa ở tầm chuyên sâu đến từng chi tiết sản phẩm thì hoạt động chuyển giao công nghệ góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, cho phép khai thác lợi thế so sánh giữa các quốc gia Mặt khác nó làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế thế giới theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp

Mặc dù chuyển giao công nghệ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp, tuy nhiên, vấn đề chuyển giao công nghệ tại các doanh nghiệp hiện đang gặp nhiều trở ngại bởi các doanh nghiệp vẫn chưa có thói quen cũng như chưa đánh giá đầy đủ vai trò của đầu tư phát triển công nghệ trong chiến lược phát triển bền vững, lâu dài Thực tế hiện nay chi phí đầu tư của doanh nghiệp cho phát triển công nghệ rất thấp, thậm chí nhiều doanh nghiệp mức đầu tư bằng không.Bên cạnh đó, do kỹ năng còn yếu và thiếu nên nhiều doanh nghiệp không tránh khỏi những thất bại trong thương trường chuyển giao công nghệ

Trang 31

Chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được thỏa thuận phù hợp với các quy định của pháp luật.Kết quả của việc mua bán này phụ thuộc rất nhiều vào năng lực công nghệ của hai bên, đặc biệt là bên nhận chuyển giao công nghệ.Nếu doanh nghiệp không đủ kiến thức để thẩm định thiết bị công nghệ khi được chuyển giao, dễ dẫn đến trường hợp máy móc nhận về gặp trục trặc, hư hỏng hoặc không sử dụng được, phải vứt bỏ.Hợp đồng sơ hở cũng là lỗi mà nhiều doanh nghiệp mắc phải khi soạn thảo và đàm phán Nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng chuyển giao công nghệ nhưng lại không có điều khoản quy định rõ ràng về đào tạo và trợ giúp kỹ thuật nên gặp khó khăn lớn khi công nghệ gặp trục trặc kỹ thuật Những cái thiếu khác như sự hỗ trợ từ phía đối tác, sự chủ động trong thị trường, nguồn nhân lực có tay nghề và được đào tạo, kỹ năng quản lý cũng trở thành những yếu tố làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ Ngoài ra, trong quá trình thực hiện chuyển giao công nghệ dễ phát sinh rủi ro do công nghệ có nhiều đối tượng, hạng mục mua bán nên doanh nghiệp khó cùng một lúc nhận biết được tất cả các quyền của bên mua dưới các góc độ kỹ thuật, thương mại, pháp lý

Vì vậy khi thực hiện, những vấn đề về quyền, nghĩa vụ mới phát sinh dễ dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện.Do đó trước khi tiến hành chuyển giao công nghệ, các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp mình

và lưu ý các vấn đề như phân tích lợi nhuận mang lại khi chuyển giao công nghệ, cân nhắc xem nhập công nghệ trọn gói hay từng phần là hiệu quả nhất Đồng thời doanh nghiệp phải có kiến thức, kinh nghiệm, nắm vững luật pháp chuyển giao công nghệ, đặc biệt cần nhờ sự hỗ trợ của các tổ chức dịch vụ tư vấn trong giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ Bên cạnh đó, để đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ, cần có tổ chức chuyên xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về cung và cầu công nghệ cả trong và ngoài nước Song song đó, cần tạo cơ chế khuyến khích các cơ sở sản xuất ứng dụng các sản phẩm công nghệ cao, các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Trang 32

30

1.3 Vai trò của nhập khẩu công nghệ

Công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt ở chỗ là không phải bất cứ nước nào nhập khẩu được nhưng công nghệ mới, công nghệ cao đều có thể thành công trong việc sử dụng công nghệ nhập và cải thiện được vị trí về trình

