ii LỜI CAM ĐOAN Tên tôi là: Đoàn Việt Quang Lớp: K9 Cres Chuyên ngành: Môi trường trongPhát triển bền vững Khóa học: 2012 - 2014 Tôi xin cam đoan quyển luận văn được chính tôi thực hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐOÀN VIỆT QUANG
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC
SÔNG NHUỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐOÀN VIỆT QUANG
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC
SÔNG NHUỆ
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN QUANG TRUNG
Hà Nội - Năm 2014
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy
Cô, nơi công tác và các cá nhân
Trước tiên, em xin được gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc, cùng toàn thể quý Thầy, Cô đang giảng dạy tại Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy cô đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức bổ ích và những bài học kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian em học tập tại trung tâm
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Thầy PGS.TS Nguyễn Quang Trung đã định hướng đề tài và hướng dẫn tận tình cho em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận Xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp tại Cục quản lý tài nguyên nước đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu để luận văn được chi tiết và chính xác
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã hỗ trợ và động viên trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành khóa luận
Luận văn này như một trong những thành quả được đúc kết trong suốt hai năm học tập trên ghế giảng đường Trong quá trình làm luận văn, mặc dù đã rất cố gắng và
nỗ lực song cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót Chính vì vậy, em rất mong sự góp ý, bổ sung từ Quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Đoàn Việt Quang
Lớp: K9 Cres
Chuyên ngành: Môi trường trongPhát triển bền vững
Khóa học: 2012 - 2014
Tôi xin cam đoan quyển luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS Nguyễn Quang Trung với đề tài nghiên cứu «Đánh giá tình trạng ô nhiễm và đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng nước sông Nhuệ »
Đây là đề tài nghiên cứu của bản thân, không trùng lặp với các đề tài luận văn nào trước đây Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và sử dụngvào luận văn đều được trích dẫn nguồn
Nếu xảy ra vấn đề gì với nội dung luận văn này, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quy định
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Đoàn Việt Quang
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 3
1.1 Vào đề 3
1.1.1 Vai trò của tài nguyên nước đối với đời sống, kinh tế - xã hội 3
1.1.2 Hiện trạng chất lượng nước một số lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam 5
1.2 Khái niệm ô nhiễm 10
1.3 Tổng quan nguồn nước sông Nhuệ 11
1.3.1 Tổng quan diễn biến chất lượng nước sông Nhuệ từ những năm 2000 đến nay 11
1.3.2 Một số công trình, đề tài, dự án nghiên cứu về bảo vệ, khai thác sử dụng TNN trên lưu vực sông Nhuệ 14
CHƯƠNG 2 16
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Địa điểm nghiên cứu 16
2.2 Thời gian nghiên cứu 16
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 16
CHƯƠNG 3 18
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
3.1 Điều kiện tự nhiên 18
3.1.1 Vị trí địa lý 18
3.1.3 Khí hậu 20
3.1.4 Thủy văn và tài nguyên nước 21
3.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội 22
3.2.1 Dân số 22
3.2.2 Hiện trạng kinh tế 23
Trang 6iv
3.2.3 Đô thị hóa 24
3.2.4 Thương mại, du lịch, dịch vụ 25
3.3 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội LVS Nhuệ đến năm 2020 25
3.3.1 Mục tiêu, chiến lược phát triển KT-XH tại các địa phương 25
3.3.2 So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của các tỉnh thành phố thuộc LVS Nhuệ 26
3.4 Hiện trạng khai thác, sử dụng TNN trên lưu vực sông Nhuệ 26
3.4.1 Tại thành phố Hà Nội 26
3.4.2 Tại tỉnh Hà Nam 28
3.5 Kiểm kê, đánh giá nguồn thải 29
3.5.1 Nguồn thải sinh hoạt 29
3.5.2 Nguồn thải nông nghiệp 30
3.5.3 Nguồn thải công nghiệp 31
3.5.4 Nguồn thải làng nghề 35
3.5.5 Nguồn thải y tế 36
3.5.6 Nguồn thải du lịch 37
3.5.7 Đánh giá chung về nguồn thải 38
3.6 Hiện trạng chất lượng nước, diễn biến theo thời gian và không gian 39
3.6.1 Sự phụ thuộc của chất lượng nước vào các yếu tố 39
3.6.2 Diễn biến chất lượng nước sông Nhuệ 39
3.7 Dự báo đến năm 2020 49
3.7.1 Dự báo nhu cầu sử dụng nước 49
3.7.2 Dự báo nước thải trên lưu vực sông Nhuệ 50
3.7.3 Dự báo chất lượng nước đến năm 2020 52
3.8 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nước lưu vực sông Nhuệ 55
3.8.1 Cơ sở pháp lý 55
3.8.2 Biện pháp phi công trình 55
3.8.3 Các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và công trình 67
3.8.4 Phương án cân bằng nước, giảm thiểu ô nhiễm trong mùa khô 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 75
Trang 7v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Số dân các quận, huyện thuộc lưu vực sông Nhuệ 22
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu KT-XH chính của các tỉnh thành phố LVS Nhuệ đến năm 2020 26
Bảng 3.3 Tổng lưu lượng nước thải sinh hoạt trên LVS Nhuệ năm 2010 29
Bảng 3.4 Tải lượng sinh hoạt của LVS Nhuệ năm 2010 30
Bảng 3.5 Tổng lượng nước thải và tải lượng thải trồng trọt trên LVS Nhuệ năm 2010 31
Bảng 3.6 Tổng lượng nước thải và tải lượng thải chăn nuôi trên LVS Nhuệ năm 2010 31
Bảng 3.7 Đặc trưng nước thải của một số ngành sản xuất công nghiệp 32
Bảng 3.8 Tổng tải lượng chất ô nhiễm từ các KCN của các tỉnh/thành phố trên LVS Nhuệ năm 2010 33
Bảng 3.9 Số lượng các làng nghề thống kê trên LVS Nhuệ 35
Bảng 3.10 Số lượng các làng nghề theo loại hình sản xuất trên địa bàn lưu vực sông Nhuệ 35
Bảng 3.11 Tải lượng ô nhiễm từ các làng nghề trên LVS Nhuệ 36
Bảng 3.12 Tổng tải lượng chất ô nhiễm từ các bệnh viện trên LVS Nhuệ năm 2010 37
Bảng 3.13 Tải lượng ô nhiễm từ hoạt động du lịch trên LVS Nhuệ 38
Bảng 3.14 Tổng tải lượng các chất ô nhiễm và lưu lượng nước thải trên toàn LVS Nhuệ 38
Bảng 3.15 Dự báo nhu cầu dùng nước chính đến năm 2020 49
Bảng 3.16 Dự báo các nguồn thải vào sông Nhuệ đến năm 2020 50
Bảng 3.17 Danh mục các điểm quan trắc môi trường nước mặt trên LVS Nhuệ 60
Bảng 3.18 Các nhà máy xử lý nước thải tập trung cho các khu đô thị đến năm 2015 67
Bảng 3.19 Diện tích và nhu cầu nước hệ thống sông Nhuệ 70
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Hình ảnh Sông Nhuệ trước đây 12
Hình 1.2 Hình ảnh ô nhiễm sông Nhuệ những năm gần đây 14
Hình 3.1 Bản đồ khoanh vùng lưu vực sông Nhuệ 19
Hình 3.2 Giá trị TSS trên sông Nhuệ vào mùa mưa trong các năm quan trắc 2006 - 2009 40
Hình 3.3 Giá trị TSS trên sông Nhuệ vào mùa khô trong các năm quan trắc 2006 - 2009 41
Hình 3.4 Giá trị DO trong các năm 2011, 2012 và 2013 trên sông Nhuệ 42
Hình 3.5 Giá trị BOD5 trên sông Nhuệ các năm 2011, 2012, 2013 43
Hình 3.6 Giá trị COD trong các năm 2011, 2012 và 2013 trên sông Nhuệ 44
Hình 3.7 Giá trị NH4+ trên sông Nhuệ trong các năm quan trắc 2011, 2012 và 2013 45
Hình 3.8 Giá trị Coliform trong năm 2009, 2010 và 2011 trên sông Nhuệ 46
Hình 3.9 So sánh nồng độ BOD dự báo năm 2020 với năm hiện trạng (2008) dọc theo sông Nhuệ - KB 4, KB 5, KB 6 53
Hình 3.10 So sánh nồng độ DO dự báo năm 2020 với năm hiện trạng (2008) dọc theo sông Nhuệ - KB 4, KB 5, KB 6 54
Hình 3.11 So sánh nồng độ N tổng dự báo năm 2020 với năm hiện trạng (2008) dọc theo sông Nhuệ - KB 4, KB 5, KB 6 54
Hình 3.12Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ủy ban bảo vệ môi trường LVS Nhuệ - Đáy 56
Hình 3.13 Mạng lưới quan trắc chất lượng nước trên LVS Nhuệ 59
Hình 3.14 Sơ đồ hệ thống tổ chức giám sát và quan trắc tự động chất lượng nước sông (1) 63
Hình 3.15 Sơ đồ hệ thống tổ chức giám sát và quan trắc tự động chất lượng nước sông (2) 63
Hình 3.16 Sơ đồ minh họa kết nối của mạng giám sát chất lượng nước 63
