Phần 1: Lý luận chung về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại Phần 2: Bảo lãnh thông quan – hình thức bảo lãnh đang phát triển trên thị trường Việt Nam
Trang 14
1.4 Vai trò và chức năng của bảo lãnh ngân hàng 5
8
1.6 Phân biệt bảo lãnh với các công cụ khác 12
Phần 2: Bảo lãnh thông quan – hình thức bảo lãnh đang phát triển trên
Trang 214
2.1 Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh của các NHTM Việt Nam 14
2.2 Thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh thông quan của các ngân hàng
17
2.2.1 Bảo lãnh thông quan – nghiệp vụ bảo lãnh nhiều triển vọng .17
2.2.2 Thành công 18
23
2.2.4 Nguyên nhân của những hạn chế 24
2.3 Các biện pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh thông quan của các NHTM
26
Trang 3Lời nói đầu
Như chúng ta đã biết, ngân hàng từ khi xuất hiện dưới hình thức đầutiên của nó - ngân hàng của các thợ vàng, của những kẻ cho vay nặng lãi –cho tới nay khi đã phát triển thành một hệ thống ngân hàng hoàn thiện làmột quá trình lâu dài với rất nhiều những thay đổi Từ những nghiệp vụ đầutiên là nhận giữ tiền đi lên cho vay và ngày nay ngân hàng đã thực hiện rấtnhiều những nghiệp vụ khác Đặc biệt trong đó là sự ra đời của các nghiệp
vụ ngoại bảng – những nghiệp vụ không chỉ mang lại thu nhập cho ngânhàng mà còn là những nghiệp vụ có ít rủi ro, đảm bảo sự cân bằng cho hoạtđộng của ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng là một trong những nghiệp vụ nhưvậy Trong kinh doanh ngày nay, bảo lãnh ngân hàng luôn được xem nhưtấm giấy thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trảchậm Do đó cùng với sự phát triển với quy mô ngày càng lớn của các hoạtđộng thương mại, bảo lãnh ngân hàng cũng ngày càng khẳng định vai tròquan trọng của nó Tuy nhiên bảo lãnh ngân hàng không chỉ tồn tại ở hìnhthức ban đầu mà nó luôn có những điều chỉnh để có sự phù hợp nhất vớinhững yêu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp Đặc biệt trong giaiđoạn hiện nay – giai đoạn của nền kinh tế toàn cầu hóa, các hoạt độngthương mại diễn ra không chỉ trong phạm vi quốc gia Hầu như tất cả cácdoanh nghiệp đều có mối quan hệ với đối tác nước ngoài, khoảng cách vềkhông gian địa lý làm các doanh nghiệp này không đủ khả năng ( thời gian,chi phí…) để tìm hiểu đối tác của mình, do đó việc có một ngân hàng đứng
ra bảo lãnh cho các hoạt động thương mại này có thể giải quyết rất nhiềukhó khăn và vướng mắc cho doanh nghiệp Cũng với xu hướng toàn cầu hóa,hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa diễn ra với khối lượng cũng như mật độlớn hơn trước rất nhiều Việc nghiên cứu, áp dụng và mở rộng các nghiệp vụbảo lãnh liên quan hoạt động xuất nhập khẩu trở thành một đề tài mang tính
thực tế cao Đó là lý do tôi chọn đề tài : Phát triển nghiệp vụ bảo lãnh
thông quan của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, đề án đã đưa ra một số lý luận
về bảo lãnh ngân hàng nói chung cũng như bảo lãnh thông quan nói riêng.Trên cơ sở đó, đề án đã phân tích thực trạng hoạt động bảo lãnh của cácngân hàng thương mại Việt Nam cùng với thực trạng của hoạt động bảo lãnhthông quan, những thành công cũng như mặt còn hạn chế và một số giảipháp phát triển hoạt động dịch vụ này
Trang 4Kết cấu của đề án gồm hai phần chính:
Phần 1: Lý luận chung về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thươngmại
Phần 2: Bảo lãnh thông quan – hình thức bảo lãnh đang phát triển trênthị trường Việt Nam
Do sự nghiên cứu có nhiều hạn chế và một số yếu tố khách quan khác,