độ công nghệ của quốc gia mình so với các nước trên thế giới Bởi lẽ, nhập khẩu công nghệ mới chỉ là điều kiện cần và điều kiện đủ là phải tăng cường năng lực nội sinh cả về trình độ lẫn cơ sở hạ tầng để có thể phát huy hiệu quả của công nghệ nhập khẩu cũng như tiếp tục nghiên cứu và phát triển trình độ công nghệ của nước nhà trên cơ sở những công nghệ nhập Vì vậy, vai trò của nhập khẩu công nghệ rất quan trọng vì nó là điều kiện cần thiết cho bước phát triển năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ tiếp theo của đất nước nói chung và khối doanh nghiệp nói riêng

Nhập khẩu công nghệ chính là nhằm mục đích nâng cao trình độ năng lực công nghệ của quốc gia và bằng những công nghệ này có thể sản xuất ra các sản phẩm chất lượng tốt đáp ứng các tiêu chuẩn của quốc gia cũng như đạt các tiêu chuẩn xuất khẩu, có giá cả hợp lý, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và của doanh nghiệp trên thị trường nội địa và cả thị trường nước ngoài Mặt khác, nhập khẩu công nghệ cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý để phát triển kinh tế đất nước, trên cơ sở phát huy hết mọi lợi thế và sử dụng tối

ưu nguồn lực của quốc gia Đối với Việt Nam, do điều kiện nên kinh tế đang

ở trình độ phát triển thấp, trình độ công nghệ còn lại hậu so với các nước trong khu vực và thế giới, muốn đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và liên tục thì một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu là phải nhập khẩu được những công nghệ mới, công nghệ cao đáp ứng được những yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, tuy nhiên, hệ lụy của những thành tựu là ngày càng làm cho môi trường sống trên trái đất ngày càng ô nhiễm, và một trong những vấn

đề lo ngại của nhân loại là làm thế nào để con người vẫn phát triển được kinh

Trang 33

tế nhưng đồng thời phải phát triển bền vững, đảm bảo những yêu cầu bức thiết của công tác bảo vệ môi trường Do đó, trong công tác nhập khẩu công nghệ phải bám sát quan điểm phát triển và môi trường, nghĩa là các công nghệ nhập khẩu phải đảm bảo là các công nghệ phải đạt trình độ tiên tiến có khả năng sản xuất ra các sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường vừa đảm bảo phát triển tăng trưởng kinh tế vừa đảm bảo được những yêu cầu về bảo vệ môi trường

Nhập khẩu công nghệ tạo ra công ăn, việc làm cho người lao động, điều này lúc đầu nghe có vẻ không đúng theo cách hiểu thông thường, bởi lẽ, khi nhập khẩu công nghệ hiện đại hơn những công nghệ hiện dung sẽ dẫn tới việc tinh giảm biên chế nếu quy mô sản xuất kinh doanh không tăng, có nghĩa là khi có công nghệ mới sẽ làm giảm nhu cầu về lao động Tuy nhiên, nhập khẩu công nghệ phải gắn với việc tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội thì đòi hỏi phải có chiến lược nhập khẩu và chính sách phát triển ngành công nghiệp, vừa đảm bảo phát triển theo chiều rộng và cả chiều sâu, nghĩa là vừa làm tăng thêm quy mô, vừa tạo thêm những ngành nghề mới, đồng thời nâng cao trình

độ công nghệ, trình độ sản xuất và kinh doanh của các ngành kinh tế mới Vì vậy, theo chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và chính phủ đã

đề ra chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng chuyển dần từ cơ cấu nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ sang công nghiệp – dịch vụ - nooing nghiệp, ngư nghiệp Với chủ trương này, việc nhập khẩu công nghệ không những nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và của doanh nghiệp mà một yêu cầu vô cùng quan trọng đó là giải quyết tốt về công ăn việc làm cho dân cư

Trong tiến trình hội nhập của quốc gia vào kinh tế khu vực và thế giới, thực tế đang đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức, thị trường ngày càng mở rộng, quá trình tự do hóa thương mại ngày càng diễn ra sôi động và sâu rộng trong tất cả các ngành kinh tế và đời sống xã hội, điều đó tạo ra cơ hội thuận lợi nhưng cũng đồng thời đặt ra một thách thức lớn đó là quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau, giữa doanh nghiệp