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sông Nhuệ là một con sông nhỏ, phụ lưu của sông Đáy Sông dài khoảng
76 km, chảy theo hướng Bắc Tây Bắc - Nam Đông Nam qua địa phận thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam Điểm bắt đầu của nó là cống Liên Mạc, lấy nước từ sông Hồng trong địa phận quận Bắc Từ Liêm (thành phố Hà Nội) và điểm kết thúc của nó là cống Phủ Lý khi hợp lưu vào sông Đáy gần thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) Sông chảy qua các quận, huyện, thị trấn gồm các quận: Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông; các huyện: Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên của thành phố Hà Nội; huyện Duy Tiên, Kim Bảng của tỉnh Hà Nam và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực thành phố Phủ Lý
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên lưu vực sông Nhuệ diễn ra rất mạnh mẽ, đem lại nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế quốc dân, nộp ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng, góp phần nâng cao đời sống, giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng lớn người lao động Tuy nhiên, ngoài những lợi ích mang lại thì tình trạng ô nhiễm do những mặt trái của các hoạt động trên gây ra đang ở mức đáng báo động Môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng trong khu vực đang bị ô nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ người lao động, dân cư cũng như đến hệ sinh thái cảnh quan trong vùng
Các tác động mạnh mẽ nhất đến môi trường nước sông Nhuệ là do các hoạt động phát triển KT - XH như hoạt động của các khu công nghiệp, sản xuất làng nghề, khu khai thác và chế biến, các tụ điểm dân cư Sự ra đời và hoạt động của hàng loạt các khu công nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố, các hoạt động tiểu thủ công nghiệp trong các làng nghề, các xí nghiệp kinh tế quốc phòng cùng với các hoạt động khai thác, canh tác trên hành lang thoát lũ, chất thải bệnh viện, trường học làm cho môi trường nước ngày càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức trầm trọng
Nhận thấy vai trò quan trọng của hệ thống sông Nhuệ đối với sự phát triển kinh
tế bền vững củathành phố Hà Nội, tỉnh Hà Nam cũng như để có cơ sở đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước lưu vực sông, tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh giá tình trạng ô nhiễm và đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng nước sông Nhuệ”
2 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn:
Trang 112
- Mục tiêu chung: Đánh giá được mức độ và nguyên nhân ô nhiễm nước của sông Nhuệ và đề xuất các giải pháp công trình và phi công trình để cải thiện chất lượng nước, bảo vệ cảnh quan môi trường trên lưu vực
+ Đề xuất được các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước sông Nhuệ
* Đối tượng nghiên cứu:
- Các nguồn thải trên LVS Nhuệ
- Hiện trạng, diễn biến chất lượng nước sông Nhuệ theo thời gian và không gian
* Phạm vi nghiên cứu: Sông Nhuệ với chiều dài khoảng 76km Trong đó tập trung nghiên cứu những điểm nước sông bị ô nhiễm nặng
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn
- Ý nghĩa khoa học: là cơ sở khoa học cho việc đề xuất ra các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm
- Ý nghĩa thực tiễn: đánh giá đúng chất lượng nước sông Nhuệ từ đó đưa ra các biện pháp công trình và phi công trình để giảm thiểu ô nhiễm phục vụ cho đời sống nhân dân khu vực nghiên cứu và các hoạt động phát triển KT-XH đồng thời phục vụ công tác nghiên cứu, quản lý và bảo vệ TNN
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn sẽ gồm ba nội dung chính sau:
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
- Chương 2: Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Trang 123
CHƯƠNG1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 1.1 Vào đề
1.1.1 Vai trò của tài nguyên nước đối với đời sống, kinh tế - xã hội
Nước là một phần tất yếu của cuộc sống, là tư liệu quan trọng hàng đầu của nhiều hoạt động sản xuất Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp…
Ngoài ra, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng); chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong
tự nhiên Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước
Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3; tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km3); còn lại trong khí quyển và thạch quyển 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm; còn lại là nước sông và hồ Lượng nước trong khí quyển khoảng 0,001%; trong sinh quyển 0,002%; trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước trên trái đất Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km3/năm Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp)
Mặc dù là nguồn tài nguyên có thể tái tạo nhưng tài nguyên nước không phải là
vô hạn Các hoạt động khai thác sử dụng nước quá mức và không hợp lý, vượt quá khả năng tự tái tạo và tự phục hồi của nguồn nước dẫn đến tình trạng thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước, xâm nhập mặn ngày càng trầm trọng
Theo Báo cáo của Liên Hợp Quốc về Các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ năm 2012, vẫn còn khoảng 11% dân số thế giới, tương đương khoảng 780 triệu người không tiếp cận được với nguồn nước sạch
Nước sạch được dự báo sẽ sớm trở thành một tài nguyên quý giá không kém dầu mỏ trong thế kỷ tới và không thể thay thế được
- Vai trò của nước đối với con người:
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước
Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65 - 75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào
Trang 134
và nước ngoài tế bào Nước ngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3 - 4 lít) Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước
Uống không đủ nước ảnh hưởng đến chức năng của tế bào cũng như chức năng các hệ thống trong cơ thể Uống không đủ nước sẽ làm suy giảm chức năng thận, thận không đảm đương được nhiệm vụ của mình, kết quả là trong cơ thể tích lũy nhiều chất độc hại Những người thường xuyên uống không đủ nước da thường khô, tóc dễ gãy, xuất hiện cảm giác mệt mỏi, đau đầu, có thể xuất hiện táo bón, hình thành sỏi ở thận
và túi mật
- Vai trò của nước đối với nông nghiệp:
Việt Nam luôn tự hào là cái nôi của nền văn minh lúa nước, là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới mà nước là một phần không thể thiếu của việc trồng lúa
Sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi hỏi một lượng nước ngày càng cao Theo M.I.Lvovits, trong tương lai do thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sông trên toàn thế giới có thể giảm đi khoảng 700 km3/năm Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô Người ta ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với lượng sản phẩm thu được trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì cần đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải cần đến 10.000 tấn nước Sở dĩ cần số lượng lớn nước như vậy chủ yếu là do sự đòi hỏi của quá trình thoát hơi nước của cây, sự bốc hơi nước của lớp nước mặt trên đồng ruộng, sự trực di của nước xuống các lớp đất bên dưới và phần nhỏ tích tụ lại trong các sản phẩm nông nghiệp Dự báo nhu cầu về nước trong nông nghiệp đến năm 2000 sẽ lên tới 3.400 km3/năm, chiếm 58% tổng nhu cầu
về nước trên toàn thế giới
- Vai trò của nước đối với công nghiệp:
Sự phát triển càng ngày càng cao của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất , chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng cho công nghiệp Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất
Trang 145