đề án vẫn chưa thật hoàn chỉnh và còn nhiều thiếu sót Vì vậy rất mong nhậnđược sự góp ý và thu nhận của các thầy cô giáo và bạn đọc quan tâm đếnvấn đề này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Phần 1: Lý luận chung về nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM
1.1
Những nét chung về bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ra đời từ rất sớm, từ thời trung cổ Hi Lạp, dưới hình thứcgiao dịch cá nhân trong cuộc sống
Bảo lãnh ngân hàng là một dạng dịch vụ của thị trường hiện đại, xuấthiện vào giữa những năm 60 ở một thị trường nội địa nước Mỹ Sau đó vàođầu những năm 70 bảo lãnh ngân hàng bắt đầu được sử dụng trong các giaodịch thương mại quốc tế, kể từ đó bảo lãnh ngân hàng phát triển mạnh mẽcho đến nay Trong những năm nội chiến ở Iran( 1979- 1980) hàng loạt cácthư bảo lãnh và thư tín dụng dự phòng được phát hành theo lệnh của các cơquan Iran do không được thanh toán nên bị các nước phương tây tới tấpkiện Từ đó người ta mới thấy được sự cần thiết phải có những quy định vềbảo lãnh, trên thế giới mới chú trọng việc xây dựng một hệ thống luật hoànchỉnh về bảo lãnh
1.2
Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Theo phòng thương mại quốc tế ICC định nghĩa: bảo lãnh độc lập làbất cứ bảo lãnh, cam kết hay cam kết thanh toán, dù được gọi hay miêu tảthế nào, của ngân hàng, công ty bảo hiểm hay pháp nhân hoặc thể nhân bằngvăn bản thanh toán một số tiền khi được xuất trình theo đúng quy định củacam kết, bản đòi tiền và các chứng từ khác
Pháp luật Việt Nam quy định: Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằngvăn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảolãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên đượcbảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
Trang 6vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trảcho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay ( Quyết định số 26/2006/QĐ-
NHNN ngày 26/06/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)
1.3
Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng
1.3.1 Bảo lãnh thường có 3 bên:
Bên hưởng bảo lãnh ( bên thứ 3): là các tổ chức cá nhân trong vàngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của tổ chức tín dụng
Bên được bảo lãnh: là khách hàng được tổ chức tín dụng bảo lãnh Khách hàng được tổ chức tín dụng bảo lãnh là các tổ chức và cá nhântrong nước và nước ngoài Tổ chức tín dụng không được bảo lãnh đối vớingười sau đây:
a Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc( Giám đốc),Phó Tổng Giám đốc( Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng
b Cán bộ nhân viên của tổ chức tín dụng đó thực hiên thẩm định, quyết địnhbảo lãnh
c Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,Tổng giám đốc( Giám đốc), Phó Tổng Giảm đốc( Phó Giám đốc)
d Việc áp dụng quy định tại điểm c khoản này đối với người được bảo lãnh
là bố, mẹ, vợ, chồng, con của Giám đốc, Phó Giám đốc chi nhánh của tổchức tín dụng do tổ chức tín dụng xem xét quyết định
Việc hạn chế bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với các khách hàngthực hiện theo quy định tại điều 78 Luật các tổ chức tín dụng
Bên bảo lãnh: là tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh Bảolãnh của ngân hàng có nghĩa là ngân hàng là bên bảo lãnh
Tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh:
- Các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổchức tín dụng
Trang 7- Các ngân hàng được ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt độngthanh toán quốc tế được thực hiện các loại bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh làcác tổ chức và cá nhân nước ngoài.