Trang 34

32

trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng trở lên gay gắt và quyết liệt Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam, đa phần là các doanh nghiệp có sức cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế, một trong nhiều nguyên nhân chính là do trình độ công nghệ đang được sử dụng của doanh nghiệp còn nhiều bất cập Các vấn đề tiếp cận thông tin về công nghệ và giá cả thị trường,

về các nguồn cung ứng công nghệ, năng lực tài chính của doanh nghiệp còn yếu; trình độ khoa học kỹ thuật của đội ngũ lao động còn thấp; điều kiện cơ

sở vật chất còn lạc hậu gây khó khăn cho việc sử dụng và làm chủ công nghệ mới…Do đó, nếu coi công nghệ là một trong những động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng lực nội sinh về công nghệ của doanh nghiệp, tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, thì công tác nhập khẩu công nghệ phải được coi trọng và có ý nghĩa tiên quyết trong việc chuẩn bị cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động và có hiệu quả

1.4 Tiêu chí đánh giá năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

Như đã phân tích ở phần nội hàm khái niệm năng lực nội sinh về khoa học

và công nghệ của quốc gia nói chung và của doanh nghiệp nói riêng thì năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp thể hiện ở khả năng các doanh nghiệp có thể tiến hành, thực hiện được các nội hàm (yếu tố) của năng lực công nghệ gồm: Năng lực vận hành, năng lực giao dịch, năng lực đổi mới, năng lực hỗ trợ Tích chất nội sinh của năng lực ở đây không phải cái chung chung mà phải là cụ thể Tích chất nội sinh về khoa học và công nghệ là năng lực khoa học và công nghệ trên thực thực tế nên tiêu chí đánh giá năng lực cần dựa trên các điều kiện cần thiết để trở thành hiện thực.Những điều kiện đó chính là nguồn lực Về lý thuyết cũng như trong thực tiễn quản lý và ra quyết định chính sách pháp lý, các nguồn lực được phân chia thành:

- Nhân lực (Nguồn lực về con người)

- Tài lực (Nguồn lực về tài chính)

Trang 35

- Vật lực (Nguồn lực về vật chất)

- Tin lực (Nguồn lực về thông tin)

Ngoài ra, có thể phân tích thêm ở phần nguồn lực là nguồn lực về mạng lưới tổ chức của các doanh nghiệp Các nguồn lực về Khoa học và công nghệ Như vậy, tiêu chí đánh giá năng lực nội sinh về Khoa học và công nghệ của doanh nghiệp có thể chia ra thành:

1.4.1 Tiêu chí đánh giá năng lực

1.4.2 Tiêu chí đánh giá về nguồn lực

a) Nhân lực (Nhân lực cho KH&CN):

Ở đây, tôi không đề cập đến khái niệm nhân lực KH&CN vì đó là khái niệm được dùng phổ biến và chúng ta có thể bắt gặp ở bất cứ tài liệu nào có liên quan Nhân lực KH&CN được coi là nguồn lực quan trọng nhất có tích chất quyết định, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế tri thức nơi mà tri thức được sản sinh bởi con người và việc sử dụng tri thức ấy cũng như hiệu quả của việc sử dụng ấy do con người thực hiện và phụ thuộc vào chính họ với sự trợ giúp của các nguồn lực khác Theo thông lệ quốc tế cũng như ở Việt Nam, Nhân lực KH&CN được đánh giá trên 2 tiêu chí: Số lượng và chất lượng

Thông thường, quan hệ tỷ lệ về quy mô số lượng nhân lực KH&CN thường được thể hiện qua các tiêu chí cán bộ KH&CN tính trên 1000 hay 10.000 dân Tiêu chí số lượng là tiêu chí quan trọng thường được sử dụng trong xem xét, đánh giá nhân lực KH&CN.Số lượng nhân lực KH&CN trong