một thùng bia chừng 120 lít, cần 3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần 300.000 lít nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít nước để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp Phần nước tiêu hao không hoàn lại do sản xuất công nghiệp chiếm khoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao không hoàn lại và lượng nước còn lại sau khi đã sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy những chất gây ô nhiễm (Cao Liêm, Trần Đức Viên)
- Vai trò của nước đối với sinh hoạt, giải trí:
Theo ước tính thì các cư dân sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/người/ngày Ngày nay, do sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí cũng ngày càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và
ở các đô thị lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần
Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động của con người như giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền, trượt ván, bơi lội nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội
1.1.2 Hiện trạng chất lượng nước một số lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam
a Lưu vực sông Vonga
Đối với nước Nga, Volga- con sông lớn nhất ở châu Âu - cũng quan trọng không kém so với sông Rhine đối với Đức hoặc Mississippi đối với Hoa Kỳ Trong lưu vực sông Volga có khoảng 40% dân số sinh sống Volga là một phần của hành lang giao thông chính xuyên châu Âu Ngoài ra, Volga là nơi tập trung gần một nửa sản xuất công nghiệp và nông nghiệp của Nga Trong khi đó, ngày nay, Volga cũng như các con sông lớn khác trên thế giới đang phải đối đầu với vấn đề môi trường nghiêm trọng Triển vọng về phát triển trữ lượng nước của sông Volga là chủ đề thảo luận thường xuyên của giới chuyên gia và công chúng nói chung Đó cũng là chủ đề thảo luận của phiên họp tại Astrakhan do tổng thống Nga Dmitry Medvedev chủ trì
Trong lưu vực sông Volga có khoảng 450 mỏ dầu khí Tuy nhiên, theo dự đoán của các nhà khoa học, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của nước ngọt chứ không phải là kỷ nguyên dầu mỏ và khí đốt Trong thế kỷ này, nhân loại sẽ cảm thấy khát nước theo nghĩa đen Trên sông Volga ngày nay có hàng chục công trình thủy điện lớn với hệ thống đập và hồ chứa Ảnh hưởng của các công trình đó đối với "sức khỏe" dòng sông
đã ở mức đáng báo động Các nhà khoa học thậm chí còn tuyên bố rằng Volga thực sự không còn là một con sông mà đã là những đoạn hồ chứa nước thải ô nhiễm của các nhà máy công nghiệp Đáy sông cạn dần, chất lượng nước suy giảm, nguồn cá, hệ thực vật ven biển và động vật dần biến mất
Trang 156
Chiến lược nước của nước Nga cho đến năm 2020 sẽ tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên nước đến 2,5 lần 60% đầu tư trong chương trình sẽ được phân bổ từ ngân sách Trong những năm tới dự kiến trong tăng mức lệ phí nước thải đối với các xí nghiệp gây ô nhiễm quá mức tối đa cho phép lên 6 lần Sự gia tăng mạnh tiền phạt sẽ khiến cho việc sử dụng công nghệ, thiết bị lạc hậu trở nên không kinh tế Vấn đề về tháo dỡ các thiết bị máy móc thủy điện cũ cũng không loại bỏ khỏi chương trình nghị
sự Người ta cho rằng hiện đại hóa hệ thống quản lý và bảo vệ "sức khỏe" tài nguyên nước sẽ khiến cho sông Volga và các con sông khác của nước Nga hồi sinh[1]
b.Lưu vực sông Mississippi
Sông Mississippi là một con sông ở Bắc Mỹ Theo ngôn ngữ cổ Ojibwe, tên
"Mississippi" từ misi-ziibi, có nghĩa là “sông lớn”
Sông Mississippi có diện tích lưu vực lớn thứ 4 trên thế giới Lưu vực này rộng hơn 1.245.000 sq mi (3.220.000 km2), bao gồm tất cả các phần của 32 bang Hoa Kỳ và
2 tỉnh của Canada Lưu vực đổ vào vịnh Mexico, một phần của Đại Tây Dương Lưu vực Mississippi phủ gần 40% đất liền của Hoa Kỳ lục địa
Ở Hoa Kỳ, Mississippi thu nước chủ yếu từ các khu vực giữa đỉnh của dải núi Rocky và đỉnh của dải núi Appalachia, trừ các khu vực khác nhau chảy vào vịnh Hudson qua sông Red River of the North; vào Đại Tây Dương qua Great Lakes và sông Saint Lawrence; và vào vịnh Mexico qua Rio Grande, sông Alabama và sông Tombigbee, sông Chattahoochee và sông Apalachicola, và nhiều nhánh nhỏ khác dọc theo vịnh Mexico
Sông Mississippi hòa vào vịnh Mexico cách New Orleans khoảng 100 dặm (160 km) Chiều dài của sông Mississippi từ hồ Itasca đến vịnh Mexico có nhiều con
số khác nhau, tuy nhiên theo USGS là 2.340 dặm (3.770 km)
Các nhà khoa học khảo sát địa chất công ty tư vấn môi trường chất Mỹ (USGS)
đã lấy mẫu thân chính và bốn nhánh của sông Mississippi và thấy rằng mức độ Nitrat tăng rất nhiều,từ dưới một triệu tấn đầu năm nhưng sau đó tăng lên đến khoảng 13 triệu tấn vào giữa những năm 2000 Các nguồn lớn nhất là phân bón công nghiệp (41%) và phân động vật (10%), tiếp theo là khu vực đô thị (7%), xử lý nước thải (7%),
và các nguồn khác
Các nhà khoa học thường tập trung vào mức độ Nitrat vì nó đóng vai trò quan trọng trong môi trường Nitơ trong Nitrat là một chất dinh dưỡng cần thiết để bảo vệ môi trường cho cây trồng Nhưng quá nhiều của nó dẫn đến overgrowths, được gọi là tảo nở hoa, mà có thể nó sẽ lấy đi quá nhiều oxy trong nước (một quá trình được gọi là
Trang 167
hiện tượng phú dưỡng), gây nghẹt thở cho cá và cỏ biển, và trong một số trường hợp phát hành hóa chất độc hại Khi đó thiệt hại ước tính vào khoảng 82 triệu USD 1 năm theo bà Nancy Rabalais của trường Đại học Louisiana Marine Consortium
Lưu vực sông Mississippi là một đại diện tiêu biểu cho phần còn lại của đất nước Mỹ bởi vì nó đã trộn lẫn các khu vực đô thị và nông nghiệp ,và bởi vì "nhiều bài học kinh nghiệm có thể được rút ra trên khắp nước Mỹ” (Theo Lori Sprague, một chuyên gia thủy văn quốc gia)[2]
c Lưu vực sông Mê Kông
Trong khi việc xây dựng các công trình thủy điện trên dòng chính Mê Kông của Trung Quốc gây ra sự lo ngại sâu sắc cho các quốc gia hạ nguồn thì Trung Quốc luôn trấn an rằng “các đập thủy điện này là những hồ chứa điều tiết nước, tích nước mùa lũ
và xả nước mùa khô, điều tiết lượng nước cho hạ nguồn” Tuy nhiên, ai cũng biết rằng, tác động trên còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là chế độ vận hành của các hồ chứa, đặc biệt là với các hồ lớn, mà điều này hoàn toàn lệ thuộc vào ý chí chủ quan của nước sở hữu đập
Thực tế, việc tích nước và vận hành các đập thuỷ điện phía thượng nguồn đã làm thay đổi dòng chảy, sụt giảm lượng phù sa…gây thiệt hại lớn đối với sản xuất nông nghiệp và nguồn lợi thuỷ sản đối với ĐBSCL Theo các chuyên gia Uỷ hội sông Mekong (MRC), “hiện lưu lượng dòng chảy của sông đã giảm 1/3 so với những thập
kỷ trước Tại ĐBSCL, do nguồn phù sa giảm sút, buộc người trồng lúa phải tăng nhiều chi phí cho phân bón, theo đó, giá lúa bị đẩy tăng lên Ước tính việc xây dựng các đập thủy điện trên sông Mekong đã làm mất đi nguồn lợi thủy sản khoảng 700.000 - 1.600.000 tấn/năm”
Chủ tịch Hiệp hội cá da trơn Thái Lan khẳng định: “Mực nước vùng hạ nguồn Mekong đã xuống thấp nhất trong vòng 20 năm qua, gây tác động mạnh đến đời sống người dân vùng hạ nguồn Trong tương lai, lượng nước sông Mekong sẽ tiếp tục sụt giảm, đây là một thảm họa đối với Thái Lan và Việt Nam” Các nhà khoa học Campuchia cho rằng: “Việc triển khai các dự án thuỷ điện trên thượng nguồn đã làm thay đổi chất lượng nước và dòng chảy đối với vùng hạ nguồn, trong đó chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là Campuchia và Việt Nam”
Một chuyên gia cao cấp ADB đánh giá: “Các đập thuỷ điện do Trung Quốc xây dựng tại Vân Nam, khi hoàn thành sẽ giữ lại một lượng nước lớn lên đến 50 tỷ m3, chiếm trên 50% lượng nước thượng nguồn sông Mekong, khối lượng phù sa bị giữ lại
Trang 178
tương ứng 125 triệu tấn/năm Như vậy, dòng chảy trung bình hàng năm chỉ còn 60%
so với trước khi có các công trình được xây dựng”