1.3.2 Bảo lãnh là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho khách hàng,
qua đó khách hàng có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hóa hoặcthực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi
1.3.3 Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín, ngân hàng không phải
xuất tiền ngay khi bảo lãnh, do vậy, bảo lãnh được coi như tài sản ngoạibảng Tuy nhiên khi khách hàng không thực hiện được cam kết, ngân hàngphải thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên thứ ba Khoản chi trả này được xếpvào loại tài sản “xấu” trong nội bảng, cấu thành nợ quá hạn Chính vì vậybảo lãnh cũng chứa đựng các loại rủi ro như một khoản cho vay, đòi hỏingân hàng phải phân tích khách hàng như khi cho vay
1.3.4 Bảo lãnh của ngân hàng tạo mối liên hệ trách nhiệm tài chính và san sẻ rủi ro Trách nhiệm tài chính trước hết thuộc về khách hàng, trách
nhiệm của ngân hàng là thứ cấp khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụvới bên thứ ba Do mối liên hệ giữa ngân hàng với khách hàng có khả năngràng buộc khách hàng phải thực hiện các cam kết, bảo lãnh cũng góp phầngiảm bớt các thiệp hại tài chính cho bên thứ ba khi tổn thất xảy ra
1.3.5 Ngân hàng cố gắng tìm kiếm các khoản thu từ bảo lãnh nhằm bù đắp chi phí Phí bảo lãnh được tính theo tỷ lệ phần trăm trên số tiền bảo
lãnh Ngoài phí ngân hàng còn có thể yêu cầu khách hàng phải ký quỹ, tạonguồn tiền thanh toán cho ngân hàng với mức lãi suất rất thấp Bảo lãnhcũng góp phần mở rộng các dịch vụ khác như kinh doanh ngoại tệ, tư vấn,thanh toán…
1.4
Vai trò và chức năng của bảo lãnh ngân hàng
1.4.1 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
Trang 8Bảo lãnh ngân hàng giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nóichung cũng như đối với hoạt động ngân hàng nói riêng.
Đối với nền kinh tế bảo lãnh ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của nềnkinh tế, phát triển và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện ở haimặt:
Người nhận bảo lãnh có tài trợ tài chính
Thúc đẩy kinh tế mũi nhọn, hạn chế lĩnh vực hoạt động kém hiệu quả Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng : bảo lãnh giúp ngân hàng đadạng hóa sản phẩm, tăng doanh thu từ thu phí bảo lãnh, mở rộng quan hệ đại
lý nhất là trên thị trường quốc tế
1.4.2 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng
Chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng là đảm bảo khảnăng thanh toán của bên yêu cầu bảo lãnh trong trường hợp hợp đồng khôngđược thực hiện Bằng việc cam kết chi trả bồi thường khi xảy ra sự cố viphạm hợp đồng của người được bảo lãnh, các ngân hàng phát hành bảo lãnh
đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho người nhận bảo lãnh Chính sự đảmbảo này tạo ra sự tin tưởng khiến cho các hợp đồng được ký kết một cách dễdàng và thuận lợi Đây cũng là sự khác biệt của bảo lãnh so với tín dụngchứng từ
Ngoài ra bảo lãnh ngân hàng còn có các chức năng khác như:
Chức năng thanh khoản : bên thụ hưởng ngay lập tức nhận đượckhoản thanh toán khi có được bằng chứng chứng nhận sự vi phạm của bênyêu cầu bảo lãnh
Chức năng hạn chế rủi ro : trong các giao dịch thương mại luôn luôntiềm ẩn rất nhiều nguy cơ rủi ro, bao gồm cả những nguyên nhân khách quancũng như chủ quan Bảo lãnh ngân hàng thực hiện chức năng hạn chế rủi rongay từ khâu đầu tiên của quá trình thực hiện bảo lãnh, đó là việc ngân hàng
Trang 9kiểm tra độ tin cậy và mức độ rủi ro của người được bảo lãnh Đối với ngườithụ hưởng bảo lãnh, bảo lãnh giúp họ khắc phục, giảm nhẹ, bù đắp đượcnhững tổn thất khi rủi ro xảy ra.