Trang 36

1996, số tổ chức KH&CN đã tăng gấp gần ba lần; nhân lực KH&CN cũng tăng gấp ba lần So với giai đoạn 2001-2005 thì tăng gấp gần 1,5 lần về số lượng Tuy nhiên, số liệu thống kê cho thấy, nguồn lao động KH&CN trong các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm 7,25% lực lượng lao động

Như vậy có thể thấy, nhân lực KH&CN trong khối các doanh nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp vì hiện nay các doanh nghiệp chưa có nhiều chính sách thu hút nhân lực lĩnh vực này

Về chất lượng đội ngũ nhân lực KH&CN, nếu xét theo các thành tố cấu thành năng lực nội sinh về KH&CN thì nhân lực KH&CN có thể xem xét, đánh giá trên các tiêu chí: khả năng nhận biết, khả năng lựa chọn và phát triển, khả năng ra quyết định

b) Tài lực (Tài chính cho KH&CN)

Trong quản lý, tài chính được coi là huyết mạch của mọi hoạt động.Vị trí của tài chính cho hoạt động KH&CN rất quan trọng Tuy nhiên, dưới góc nhìn của đánh giá năng lực nội sinh về KH&CN của doanh nghiệp, nguồn lực tài chính cho KH&CN được đánh giá dưới 3 tiêu chí chính:

8

Tham khảo tại http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/ChinhSach/View_Detail.aspx?ItemID=179 , 25/6/2012

Trang 37

- Doanh nghiệp dành bao nhiêu tiền cho hoạt động KH&CN so với tổng doanh thu của doanh nghiệp đó Tiêu chí này nói lên quy mô nguồn lực tài chính cho KH&CN

- Chỉ tiêu cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ trong tổng chi cho KH&CN của doanh nghiệp

- Chỉ tiêu cho nghiên cứu cơ bản trong tổng chi cho KH&CN của doanh nghiệp

Mười năm trở lại đây, dữ liệu khảo sát doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp có các hoạt động liên quan đến nghiên cứu phát triển R&D và đổi mới công nghệ ở Việt Nam là rất thấp Điều này thể hiện ở tỷ lệ lao động trực tiếp hoạt động nghiên cứu, phát triển (R&D) trong doanh nghiệp ít và có xu hướng giảm dần (giai đoạn 2007-2011, tỷ lệ lao động này giảm từ 8,14% xuống còn 2,49% tổng số lao động) Tỷ lệ chi cho hoạt động R&D của doanh nghiệp những năm qua đã được tăng lên đáng

kể, một phần là do công nghệ của các doanh nghiệp đã quá lạc hậu Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị trung bình trong giai đoạn 2010-2012 của doanh nghiệp Việt Nam đạt 9,7% Tuy nhiên, trong

cơ cấu chi thì đa số các doanh nghiệp chi cho mua sắm công nghệ mới mà ít chi cho hoạt động R&D Đối với chỉ tiêu cho nghiên cứu cơ bản ở khối doanh nghiệp thì hầu như bằng không

c) Vật lực (cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho KH&CN)

Dưới giác độ năng lực nội sinh về KH&CN thì tiêu chí về cơ sở hạ tầng

kỹ thuật cho KH&CN ở cấp độ quốc gia thì thể hiện ở số lượng cơ sở, phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế Thông thường các nước có năng lực nội sinh mạnh thì thường có nhiều cơ sở, phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế Còn đối với tiêu chí này ở doanh nghiệp thì nó thể hiện, doanh nghiệp trang bị những gì cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho việc nâng cao năng lực nội sinh về KH&CN của chính mình

d) Tin lực (Thông tin cho hoạt động KH&CN và quản lý KH&CN)

