Bằng cách đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chính sách khắc phục: nâng cao nhận thức của lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừa về vai trò của hoạt động R&D trong đổi mới công nghệ,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LẠI QUỐC ĐẠT
HÌNH THÀNH BỘ PHẬN R&D ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY TNHH
SƠN LÂM – CĐP TỈNH TUYÊN QUANG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LẠI QUỐC ĐẠT
HÌNH THÀNH BỘ PHẬN R&D ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY TNHH
SƠN LÂM – CĐP TỈNH TUYÊN QUANG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Hải
Hà Nội, 2015
Trang 31
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 8
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Mẫu khảo sát 8
6 Câu hỏi nghiên cứu 8
7 Giả thuyết nghiên cứu 8
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ 10
MỐI QUAN HỆ GIỮA NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 10
VỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 10
1.1 Cơ sở lý luận về nghiên cứu và triển khai 10
1.1.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học 10
1.1.2 Khái niệm triển khai 13
1.1.3 Khái niệm nghiên cứu và triển khai 14
1.2 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa 16
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp 16
1.2.2 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 18
1.2.3 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 21
1.2.4 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 23
1.3 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa 24
1.3.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa 24
1.3.2 Năng lực công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa 27
1.4 Tác động của nghiên cứu và triển khai đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa 30
1.4.1 Quan niệm về nghiên cứu và triển khai với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa 30
1.4.2 Nội dung về sự tác động của nghiên cứu và triển khai đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa 34
* Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2 38
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH 38
CỦA CÔNG TY TNHH SƠN LÂM – CĐP TỈNH TUYÊN QUANG 38
2.1 Khái quát về Công ty Sơn Lâm 38
2.1.1 Nhiệm vụ của Công ty Sơn Lâm 38
2.1.2 Nhân lực R&D của Công ty Sơn Lâm 39
2.1.3 Nhân lực phổ thông của Công ty Sơn Lâm 43
2.1.4 Thiết bị phục vụ hoạt động của Công ty Sơn Lâm 44
2.2 Nghiên cứu tính khả thi trong thăm dò quặng Kaolin-Feldpas 45
2.2.1 Nghiên cứu chứng minh nhu cầu của thị trường 45
2.2.2 Nghiên cứu chứng minh sự cần thiết phải đầu tư thăm dò 46
2.2.3 Nghiên cứu chứng minh hiệu quả của mô hình quản lý 48
2.3 Kết quả hoạt động R&D trong thăm dò quặng Kaolin-Feldpas 50
Trang 42
2.3.1 Kết quả nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 50
2.3.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm địa chất mỏ 51
2.3.3 Kết quả nghiên cứu chất lượng và đặc điểm công nghệ của kaolin 55
2.3.4 Kết quả nghiên cứu chất lượng và đặc điểm công nghệ của felspat 58
2.4 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Sơn Lâm qua hoạt động thăm dò quặng 61
2.4.1 Năng lực cạnh tranh qua việc đánh giá chỉ tiêu trữ lượng 61
2.4.2 Năng lực cạnh tranh qua việc tính trữ lượng 61
* Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3 65
HÌNH THÀNH BỘ PHẬN R&D 65
TẠI CÔNG TY TNHH SƠN LÂM – CĐP TỈNH TUYÊN QUANG 65
3.1 Sự cần thiết hình thành bộ phận R&D trong khai thác, chế biến 65
3.1.1 Nhu cầu thực tiễn 65
3.1.2 Nhiệm vụ 65
3.2 Cấu trúc và nhiệm vụ của bộ phận R&D tại Công ty Sơn Lâm 66
3.2.1 Cơ sở thực tiễn để hình thành bộ phận R&D 66
3.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của bộ phận R&D trong hoạt động thăm dò 69
3.3 Nghiên cứu điều kiện khai thác mỏ 69
3.3.1 Nghiên cứu địa chất thuỷ văn 69
3.3.2 Nghiên cứu bảo đảm vệ sinh công nghiệp và phòng chống cháy nổ 74
3.4 Nghiên cứu giải pháp công nghệ chế biến quặng 75
3.4.1 Mục tiêu đầu tư công nghệ khai thác và chế biến quặng 75
3.4.2 Nghiên cứu lựa chọn quy mô, công suất và chủng loại sản phẩm 75
3.4.3 Nghiên cứu lựa chọn công nghệ khai thác và chế biến 76
3.4.4 Nghiên cứu lựa chọn công nghệ cung cấp nước 85
3.5 Đánh giá hoạt động R&D trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh 86
3.5.1 Đánh giá tác động dương tính 86
3.5.2 Đánh giá tác động âm tính 96
* Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 53
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Organization Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc
Trang 6từ các nguồn thu của doanh nghiệp để tổ chức bộ phận R&D, các doanh nghiệp nhỏ và vừa với tiềm lực tài chính có hạn thực hiện các nhiệm vụ R&D với sự hỗ trợ một phần tài chính từ ngân sách và từ các nguồn khác
Trong một nghiên cứu do Trung tâm thông tin dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thực hiện đã đánh giá về nhu cầu thực tiễn
của hoạt động KH&CN nói chung và hoạt động R&D nói riêng là:“Trong giai đoạn 2011-2020, hoạt động R&D trên thế giới sẽ phát triển mạnh, do các nền kinh tế đều nhận thức được vai trò quan trọng của KH&CN đối với sản xuất Chi cho R&D sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong chi ngân sách quốc gia và đặc biệt là các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia …” Cũng theo nhận định của Trung tâm thông tin dự báo kinh tế - xã hội quốc gia "Những thành tựu KH-
CN được áp dụng có hiệu quả sẽ trang bị lại về kỹ thuật cho các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế, từng bước thay thế các tư liệu sản xuất truyền thống bằng tư liệu sản xuất hiện đại, đóng góp 50-60% vào tăng trưởng kinh tế, trong đó 3/5 là do tăng năng suất lao động"
Báo cáo của tổ chức UNCTAD (Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc) cho thấy, trong năm 2002, thế giới đã chi 677 tỉ đô la đầu tư cho R&D, trong đó các tập đoàn xuyên quốc gia đã chi khoảng một nửa Riêng trong hoạt động R&D của lĩnh vực thương mại, chi phí của các tập đoàn này còn lớn hơn, chiếm 2/3 tổng số chi của toàn thế giới Trong năm
2003, mức chi cho R&D của mỗi tập đoàn lớn như Ford, Plizer, DamslerChryler, Siemens, Toyota và General Motor đều vượt quá 5 tỉ đô la
Mỹ Cũng từ báo cáo của cơ quan này, hiện nay các doanh nghiệp lớn của thế
Trang 75
giới đang chuyển nhiều hoạt động R&D của họ ra nước ngoài và một điểm đến được ưa thích nhất chính là châu Á Một số quốc gia thành công nhất trong lĩnh vực thu hút các đầu tư R&D của các tập đoàn xuyên quốc gia có thể kể đến là Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Singapore
Nhưng thực tiễn ghi nhận rằng, kết quả từ hoạt động R&D của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng so với thế giới Nguyên nhân hạn chế là nhiều doanh nghiệp còn mang nặng suy nghĩ từ nền kinh tế “bao cấp”, chưa chủ động nghiên cứu xây dựng chiến lược kinh doanh đúng đắn phù hợp với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế… Việc đầu
tư cho nghiên cứu và triển khai còn thấp, nhiều doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ) chi phí quá ít hoặc không chi phí cho R&D, dẫn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn rất hạn chế
Xuất phát từ lý do như đã phân tích, tôi chọn đề tài Hình thành bộ phận R&D để nâng cao năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghiên cứu trường hợp Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang)
làm Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đã có các công trình khoa học tại nước ngoài nghiên cứu về chủ đề mà Luận văn đã lựa chọn, có thể điểm:
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nirmala Kannankutty (2014), Nghiên cứu
về các doanh nghiệp KH&CN, thống kê và điều tra về hoạt động R&D và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Hoa Kỳ (Research on the Science and Technology Enterprise: Statistics and Surveys - R&D, U.S S&T Competitiveness) Luận án này đã thống kê và điều tra số liệu do các doanh
nghiệp đầu tư chi phí cho R&D, để chứng minh mối quan hệ giữa đầu tư cho hoạt động R&D với năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, kết quả cho thấy có tỷ lệ thuận giữa chi phí cho R&D với năng lực cạnh tranh và lợi nhuận của doanh nghiệp;
- Nghiên cứu của OECD (2014) về Innovation in science, technology and industry Research and Development đã tìm ra mối quan hệ giữa GDP của
Trang 86
các quốc gia và việc đầu tư chi phí cho hoạt động R&D của các doanh nghiệp trong quốc gia đó, kết quả cho thấy nhóm quốc gia có GDP thấp thì các doanh nghiệp có xu hướng chi phí ít hoặc không chi phí cho hoạt động R&D, từ đó dẫn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thấp
Tại Việt Nam cũng đã có các nghiên cứu liên quan đến hoạt động R&D
và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, có thể nêu:
- Đề tài: Nghiên cứu sự hình thành phát triển tổ chức và hoạt động R&D trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam của Nguyễn Minh Hạnh (2007) đã phân tích lịch sử quá trình hình thành, phát triển của tổ chức và
hoạt động R&D trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, tác giả đã rút ra các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài cản trở việc thúc đẩy tổ chức và hoạt động R&D của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Bằng cách đó, tác giả đã đề xuất một
số giải pháp chính sách khắc phục: nâng cao nhận thức của lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừa về vai trò của hoạt động R&D trong đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện các hoạt động và tổ chức hoạt động R&D thông qua cơ chế miễn giảm thuế, chương trình xác lập quyền sở hữu trí tuệ, bảo lãnh tín dụng…
- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN của Nguyễn Thanh
Bình (2010)“Những khó khăn trong việc chuyển đổi các đơn vị R&D của ngành Năng lượng Nguyên tử Việt Nam theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và giải pháp khắc phục”, đã vận dụng Khoa học về Chính sách và
quản lý, đồng thời thông qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, góp phần nhận diện thêm đầy đủ những khó khăn, đặc biệt là những khó khăn cụ thể, đặc thù trong việc chuyển đổi của Ngành năng lượng nguyên tử hiện nay và khuyến nghị các giải pháp bổ sung, hỗ trợ để các đơn vị R&D nói trên từng bước chuyển đổi thành công theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, góp phần hiện
thực hoá ý tưởng tốt đẹp của Nghị định 115
- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN của Thái Văn Tào
(2013) “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D)
Trang 97
trong các doanh nghiệp chế biến tại tỉnh Vĩnh Long” nghiên cứu thực tiễn
hoạt động R&D của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến tại Vĩnh Long, thu thập các luận cứ lý thuyết và thực tế, trên cơ sở đó đề xuất, khuyến nghị các giải pháp thích hợp cho Nhà nước và DN ở địa phương, góp phần đổi mới phương thức quản lý các hoạt động KH&CN của hệ thống đổi mới quốc gia, trong quá trình hội nhập và phát triển toàn cầu như hiện nay
- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN của Nguyễn Thị Hà
(2014) “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục vụ công tác đánh giá hoạt động của tổ chức R&D thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong trường đại học ở Việt Nam”, Luận văn đã phân
tích hiện trạng các chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra nhằm phục vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong các trường đại học: thực tế ở Việt Nam và kinh nghiệm trên thế giới; nhu cầu cần hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học ở Việt Nam; Đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu vào và đầu ra phục vụ công tác đánh giá hoạt động của các tổ chức R&D thuộc lĩnh vực KHXH&NV trong trường đại học ở Việt Nam
Có thể nhận định: các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã chỉ ra mối quan hệ giữa chi phí cho hoạt động R&D với năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng các nghiên cứu ở nước ngoài chưa hoàn toàn phù hợp với môi trường kinh doanh, môi trường KH&CN như ở Việt Nam Trong khi đó, các nghiên cứu ở trong nước chưa
chỉ ra được mối quan hệ này Do đó, đề tài Hình thành bộ phận R&D để nâng cao năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghiên cứu trường hợp Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang) có nhiệm vụ
giải quyết “khoảng trống” như đã chỉ ra
Trang 108
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu: Chứng minh việc hình thành bộ phận R&D có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận văn phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở lý luận về mối tương quan giữa R&D với năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Hiện trạng hoạt động R&D của Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang;
- Giải pháp hình thành bộ phận R&D để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: 2010-2014
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang
5 Mẫu khảo sát
Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang
6 Câu hỏi nghiên cứu
Cấu trúc và hoạt động của bộ phận R&D thuộc Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang như thế nào để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bộ phận R&D thuộc Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang cần:
- Về tổ chức: trực thuộc người đứng đầu đơn vị, có đủ nhân lực có chất lượng với chuyên môn khác nhau;
Trang 119
- Về hoạt động: nghiên cứu và trực tiếp áp dụng kết quả nghiên cứu vào từng nhiệm vụ cụ thể của doanh nghiệp, lấy hiệu quả công nghệ, hiệu quả
kinh tế - xã hội, hiệu quả môi trường là tiêu chí để đo năng lực cạnh tranh
8 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được tác giả Luận văn sử dụng trong nghiên cứu là:
- Nghiên cứu tài liệu: Luận văn kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã có, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu cơ bản;
- Quan sát có tham dự: tác giả Luận văn có tham gia hoạt động R&D của Công ty TNHH Sơn Lâm – CĐP tỉnh Tuyên Quang, trực tiếp áp dụng các kết quả nghiên cứu mà R&D đề xuất;
- Nghiên cứu so sánh: Luận văn lấy kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động tương tự như mẫu khảo sát, lấy tiêu chí hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường để so sánh, chứng minh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào hoạt động R&D;
- Phương pháp chuyên gia: Luận văn phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực khai thác mỏ để đánh giá năng lực cạnh tranh từ tiêu chí hiệu quả công nghệ, lấy ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế mỏ để đánh giá năng lực cạnh tranh từ tiêu chí hiệu quả kinh tế, lấy ý kiến chuyên gia, người dân sinh sống trong khu vực mỏ hoạt động để đánh giá năng lực cạnh tranh từ tiêu chí hiệu quả môi trường
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nghiên cứu và triển khai với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Chương 2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Sơn Lâm hoạt động thăm dò Kaolin-Feldpas