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Henry Stimson, Mỹ chỉ rõ: “Việc chặn dòng chảy để xây dựng các đập thủy điện trên sông sẽ ngăn cản sự di cư tự nhiên của các loài cá và sẽ khiến hơn 70% lượng cá của dòng sông biến mất, dẫn đến tình trạng khoảng 80% cư dân sống băng nghề cá mất việc làm Ngoài ra, việc chặn dòng chảy cũng sẽ dẫn đến tình trạng ngập mặn ở vùng hạ lưu và làm giảm lượng phù sa của con sông, ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp, nhất là ngành trồng lúa xuất khẩu của Thái Lan và Việt Nam đe dọa đến an ninh lương thực và an sinh xã hội của khu vực”
Hiện lưu vực sông Mekong đã trở thành một trong 5 lưu vực sông lớn trên thế giới có dòng chảy bị suy giảm nhiều nhất Ở Lào, đoạn chảy qua thủ đô Viên Chăn 10 năm qua khô hạn đến mức có thể lội qua trong mùa khô Ở Thái Lan, sông Chao Phraya vốn hiền hòa đã xảy ra lũ lớn, gây ra thảm họa quốc gia trong nhiều tháng liền vào năm 2011 Ở ĐBSCL, nước mặn đã vào khu vực Tân Châu, Châu Đốc (tỉnh An Giang), điều chưa bao giờ xảy ra trước đây Nếu cứ đà này, trong vòng 100 năm tới nước biển ở Việt Nam sẽ dâng cao một mét, làm mất 40% diện tích ĐBSCL, gây ảnh hưởng trực tiếp tới khoảng 10% dân số[3]
d.Chất lượng nước các lưu vực sông Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, lượng mưa lớn cùng với đặc điểm địa hình, địa mạo tạo nên mạng lưới sông ngòi khá dày (3.450 sông, suối, trong
đó, lưu vực của 8 hệ thống sông lớn chiếm 81,7% diện tích toàn quốc) Cuộc sống của người dân gắn liền với các dòng sông, qua lịch sử hàng nghìn năm đã hình thành các
đô thị sầm uất ven sông và hun đúc các giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu của dân tộc
Ngày nay, các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đều gắn với các LVS lớn như hệ thống sông Hồng - Thái Bình, hệ thống sông Đồng Nai,
Mê Kông và các cửa sông ven biển, đã đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực cho môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng tại các LVS Chất lượng nước các sông đang diễn biến phức tạp, nhiều nơi bị suy thoái, nhất là các khu vực nội thành, nội thị, các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề Nổi cộm nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường tại 3 LVS: sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai
- LVS Cầu gồm địa giới 6 tỉnh và một phần Thủ đô Hà Nội Trong thời gian qua, việc phát triển khai thác và chế biến khoáng sản ở thượng lưu (Bắc Cạn và Thái Nguyên) và mở rộng sản xuất tại các làng nghề khu vực trung và hạ lưu (Vĩnh Phúc,
Trang 189
Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương), tốc độ đô thị hóa cao trong khi phần lớn các đô thị chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, sự mở rộng nhanh chóng của các KCN, CCN trong khi hệ thống xử lý nước thải chưa có hoặc vận hành không đúng quy định là những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước mặt LVS Cầu, nguồn cung cấp 70% nước cấp sinh hoạt và công nghiệp trên địa bàn Kết quả quan trắc cho thấy, môi trường nước mặt LVS Cầu bị ô nhiễm cục bộ, bắt đầu từ đoạn chảy qua thị xã Bắc Cạn về hạ lưu (các thông số BOD5, NH4 và TSS đã vượt Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/ BTNMT mức A1, xấp xỉ mức B1) Từ đoạn chảy qua TP Thái Nguyên, mức độ ô nhiễm gia tăng đáng kể, các thông số quan trắc đều vượt QCVN nhiều lần, nước sông có mùi dầu cốc Đoạn sông Cầu chảy qua tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh chịu ảnh hưởng do tiếp nhận nước của sông Cà Lồ, sông Ngũ Huyện Khê và các KCN, làng nghề dọc 2 bên bờ sông nên nước sông bị ô nhiễm rõ rệt, các thông số chỉ đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại B2
- LVS Nhuệ - Đáy bao gồm một phần Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình Dòng chảy sông Nhuệ phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ đóng mở các cống điều tiết: Liên Mạc (lấy nước sông Hồng), Thanh Liệt (lấy nước sông Tô Lịch) và các cống khác trên trục chính: Hà Đông, Đổng Quan, Nhật Tựu, Lương Cổ - Điệp Sơn Môi trường nước LVS Nhuệ - Đáy bị ô nhiễm một phần do đặc điểm điều kiện tự nhiên đặc thù là sông có độ dốc tự nhiên thấp, nguồn nước cấp không đảm bảo do phụ thuộc các cống điều tiết, vào mùa kiệt nguồn nước cấp chủ yếu
là nước thải từ đầu nguồn Chất lượng nước của nhiều đoạn thuộc LVS Nhuệ - sông Đáy đã bị ô nhiễm tới mức báo động, đặc biệt vào mùa khô, giá trị các thông số BOD5, COD, Coliform tại các điểm đo đều vượt QCVN 08:2008/ BTNMT nhiêu lần Khu vực đầu nguồn sông Nhuệ, nước sông còn tương đối tốt nhưng sau hợp lưu với sông
Tô Lịch (nguồn tiếp nhận nước thải chính của các quận nội thành Hà Nội), nước sông Nhuệ đã bị ô nhiễm trầm trọng (đặc biệt tại điểm Cầu Tó trở đi) Mặc dù đã được pha loãng từ đoạn hợp lưu với sông Đáy trở về hạ lưu và áp dụng giải pháp điều tiết đưa nước sông Tô Lịch qua hệ thống hố điều hòa Yên Sở bơm ra sông Hồng vào mùa kiệt, nước sông Nhuệ vẫn là nguyên nhân chính gây ô nhiễm cục bộ cho LVS Nhuệ -Đáy, nguồn cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho thành phố Phủ Lý và một số địa phương phía hạ nguồn
- Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai bao gồm 9 tỉnh/TP, trong đó 7 tỉnh/TP nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Theo thống kê sơ bộ, trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có đến 103 KCN do Chính phủ ra quyết định thành lập (chưa kể các KCN/CCN do địa phương thành lập) với diện tích quy hoạch trên 33.600 ha, thải ra
Trang 1910
lượng nước thải từ sản xuất công nghiệp khoảng 1,8 triệu m3/ngày đêm Tuy nhiên, hiện mới có khoảng 1/3 các KCN/khu chế xuất đã và đang xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; một số KCN có trạm xử lý nước thải tập trung nhưng vận hành chưa đúng quy định; tỷ lệ đấu nối nước thải các nhà máy vào hệ thống xử lý nước thải tập trung còn thấp; nguồn phát sinh nước thải chủ yếu từ các ngành: chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, giấy, chế biến mủ cao su, xi mạ Tại nhiều vị trí các giá trị N-NH4+BOD5) COD vượt ngưỡng QCVN 08:2008/BTNMT mức B1 nhiều lần Khu vực cửa sông đã bị ô nhiễm hữu cơ, giá trị các thông sỗ đều vượt QCVN 08:2008/BTNMT mức A1, một số nơi còn vượt mức B1 (cảng Gò Dầu, Phú Mỹ, Cái Mép) Ngoài ra, các tác động tiêu cực từ thủy điện, khai thác khoáng sản phía thượng nguồn, xâm nhập mặn và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã và đang là những mối đe dọa đến môi trường nước lưu vực hệ thống sông Đồng Nai[4]
1.2 Khái niệm ô nhiễm
- Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường"
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến
sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu
- Dưới đây là các hình thức ô nhiễm và các chất ô nhiễm liên quan:
+ Ô nhiễm không khí: việc xả khói chứa bụi và các chất hóa học vào bầu không khí Ví dụ về các khí độc là cacbon mônôxít, điôxítlưu huỳnh, các chấtcloroflorocacbon (CFCs), và ôxít nitơ là chất thải của công nghiệp và xe cộ.Ôzôn
quang hóa và khói lẫn sương(smog) được tạo ra khi các ôxít nitơ phản ứng với nước
trong không khí (chính là sương) xúc tác là ánh sáng mặt trời
+ Ô nhiễm nước: xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm
+ Ô nhiễm đất: xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại (hàm lượng vượt quá giới hạn thông thường)do các hoạt động chủ động của con người như khai
Trang 20+ Ô nhiễm phóng xạ: có thể do các nhà máy điện hạt nhân
+Ô nhiễm tiếng ồn: bao gồm tiếng ồn do xe cộ, máy bay, tiếng ồn công nghiệp…
+ Ô nhiễm sóng: do các loại sóng như sóng điện thoại, truyền hình tồn tại với mật độ lớn
+Ô nhiễm ánh sáng: hiện nay con người đã sử dụng các thiết bị chiếu sáng một cách lãng phí ảnh hưởng lớn tới môi trường cũng như ảnh hưởng tới quá trình phát triển của động thực vật
- Trong đóô nhiễm môi trường nước là hiện tượng các vùng nướcnhư sông, hồ, biển, nước ngầm bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên
Theo hiến chương châu Âu định nghĩa về nước thì: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người tác độngđến chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã."