Chức năng tài trợ : bảo lãnh ngân hàng là một hình thức ngân hàng tàitrợ cho người được bảo lãnh Thông qua bảo lãnh người được bảo lãnhkhông phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh, được vay nợ hoặc được kéodài thời gian thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ…Do vậy mặc dù không trựctiếp cấp vốn như trong tín dụng nhưng bảo lãnh ngân hàng giúp cho kháchhàng được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như trong trường hợp chovay
Chức năng thực hiên hợp đồng : bằng khả năng đòi tiền vi phạm hợpđồng theo nội dung thư bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh có khả năng tạo áp lựcđốc thúc việc thực hiện hợp đồng, theo yêu cầu của họ từ phía bên được bảolãnh
1.5
Phân loại bảo lãnh ngân hàng
1.5.1 Căn cứ bản chất bảo lãnh người ta chia bảo lãnh ngân hàng thành hai loại
Bảo lãnh đồng nghĩa vụ ( còn gọi là bảo lãnh bổ sung ) : là loại bảolãnh trong đó ngân hàng và người được bảo lãnh được xem là có cùng nghĩa
vụ Tuy nhiên nghĩa vụ của người được bảo lãnh là nghĩa vụ đầu tiên, nghĩa
vụ của ngân hàng chỉ là nghĩa vụ bổ sung, chỉ được thực hiện khi có bằng cứxác nhận là nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm Điều này đòi hỏi ngân hàng phảican thiệp khá sâu vào giao dịch hợp đồng giữa người được bảo lãnh vàngười thụ hưởng Do vậy chủ yếu được sử dụng trong phạm vi nội địa mà ítđược sử dụng trong quan hệ quốc tế
Bảo lãnh độc lập : là loại bảo lãnh hiện đại, trong đó nghĩa vụ củangân hàng và người được bảo lãnh hoàn toàn tách rời nhau, việc thực hiện
Trang 10thanh toán chỉ căn cứ vào những điều kiện, điều khoản quy định trong vănbản bảo lãnh được thỏa mãn mà thôi Tuy nhiên tính độc lập của loại bảolãnh này không hoàn toàn tuyệt đối mà phụ thuộc các điều kiện thanh toán
đã được quy định trong văn bản bảo lãnh giữa ngân hàng và người thụhưởng bảo lãnh
1.5.2 Căn cứ phương thức phát hành người ta chia bảo lãnh ra thành bảo lãnh trực tiếp và bảo lãnh gián tiếp
Bảo lãnh trực tiếp : ngân hàng bảo lãnh chịu trách nhiệm trực tiếp chobên được bảo lãnh, người được bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi hoàn trực tiếpcho ngân hàng phát hành bảo lãnh Trong loại bảo lãnh này thường có 3 bêntham gia
Bảo lãnh gián tiếp : ngân hàng bảo lãnh đã phát hành bảo lãnh theochỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh dựatrên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng trong loại bảo lãnh nàyngười được bảo lãnh không phải bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hànhbảo lãnh mà chính ngân hàng trung gian chịu trách nhiệm bồi hoàn Do vậybảo lãnh gián tiếp thường có ít nhất 4 bên : Ngân hàng phát hành bảo lãnh Ngân hàng trung gian
Người được bảo lãnh
Người hưởng bảo lãnh
Bảo lãnh gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người thụhưởng là người nước ngoài và ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia củangười thụ hưởng, do vậy quyền lợi của người thụ hưởng được đảm bảo chắcchắn hơn
1.5.3 Phân loại theo phạm vi lãnh thổ người ta chia bảo lãnh ngân hàng
ra thành:
Bảo lãnh trong nước
Trang 11Bảo lãnh ngoài nước
1.5.4 Phân loại theo mức độ rủi ro bảo lãnh ngân hàng gồm
Bảo lãnh theo hình thức cấp tín dụng : bảo lãnh vay vồn và thư tíndụng dự phòng Là loại bảo lãnh gắn với nghĩa vụ trả nợ của người được bảolãnh đối với tổ chức tín dụng khác
Bảo lãnh theo hình thức cung cấp dịch vụ : gắn với hoạt động cungcấp hàng hóa dịch vụ như bảo lãnh đấu thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng
1.5.5 Phân loại theo mục tiêu bảo lãnh người ta chia bảo lãnh thành các loại sau
Bảo lãnh vay vốn ( bảo lãnh bảo đảm hoàn trả vốn vay)
Nhiều tổ chức tín dụng khi cho vay đòi hỏi phài có đảm bảo hoặc bằnghàng hóa, chứng khoán, bất động sản hoặc bằng bảo lãnh của người thứ ba( tín chấp)…hoặc Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có nhu cầu vayvốn bằng cách phát hành trái phiếu, tuy nhiên nếu uy tín của người vay trênthị trường đó chưa cao, việc phát hành sẽ rất khó khăn Trước thực tế đó bảolãnh vay vốn ra đời
Bảo lãnh vay vốn là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảolãnh, về việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàngkhông trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảolãnh
Có hai loại hình bảo lãnh vay vốn :
- Bảo lãnh vay vốn trong nước
- Bảo lãnh vay vốn nước ngoài
Bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh thanh toán là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảolãnh, về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong
Trang 12trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ thanh toán của mình khi đến hạn
Bảo lãnh dự thầu