- Chương 3 Hình thành bộ phận R&D tại Công ty Sơn Lâm hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến Kaolin-Feldpas
Trang 1210
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
VỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về nghiên cứu và triển khai
1.1.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học
Có nhiều cách quan niệm về nghiên cứu khoa học, trước hết do nghiên cứu khoa học là một bộ phận thuộc các hoạt động KH&CN, do đó khi định nghĩa khái niệm nghiên cứu khoa học người ta thường định nghĩa khái nhiệm hoạt động KH&CN trước
Luật KH&CN 2013 định nghĩa:
- Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ
- Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn
- Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất,
quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
- Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên
cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội
Trong định nghĩa trên, đáng chú ý là hoạt động KH&CN bao gồm … triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ,… trong đó tách phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ thành hai giai đoạn khác nhau Hoạt động KH&CN theo UNESCO là một chuỗi các hoạt động bao gồm
nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, trong đó nghiên cứu
cơ bản chia thành nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng; nghiên cứu cơ bản định hướng lại chia thành nghiên cứu nền tảng và
Trang 13Trong luận văn này, cách phân loại nghiên cứu khoa học nói riêng và
phân loại hoạt động KH&CN nói chung theo các giai đoạn và tính chất đặc
trưng sản phẩm của mỗi giai đoạn được sử dụng Việc thống nhất cách hiểu
những khái niệm này là rất quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý KH&CN Dưới đây xin được trình bày chi tiết về từng loại hình hoạt động KH&CN nói trên
a Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cơ bản (fundamental research hay basic research) là những nghiên cứu nhằm tìm ra các thuộc tính, cấu trúc, động thái của các đối tượng nghiên cứu, các sự vật và hiện tượng Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, định luật, định lý, v.v… trên cơ sở đó, hình thành nên các phát hiện, phát minh và các hệ thống lý thuyết mới
Nghiên cứu cơ bản được chia thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng
- Nghiên cứu cơ bản thuần túy
1 UNESCO (1980), Manual for Statistics on Scientific and Technological Activities, Paris, pp.15-19
Trang 1412
Nghiên cứu cơ bản thuần túy (pure fundamental research hay pure research) còn gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hay nghiên cứu cơ bản không định hướng, là những nghiên cứu tìm hiểu về bản chất sự vật và quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, tri thức mà chưa
có hoặc chưa bàn đến bất kỳ một ý nghĩa ứng dụng nào Loại hình nghiên cứu này, nhìn chung mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà nghiên cứu: họ tự suy nghĩ, tự đề xuất đề tài nghiên cứu, quyết định chọn lựa đối tượng nghiên cứu
và tổ chức nghiên cứu với tính tự chủ rất cao
- Nghiên cứu cơ bản định hướng
Nghiên cứu cơ bản định hướng (oriented fundamental research) hay đôi
khi còn gọi là nghiên cứu thăm dò, là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng Nghiên cứu cơ bản định hướng được chia thành nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề
+ Nghiên cứu nền tảng (background research) là những nghiên cứu về
quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật, ví dụ như các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên, điều tra cơ bản về các điều kiện tự nhiên như địa chất, khí tượng, thuỷ văn, điều tra cơ bản về KT-XH, v.v…
+ Nghiên cứu chuyên đề (thematic research) là nghiên cứu có hệ thống
về một hiện tượng, sự vật Nghiên cứu chuyên đề có thể dẫn đến những cơ sở
lý thuyết quan trọng và những ứng dụng có ý nghĩa to lớn trong đời sống, KT
- XH, ví dụ Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm các phương pháp tách - chiết Uranium từ quặng phóng xạ Việt Nam, Nghiên cứu tính toán nơtron và nhiệt thuỷ động của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt
b Nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu ứng dụng (applied research) là sự vận dụng các lý thuyết, quy luật thu được từ trong nghiên cứu cơ bản, tức là dựa trên cơ sở các kết quả, sản phẩm của nghiên cứu cơ bản, để đưa ra những mô tả, giải thích, dự
báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp Ở đây, giải pháp được hiểu theo
nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này, theo đó có thể là các giải pháp về công nghệ, vật liệu, sản phẩm, giải pháp về xã hội, quản lý, tổ chức, v.v… Nghiên
Trang 1513
cứu ứng dụng cũng có thể là nghiên cứu để áp dụng các kết quả nghiên cứu đã thành công ở một môi trường nhất định, vào trong một môi trường mới của sự vật và hiện tượng
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một hệ thống tri thức về nhận dạng trạng thái của sự vật, hiện tượng trong hiện tại và tương lai Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng cũng có thể là một giải pháp mới về công
nghệ, vật liệu, sản phẩm, về xã hội, tổ chức và quản lý, v.v… Sáng chế - loại
thành tựu trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, là một sản phẩm đặc biệt của nghiên cứu ứng dụng
Một điều cần lưu ý là, mặc dù mang tên gọi như vậy, nhưng kết quả của nghiên cứu ứng dụng vẫn chưa thể ứng dụng được ngay, mà để có thể đưa chúng vào sử dụng trong thực tế, còn phải trải qua một giai đoạn nghiên cứu
nữa, gọi là triển khai 2
1.1.2 Khái niệm triển khai
Triển khai (development) là cách viết tắt của một thuật ngữ đầy đủ là triển khai thực nghiệm kỹ thuật (technical experimental development), sau này còn gọi là triển khai thực nghiệm công nghệ (technological experimental development), là hoạt động vận dụng các quy luật (sản phẩm của nghiên cứu
cơ bản) và các nguyên lý, giải pháp (sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng) để tạo ra các vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với các tham số kỹ thuật khả thi Triển khai bao gồm ba giai đoạn:
a Tạo ra vật mẫu (làm prototype) là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được
sản phẩm mẫu hay còn gọi là vật mẫu chức năng (functional prototype), mà chưa quan tâm đến quy trình sản xuất ra vật mẫu và quy mô áp dụng vật mẫu
đó
b Tạo quy trình, công nghệ (làm pilot) là giai đoạn tìm kiếm, thử nghiệm và
tạo ra công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới (prototype) vừa thành
2 Vũ Cao Đàm (2010), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, Hà Nội, trang
40-45
Trang 1614
công ở giai đoạn trước, đôi khi còn gọi đây là giai đoạn tạo vật mẫu kỹ thuật (engineering prototype)
c Sản xuất thử loạt đầu/sản xuất thử loạt nhỏ (sản xuất “Sêri 0”) là giai
đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ hay làm thí điểm, trong thực tế còn được gọi là sản xuất bán đại trà hay bán công nghiệp
Về mặt lý thuyết, sau giai đoạn triển khai, kết quả nghiên cứu sẽ được
chuyển giao vào sản xuất, hình thành nên chuyển giao công nghệ theo chiều dọc Tuy nhiên, trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau, có thể do doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận, cũng có thể do tổ chức R&D còn muốn giữ lại know-how, muốn tiếp tục hoàn thiện công nghệ, v.v…tình huống đó thúc đẩy
tổ chức R&D lập ra các doanh nghiệp ngoại biên (doanh nghiệp spin-off) để