* Nguồn gốc ô nhiễm nước:
+ Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng
+ Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý Ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước ngầm và biển
1.3 Tổng quan nguồn nước sông Nhuệ
1.3.1 Tổng quan diễn biến chất lượng nước sông Nhuệ từ những năm 2000 đến nay
Sông Nhuệ là tên của một con sông thơ mộng chảy qua nhiều làng mạc trù phú của Hà Nội, Hà Nam Chỉ mấy chục năm trước đây thôi, dòng sông Nhuệ hiền hòa
Trang 2112
mang dòng nước trong mát tưới cho những cánh đồng “bờ xôi ruộng mật” xứ Đông,
xứ Đoài của một vùng đồng bằng Bắc Bộ Cư dân hai bên bờ sông được hưởng những tài nguyên thiên nhiên phong phú mà dòng sông mang lại
Dòng sông còn là nguồn cảm hứng thi ca cho các tao nhân mặc khách với cái tên thơ mộng Nhuệ Giang
Khoảng gần cuối những năm 90, người ta đã đưa ra ý tưởng hình thành những khu du lịch sinh thái, du lịch làng nghề ven sông Nhuệ Giang xanh biếc in bóng tre làng rồi sẽ nhộn nhịp trên bến dưới thuyền
Hình 1.1 Hình ảnh Sông Nhuệ trước đây Tiếc thay, những ý tưởng tốt đẹp đó chưa thành hiện thực, còn dòng sông thì đang bị giết chết dần bởi chính sự thờ ơ, vô cảm và thậm chí là sự tàn nhẫn của con người
Sông Nhuệ có chức năng phục vụ tưới tiêu cho vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của miền Bắc là Hà Nội, Hà Tây (trước đây) và Hà Nam; điểm đầu của sông là cống Liên Mạc (huyện Từ Liêm)
Do sông Nhuệ được bắt nguồn từ sông Hồng nên con sông này cũng chở nặng phù sa mang trù mật đến bao làng mạc Sông Nhuệ có trục chính dài khoảng 76 km và một số nhánh sông Nhuệ dài 40km Tuy nhiên, con sông đỏ nặng phù sangày nào nay nhuốm màu của hóa chất, rác thải và nước thải
Trang 2213
Về phía hạ lưu cây cầu Dương Nội đoạn chảy từ sông Nhuệ ra sông Đáy (dài khoảng 6km), dù sau cơn mưa cuối tháng 9, nhưng nước kênh vẫn vẩn màu đỏ, thi thoảng lại có cuộn nước xanh lơ lửng trôi
Trên bãi bùn khi nước rút hở ra những vệt màu còn láng một lớp màng mỏng nhiều màu Quan sát kỹ hơn, thì nước có màu lạ nhuộm dòng sông có nguồn gốc từ nhiều xưởng nhuộm mọc sát ngay mép sông phía hạ lưu cầu
Bên trong những dãy nhà xưởng xây tạm dọc sông này, than đá, vải chất thành đống Bên cạnh đó là hàng loạt can nhựa 20 lít đựng hoá chất cũng được xếp ngổn ngang
Chiều 8/3/2009, trên đoạn sông dài vài cây số chảy qua địa bàn Hà Đông, xác
cá chết vẫn tiếp tục trôi nổi, 2 bên bờ sông số cá chết bị gió thổi dạt vào bờ đen kịt Bởi vậy, vốn nước sông bình thường đã có mùi khó chịu, nay cộng thêm với lượng cá chết khiến cả một không gian rộng 2 bên bờ sông Nhuệ phải hứng chịu mùi hôi thối nồng nặc Ông Phùng Thanh Sơn ở phố Thanh Bình, Hà Đông cho biết: “Gia đình tôi sống ở ven sông, nên mấy ngày vừa qua phải hứng chịu cực hình, vì mùi nước sông ô nhiễm theo gió bay vào nhà”
Trên thực tế, đây là đoạn sông phía thượng nguồn (dài khoảng hơn 10 km) thuộc trục chính sông Nhuệ, lấy nước sông Hồng thông qua cống Liên Mạc (huyện Từ Liêm) chảy qua địa bàn Hà Đông, từ năm 2000 trở lại đây, nước sông cũng đã ô nhiễm, nên các loại cá trắng, cũng như cua, hến, tôm, ốc không thể sống nổi, chỉ còn các loại cá như cá “dọn bể”, cá nheo, cá rô… là còn tồn tại, bởi chúng được coi là các loài cá ăn tạp và rất khỏe, có thể sống trong môi trường nước bẩn và ô nhiễm Tuy nhiên, mấy ngày vừa qua, những loại cá này cũng chết nốt, điều đó chứng tỏ nước trên đoạn sông này đã trở nên ô nhiễm nghiêm trọng.[5]
Trang 2314
Hình 1.2 Hình ảnh ô nhiễm sông Nhuệ những năm gần đây 1.3.2 Một số công trình, đề tài, dự án nghiên cứu về bảo vệ, khai thác sử dụng TNN trên lưu vực sông Nhuệ
Dự án “Xây dựng đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ-sông Đáy” của tác giả PGS.TS Nguyễn Văn Cư và nhóm nghiên cứu đã chỉ ra các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy Nhóm tác giả cũng đã bước đầu ứng dụng phương pháp mô hình toán để mô phỏng diễn biến ô nhiễm trên hệ thống sông Nhuệ - sông Đáy
Dự án “Mô phỏng chất lượng nước 3 lưu vực sông: Cầu, Nhuệ - Đáy, Sài Gòn - Đồng Nai” do tác giảTrần Hồng Thái và các cộng sự thực hiện nghiên cứu về vấn đề
mô phỏng và dự báo chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ và sông Đáy Nhóm tác giả
đã ứng dụng mô hình toán hiện đại (MIKE11 - Viện Thủy lực Đan Mạch) áp dụng cho dòng chảy một chiều không ổn định để mô phỏng chế độ thủy lực, diễn biến và dự báo chất lượng nước trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy ứng với các kịch bản phát triển kinh tế xã hội và xử lý nguồn thải trước khi đổ ra sông Từ đó, nhóm tác giả đã sơ bộ
đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong khu vực
Nghiên cứu “Cơ sở khoa học và thực tiễn trong nghiên cứu cân bằng nước mùa cạn và nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống thủy lợi sông Nhuệ” do tác giả Vũ Minh Cát thực hiện năm 2007 có tính toán cân bằng nước mùa cạn hiện tại và tương lai trên
Trang 2516
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu luận văn là sông Nhuệ với chiều dài khoảng 76 km Trong
đó tập trung vào những khu vực có nhiều điểm xả thải với lưu lượng lớn
Sông Nhuệ chảy qua các quận, huyện, thị trấn gồm:
- Các quận Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông;
- Các huyện: Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên của thành phố Hà Nội;
- Các huyện: Duy Tiên, một phần Kim Bảng của tỉnh Hà Nam và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực thành phố Phủ Lý
2.2Thời gian nghiên cứu
Thời gian bắt đầu nghiên cứu và hoàn thiện luận văn từ tháng 02/2014 đến tháng 11/2014
2.3Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Phương pháp tiếp cận hệ thống: Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận phân tích và tiếp cận tổng hợp Hai phương pháp này không những không đối lập hay loại trừ nhau mà còn bổ sung cho nhau
Tiếp cận phân tích giản hóa hệ thống thành các thành tố cơ bản của hệ thống đó nhằm nghiên cứu các chi tiết và tìm hiểu các loại quan hệ tồn tại giữa chúng Thông qua việc biến đổi từng yếu tố, tiếp cận phân tích tìm ra quy luật chung cho phép người phân tích dự đoán các tính chất của hệ thống trong các điều kiện khác nhau Tiếp cận phân tích cô lập và tập trung vào từng thành tố, nghiên cứu bản chất của tương tác, nhấn mạnh vào tính chính xác của các chi tiết, thay đổi từng yếu tố Trong khi đó tiếp cận tổng hợp lại hợp nhất và tập trung vào tương tác giữa các thành tố, nghiên cứu các tác động của tương tác, nhấn mạnh vào nhận thức chung và thay đổi đồng thời một nhóm các yếu tố
- Các phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu:
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu
Trang 2617
Trong nhiệm vụ này, phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu được sử dụng để thu thập, tổng hợp các tài liệu về điều kiện tự nhiên, xã hội, hiện trạng sử dụng nước, các nguồn gây ô nhiễm, hệ thống quan trắc môi trường trên lưu vựcsông Nhuệ…
Nghiên cứu các văn bản pháp luật về lĩnh vực quản lý Tài nguyên nước và các