Trong hoạt động kinh tế rất nhiều hoạt động được thực hiện thông quađấu thầu như đấu thầu cung cấp thiết bị, xây dựng Để tìm kiếm được cácnhà thầu có đủ năng lực và hạn chế những rủi ro khi nhà thầu vi phạm cácđiều khoản tham gia dự thầu như trúng thầu song không thực hiện hợp đồng,không kê khai đúng các yêu cầu của chủ đầu tư…chủ đầu tư thường yêu cầubên thực hiện hợp đồng phải ký quỹ ( đặt cọc) dự thầu Nếu vi phạm, bên dựthầu sẽ bị mất quyền ký quỹ Do ký quỹ gây ra nhiều thủ tục phiền phức cho
cả hai bên, đặc biệt làm tồn đọng vốn của bên tham gia dự thầu, nhiều chủthầu yêu cầu thay thế tiền ký quỹ bằng bảo lãnh của ngân hàng
Vậy bảo lãnh dự thầu là cam kết của tổ chức tín dụng với bên mời thầu,
để đảm bảo nghĩa vụ tham dự thầu của khách hàng Trường hợp khách hàngphải nộp phạt do vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc không nộpđầy đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Các hợp đồng được bảo lãnh như hợp đồng cung cấp hàng hóa, xâydựng, thiết kế… Việc khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp khôngđúng hạn, không đúng chất lượng cam kết…đều có thể gây tổn thất lớn chobên thứ ba Bảo lãnh của ngân hàng một mặt bù đắp một phần tổn thất chobên thứ ba, mặt khác thúc đẩy khách hàng nghiêm túc thực hiện hợp đồng.Vậy bảo lãnh thực hiện hợp đồng là cam kết của tổ chức tín dụng vớibên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ củakhách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợpkhách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà
Trang 13không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thựchiện thay.
Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm
Là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việckhách hàng thực hiện đúng các thỏa thuận về chất lượng của sản phẩm theohợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng vi phạmchất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà khôngthực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiệnthay
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước
Nhiều người cung cấp yêu cầu khách hàng ( người mua hàng hóa dịch
vụ ) phải đặt trước một phần tiền trong giá trị hợp đồng cung cấp Tiền đặtcọc vừa giúp bên cung cấp có một phần vốn để sản xuất kinh doanh, vừa cótác dụng ràng buộc người mua phải mua hàng đã đặt Tuy nhiên đề phòngngười cung câp không cung cấp hàng đồng thời không trả tiền đặt cọc, bênmua yêu cầu bên cung cấp phải có bảo lãnh của ngân hàng về việc sẽ trả tiềnứng trước
Vậy, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước là cam kết của tổ chức tín dụngvới bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước củakhách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợpkhách hàng vi phạm hợp đồng và phải hoàn trả tiền ứng trước mà khônghoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay
Bảo lãnh đối ứng
Là cam kết của tổ chức tín dụng ( bên bảo lãnh đối ứng ) với bên bảolãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh, trong trường hợp bênbảo lãnh thực hiện bảo lãnh và phải trả thay cho khách hàng của bên bảolãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh
Trang 14Xác nhận bảo lãnh
Là cam kết của tổ chức tín dụng ( bên xác nhận bảo lãnh) đối với bênnhận bảo lãnh, về việc đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảolãnh đối với khách hàng
Một số loại bảo lãnh khác
Bảo lãnh nộp thuế nhập khẩu đối với hàng tiêu dùng của các tổ chức tíndụng ( được thực hiện ở một số ngân hàng như BIDV, ngân hàng thươngmại cổ phần Sài Gòn…) : là các sự cam kết của tổ chức tín dụng đối với cơquan thu thuế ( bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thaycho khách hàng là bên nhập khẩu ( bên được bảo lãnh ) trong trường hợpkhách hàng không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu cho cơ quan thuthuế trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo chính thức của cơquan thu thuế về số thuế phải nộp
Bảo lãnh khoản tiền còn lại ( được thực hiện tại VCB ) : là cam kết củangân hàng với bên thụ hưởng bảo lãnh về việc sẽ thanh toán lại cho bên thụhưởng bảo lãnh số tiền mà khách hàng của ngân hàng giữ lại của bên thụhưởng bảo lãnh để đảm bảo nghĩa vụ của bên thụ hưởng bảo lãnh đối vớikhách hàng theo hợp đồng đã ký kết, khi bên thụ hưởng bảo lãnh đã thựchiện đầy đủ nghĩa vụ mà khách hàng không hoàn trả số tiền họ giữ lại
Ý nghĩa phân loại : sự đa dạng hóa các loại hình phân loại giúp đáp ứng nhucầu tìm nguồn tài trợ, mua hàng hóa và thực hiện các hoạt động sản xuấtkinh doanh đa dạng của khách hàng Từ đó, ngân hàng tìm kiếm được cáckhoản thu từ bảo lãnh nhằm bù đắp chi phí
1.6 Phân biệt bảo lãnh với các công cụ khác
Bảo lãnh khác thư tín dụng và thư tín dụng dự phòng :
- Nghĩa vụ bảo lãnh chỉ phải thực hiện sau khi rủi ro xảy ra
Trang 15- Đối với thư tín dụng và thư tín dụng dự phòng là nghĩa vụ bắt buộc phảithanh toán cho người thụ hưởng khi người thụ hưởng thực hiện giao hàngtheo đúng hợp đồng.
