Chấm dứt thời gian thí điểm nghiệp vụ này.Quy định kỳ hạn của giao dịch quyền chọn giữa các ngoại tệ với nhau do tổ chức tín dụng được phép và khách hàng tự thỏa thuận.. Quyền chọn ngoại
Trang 1THỰC TRẠNG HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN TẠI VIỆT NAM
Nhóm 6 Lớp NH Đêm 2 K18
Trang 2Danh sách nhóm 6:
Tạ Ngọc Luynh Đa
Đinh Thị Thúy Hằng
Nguyễn Thanh Hòa
Bùi Thị Minh Liên
Nguyễn Đỗ Thanh Tú
Hoàng Thị Ngọc Vy
Nguyễn Xuân Chung
Nguyễn Ngọc Bảo Linh
Nguyễn Thị Mỹ Tiên
Trang 3NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH
Phần I: Định giá quyền chọn
1 Mô hình cây nhị phân
2 Mô hình Black – Scholes
Phần II: Thực trạng hợp đồng quyền chọn tại Việt Nam
1 Option ngoại tệ tại các NH TMCP VN
2 Option vàng ACB
3 Định hướng thị trường quyền chọn ở VN
Trang 4PHẦN I
ĐỊNH GIÁ QUYỀN CHỌN
Trang 5 MÔ HÌNH CÂY BINOMIAL MỘT BƯỚC:
Trang 6MÔ HÌNH BINOMIAL MỘT BƯỚC
Công thức định giá quyền chọn:
ƒ = [ pƒu + (1 – p)ƒd ]e–rT
trong đó:
u: tỷ lệ tăng giá chứng khoán
d: tỷ lệ giảm giá chứng khoán
fu: giá quyền chọn khi giá ck tăng tại thời điểm T
fd: giá quyền chọn khi giá ck giảm tại thời điểm T
p: xác suất tăng của giá chứng khoán
1-p: xác suất giảm của giá chứng khoán
e rT d
Trang 7Giá CK = $18 Giá Option = $0
Giá CK = $22 Giá Option = $1 Giá CK = $20
Giá Option =?
Ví dụ:
Giá chứng khoán (CK) hiện tại là $20
Sau 3 tháng giá CK sẽ là $22 hoặc $18
Nếu chúng ta dò giá Call Option trên thị trường
Châu Âu để mua giá CK $21 thì:
MÔ HÌNH BINOMIAL MỘT BƯỚC
Trang 8Giá trị của Option là:
0 9
0 1 1
9 0
0.25 0.12
u
d
e p
rT
MÔ HÌNH BINOMIAL MỘT BƯỚC
Trang 9MÔ HÌNH CÂY BINOMIAL HAI BƯỚC
Công thức định giá quyền chọn:
ƒ = [ p2ƒuu + 2p(1 – p)ƒud + (1 – p)2ƒdd ]e–2r∆T
trong đó:
fuu: giá quyền chọn sau 2 lần tăng giá
fdd: giá quyền chọn sau 2 lần giảm giá
fud: giá quyền chọn sau 1 lần tăng giá và 1 lần giảm giá
∆T: độ dải thời gian của mỗi bước
Trang 10MÔ HÌNH CÂY BINOMIAL HAI BƯỚC
Tt
vd1
Mỗi bước thời gian là 3 tháng
Giá thực hiện = 21, lãi suất phi rủi ro r=12%
Trang 11TÍNH GIÁ TRỊ CALL OPTION
22
18
24.23.2
19.80.0
16.20.0
Trang 122 Mô hình Black-Scholes
Giả định cơ sở của Black – Scholes
1 Động thái của giá chứng khoán tương thích với
mô hình logarit chuẩn, với μ và σ không đổi.
2 Không có chi phí giao dịch hoặc thuế Tất cả chứng
khoán có thể phân chia được.
3 Không có cổ tức trên chứng khoán trong suốt vòng
đời của option.