tự mình đưa ra thị trường các công nghệ, sản phẩm mới và độc đáo
1.1.3 Khái niệm nghiên cứu và triển khai
Trong mục này, Luận văn trình bày về cách hiểu R&D, như đã phân tích ở trên có nhiều cách hiểu về R&D, thậm chí ghép CGCN (thuộc giai đoạn phát triển công nghệ) vào khâu R&D
Tác giả Luận văn xin trình bày quan niệm của mình như sau:
Khi tra cứu Cẩm nang về hoạt động KH&CN do UNESCO phát hành
1980, trong đó nêu rõ hoạt động KH&CN bao gồm:
- Nghiên cứu và triển khai thực nghiệm (Research and Experimental Development), gọi tắt là R&D;
- Giáo dục và đào tạo KH&CN;
- Dịch vụ KH&CN.3
Cẩm nang Frascati do OECD4
phát hành 2002 cũng định nghĩa hoạt động KH&CN tương tự như vậy
Điểm đáng lưu ý là hoạt động R&D không bao gồm CGCN, có nghĩa là chỉ có thể CGCN khi đã hoàn thiện khâu R&D Hoạt động liên quan đến việc
cấp bằng độc quyền sáng chế và cấp phép sử dụng sáng chế (activities
3
UNESCO (1980), Manual for Statistics on Scientific and Technological Activities, Paris, pp.15
4 OECD (2002), Frascati Manual
Trang 1715
relating to patents and licences) đƣợc UNESCO xếp vào mục dịch vụ
KH&CN5 – độc lập với R&D
Một nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy CGCN thuộc mục phát
triển công nghệ Phát triển công nghệ (Technology Development), là hoạt
động sau nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, bao gồm:
- Phát triển công nghệ theo chiều rộng (Extensive Development of Technology), còn gọi là nhân rộng công nghệ (Diffusion of Technology) Khái niệm này còn đƣợc mở rộng thành Diffusion of Innovation
- Phát triển công nghệ theo chiều sâu (Intensive Development of Technology), còn gọi là “Nâng cấp công nghệ” (Upgrading of Technology) Khái niệm này còn đƣợc mở rộng thành Upgrading of Innovation. 6
Nhƣ vậy, có thể nhận định Luật KH&CN 2013 đã thiếu hẳn một phần
về phát triển công nghệ trong các doanh nghiệp và đặc biệt mở rộng khái
niệm triển khai thực nghiệm Experimental Development (viết tắt là Development) bao gồm cả phát triển công nghệ theo chiều rộng và theo chiều
sâu
Trong Luận văn này, tác giả sử dụng quan niệm của Vũ Cao Đàm về nghiên cứu và triển khai (R&D) là một khâu trong hoạt động KH&CN đƣợc thể hiện qua bảng sau:
Hoạt động KH&CN
R&D Nghiên cứu và Triển khai
T Chuyển giao Công
nghệ
TD Phát triển công nghệ
HT
Chuyển giao ngang
EDT
Mở rộng công
ITD
Nâng cấp công
Xin tham khảo thêm mục 1.3.ix tại UNESCO (1980), Paris, Tài liệu đã dẫn, trang 30
6 Xin tham khảo thêm: Vũ Cao Đàm (2010), sách đã dẫn, trang 40
Trang 18Pilot xuất
thử Loạt Không
nghệ nghệ
STS
Dịch vụ khoa học và công nghệ
Nguồn: tổng hợp từ tài liệu của Vũ Cao Đàm (2010), sđd
1.2 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp
Có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp Quan điểm của các nhà tổ chức cho rằng doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy
móc, thiết bị và con người được tổ chức nhằm đạt được một mục đích nhất
định Xét theo quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất,
theo đó trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ cung ứng trên thị trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm Theo
quan điểm chức năng thì doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh
nhằm thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích
sinh lợi Còn theo quan điểm lý thuyết hệ thống cho rằng doanh nghiệp là một
bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động
mà Nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Trang 19(ii) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: hiện có hơn 5.300 dự án
có hiệu lực đang hoạt động tại Việt Nam Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài này chiếm 15,7% tổng vốn đầu tư xã hội, 44% giá trị sản xuất công nghiệp, tạo ra 54,6% kim ngạch xuất khẩu và thu hút gần 70 vạn lao động Do sở hữu nguồn vốn lớn, công nghệ tương đối hiện đại, kỹ năng quản
lý tiên tiến, cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động có hiệu quả
rõ rệt, mang lại nhiều kinh nghiệm tốt cho hoạt động quản lý và sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên trên thực tế, hiệu quả lan truyền công nghệ từ các doanh nghiệp này tới các doanh nghiệp trong nước còn rất hạn chế
(iii) Doanh nghiệp dân doanh: bao gồm các loại hình doanh nghiệp tư nhân và hỗn hợp Những năm gần đây, khu vực doanh nghiệp dân doanh luôn
có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong các loại hình doanh nghiệp Năm
7
Vũ Quốc Tuấn (Ban nghiên cứu của Thủ tướng), “Doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập”, Tạp chí công
nghiệp, tháng 6/2006
Trang 2018
2005, khu vực kinh tế doanh dân đã chiếm 32,1% tổng vốn đầu tư xã hội, doanh nghiệp công nghiệp dân doanh đã chiếm gần 30% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước Đây thực sự là khu vực kinh tế dân sự rộng lớn, do dân tự chủ kinh doanh đang trên đà phát triển mạnh mẽ, năng động, trở thành lực lượng chủ lực của công cuộc phát triển kinh tế nước nhà
1.2.2 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việc đưa ra khái niệm và tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa
có một ý nghĩa rất lớn về phía nhà hoạch định chính sách Vì vậy, Nhà nước
ta đã từng bước có quy định cụ thể cho phù hợp trình độ phát triển của nền kinh tế và các thước đo giá trị tại từng thời kỳ
Năm 1998, Chính phủ ban hành công văn số 681/CP - KTN ngày 20/6/1998 về “Định hướng chiến lược và chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và/ hoặc có số lao động thường xuyên dưới 200 người được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa Việc áp dụng một hay cả hai tiêu chí này tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng ngành, từng lĩnh vực hay địa phương
Đến năm 2001, tiêu chí “mức sử dụng lao động” đã được thay đổi lại cho phù hợp với các quy định quốc tế, tiêu chí giới hạn tối đa về vốn cũng thay đổi cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội
Theo điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính
phủ định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ
sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”
Trong thực tế hiện nay, một số cơ quan Nhà nước, một số tổ chức chính trị - xã hội để hỗ trợ doanh nghiệp đã chủ động đưa ra các tiêu chí quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa để phục vụ cho công tác của mình như:
- Ngân hàng công thương Việt Nam quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: doanh nghiệp có dưới 500 lao động, vốn cố định nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn lưu động dưới 08 tỷ VNĐ, doanh thu tháng không quá 20 tỷ đồng VNĐ
Trang 2119
- Liên Bộ lao động Thương binh & xã hội và Tài chính quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa: Lao động thường xuyên dưới 100 người, doanh thu một năm nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn pháp định không quá 01 tỷ VNĐ
- Dự án VIE/US/95/2004 hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam lại có quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: Lao động dưới 200 người, vốn đăng ký 0,4 triệu USD (khoảng 06 tỷ VNĐ)
Theo Điều 3 Nghị Định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính
phủ định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ
sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí
ưu tiên)”
Doanh nghiệp nhỏ:
+ Tổng nguồn vốn: từ 20 tỷ đồng trở xuống đối với ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản; ngành Công nghiệp và xây dựng từ 10 tỷ trở xuống đối với ngành Thương mại và dịch vụ