Bảo lãnh khác bảo hiểm :
- Bảo lãnh lấy tiền của bên vi phạm trả cho người thụ hưởng Bảo hiểm là
sự phân chia tổn thất
- Bảo lãnh trả tiền khi có yêu cầu đầu tiên đến với ngân hàng Bảo hiểm yêucầu phải thông qua quá trình kiểm tra, thu thập bằng chứng, chứng cớ
Bảo lãnh khác thư bồi hoàn
- Thư bồi hoàn là thư của người phát hành gửi cho người thụ hưởng yêu cầungười thụ hưởng phải thực hiện một công việc nào đó và kèm theo cam kếtnếu xảy ra thiệt hại liên quan đến việc người thụ hưởng thực hiện công việc
đó thì người bồi hoàn sẽ thanh toán cho người thụ hưởng ( hai bên) Điều đó
có nghĩa là trách nhiệm đầu tiên không phụ thuộc hành vi có hay không viphạm hợp đồng
- Bảo lãnh chỉ được thực hiện khi có vi phạm hợp đồng xảy ra ( có rủi ro)
Bảo lãnh khác tái bảo lãnh :
- Tái bảo lãnh là việc ngân hàng phát hành thư bảo lãnh chuyển giao toàn bộhoặc một phần quyền lợi của mình về việc phát hành thư bảo lãnh cho mộtngân hàng khác Khi đó ngân hàng ban đầu chỉ có vai trò trung gian Ngânhàng thứ hai sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện nghĩa vụ bảolãnh
Trang 16Phần 2 : bảo lãnh thông quan - hình thức bảo lãnh đang phát triển trên thị trường Việt Nam
2.1 Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh của các NHTM Việt Nam
Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng thương mại mới chỉ thực hiện bảolãnh cho các doanh nghiệp lớn và có khả năng thế chấp
Với mức tăng trưởng trung bình 20%/năm, tổng dư nợ nghiệp vụ bảolãnh của 10 ngân hàng thương mại lớn vào khoản 43 ngàn tỷ đồng ( 2005).Không “ồn ào” như cuộc chạy đua lãi suất nhưng “ cuộc chiến” giành thịphần bảo lãnh giữa các ngân hàng thương mại đang ngày một quyết liệt.Việc ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam ( BIDV) ký được hợp đồngbảo lãnh trọn gói cung ứng tín dụng và các dịch vụ ngân hàng cho hai tổngcông ty lớn là Vinashin với hạn mức tín dụng lên tới 1.200 tỷ đồng và làmđầu mối cho các dự án đồng tài trợ là 2.000 tỷ đồng, và Vinamotor: hạn mứctín dụng 700 tỷ đồng và hạn mức bảo lãnh 200 tỷ đồng, đã khiến không ítđối thủ cạnh tranh mất ăn mất ngủ Dịch vụ bảo lãnh đang dần trở thànhnguồn thu đáng kể trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thươngmại
Theo báo cáo thường niên của ngân hàng BIDV trong năm 2006 tổng số
dư bảo lãnh – bao gồm các cam kết L/C – đến 31/12/2006 là 40.824 tỷVND, tăng trưởng 82 % so với 31/12/2005 Nguồn thu từ phí bảo lãnh –gồm cả L/C – 181.7 tỷ VND, chiếm 38.05% tổng thu phí dịch vụ, đứng thứhai sau nguồn thu từ phí dịch vụ thanh toán (47.4% tổng thu phí dịch vụ)