4 Không có cơ hội arbitrage phi rủi ro.
5 Chứng khoán được giao dịch liên tục.
6 Nhà đầu tư có thể vay hoặc cho vay với cùng lãi
suất phi rủi ro.
Trang 132 Mô hình Black-Scholes
Công thức Black-Scholes để định giá Call và
Put option Châu Âu về chứng khoán không trả
cổ tức là
Trong đó,
Trang 142 Mô hình Black-Scholes
c: giá quyền chọn mua theo kiểu Châu Âu
p: giá quyền chọn bán theo kiểu Châu Âu
S 0: giá chứng khoán
K: giá thực hiện
r: lãi suất phi rủi ro
σ: độ bất ổn của giá chứng khoán
T: thời gian đáo hạn của quyền chọn
N(x): hàm phân phối xác suất chuẩn
Trang 152 Mô hình Black-Scholes
Bởi vì, giá call option kiểu Mỹ (C) bằng với giá call option kiểu Châu Âu (c) đối với chứng khoán không trả cổ tức, nên phương trình trên cũng được áp dụng cho giá call option kiểu Mỹ, nhưng lại không chính xác với giá put option kiểu Mỹ Giá put option kiểu Mỹ có thể dùng mô hình cây Binomial
để tính.
Trang 162 Mô hình Black-Scholes
Ví dụ:
Giá chứng khoán 6 tháng đến lúc đáo hạn của option là 42$, giá thực hiện là 40$, lãi suất phi rủi ro là 10%/năm, độ bất ổn là 20%/năm.
Trang 182 Mô hình Black-Scholes
Chúng ta đã giả định chứng khoán cơ sở củaoption thuộc loại không có cổ tức Trên thực tế,trường hợp này không phải diễn ra thường xuyên.Bây giờ chúng ta mở rộng kết quả bằng cách giảđịnh cổ tức (phải trả cho chứng khoán trong vòngđời của option) có thể được dự báo với con số xácđịnh
Lúc này, công thức Black-Scholes có thể được sửdụng với điều kiện giá chứng khoán sẽ giảm mộtkhoản bằng với hiện giá của tất cả cổ tức trongvòng đời của option
Trang 192 Mô hình Black-Scholes
Ví dụ:
Xem xét một call option Châu Âu về chứng khoánvới số ngày không trả cổ tức trong 2 tháng và 5tháng
Cổ tức mong đợi của mỗi ngày không trả cổ tức
là 0,5$
Giá cổ phiếu hiện hành là 40$
Giá thực hiện là 40$
Độ bất ổn của giá chứng khoán là 30%/năm
Lãi suất phi rủi ro là 9%/năm
Thời gian đáo hạn là 6 tháng
Trang 202 Mô hình Black-Scholes
- Hiện giá của cổ tức là:
- Do đó, giá option có thể được tính từ
công thức Black-Scholes với:
Trang 212 Mô hình Black-Scholes
Trang 222 Mô hình Black-Scholes
Lúc này, ta có
Và giá call option sẽ là:
Trang 23Ước lượng độ bất ổn từ số liệu lịch sử
- Báo cáo về mức biến động giá chứng khoán
có thể để được sử dụng để ước tính độ bất ổn.