Trang 38

36

Trong xu thế toàn cầu hóa và chuyển sang nên kinh tế tri thức, xã hội thông tìn thì Thông tin cho hoạt động KH&CN và quản lý KH&CN này ngày càng trở lên quan trọng Đã có nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18/2/2014

về hoạt động thông tin KH&CN.Điều này thể hiện được nguồn lực này càng được coi trọng hơn trong thời kỳ hiện nay Nghị định này quy định về hoạt động thông tin KH&CN bao gồm: Nội dung hoạt động, hạ tầng thông tin và

cơ sở dữ liệu Quốc gia về KH&CN, các biện pháp đảm bảo, tổ chức và quản

lý nhà nước về hoạt động thông tin KH&CN

Thông tin cho hoạt động KH&CN của doanh nghiệp cũng dựa trên tiêu chí này để đánh giá năng lực thông tin và hiệu quả của việc sử dụng tin lực cho hoạt động năng cao năng lực nội sinh về KH&CN của chính chủ thể doanh nghiệp đó

về KH&CN thể hiện trong việc: có bao nhiêu cá nhân, đơn vị trong doanh nghiệp tham gia vào mạng lưới này, có bao nhiêu hợp đồng KH&CN được ký kết với doanh nghiệp trong và ngoài nước, với các viện nghiên cứu và các trường đại học

1.5.Kinh nghiệm các nước về nâng cao năng lực nội sinh vê khoa học và công nghệ trên thế giới

Ngày nay khoa học đã và đang trở thành lực lượng sản xuất toàn cầu Để giành những vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) khác nhau, nhiều nước phát triển và đang phát triển đều chú trọng và tăng

Trang 39

cường đầu tư vào phát triển KH&CN gắn nghiên cứu KH&CN với phát triển kinh tế Việt Nam là một trong những nước được đánh giá là có tiềm năng lớn

về khoa học và công nghệ, song hiện nay trình độ khoa học và công nghệ của Việt Nam vẫn nằm trong vùng trũng của khu vực Nhận thức vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong phát triển đặt ra nhu cầu học hỏi kinh nghiệm của các nước để rút ra bài học cho Việt Nam, ở đây tôi phân tích vai trò của nâng cao năng lực nội sinh ở cấp độ doanh nghiệp

1.5.1 Hàn Quốc

Trong thập kỷ qua, một số doanh nghiệp Hàn Quốc đã vươn lên trở thành những tác nhân có vị thế toàn cầu với các sản phẩm đặc trưng của mình Các doanh nghiệp của Hàn Quốc đã rất nỗ lực trong việc phát triển công nghệ của mình và gần đây họ đã thu hẹp khoảng cách công nghệ so với các nước đứng đầu thế giới ở Phương Tây và Nhật Bản Ví dụ, khi nhắc đến Hàn Quốc, người ta nhắc đến “công ty điện tử Samsung” như niềm tự hào của các doanh nghiệp trong nước cũng như của Hàn Quốc trên thị trường công nghệ, hay ngành công nghiệp nặng Hyundai trong lĩnh vực đóng tàu …

Trong 4 thập kỷ qua, Hàn Quốc đã thành công trong việc chuyển đổi từ một nước đang phát triển thành một quốc gia tiên tiến.Hàn Quốc là một bài học tốt cho các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển về nâng cao mạnh mẽ năng lực công nghệ quốc gia Tuy nhiên, ở đây tôi đi sâu phân tích khả năng hình thành một khuôn khổ mới cho mô hình đổi mới của Hàn Quốc ở cấp doanh nghiệp, khả năng phát triển năng lực nội sinh về công nghệ của chính các doanh nghiệp trong nước dựa trên nền chính sách khoa học và công nghệ cải tiến theo thời kỳ của Hàn Quốc Cụ thể, các công ty Hàn Quốc đã trải qua

ba giai đoạn phát triển tuần tự, mô hình đổi mới công nghệ ở cấp doanh nghiệp của Hàn Quốc có thể tóm gọn gồm ba giai đoạn là “đi theo”, “phá lối”

và “mở đường” Về phát triển công nghệ, mô hình Hàn Quốc trải qua các bước từ “học hỏi tập thể” ở giai đoạn đầu tiên, đến “tái kết hợp tập thể” kiến