+ Số lao động: từ trên 10 người đến 200 người đối với ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản; ngành Công nghiệp và xây dựng từ trên 10 người đến
50 người đối với ngành Thương mại và dịch vụ
Doanh nghiệp vừa:
+ Tổng nguồn vốn: Từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng đối với ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản; ngành Công nghiệp và xây dựng từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng đối với ngành Thương mại và dịch vụ
+ Số lao động: Từ trên 200 người đến 300 người đối với ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản; ngành Công nghiệp và xây dựng từ trên 50 người đến
100 người đối với ngành Thương mại và dịch vụ
Vì vậy, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp cho các doanh
Trang 22Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng
nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên
20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
II Công nghiệp
và xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên
20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
III Thương mại
và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên
10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
Nguồn: Điều 3, Nghị định 56/2009/NĐ-CP
Trang 2321
1.2.3 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa được tổ chức theo những mô hình rất khác nhau ở mỗi ngành, lĩnh vực khác nhau, trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Nhưng, khu vực kinh doanh nhỏ ở các điều kiện kinh tế đều có chung những đặc trưng sau:
Thứ nhất: Có tính linh hoạt
Với suất đầu tư khiêm tốn doanh nghiệp nhỏ và vừa rất dễ khởi sự, dễ hoạt động, dễ tiêu thụ một khối lượng sản phẩm cũng nhỏ tương ứng với khối lượng vốn của nó, dễ chuyển hướng kinh doanh khi chủ sở hữu muốn, và dễ trong nhiều mặt khác nữa Nhưng, lịch sử kinh doanh từng chứng kiến nhiều doanh nhân nổi tiếng đã bắt đầu từ số vốn liếng không đáng kể lại không cho chúng ta bài học về sự dễ dàng Tính linh hoạt cao của kinh doanh nhỏ không đơn thuần là sự dễ dàng trong mợi công việc kinh doanh Nó chỉ cho thấy sắc suất cao để đạt được những mục tiêu ở tầm thấp mà thôi
Chính đặc tính linh hoạt đã cho phép doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt hầu như ở tất cả mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế quốc dân Nó là giải pháp lấp đầy nhưng thiếu về chủng loại hàng hóa mà doanh nghiệp lớn với phương pháp sản xuất hàng loạt không thể thỏa mãn hết nhu cầu thị trường
Mặt khác, các cơ sở kinh doanh nhỏ dễ dàng di chuyển địa điểm kinh doanh, chuyển mục đích kinh doanh do tính đơn giản của công nghệ và mặt bằng cho sản xuất, kinh doanh
Thứ hai: Có tính địa phương
Khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà mỗi doanh nghiệp nhỏ và vừa cung cấp rất nhỏ bé so với nhu cầu của thị trường Do đó, doanh nghiệp rất dễ tiêu thụ hàng hóa cũng như tìm nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào Thực tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng thích nghi với những điều kiện khác nhau ở các vùng địa phương Tổ chức kinh doanh ở quy mô nhỏ và vừa
có khả năng khai thác tốt các nguồn lực tiềm tàng của địa phương.Trước hết
là có thể huy động những khoản vốn nhỏ trong dân vào sản xuất những mặt
Trang 2422
hàng phục vụ đời sống, sản xuất ở địa phương Tiếp đến là huy động được nguồn nhân lực đông đảo ở các địa phương, nhất là nhân lực nhàn rỗi theo thời vụ Ngoài ra, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân bổ rải rác ở tất cả các địa phương còn do tính đa dạng của các nguồn lực mà mỗi địa phương có thể cung ứng cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên, việc phân bố rải rác như vậy cũng đặt ra yêu cầu đối với các nhà hoạch định và thực thi chính sách trong việc đảm bảo tính tiêu chuẩn hóa của sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường
Thứ ba: Thường sử dụng công nghệ đơn giản
Đặc tính này xuất phát từ quy mô vốn Công nghệ đơn giản có thuận lợi là suất đầu tư thấp, có thể sử dụng nhiều nhân công và phần lớn là lao động phổ thông, chi phí thấp tiền lương cho nhân công cao, hiệu suất sử dụng máy móc cao do tính chuyên dụng của chúng thấp (các máy công cụ càng đơn giản, càng có thể sử dụng vào nhiều công đoạn sản xuất các loại sản phẩm khác nhau) Song, điều này cũng gây không ít khó khăn cho chính doanh nghiệp cũng như các nhà hoạch định chính sách Đó là, trình độ công nghệ thấp cộng với trình độ tay nghề của người lao động thấp kéo theo năng suất lao động thấp và mức phế phẩm cao, do đó chất lượng hàng hóa thấp và mức
sử dụng tài nguyên cao Công nghệ thô sơ gây ô nhiễm môi trường, nhất là các ngành chế biến có sử dụng hóa chất và các ngành có lượng chất thải lớn
Thứ tư: Năng lực cạnh tranh
Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có phạm vi hoạt động trong địa phương Thị trường nhỏ và mang tính địa phương ít gây áp lực cho doanh nghiệp Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các vùng xa xôi vì vậy cũng ít năng động hơn Sức ỳ khá lớn là một trong những yếu tố làm phân hóa mạnh khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Song, sự chi phối của yếu tố địa phương chỉ là nhỏ, các yếu tố nội lực của doanh nghiệp mới đóng vai trò quyết định
Có thể thấy rõ là doanh nghiệp nhỏ và vừa có điểm yếu là trình độ công nghệ
ít hiện đại, nhân công trình độ tay nghề có hạn, sản phẩm chất lượng không cao, trình độ quản lý có hạn, chủ sở hữu nhiều khi chưa có trình độ và kinh
Trang 2523
nghiệm trong kinh doanh Vì vậy mà, mức độ chủ động của doanh nghiệp trong kinh doanh là có hạn
Thứ năm: Dễ bị tác động trước các biến động kinh tế
Đặc tính này là hệ quả của quy mô các yếu tố về vốn, công nghệ, trình
độ nhân công, năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ và vừa có mức rút lui khỏi thị trường khá cao, nhưng tỷ lệ gia nhập mới gia tăng cũng rất lớn Làn sóng này phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến của nền kinh tế Ngay cả ở các nước phát triển, số phận doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng khá bấp bênh Vấn đề này đặt ra trước các nhà hoạch định chính sách nhiệm vụ luôn theo dõi và có chính sách đối ứng để tạo điều kiện kinh doanh ổn định cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn rất nhạy cảm trước các biến động kinh tế
Thứ sáu: Có mức độ phi chính thức cao
Sự không rõ ràng trong tổ chức kinh doanh dễ dẫn tới sự lẫn lộn giữa loại hình kinh doanh hộ gia đình với doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt loại siêu nhỏ Doanh nghiệp có quy mô càng nhỏ, càng dễ vi phạm pháp luật, từ không đăng
ký, không có địa chỉ rõ ràng và ổn định, đến việc không đảm bảo điều kiện tối thiểu cho người lao động, trốn thuế, ngoài ra còn các hành vi phạm pháp khác Khu vực này do đó rất cần sự quan tâm hỗ trợ từ phía Chính phủ Đưa
ra những chính sách hợp lý đối với khu vực này sẽ góp phần không nhỏ cho việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung của quốc gia
1.2.4 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau Song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau: “Trong tổng số gần 350.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta hiện nay, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chiếm 22,5%”
- Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế:
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: Ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều
Trang 2624
chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định
- Làm cho nền kinh tế năng động: Vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy
mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động
- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh
- Là trụ cột của kinh tế địa phương: Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp địa phương và là thành phần kinh tế đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và giải quyết việc làm cho người lao động ở địa phương
Trong thành tựu chung của doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp cho nền kinh tế của đất nước, “Các doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng lên về chất lượng (vốn, năng động, sáng tạo trong kinh doanh và sản xuất, thích ứng với sự biến động của thị trường, tạo ra nhiều việc làm để thu hút lao động xã hội, đổi mới trong quản lý ”
Với vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế,
vì vậy nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng Nhưng trên thực tế nước ta, vai trò chính trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế là ngân hàng và hoạt động đổi mới công nghệ mang tính rủi ro cao cùng với yêu cầu về tài sản đảm bảo cũng như các quy định trong thẩm định vay vốn của ngân hàng đã không thể tạo cơ hội cho các doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ
1.3 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.3.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tính cạnh tranh ban đầu là một khái niệm được dùng hạn chế ở phạm
vi doanh nghiệp trong các lý thuyết tổ chức công nghiệp Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành công nghiệp là tiềm năng sản xuất một
Trang 2725
loại hàng hoá hay cung cấp một loại dịch vụ ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến trên thị trường mà không có sự trợ cấp nào từ phía Chính phủ
Năng lực cạnh tranh được xem xét ở nhiều cấp độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp, năng lực này không chỉ đơn thuần được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, về vốn, về nhân lực mà còn là các tiêu chí về năng lực R&D, năng lực đổi mới, trình độ lao động, thị phần và tốc độ tăng trưởng thị phần của doanh nghiệp, năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp Trong
đó nhóm các tiêu chí sau, đặc biệt là các tiêu chí góp phần tạo nên giá trị gia tăng cho những sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp như năng lực R&D hay năng lực đổi mới ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc
nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh nói chung được định nghĩa
trên ba cấp độ khác nhau: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Một nền kinh tế
có năng lực cạnh tranh cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, với nhiều sản phẩm và dịch vụ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường
Trong đó, năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định là năng lực của một nền kinh tế tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư tốt, bảo đảm ổn định kinh tế
- xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Còn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khă năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững
Thuật ngữ “cạnh tranh” và “năng lực cạnh tranh” được sử dụng phổ biến, thường xuyên được nhắc tới trên các diễn đàn kinh tế cũng như trên các
Trang 28có nhiều khác biệt Có ý kiến cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có những quan điểm đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… Một số ý kiến tán thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác thực lực và lợi thế của mình để thoả mãn nhu cầu khách hàng và thu được lợi nhuận Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e rằng chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hoá dịch vụ hấp dẫn với người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh
Tổng hợp các trường phái lý thuyết, trên cơ sở quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được xác định trên 4 nhóm yếu tố cấu thành sau:
- Chất lượng, khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hoá các đầu vào;
- Các ngành sản xuất và dịch vụ trợ giúp cho doanh nghiệp;
- Yêu cầu của khách hàng về chất lượng hàng hoá, dịch vụ;
Trang 2927
- Vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ
Quan niệm của tác giả Luận văn về năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm 8 yếu tố sau đây:
1.3.2 Năng lực công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) đã xác
định các yếu tố để xây dựng năng lực công nghệ, bao gồm: Khả năng đào tạo nhân lực; Khả năng tiến hành nghiên cứu cơ bản; Khả năng thử nghiệm các phương tiện kỹ thuật; Khả năng tiếp nhận và thích nghi các công nghệ; Khả năng cung cấp và xử lý thông tin.8
Ngân hàng thế giới (WB) trong công trình nghiên cứu đã đề xuất phân chia năng lực công nghệ theo ba nhóm độc lập: 1) Năng lực sản xuất, bao
gồm: Quản lý sản xuất, Kỹ thuật sản xuất, Bảo dưỡng, bảo quản tư liệu sản
xuất, Tiếp thị sản phẩm; 2) Năng lực đầu tư, bao gồm: Quản lý dự án, Thực
hiện dự án, Năng lực mua sắm, Đào tạo nhân lực; và, 3) Năng lực đổi mới, bao gồm: Khả năng sáng tạo và Khả năng tổ chức thực hiện đưa kỹ thuật mới vào các hoạt động kinh tế.9
8
UNIDO (2005), Industrial Development Report 2005, Capability building for catching-up, Vienna, 2005
9 WB (2010), Supporting Innovation and Entrepreneurship in World Bank Group Projects, pp37-43
Trang 3028
M.Fransman, 10 một chuyên gia trong công trình của mình đã nêu lên rằng, đối với thế giới thứ ba việc đánh giá năng lực công nghệ phải bao gồm các yếu tố sau:
- Năng lực tìm kiếm các công nghệ để thay thế, lựa chọn công nghệ thích hợp để nhập khẩu
- Năng lực nắm vững công nghệ nhập khẩu và sử dụng có hiệu quả
- Năng lực thích nghi công nghệ nhập khẩu với hoàn cảnh và điều kiện địa phương tiếp nhận
- Năng lực cung cấp công nghệ đã có và năng lực đổi mới
- Năng lực thể chế hoá việc tìm kiếm những đổi mới và những đột phá quan trọng nhờ phát triển các phương tiện nghiên cứu và triển khai trong nước
- Tiến hành nghiên cứu cơ bản để tiếp tục nâng cấp công nghệ
Qua các công trình trên có thể rút ra: năng lực công nghệ là kết quả phức hợp của nhiều tác động tương tác Nhưng cần làm rõ và đánh giá được hai yếu tố cơ bản của năng lực công nghệ là khả năng đồng hoá công nghệ nhập khẩu và năng lực nội sinh tạo ra công nghệ Trong đó:
- Năng lực đồng hoá công nghệ nhập khẩu, là khả năng nắm vững và thích nghi công nghệ nhập, tất nhiên phải theo bốn thành phần công nghệ Ví dụ: không thể làm chủ công nghệ nếu chỉ thụ động nhập phần kỹ thuật Muốn
đạt được điều này phải biết thích nghi và nâng cấp phần kỹ thuật với nỗ lực bản thân Mặc dù phần kỹ thuật có thể mua được trên thị trường quốc tế, song khó mua được loại hiện đại phù hợp và sao chép lại ở trong nước Phần con người cũng có thể nhập khẩu tạm thời, song kết quả có được năng lực công nghệ hay không còn phụ thuộc vào khả năng lĩnh hội ở trong nước Phần thông tin mà các nhà nhập khẩu có được không vượt quá những hướng dẫn thao tác đơn giản, hướng dẫn các hoạt động đơn giản Những thông tin có giá trị, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao không được bán hay chia sẻ với
10 Martin Fransman and Kenneth King (1984), Technological capability in the third world, Macmillan,
London, 1984
Trang 3129
người nhập khẩu Phần tổ chức không dễ dàng dập khuôn như ở nước ngoài
mà phải sửa đổi, điều chỉnh đáng kể để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh trong nước