cơ chế chính sách liên quan của Đảng, Nhà nước
+ Phương pháp thống kê:
Trên cơ sở thống kê các số liệu đã có sẵn có thể chọn lọc được các thông tin về nguồn ô nhiễm từ các Bộ/ngành, địa phương, các Viện/Trường, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động trên lưu vực sông
+ Phương pháp phân tích, xử lý số liệu:
Toàn bộ các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được xử lý trên các bảng biểu và đồ thị bằng phần mềmMicrosoft Office 2007 Số liệu được quản lý và phân tích với phần mềm Microsoft Excel và phần soạn thảo văn bản sử dụng phần mềm Microsoft Word
+ Phương pháp khảo sát thực địa:
Phương pháp khảo sát thực địa nhằm so sánh, đối chiếu các khu vực khác nhau; kiểm định và khẳng định những kết quả đạt được từ quá trình phân tích hay tính toán;
Trang 2718
CHƯƠNG3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Sông Nhuệ nằm ở hữu ngạn sông Hồng với tổng diện tích lưu vực của nó khoảng1075 km2 Lưu vực sông Nhuệ nằm từ 200 đến 21020’ vĩ độ Bắc, và từ 1050 đến
105030’ kinh độ Đông Sông Nhuệ chảy qua các quận, huyện, thị trấn gồm:
- Các quận Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông;
- Các huyện: Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên của thành phố Hà Nội;
- Các huyện Duy Tiên, một phần Kim Bảng của tỉnh Hà Nam và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực thành phố Phủ Lý
Trang 2819 Hình 3.1 Bản đồ khoanh vùng lưu vực sông Nhuệ
Trang 2920
3.1.2 Địa hình
- Lưu vực sông Nhuệ có địa hình chủ yếu là đồng bằng kéo dài từ cống Liên Mạc xuôi theo dòng sông Nhuệ đến Thành phố Phủ Lý.Địa hình lưu vực là đặc trưng của vùng đồng bằng thuộc khu vực châu thổ Sông Hồng Nhìn chung địa hình của lưu vực khá thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa và cây vụ đông
- Địa hình có xu hướng cao ở phía Bắc và thấp dần về phía Nam của lưu vực.Riêng địa hình ở đoạn đầu lưu vực sông gồm 3 quận của thành phố Hà Nội thì tương đối thấp hay bị úng ngập về mùa mưa
- Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lượng bức
xạ tổng cộng trung bình năm khá lớn, có số giờ nắng khoảng 1600 - 1750 giờ/năm, trong đó tháng VII có số giờ nắng nhiều nhất, đạt 200 - 230 giờ/tháng và tháng II, III
có số giờ nắng ít nhất, khoảng 25 - 45 giờ/ tháng
- Chế độ nắng cũng giống như chế độ nhiệt Có ảnh hưởng đến tốc độ và dạng phân huỷ các hợp chất hữu cơ và nồng độ ôxy hoà tan trong nước
b Chế độ nhiệt
- Chế độ nhiệt phân hoá khá rõ rệt theo mùa Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa Nhiệt độ trung bình mùa này là khoảng 29,2ºC Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông thời tiết khô ráo Nhiệt độ trung bình mùa đông 15,2ºC
- Chế độ nhiệt của nước phụ thuộc vào chế độ nhiệt của không khí ảnh hưởng đến các quá trình hoá lý xảy ra trong nước, đời sống các vi sinh vật, vi khuẩn sống trong nước
c.Chế độ gió
- Mùa đông gió có hướng thịnh hành là Đông Bắc, tần suất đạt 60 - 70% Một
số nơi do ảnh hưởng của địa hình, hướng gió đổi thành Tây Bắc và Bắc, tần suất đạt 25
- 40%
Trang 3021
- Mùa hè trong các tháng V, VI, VII hướng gió ổn định, thịnh hành là Đông và Đông Nam, tần suất đạt khoảng 60 - 70% Tháng VIII hướng gió phân tán, hướng thịnh hành nhất cũng chỉ đạt tần suất 20 - 25%
- Các tháng chuyển tiếp hướng gió không ổn định, tần suất mỗi hướng thay đổi trung bình từ 10 - 15%
- Tốc độ gió trung bình thay đổi từ 2 - 2,5 m/s Tốc độ gió lớn nhất đạt 30 - 40 m/s (thường là trong dông hoặc bão)
d.Chế độ mưa ẩm
Lượng mưa phân bố không đều theo không gian trên lưu vực Phần hữu ngạn của lưu vực có mưa trung bình khá lớn (X > 1500 mm) Phần tả ngạn lưu vực lượng mưa tương đối nhỏ (X = 1000 - 1500 mm)
Mùa mưa trùng với thời kỳ mùa hè, từ tháng V - X, chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa năm, với số ngày mưa khoảng 60 - 70 ngày Tháng VII - IX là những tháng có nhiều ngày mưa nhất và lượng mưa lớn nhất, chiếm 50 - 60% tổng lượng mưa năm, đạt khoảng 250 - 350 mm/tháng Nhìn chung mưa mùa hè thường là mưa dông, dông nhiệt hoặc dông phát sinh trên đường hội tụ nhiệt đới Các trận mưa có thể kéo dài từ 1 đến 5 ngày có khi đến 10 ngày, cũng có những trận kéo dài trên 10 ngày Có những đợt mưa lớn, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 200mm và trên nữa, lượng mưa toàn đợt khoảng 400mm
Theo kết quả thống kê của Viện Khí tượng Thủy văn và kết quả nghiên cứu đánh giá của nhiều tác giả cho thấy phần lớn các trận mưa lớn có lượng mưa > 100 - 200mm, hay các trận mưa kéo dài liên tục tập trung trong vài ba ngày thường ảnh hưởng trực tiếp gây ra úng ngập cho những vùng trũng thấp, thậm chí ngay cả những vùng bằng phẳng khi hệ thống tiêu thoát kém cũng bị úng ngập, điều này đã ảnh hưởng đến môi trường nói chung và môi trường nước mặt và nước ngầm nói riêng
Lượng mưa các tháng mùa khô đều dưới 100 mm/tháng, trong đó tháng XII, I,
II, II dưới 50 mm/tháng Trong thời kỳ này dòng chảy nhỏ, chủ yếu phụ thuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc
3.1.4 Thủy văn và tài nguyên nước
Sông Nhuệ bắt nguồn và lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc Đây là nguồn nước cấp cho hệ thống công trình thủy lợi như Hà Đông, Đồng Quan, Nhật Tựu, Lương Cổ - Điệp Sơn Ngoài ra, sông Nhuệ còn đóng vai trò tiêu nước cho thành phố Hà Nội và quận Hà Đông Sông Nhuệ dài khoảng 76km, nhập vào sông Đáy tại thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Trang 3122
Phụ lưu sông Nhuệ là bốn con sông thoát nước chính của Hà Nội gồm:
- Sông Tô Lịch dài 14,6 km; rộng trung bình 40 - 45 m, sâu 3 - 4 m Đoạn cuối sông đảm nhận toàn bộ nước thải của thành phố
- Sông Lừ (sông Nam Đồng) dài 5,6 km; rộng trung bình 30 m, sâu 2 - 3 m, nhận nước thải, nước mưa từ các cống Trịnh Hoài Đức, cống Trắng (Khâm Thiên) chảy qua Trung Tự về đường Trường Chinh và đổ ra sông Tô Lịch
- Sông Sét dài 5,9 km; sâu 3 - 4 m, bắt nguồn từ cống Bà Triệu, hồ Bảy Mẫu rồi
đổ ra sông Kim Ngưu ở Giáp Nhị
- Sông Kim Ngưu dài 11,8 km; rộng 20- 30 m, sâu 3 - 4 m, bắt nguồn từ điểm
xả cống Lò Đúc và sông Kim Ngưu gặp sông Tô Lịch tại Thanh Liệt
3.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số
Lưu vực sông Nhuệ bao gồm các quận, huyện:
- Các quận Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông;
- Các huyện: Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên của thành phố Hà Nội;
- Các huyện Duy Tiên, một phần huyệnKim Bảng của tỉnh Hà Nam
Bảng 3.1 Số dân các quận, huyện thuộc lưu vực sông Nhuệ
Trang 32Tăng trưởng GDP của Hà Nội năm 2010 đạt 11%, tăng gấp 1,5 lần so với năm
2009 (6,7%); xấp xỉ con số 10,9% năm 2008 và 11,2% năm 2007 GDP bình quân đạt
37 triệu đồng/người
Năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố tăng 14,4%; trong đó ngành công nghiệp được mở rộng, tăng 11,6%; các ngành dịch vụ tăng 11,1%; ngành nông - lâm - thuỷ sản tăng 7,2% Quá trình phục hồi và cải thiện tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp là rất rõ nét thể hiện qua 3 quý liên tiếp lần lượt là 12,4%; 13,9%