Trang 40

38

thức và công nghệ hiện có trong giai đoạn thứ 2 và tiến đến “sáng tạo tập thể”

ở giai đoạn thứ 3 Cả ba giai đoạn đều có thể được gọi là “sáng tác chung”9

Các doanh nghiệp ở Hàn Quốc đã có những nỗ lực trong việc xây dựng R&D nội bộ và thiết lập thành công nền tảng R&D mạnh.Kết quả của những

nỗ lực đó là một số sản phẩm của Hàn Quốc đã nổi lên trở thành sản phẩm hàng đầu trên thế giới Ví dụ:

Điện thoại di động Chiếm thị phần toàn cầu (5%, 2008)

Bảng 1.1 : Hoạt động của các doanh nghiệp Hàn Quốc 10

+ “Đi theo” - ở giai đoạn này, phần lớn các kiến thức công nghệ và bí quyết sản xuất được chuyển giao từ doanh nghiệp ở các nước tiên tiến hơn Ở giai đoạn này, vai trò của các công ty Hàn Quốc gần như bị hạn chế để tiếp thu và mua lại công nghệ nhập khẩu thông qua học hỏi và nội địa hóa công nghệ cũng như tạo ra những thay đổi nhỏ để phù hợp với môi trường sản xuất trong nước Phát triển công nghệ ở giai đoạn này được cho là “học hỏi tập thể” Sản phẩm do các doanh nghiệp Hàn Quốc phát triển dựa trên kiến thức công nghệ hoặc công nghệ chế biến nhập khẩu từ các nước tiên tiến Các công nghệ này được nhập khẩu qua các kênh chuyển giao công nghệ chính thức hoặc không chính thức đã đáp ứng được một phần quan trọng của tiến bộ công nghệ.Hơn nữa, giai đoạn này, hoạt động tích cực học hỏi của tập thể doanh nghiệp cũng rất quan trọng trong việc xây dựng và cải thiện năng lực công nghệ Ví dụ điển hình như ngành công nghiệp nặng Hyundai đã tạo nên

9

Nguồn: có thể tham khảo chi tiết trong GS.TS Youngrak Choi, Nhìn lại mô hình đổi mới của Hàn Quốc, tài

liệu: Tạp chí: Chính sách và quản lý Khoa học và công nghệ, tập 2, số 2/2013

10

Youngrak Choi “Nhìn lại mô hình đổi mới của Hàn Quốc” , tài liệu: Tạp chí: Chính sách và quản lý Khoa