- Giá chứng khoán thường được theo dõi với những khoảng thời gian cố định (VD: hàng
Trang 24Ước lượng độ bất ổn từ số liệu lịch sử
và được biết
Việc ước tính độ lệch chuẩn s của ui’s dựa theo công thức sau:
Trang 25Ước lượng độ bất ổn từ số liệu lịch sử
- Độ lệch chuẩn của ui’s là Do đó , biến
số s là một ước lượng của Suy ra, tự σ
có thể đước xác định bằng σ^, với:
- Ví dụ: Cho dữ liệu để ước tính độ bất ổn theo
bảng sau
Trang 26Ước lượng độ bất ổn từ số liệu lịch sử
Trang 27Ước lượng độ bất ổn từ số liệu lịch sử
- Cho một loạt giá chứng khoán trong 21 ngày giao dịch liên tiếp Trong trường hợp này:
∑u i = 0,09531 ∑u i 2 = 0,00326
- Và ước lượng độ lệch chuẩn của lợi nhuận hàng
ngày là:
Giả định rằng có 252 ngày giao dịch trong năm,
= 1/252, và từ số liệu đã cho ước tính độ bất ổn
hàng năm là hay bằng 19,3%
Trang 28PHẦN II
THỰC TRẠNG HỢP ĐỒNG QUYỀN
CHỌN TẠI VIỆT NAM
Trang 291 OPTION NGOẠI TỆ
Cơ sở pháp lý1
Thực trạng2
Những thuận lợi và khó khăn
3
Nguyên nhân của những khó khăn
4
Trang 301.1 Cơ sở pháp lý
a Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn
giữa ngoại tệ với ngoại tệ:
- 10/01/1998: quyết định
17/1998/QĐ-NHNN ban hành quy chế giao dịch hối đoái.
=> tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh
doanh ngoại tệ của các NHTM, tạo công cụ
phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất
Tuy nhiên, giao dịch ngoại hối chỉ mới được
thực hiện thông qua các công cụ giao ngay kỳ
hạn và hoán đổi
Trang 311.1 Cơ sở pháp lý
a Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn
giữa ngoại tệ với ngoại tệ:
135/NHNN-QLNH về giao dịch quyền chọn ngoại tệ, trước
tiên là quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ
chính thức ra đời.
Eximbank là NHTM đầu tiên thực hiện thí điểm
nghiệp vụ này.
Trong đó, công văn này đã quy định cụ thể
nhằm triển khai thực hiện giao dịch quyền
chọn ngoại tệ ở các ngân hàng như về đối
tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn
giao dịch, giới hạn số dư…
Trang 32Chấm dứt thời gian thí điểm nghiệp vụ này.
Quy định kỳ hạn của giao dịch quyền chọn giữa các ngoại
tệ với nhau do tổ chức tín dụng được phép và khách hàng
tự thỏa thuận.
Cho phép các cá nhân được phép tham gia ngoài các TCTD,
Trang 331.1 Cơ sở pháp lý
b Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ:
- 18/4/2005: công văn số 326/NHNN-QLNH cho phép
ACB triển khai thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ
và VNĐ Theo công văn này, NHNN đã đưa ra những quy định cụ thể về các loại ngoại tệ được giao dịch, cơ sở tính phí quyền chọn, thời hạn giao dịch, đối tượng giao dịch…
hướng dẫn cụ thể, chi tiết về nguyên tắc và nội dung kế toán đối với các nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, để giải
Trang 341.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
a Tổng quan:
Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại VCB,
ACB và EIB giai đoạn 2005 – 2008
Trang 351.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
a Tổng quan:
- Theo quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN thì các đối tượng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn với ngân hàng là các tổ chức kinh tế, các tổ chức khác và cá nhân.
Tuy nhiên, từ khi áp dụng loại hình giao dịch này cho đến nay, khách hàng thực hiện giao dịch quyền chọn là các doanh nghiệp với mục đích chính là phòng ngừa rủi ro ngoại hối.
Kiểu quyền chọn được các doanh nghiệp chọn mua là quyền chọn kiểu Mỹ, vì ngoài mục đích phòng ngừa rủi ro ngoại hối, các doanh nghiệp còn có thể khai thác chiều hướng biến động có lợi của tỷ giá để thực hiện quyền chọn thu lợi nhuận.