- Năng lực phát triển công nghệ nội sinh, là khả năng tổng hợp trong
nước để có thể thích nghi, cải tiến và sáng tạo công nghệ Điều này có nghĩa
là có khả năng: Triển khai công nghệ đã biết ở một địa điểm nào đó; Cải tiến công nghệ đã áp dụng; Sáng tạo công nghệ hoàn toàn mới
Quan niệm của Luận văn
Trong Luận văn này, khi bàn về năng lực công nghệ, tác giả theo quan
niệm của Vũ Cao Đàm “Năng lực công nghệ là sức tồn tại, phát triển và sự tác động thực hiện chức năng công nghệ” Năng lực nói đến mạnh - yếu, trình độ
nói đến cao - thấp Năng lực công nghệ là kỹ năng con người, năng lực công nghệ nằm ở con người, năng lực công nghệ có tác dụng duy trì thế cạnh tranh Trình độ công nghệ nằm ở máy móc
Năng lực công nghệ phụ thuộc vào nhiều yếu tố và chúng có quan hệ biện chứng với nhau, đó là:
có lợi và hạn chế tối đa mặt bất lợi
- Năng lực R&D: Năng lực R&D có nhiều cấp độ, từ nghiên cứu vận
hành, nghiên cứu làm chủ, nghiên cứu sao chép đến nghiên cứu cải tiến và đổi mới Cuối cùng là năng lực sáng tạo các nguyên lý mới về công nghệ
11Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Xuất bản lần thứ 11, NXB Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội, trang 5-13
Trang 3230
- Hạ tầng thông tin: Hạ tầng thông tin gồm nhiều yếu tố, từ dự trữ thông
tin đến năng lực cập nhật, năng lực dịch vụ thông tin và tổ chức mạng thông tin sao cho thiết lập được kênh thông tin tin cậy, chuẩn xác
Thiết bị công nghệ thông tin
Các thiết bị thông tin đảm bảo hiện đại, hoạt động tin cậy
- Hạ tầng công nghiệp: Năng lực gia công, chế tạo, năng lực thể hiện ý
tưởng của nhà chế tạo Đây là điểm rất quan trọng đối với sản xuất của doanh nghiệp
- Năng lực dịch vụ kỹ thuật: Năng lực phân tích, kiểm tra kỹ thuật, năng
lực sửa chữa/duy tu/bảo dưỡng
1.4 Tác động của nghiên cứu và triển khai đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.4.1 Quan niệm về nghiên cứu và triển khai với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Các ứng dụng tiềm năng của phương pháp phân loại năng lực công nghệ như đã nêu trên có tác dụng hướng dẫn trong việc hoạch định chiến lược công nghệ và kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Cách tiếp cận thường được nhiều doanh nghiệp ở các nước phát triển cũng như đang phát triển sử dụng là cách tiếp cận chiến lược phù hợp để hoạch định chiến lược công nghệ
Khi doanh nghiệp nhỏ và vừa theo đuổi chiến lược tăng cường công nghệ thì có lẽ phải tập trung vào để sản xuất ra được những sản phẩm có giá
hạ phục vụ cho những thị trường có giá trị thấp và nhạy cảm về giá cả mà những nhà công nghiệp hàng đầu vẫn bỏ ngỏ Để đáp ứng được điều này, vấn
đề đòi hỏi chủ yếu là phải có năng lực vận hành, một chút ít năng lực giao dịch để nhận được những công nghệ sản xuất cũ và hết sức phổ biến, còn những năng lực đổi mới và hỗ trợ thì không cần đến hoặc cần rất ít
Tuy nhiên, khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển sang dùng chiến lược khai thác công nghệ thì cần đi vào những công nghệ tương đối mới và đã tiêu chuẩn hoá để có được những sản phẩm giá trị và chất lượng trung bình Điều
Trang 33Chiến lược dẫn đầu về công nghệ cần đến mức độ cao hơn nhiều của cả bốn loại năng lực công nghệ thì mới có thể đáp ứng được cho những thị trường nhạy cảm về tính năng và thông thạo trong việc đưa nhanh ra những sản phẩm
và quy trình mới
Về mối quan hệ giữa năng lực công nghệ và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp nhỏ và vừa, trước hết cần bàn đến:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và hoạt động R&D;
- Cơ hội người lao động tiếp nhận giáo dục đặc biệt là giáo dục bậc cao,
chú trọng giáo dục khoa học và công nghệ Giáo dục nằm trong tiến tình phát
triển Một doanh nghiệp có chiến lược phát triển phát triển chú trọng đây là chỉ
tiêu đánh giá năng lực công nghệ Để nâng cao năng lực công nghệ mỗi doanh
nghiệp tăng từ doanh thu, số lượng nhà khoa học và kỹ sư, Phải có tổ chức, nguồn vốn thì mới đạt hiệu quả nâng cao năng lực công nghệ
- Số lượng nhà khoa học, kỹ sư của doanh nghiệp/ tổng số lao động
- Nghiên cứu cải tiến các quy trình sản xuất hiện có Việc cải tiến các
quy trình sản xuất bao gồm: cải tiến về công nghệ, cải tiến về máy móc, về phương pháp sản xuất, thay thế nguyên vật liệu, … đây là những hoạt động
Trang 3432
nghiên cứu có tỷ lệ doanh nghiệp tiến hành nhiều nhất Điều này có thể được giải thích là do đầu tư cho hoạt động nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất hiện có ít tốn kém hơn so với việc đầu tư mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, trong khi vẫn có đóng góp tích cực trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất, sản xuất ra các sản phẩm cải tiến hoặc/và sản phẩm mới Ngoài ra một lý do khiến số liệu thống kê về hoạt động này cao hơn so với các hoạt động khác là do một số doanh nghiệp quan niệm rằng bất
cứ sự can thiệp nào đó dù lớn hay nhỏ vào máy móc thiết bị, vào quy trình công nghệ hiện có trong doanh nghiệp cũng được coi là nghiên cứu cải tiến, ngay cả việc thay thế một vài chi tiết rất nhỏ, đôi khi có tác động không đáng
kể đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, cũng được coi là hoạt động cải tiến Thực tế này thường diễn ra ở các doanh nghiệp tư nhân có quy mô sản xuất nhỏ
- Nghiên cứu cải tiến sản phẩm và thiết kế đưa ra sản phẩm mới: loại
hoạt động có tỷ lệ doanh nghiệp tiến hành cao tiếp theo là nghiên cứu cải tiến sản phẩm và thiết kế đưa ra sản phẩm mới Việc thường xuyên tiến hành cải tiến sản phẩm và đưa ra sản phẩm mới là một yêu cầu khách quan đối với các doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng như vải, hàng may mặc, hoá mỹ phẩm, sơn, … nhằm đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo sự thay đổi của các yếu tố ngoại cảnh như môi trường, thời tiết, thời trang, … Đây chính là lý do các doanh nghiệp thường xuyên tiến hành các hoạt động này
- Nghiên cứu áp dụng các quy trình sản xuất mới: một số doanh nghiệp
việc nghiên cứu áp dụng các quy trình sản xuất mới thường được thực hiện với tính chất là mở rộng sản xuất kinh doanh nhiều hơn là đổi mới công nghệ
Có nghĩa là việc đầu tư mới các dây chuyền công nghệ ở doanh nghiệp hoặc nhằm nâng cao sản lượng của sản phẩm hiện có, hoặc phát triển các sản phẩm mới có thể cùng chủng loại với các sản phẩm hiện thời và cũng có thể là một mặt hàng hoàn toàn khác Ít có sự áp dụng các quy trình sản xuất mới theo kiểu thay thế hoàn toàn các trang thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ
Trang 3533
hiện có vì điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn đầu tư rất lớn Hoạt động R&D ít được doanh nghiệp tiến hành nhất nhằm đổi mới công nghệ của sản xuất Điều này phản ánh năng lực R&D của các doanh nghiệp còn hạn chế Về lý thuyết, hoạt động R&D được các doanh nghiệp thực hiện bao gồm nghiên cứu nhằm đổi mới sản phẩm/quy trình sản xuất; hay nghiên cứu để tạo
ra công nghệ sản xuất sản phẩm hoặc nâng cấp công nghệ, quy trình sản xuất nhập ngoại cho phù hợp với điều kiện cụ thể Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay các doanh nghiệp tiến hành R&D đa phần phục vụ mục đích ứng dụng, vận
hành công nghệ hơn là đổi mới công nghệ 12
Khi bàn về mối quan hệ giữa năng lực công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, Trần Ngọc Ca13 cho rằng năng lực công nghệ gồm:
- Năng lực đầu tư: Giai đoạn tiền đầu tư: Chuẩn bị nghiên cứu khả thi