và 13,7% và đạt trên 14% vào quý IV Công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 96%) và tăng cao nhất (khoảng trên 14% so với năm trước), là ngành quyết định tới tốc độ tăng chung của toàn ngành công nghiệp
Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản và chăn nuôi cơ bản được giữ ổn định Giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản tăng 7,2%; trong đó trồng trọt tăng 8,07%; chăn nuôi tăng 6,76%; dịch vụ nông nghiệp tăng 12,25%; thuỷ sản tăng 34,33%
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 9 tháng đạt 5.841,8 tỷ đồng bằng 71,9% kế hoạch năm; tăng 23,3% so với cùng kỳ Khu vực doanh nghiệp trung ương và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp với mức tăng lần lượt 52,3% và 53,9% Một số sản phẩm tăng cao so với cùng kỳ như: quần áo may sẵn 18,662 triệu cái, tăng 42,1%; bia các loại 37 triệu lít, tăng 39,1%; bột nhẹ 26,1 triệu tấn, tăng 39%; sữa 59,5 triệu lít, tăng 37,4%
Trang 3324
3.2.3 Đô thị hóa
Đô thị hóa là quá trình tất yếu của các quốc gia gắn với quá trình phát triển kinh
tế công, thương nghiệp Đô thị hóa là quá trình chuyển từ hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên những địa bàn nhất định Đây là hiện tượng KT-XH phức tạp, diễn ra trên một không gian rộng lớn và trong khoảng thời gian lâu dài để chuyển biến các xã hội nông nghiệp - nông dân - nông thôn sang các xã hội đô thị - công nghiệp và thị dân Đô thị hóa còn là quá trình tập trung dân cư vào các đô thị và nâng cao vai trò thành thị đối với sự phát triển của xã hội
Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa ở lưu vực sông Nhuệ diễn ra khá mãnh mẽ, hình thành một mạng lưới đô thị bao gồm 1 đô thị loại đặc biệt (thành phố Hà Nội), 1 đô thị loại III (thành phố Phủ Lý) và nhiều các thị xã, thị trấn thuộc đô thị loại IV
Ở Hà Nội, quá trình đô thị hóa đã phát triển mạnh theo chiều rộng và có sức lan tỏa mạnh (đô thị hóa theo chiều rộng) Đến năm 2010, tỷ lệ đô thị hóa là 30 - 32% và ước tính 55 - 65% vào năm 2020 Những địa chỉ hấp dẫn đã và đang tạo nên tốc độ đô thị hóa nhanh nhất Các điểm dân cư ven đô, những khu vực có khả năng tạo động lực phát triển đô thị, cùng với quỹ đất thuận lợi đã tạo điều kiện quá trình đô thị hóa ngày một lan rộng Trong vòng 10 năm, dân số Hà Nội đã tăng lên khoảng 4 triệu người Như thế, có thể kết luận rằng: trong khi mức độ và tốc độ đô thị hóa trên phạm vi toàn quốc ở Việt Nam chậm hơn so với các nước khác trên thế giới và trong khu vực, thì
Hà Nội đã có tốc độ đô thị hóa nhanh hơn nếu so sánh với chính bản thân thành phố qua các thời điểm, đạt tương đương với tỷ lệ đô thị hóa ở các thành phố của các nước phát triển trong khu vực Châu Á và đang thành phố có dân số lớn trên 10 triệu người
Bên cạnh đóHà Nam cũng đang từng bước phấn đấu đến năm 2020 có tỷ lệ đô thị hóa bằng mức bình quân cả nước Trên cơ sở mục tiêu trên, tỉnh Hà Nam đang xây dựng Đề án phát triển thành phố Phủ Lý thành đô thị loại II vào năm 2018; xây dựng phát triển thị trấn Đồng Văn (huyện Duy Tiên) thành thị xã, đô thị loại IV, thuộc tỉnh vào năm 2016; xây dựng phát triển thị trấn huyện lỵ Thanh Liêm vào năm 2015 Thêm vào đó, tỉnh tập trung xây dựng, mở rộng các thị trấn hiện có, thúc đẩy xây dựng, phát triển các thị trấn mới thuộc các huyện, phấn đấu đến năm 2020 toàn tỉnh có 18 đô thị, trong đó có 5 thị trấn huyện và 11 thị trấn
Trang 3425
3.2.4 Thương mại, du lịch, dịch vụ
Tiềm năng và lợi thế so sánh về phát triển hoạt động dịch vụ trên LVS Nhuệ cũng rất đáng kể Mạng lưới thương mại, dịch vụ của vùng ngày càng được mở rộng Doanh nghiệp kinh doanh trong vùng tăng nhanh và số lượng lao động cũng vậy
Các hoạt động thương mại - dịch vụ trong vùng phát triển trước hết là do có thành phố Hà Nội là trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông quan trọng nối liền các vùng trong nước cũng như với nước ngoài, hiện
có khoảng 1 nghìn văn phòng đại diện của các tổ chức kinh tế và thương mại nước ngoài thuộc nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ; có sân bay Nội Bài là một trong những sân bay lớn của khu vực Đông Nam Á
3.3Định hướng phát triển kinh tế - xã hội LVS Nhuệđến năm 2020
3.3.1 Mục tiêu, chiến lược phát triển KT-XH tại các địa phương
a Thành phố Hà Nội
- Về kinh tế:
Tăng trưởng GDP bình quân khoảng 18 - 20% (11 - 12%) cho giai đoạn
2011-2020 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2011 - 2015 đạt 12 - 13%/ năm, thời
kỳ 2016 - 2020 đạt khoảng 11 - 12% và thời kỳ 2021 - 2030 đạt khoảng 9,5 - 10%
Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng dịch vụ chiếm 54 - 55%, công nghiệp - xây dựng chiếm 41 - 42% và nông nghiệp là 3 - 4% Định hướng đến năm 2020, khu vực dịch vụ chiếm 55,5 - 56,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm 41 - 42% và nông nghiệp là 2 - 2,5% Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu trên địa bàn bình quân là 14 - 15%/năm thời kỳ
b Tỉnh Hà Nam
- Về kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2020 đạt 14,2%/năm; trong đó giai đoạn 2011 - 2015 đạt 13,5%/năm và đạt 15% giai đoạn 2016
Trang 3526
- 2020 Tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh vào năm 2015 là 54,8%; 32%; 13,2% và đến năm 2020 là 58,6%; 33,2%; 8,2%
Phấn đấu tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng bình quân 23%/năm giai đoạn
2011 - 2020, trong đó khoảng 32% giai đoạn 2016 - 2020; tỷ lệ thu ngân sách chiếm khoảng 11 - 12% GDP vào năm 2020
- Về xã hội:
Đến năm 2020 có 100% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giai đoạn 2011 - 2020 đạt 0,8%/năm
Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7%/năm theo tiêu chuẩn hiện nay và 3% vào năm 2020
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60% đến năm 2020.[19]
3.3.2 So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của các tỉnh thành phố thuộc LVS Nhuệ Một số chỉ tiêu KT-XH chính của 2 tỉnh, thành phố thuộc LVS Nhuệđến năm
2020 được thống kê dưới đây
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu KT-XH chính của các tỉnh thành phố LVS Nhuệ đến năm 2020
Trang 36Cấp nước cho thuỷ sản toàn bộ từ nguồn nước ngọt Lượng nước ngọt cấp cho nuôi trồng thuỷ sản hàng năm ước tính khoảng 33 triệu m3/năm Toàn thành phố hiện
có 3.315 ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, toàn bộ là nuôi nước ngọt
Cấp nước tưới cho nông nghiệp chủ yếu từ nguồn nước mặt, tổng lượng nước lấy hàng năm khoảng 313 triệu m3/năm Toàn thành phố có 58 công trình cấp nước tưới cho trên 27.000 ha lúa Trong đó chủ yếu là trạm bơm với tổng công suất bơm
186 m3/s (trạm bơm Như Quỳnh có công suất bơm 17,1 m3/s; cấp nước tưới cho 12.000 ha lúa; trạm bơm Mạnh Tân 1 - Đông Anh có công suất 12,5 m3/s; trạm bơm Liên Mạc - Từ Liêm có công suất 2,2 m3/s; cấp nước tưới cho 1.600 ha lúa )
Việc cấp nước để tưới ở Hà Nội hầu hết theo các hệ thống cấp nước tưới chính bao gồm:
- Hệ thống thủy nông Sông Nhuệ, theo thiết kế, cấp nước tưới cho 81.148 ha diện tích canh tác của Hà Nội và Hà Nam, tiêu úng cho 107.530 ha;
- Hệ thống Đan Hoài, một trong 9 tiểu khu của hệ thống thuỷ nông sông Nhuệ;
- Hệ thống thuỷ nông Bắc Đuống, theo thiết kế cấp nước tưới cho 50.348 ha (Bắc Ninh và một phần diện tích của TP.Hà Nội) và tiêu úng cho 64.587 ha;
- Hệ thống Bắc Hưng Hải, theo thiết kế cấp nước tưới cho 136 nghìn ha (Hải Dương, Hưng Yên và một phần của Hà Nội) và tiêu úng cho 185 nghìn ha;
- Hệ thống thuỷ nông Đông Anh, theo thiết kế cấp nước tưới cho hơn 9.200 ha (gồm huyện Mê Linh, Đông Anh và một phần huyện Sóc Sơn) và tiêu úng cho gần 20.000 ha đất canh tác;
- Huyện Sóc Sơn, theo thiết kế cấp nước tưới cho 9.890 ha (toàn bộ huyện Sóc Sơn) và tiêu cho khoảng gần 40.000 ha
Trang 3728
Tất cả các hệ thống thuỷ nông đều có nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp, đảm bảo cung cấp nước tưới cho cây trồng (theo từng giai đoạn phát triển) trong vụ Đông Xuân (vụ mùa) và kết hợp với tiêu úng ra các sông cho từng hệ thống vào vụ mùa
3.4.2 Tại tỉnh Hà Nam
Hiện tại, Hà Nam có 2 nhà máy cấp nước đô thị, với tổng công suất 17.000
m3/ngày, sử dụng từ nguồn nước sông Đáy (nhà máy nước Thanh Sơn, Kim Bảng: 9.000 m3/ngày; Phù Vân, TP Phủ Lý: 8.000 m3/ngày)
45 trạm cấp nước tập trung cấp nước cho sinh hoạt nông thôn, công suất khoảng
từ 20 đến 800m3/ngày, khai thác từ nguồn nước mặt và nước dưới đất (trạm khai thác nước mặt: Phú Phúc, Lý Nhân - 1.000 m3/ngày; Xuân Khê, Lý Nhân - 60 m3/ngày; Bồ
Đề, Bình Lục - 1.000 m3/ngày; trạm khai thác nước dưới đất Mộc Nam, Duy Tiên - 3.000 m3/ngày) Ngoài ra, còn có hơn 94.000 công trình cấp nước phục vụ cho sinh hoạt nông thôn
Khai thác nước cho sản xuất công nghiệp rất đa dạng tùy từ nguồn nước mặt và nước dưới đất Công ty Cổ phần xi măng Bút Sơn - 3.500 m3/ngày; công ty may Grace Sun Việt Nam - 700 m3/ngày; Công ty TNHH Đông Việt Hải - 300 m3/ngày; Công ty Liên Doanh SXVLXD Hà Nam - 25 m3/ngày; Cty Cổ phần xi măng Tân Phú Xuân -
400 m3/ngày; Công ty TNHH Tiên Tân - 10 m3/ngày; Công ty công nghệ cao Song Hà
- 2.500 m3/ngày; Cty dược Bình Lục - 10 m3/ngày; chi nhánh cty cổ phần Thủy sản Đức Tín - 10 m3/ngày; bệnh viện đa khoa Hà Nam - 350 m3/ngày; Công ty may Grace Sun Việt Nam - 700 m3/ngày; Công ty TNHH Viễn Đông - 36 m3/ngày;…
Hiện nay, Hà Nam được hai hệ thống thuỷ lợi sông Nhuệ và hệ thống thuỷ lợi Bắc Nam Hà cấp nước tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp Hiện toàn tỉnh có 219 công trình cấp nước cho nông nghiệp, tưới cho 79.172 ha, tiêu cho 87.736 ha, trong đó có
111 trạm bơm, tưới cho 18.895 ha, chiếm 24% diện tích tưới Hệ thống cống lấy nước trực tiếp từ sông Hồng kết hợp lấy phù sa có các cống lớn như: Mộc Nam, Vũ Xá, Như Trác; tưới cho 21.982 ha với lưu lượng khai thác 24,2 m3/s; ngoài ra còn có hàng trăm cống tưới nhỏ
Tổng lượng nước thải ước tính khoảng 16 triệu m3/năm, trong đó lượng nước thải sản xuất ước tính khoảng 14 triệu m3/năm (chủ yếu ở thị xã Phủ Lý, Duy Tiên, Kim Bảng), nước thải đô thị khoảng 2 triệu m3/năm
Trang 3829
3.5 Kiểm kê, đánh giá nguồn thải
3.5.1 Nguồn thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt được hình thành trong quá trình sinh hoạt của con người Lượng nước thải sinh hoạt phát sinh dao động trong phạm vi rất lớn, phụ thuộc nhiều vào điều kiện từng khu vực, quy mô khu dân cư, mức sinh hoạt và các thói quen của người dân LVS Nhuệcó mật độ dân số rất cao, tốc độ đô thị hoá nhanh chóng đã hình thành hàng loạt các khu đô thị tập trung dân cư với mật độ lớn Do vậy một đặc trưng nổi bật của LVS Nhuệ so với các LVS khác là ô nhiễm do nước thải sinh hoạt đóng góp một tỷ lệ lớn so với các nguồn thải khác
Bảng 3.3 Tổng lưu lượng nước thải sinh hoạt trên LVS Nhuệ năm 2010
Trang 39Như vậy, tổng lượng nước thải sinh hoạt năm 2010 đưa vào sông Nhuệ là hơn
160 triệu m3; trong đó, khu vực thành phố Hà Nội chiếm tới 87,79% so với tổng lưu lượng thải trên toàn lưu vực với lưu lượng thải trên 141 triệu m3 Nước thải sinh hoạt của thành phố Hà Nội chủ yếu từ các khu dân cư khu vực Hà Nội cũ và được xả trực tiếp vào sông Tô Lịch (30%), sông Kim Ngưu (25%), sông Sét (13%), sông Lừ (13%)
và vào các ao hồ trong thành phố (19%) Trong khi đó, tổng lưu lượng thải của Hà Nam chỉ chiếm 12,21%, tương đương với hơn 19 triệu m3/năm Tải lượng ô nhiễm ước tính được là khá cao, tương ứng với 98,68 nghìn tấn BOD5; 177,33 nghìn tấn/năm TSS
và 15,06 nghìn tấn/năm N tổng (Bảng 3.4)
3.5.2 Nguồn thải nông nghiệp
Chất thải phát sinh từ nông nghiệp chủ yếu do hoạt động chăn nuôi như: phân, nước tiểu gia súc, thức ăn dư thừa, nước cọ rửa chuồng trại, tắm rửa cho vật nuôi và hoạt động trồng trọt như: thuốc bảo vệ thực vật và các loại phân bón hóa học, phân bón hữu cơ, không được thu gom và xử lý mà thải trực tiếp vào môi trường Theo báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nguồn chất thải vào môi trường từ hoạt động trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trong đó, lo ngại nhất là nước thải từ chăn nuôi, chứa rất nhiều chất hữu cơ, hàm lượng BOD5 và COD cũng như chất rắn lơ lửng (TSS) cao, việc kiểm soát nguồn ô nhiễm này rất khó
do chăn nuôi có quy mô nhỏ lẻ và phân tán theo hộ gia đình
Nguồn thải phát sinh từ trồng trọt chủ yếu do lượng nước hồi quy mang theo một lượng lớn các chất ô nhiễm trong phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật… gây ô nhiễm đất và nước trên phạm vi rộng
Tổng nước thải và tải lượng ô nhiễm ước tính từ chăn nuôi và trồng trọt được thể hiện chi tiết trong Bảng 3.5
Trang 40Từ các bảng trên có thể thấy, tổng lượng nước thải nông nghiệp khá lớn, hơn
568 triệu m3/năm; trong đó, tổng lượng thải do chăn nuôi là 71,75%, trong khi tổng lượng thải trồng trọt chỉ là 28,25% Nguyên nhân do nền sản xuất chính của nước ta vẫn là sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên quỹ đất sản xuất nông nghiệp ngày càng có xu hướng thu hẹp bởi quá trình công nghiệp và đô thị hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, đặc biệt trong lưu vực sông Nhuệ; thêm vào đó, cơ cấu ngành nông nghiệp đang dần chuyển sang phát triển ngành chăn nuôi làm chủ đạo
3.5.3 Nguồn thải công nghiệp
LVS Nhuệ chịu tác động mạnh mẽ bởi các hoạt động của các khu công nghiệp, làng nghề, khu khai thác và chế biến Sự ra đời và hoạt động của hàng loạt các khu công nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố, các hoạt động tiểu thủ công nghiệp trong các làng nghề, các xí nghiệp kinh tế quốc phòng…làm ảnh hưởng tới môi trường nước LVS Nhuệ ngày càng nghiêm trọng Các nguồn phát sinh chất thải rắn công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ bao gồm: Cơ khí, nhiệt điện và luyện kim; công nghiệp hóa chất; công nghiệp giấy, chế biến thực phẩm và công nghiệp khai thác chế biến
Nước thải công nghiệp có khối lượng và thành phần các chất ô nhiễm rất khác nhau và đặc trưng cho từng ngành sản xuất bởi lượng nước được sử dụng là khác nhau