Trang 361.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
a Tổng quan:
- Theo báo cáo tại hội thảo khoa học về “giải phápphát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam” năm2007:
Doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường giữa cácngân hàng với khách hàng ngày càng tăng lên: Năm
2004 tăng 30%, từ năm 2005-2007 trung bình tăngkhoảng 20%/năm
Trong đó, các giao dịch giao ngay chiếm từ 90-95%,các giao dịch quyền chọn ngoại tệ chỉ chiếm từ 1-5%,
Trang 371.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
b Quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ:
- Trong giai đoạn thí điểm, các NHTM muốn thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ:
+ Là ngân hàng đã được phép kinh doanh ngoại hối + Có vốn tự có tối thiểu là 200 tỷ VNĐ
+ Kinh doanh ngoại tệ có lãi trong ít nhất 5 năm gần nhất
+ Doanh số mua bán ngoại tệ của năm trước tối thiểu
là 1 tỷ USD
+ NHTM phải lập ra quy trình nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và trình cho thống đốc NHNN chấp thuận bằng văn bản cho thực hiện thí điểm.
Trang 381.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
b Quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ:
Về phía ngân hàng tham gia:
- Theo công văn số 135/NHNN-QLNH, cho phép Eximbank
là ngân hàng đầu tiên trong cả nước được thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ.
Sau Eximbank, NHNN cũng cho phép 7 ngân hàng khác thực hiện thí điểm nghiệp vụ này, gồm có hai ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là Citibank, HSBC chi nhánh TPHCM và 5 ngân hàng trong nước là BIDV, ACB, Vietcombank, ICB, và Argribank.
Trang 391.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
b Quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ:
Đặc điểm giao dịch
- Nguyên tắc chính của loại quyền chọn này là các doanh nghiệp
và cá nhân được quyền đặt mua hay đặt bán USD với VNĐ thông qua một tỷ giá do khách hàng tự chọn, được gọi là tỷ giá thực hiện Đặc biệt, quyền chọn USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu trong đó quyền chọn mua áp dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọn bán áp dụng cho nhà xuất khẩu, trong đó:
+ Người mua quyền chọn: các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.
+ Người bán quyền chọn: các NHTM.
+ Đồng tiền giao dịch: giao dịch bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.
Trang 401.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
b Quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ:
Về doanh số giao dịch
- Tính đến tháng 6/2004, số lượng hợp đồng được ký kết chỉ dừng lại con số 50 hợp đồng quyền chọn với doanh số thực hiện hơn
50 triệu USD của Eximbank ký với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong thời gian thí điểm nghiệp vụ quyền chọn, còn 6 ngân hàng còn lại không ký được hợp đồng nào.
- Từ 2004 đến 2007, mặc dù không còn giới hạn về số lượng NHTM tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ nhưng thực tế cho thấy các hoạt động mua bán này chưa thực
sự sôi động, chỉ tập trung vào chi nhánh các ngân hàng nước ngoài như HSBC hay Citibank và một số ít NHTM Việt Nam như
Trang 411.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
c Quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ) :
Về phía ngân hàng tham gia giao dịch
- Tháng 4/2005 NHNN Việt Nam đã bắt đầu cho triểnkhai thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn giữangoại tệ với VNĐ
ACB là ngân hàng đầu tiên được thí điểm nghiệp vụnày, với mức tối đa giá trị hợp đồng là 10 triệu USD
và mức tối thiểu là 10.000 USD (quy đổi ngoại tệkhác tương đương mức này cho quyền chọn giao dịchgiữa các ngoại tệ khác và VNĐ)
Trang 421.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
c Quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ) :
Về phía ngân hàng tham gia giao dịch
- Tiếp theo ACB là ngân hàng Techcombank với giá trịhợp đồng là 8 triệu USD-100.000 USD và chỉ đượcthực hiện với quyền chọn Châu Âu
BIDV được phép thí điểm từ ngày 22/8/2005 và kể từđây không còn quy định giới hạn cho giá trị hợp đồngquyền chọn
Ngoài ra, còn có các ngân hàng như Eximbank,GPbank cũng tham gia nghiệp vụ này Như vậy, tínhđến tháng 5/2008, đã có 7 ngân hàng được phép
Trang 431.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
c Quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ) :
Cũng giống với giao dịch giữa quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, quyền chọn ngoại tệ với VNĐ yêu cầu các NHTM muốn thực hiện nghiệp vụ này phải có đề án chi tiết quy trình nghiệp vụ, phương án phòng ngừa rủi ro, và được NHNN chấp nhận bằng văn bản Quy định về tỉ giá thực hiện như sau:
- Đối với hợp đồng quyền chọn USD/VNĐ: tỷ giá này không vượt quá tỷ giá kỳ hạn USD/VNĐ cùng thời hạn.