và tiền khả thi, lựa chọn nhà tư vấn, lựa chọn địa điểm, đầu tư ra nước ngoài Giai đoạn đầu tư thực hiện dự án: Lựa chọn thiết kế, loại máy móc thiết bị, đàm phán hợp đồng, thiết kế kỹ thuật, chuẩn bị đơn hàng, xây dựng nhà máy,
tổ chức bắt đầu sản xuất (đào tạo) và tuyển người
- Năng lực sản xuất: Quản lý sản xuất vận hành: Vận hành máy móc, thiết
bị, tổ chức các quy trình sản xuất, kết nối với các hoạt động phụ trợ Công nghệ sản xuất: Điều chỉnh thiết bị theo thiết kế, kiểm soát nguyên vật liệu, điều chỉnh nhỏ quy trình sản xuất và kiểm tra chất lượng Sửa chữa và bảo dưỡng máy móc thiết bị
- Năng lực cải tiến nhỏ: thay đổi máy móc để hoạt động nhanh hơn, hiệu quả hơn, thay thế nguyên vật liệu hoặc cấu kiện, thay đổi qui trình sản xuất cho sản phẩm mới, điều chỉnh thiết kế, cải tiến cấu trúc, chức năng sản phẩm, thay đổi cơ cấu, chủng loại sản phẩm
Trang 36- Năng lực đổi mới lớn/thiết kế: thiết kế sản phẩm mới đòi hỏi công cụ sản xuất mới, phát triển công nghệ mới, lựa chọn các máy móc, thiết bị mới, tổ chức việc mua sắm; có chương trình phát triển các nguồn cung cấp cấu kiện nội địa, đưa ra được kết quả mới trong R&D ứng dụng hoặc nghiên cứu cơ bản có thể đăng ký patent
1.4.2 Nội dung về sự tác động của nghiên cứu và triển khai đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bàn về mối quan hệ giữa năng lực công nghệ với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luận văn xin trình bày quan niệm như sau:
Trong quá trình hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp (trong đó có các doanh nghiệp nhỏ và vừa) không thể nói đến năng lực cạnh tranh mà không gắn với yếu tố công nghệ Yếu tố năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ
và vừa xét trên cơ sở năng lực công nghệ được thể hiện trên các yếu tố:
a Năng lực vận hành
Năng lực vận hành liên quan đến năng lực giúp cho doanh nghiệp có thể biến đổi có hiệu quả các loại đầu vào thành những sản phẩm đầu ra tương ứng với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể nó bao gồm những yếu tố năng lực như sau:
- Năng lực sử dụng hiệu quả thiết bị công nghệ hiện có;
Trang 3735
- Năng lực lập kế hoạch và điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh;
- Năng lực khắc phục sự cố và tiến hành các công việc bảo dƣỡng để
dự phòng, ngăn chặn và bảo dƣỡng khi xảy ra sự cố;
- Năng lực thích ứng với công nghệ mới và điều hành đổi mới công nghệ;
- Năng lực sử dụng thông tin tạo ra nguồn lực phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh
b Năng lực giao dịch
Năng lực giao dịch cũng là một yếu tố liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp cho doanh nghiệp lập kế hoạch và thực hiện các giao dịch công nghệ Cụ thể nó bao gồm những yếu tố sau đây:
- Năng lực lập các luận chứng và nêu ra một cách rõ ràng những công nghệ sẽ đƣợc mua/bán dựa trên sự nghiên cứu tỷ mỷ về kỹ thuật và chuyển những tham số của quy trình cơ bản vào việc bố trí nhà máy và thiết bị;
- Năng lực nhận dạng công nghệ phù hợp và thực hiện đƣợc công việc đánh giá đúng đắn loại công nghệ phù hợp với các nguồn lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Năng lực đàm phán hiệu quả giao dịch chuyển giao công nghệ
c Năng lực đổi mới
Năng lực đổi mới của doanh nghiệp nhỏ và vừa liên quan tới năng lực đƣa ra đƣợc những đổi mới công nghệ và áp dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh nhằm củng cố công việc kinh doanh hiện có, tạo ra những hoạt động kinh doanh mới và khai thác các cơ sở công nghệ mới Năng lực này bao gồm những yếu tố nhƣ sau:
- Năng lực thực hiện đƣợc những đổi mới sản phẩm;
- Năng lực thực hiện đƣợc những đổi mới quy trình;
- Năng lực tạo đƣợc những đổi mới ứng dụng
d Năng lực hỗ trợ
Trang 3836
Năng lực hỗ trợ cần cho việc xác định phải phát triển, điều phối và tích hợp chúng theo một phương pháp năng động để tạo ra được giá trị và tăng cường được các ưu thế về kinh tế Thậm chí có thể nói nguồn ưu thế cạnh tranh thực sự của một doanh nghiệp là năng lực hỗ trợ để tích hợp được các năng lực vận hành, giao dịch và đổi mới thành những khả năng mà những đối thủ cạnh tranh không dễ gì bắt chước được
Năng lực hỗ trợ của doanh nghiệp là năng lực tạo ra cơ sở và sự thúc đẩy để có được sự phát triển cân đối, tích hợp và làm tăng thêm các năng lực vận hành, giao dịch và đổi mới Nó gồm những yếu tố sau đây:
- Năng lực xây dựng được kịch bản phát triển dựa vào công nghệ;
- Năng lực tìm được những nguồn cấp vốn và nhận được vốn với lãi suất cạnh tranh để mở mang và tăng trưởng;
- Năng lực phát triển được những trí tuệ khai phá và nắm bắt được xu hướng tương lai của thị trường;
- Năng lực tiếp cận có hiệu quả những nguyên liệu đầu vào cần cho sản xuất;
- Năng lực thực hiện các chương trình để phát triển vững chắc nguồn lực con người
Nói tóm lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập quốc tế phải gắn với yếu tố công nghệ và đổi mới công nghệ như vừa phân tích ở trên
* Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, Luận văn đã nêu cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa hoạt động R&D với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong
đó nhấn mạnh các mục:
- Công nghệ và nâng cao năng lực, việc đổi mới, hoàn thiện công nghệ
là nhu cầu tất yếu của một doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa nếu muốn tồn tại và phát triển trong quá trình hội nhập quốc tế;
- Doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, trong đó đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, vai trò của doanh
Trang 3937
nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế quốc dân Trong quá trình hội nhập quốc tế, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nhỏ và vừa là yếu tố công nghệ
- Năng lực công nghệ gắn với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó đã khảo sát trên phương diện lý thuyết về năng lực lĩnh hội công nghệ được chuyển giao và năng lực công nghệ nội sinh, khẳng định
về vai trò của công nghệ và đổi mới hoàn thiện công nghệ đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2 của Luận văn sẽ khảo sát hoạt động R&D trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khai thác mỏ, lý do: lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Công ty Sơn Lâm CĐP tỉnh Tuyên Quang là khai thác mỏ
Trang 4038
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH SƠN LÂM – CĐP TỈNH TUYÊN QUANG
Hoạt động kinh doanh của Công ty Sơn Lâm tập trung vào lĩnh vực Lập
dự án thăm dò, khai thác, chế biến Kaolin-Feldpas
Nội dung Luận văn khảo sát lĩnh vực hoạt động của Công ty về:
- Thăm dò Kaolin-Feldpas;
- Khai thác, chế biến Kaolin-Feldpas
Chương 2 của Luận văn khảo sát giai đoạn trước sản xuất: thăm dò Kaolin-Feldpas
2.1 Khái quát về Công ty Sơn Lâm
2.1.1 Nhiệm vụ của Công ty Sơn Lâm
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sơn Lâm CĐP tỉnh Tuyên Quang (gọi tắt
là Công ty Sơn Lâm) được thành lập theo Quyết định số 1502.000.344 do sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 31 tháng 10 năm 2007, với ngành nghề kinh doanh theo đăng ký:
- Xây dựng nhà các loại;
- Xây dựng công trình đường bộ có quy mô vừa và nhỏ;
- Vận tải hàng hóa bằng xe ô tô tải (trừ ô tô chuyên dụng);
- Bán lẻ xe máy;
- Lập dự án thăm dò, khai thác, chế biến Kaolin-Feldpas
Thực tế hoạt động kinh doanh của Công ty Sơn Lâm kể từ khi thành lập
đến nay chỉ tập trung vào lĩnh vực Lập dự án thăm dò, khai thác, chế biến Kaolin-Feldpas
Do đó, trong Luận văn này chỉ khảo sát lĩnh vực hoạt động của Công ty Sơn Lâm về:
- Thăm dò Kaolin-Feldpas;
- Khai thác, chế biến Kaolin-Feldpas