học và công nghệ, tập 2, số 2, năm 2013, tr 80

Ngày đăng: 16/09/2015, 20:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam(2010), Nghị định số 87/2010/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 87/2010/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
2. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật sở hữu trí tuệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sở hữu trí tuệ
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
3. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật chuyển giao công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật chuyển giao công nghệ
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
4. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2009
5. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
6. Nguyễn Đức Bình (2003), GS.TS Lê Hữu Nghĩa, GS.TS Trần Hữu Tiến (đồng chủ biên), Góp phần nhận thức thế giới đương đại, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nhận thức thế giới đương đạ
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
7. Trần Ngọc Ca (2000), nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu & triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam”, đề tài cấp Bộ, Viện Chiến lược &Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu & triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Ca
Nhà XB: Viện Chiến lược & Chính sách KH&CN
Năm: 2000
8. Nguyễn Thúy Hà (2013),chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN,http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/ChinhSach/View_Detail.aspx?ItemID=179, 7/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN
Tác giả: Nguyễn Thúy Hà
Năm: 2013
9. Nguyễn Đăng Hải (2001), Khái niệm nghiên cứu, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số 4/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Đăng Hải
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2001
10. Trần Văn Hải, Trần Điệp Thành, Một số điểm cần chú ý khi định giá tài sản trí tuệ của doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO - Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, Hà Nội, 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điểm cần chú ý khi định giá tài sản trí tuệ của doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa
Tác giả: Trần Văn Hải, Trần Điệp Thành
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế
Năm: 2006
11. Nguyễn Văn Hoàn và các tác giả (2005), Chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn, các tác giả
Năm: 2005
12. Nguyễn Sĩ Lộc (1994),Những vấn đề năng lực nội sinh trong KHCN phục vụ công nghiệp hóa, đề tài cấp bộ, Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề năng lực nội sinh trong KHCN phục vụ công nghiệp hóa
Tác giả: Nguyễn Sĩ Lộc
Nhà XB: Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường
Năm: 1994
13. Nguyễn Mạnh Quân (2009), Cách tiếp cận hệ thống đổi mới trong quản lý nhà nước về KH&CN, tạp chí Hoạt động Khoa học, số 12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tiếp cận hệ thống đổi mới trong quản lý nhà nước về KH&CN
Tác giả: Nguyễn Mạnh Quân
Nhà XB: tạp chí Hoạt động Khoa học
Năm: 2009
14. Nguyễn Danh Sơn và các tác giả (2003), các biện pháp tăng cường năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam,http://123doc.vn/document/2256989, 10/9/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: các biện pháp tăng cường năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Danh Sơn, các tác giả
Năm: 2003
15. Nguyễn Thủy (2014), doanh nghiệp Việt Nam rất chậm đổi mới công nghệ, http://muasamcong.vn/danh-muc-tin/detail/doanh-nghiep-viet-nam-rat-cham-doi-moi-cong-nghe, 6/5/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: doanh nghiệp Việt Nam rất chậm đổi mới công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thủy
Năm: 2014
16. Nguyễn Thanh Tùng (2007), Về chính sách khuyến khích nhập công nghệ, Tạp chí hoạt động Khoa học, số 8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách khuyến khích nhập công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thanh Tùng
Nhà XB: Tạp chí hoạt động Khoa học
Năm: 2007
17. Youngrak Choi (2013), Nhìn lại mô hình đổi mới của Hàn Quốc, tạp chí chính sách và quản lý Khoa học và công nghệ, tập 2, số 2/2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Bảng cơ cấu ngành hàng nhập khẩu - Phát triển công nghệ nhập khẩu nhằm tăng cưởng năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay ( nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần tiến bộ quốc tế   AIC)
Bảng 2.2 Bảng cơ cấu ngành hàng nhập khẩu (Trang 60)
Bảng 2.4: Bảng trị giá kim ngạch nhập khẩu qua 2 phương thức chính - Phát triển công nghệ nhập khẩu nhằm tăng cưởng năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay ( nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần tiến bộ quốc tế   AIC)
Bảng 2.4 Bảng trị giá kim ngạch nhập khẩu qua 2 phương thức chính (Trang 63)
Bảng 2.5: Báo cáo tài chính tóm tắt 2011-2013 - Phát triển công nghệ nhập khẩu nhằm tăng cưởng năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay ( nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần tiến bộ quốc tế   AIC)
Bảng 2.5 Báo cáo tài chính tóm tắt 2011-2013 (Trang 70)
Sơ đồ minh h Với sản phẩm kinh doanh truy - Phát triển công nghệ nhập khẩu nhằm tăng cưởng năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay ( nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần tiến bộ quốc tế   AIC)
Sơ đồ minh h Với sản phẩm kinh doanh truy (Trang 71)
Bảng 2.6: Thống k - Phát triển công nghệ nhập khẩu nhằm tăng cưởng năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay ( nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần tiến bộ quốc tế   AIC)
Bảng 2.6 Thống k (Trang 71)
Bảng 2.7: Thống kê số lượng sản phẩm của hoạt động phát triển công - Phát triển công nghệ nhập khẩu nhằm tăng cưởng năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay ( nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần tiến bộ quốc tế   AIC)
Bảng 2.7 Thống kê số lượng sản phẩm của hoạt động phát triển công (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w