- Đối với hợp đồng quyền chọn giữa ngoại tệ khác với VNĐ: tỷ giá do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận.
Trang 441.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
c Quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ) :
- Mặc dù được triển khai từ năm 2005, nhưng doanh số mua bán thực tế của các NHTM không đáng kể, hầu hết các giao dịch đều được tiến hành theo kiểu Mỹ vì điều kiện thanh toán linh hoạt hơn.
- Các ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ mới thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể.
- Riêng Vietcombank và Eximbank được xem là hai ngân hàng mạnh về lĩnh vực này nhưng doanh số hoạt động cũng không cao.
=> giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ chưa phát triển.
Văn bản số 1820/NHNN-QLNH do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 18/3/2008 yêu cầu các NHTM dừng thực
Trang 451.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
d Phí quyền chọn
- Các ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian hưởng hoahồng giữa khách hàng mua quyền chọn và phía ngânhàng nước ngoài bán quyền chọn
Khoản hoa hồng đó được cộng trực tiếp vào phíquyền chọn mà ngân hàng nước ngoài đưa ra nênlàm cho phí này cao lên
Phí quyền chọn cao => làm cho loại hình giao dịchnày chưa phát triển mạnh
Trang 461.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
d Phí quyền chọn
- Ví dụ: một hợp đồng quyền chọn với các chi tiết như sau:
+ ACB bán EUR mua USD + Số lượng: 100.000 EUR + Kỳ hạn: 1 tháng
+ Kiểu: Mỹ + Giá thực hiện: 1,265 + Phí: 1.200USD.
Giao dịch trên được bắt đầu khi khách hàng đề nghị mua quyền chọn mua 100.000 EUR và bán USD cho ACB.
Để đưa ra mức phí, ACB liên hệ với ngân hàng nước ngoài và cũng yêu cầu ngân hàng nước ngoài bán cho mình quyền chọn mua 100.000 EUR thanh toán bằng USD kỳ hạn 1
Trang 471.2 Thực trạng về giao dịch quyền chọn ngoại
tệ tại các NHTM ở Việt Nam
Nên các ngân hàng tạm thời giữ vai trò đầu mối tập trung các giao dịch quyền chọn nhỏ lẻ để giao dịch lại với ngân hàng nước ngoài trong lúc chưa tự doanh được.
Tuy nhiên, lý do chính yếu nhất là các ngân hàng nước ngoài không thực hiện quyền chọn thanh toán bằng VND, mà chỉ sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán, trong khi đó các doanh nghiệp không có đủ khả năng ngoại tệ để đáp ứng yêu cầu kinh doanh, các doanh nghiệp vẫn phải thực hiện giao dịch quyền chọn với các
Trang 481.3 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện
quyền chọn ngoại tệ tại các NHTM ở VN
a Thuận lợi
Về phía ngân hàng
- Theo kết quả khảo sát của NHNN Việt Nam - chi nhánh TP HCM năm 2006 thì 100% các ngân hàng đều thừa nhận rằng hiện tại
họ rất quan tâm đến vấn đề rủi ro tỷ giá.
=> các ngân hàng ngày càng chú trọng đến sự phát triển cung cấp các giao dịch ngoại hối mặc dù NHNN vẫn can thiệp và giữ
tỷ giá tương đối ổn định.
- Việc phát triển các nghiệp vụ này có ý nghĩa:
+ Giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn và áp dụng các công
cụ quyền chọn để quản lý rủi ro
+ Là cơ hội cạnh tranh cho các NHTM đa dạng hóa sản phẩm cung cấp, đồng thời đón trước được nhu cầu cấp thiết