TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN HỒ THỊ BÍCH TUYỀN PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TỒN LƯU THUỐC TRỪ SÂU HOẠT CHẤT QUINALPHOS TRONG BÙN VÀ NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NỒNG Đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
HỒ THỊ BÍCH TUYỀN
PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TỒN LƯU THUỐC TRỪ SÂU HOẠT CHẤT QUINALPHOS TRONG BÙN VÀ NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ THUỐC TRONG CÁ VÀ BÙN ĐÁY CỦA MÔ HÌNH
LÚA – CÁ CÓ SỬ DỤNG QUINALPHOS
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HỒ THỊ BÍCH TUYỀN
PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TỒN LƯU THUỐC TRỪ SÂU HOẠT CHẤT QUINALPHOS TRONG BÙN VÀ NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NỒNG
ĐỘ THUỐC TRONG CÁ VÀ BÙN ĐÁY CỦA MÔ HÌNH
LÚA – CÁ CÓ SỬ DỤNG QUINALPHOS
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ths NGUYỄN QUỐC THỊNH
2014
Trang 3PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TỒN LƯU THUỐC TRỪ SÂU HOẠT CHẤT QUINALPHOS TRONG BÙN VÀ NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NỒNG
ĐỘ THUỐC TRONG CÁ VÀ BÙN ĐÁY CỦA MÔ HÌNH
LÚA – CÁ CÓ SỬ DỤNG QUINALPHOS
HồThị Bích Tuyền và Nguyễn Quốc Thịnh
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
Tuyen111791@student.ctu.edu.vn
ABSTRACT
The topic development of analytical methods pesticide residues active substance quinalphos in mud and study the relationship between drug concentrations in fish and sediment of rice-fish models using pesticide quinalphos ingredients had made
to determine fit extraction method in the analysis of residual sludge quinalphos, the survey cleaning process during sample analysis mud, the level evaluation of pesticide quinalphos ingredients in sediment, combination and evaluation of analysis results with quinalphos residues in fish from fields using pesticide quinalphos ingredients The results show that extracting with acetone solvents: hexan (1: 9) and with don't the process of cleaning for optimum efficiency, extracting performance get 58,5%, average area with don't process of cleaning more than that do it's
Keyword: Quinalphos, soil (sediment), Pesticideresidue, rice-fish models
TÓM TẮT
Đề tài phát triển phương pháp phân tích tồn lưu thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos trong bùn và nghiên cứu mối tương quan giữa nồng độ thuốc trong cá và bùn đáy của mô hình lúa – cá có sử dụng thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos được thực hiện nhằm mục đích xác định phương pháp chiết tách phù hợp trong phân tích tồn lưu quinalphos trong bùn, khảo sát quy trình làm sạch trong quá trình phân tích mẫu bùn, đánh giá mức độ tồn lưu của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos trong đất bùn, kết hợp và đánh giá kết quả phân tích được với tồn lưu thuốc trừ sâu quinalphos có trong cá từ ruộng có sử dụng hoạt chất quinalphos Kết quả cho thấy chiết tách bằng dung môi acetone:hexan (1: 9) và không qua quá trình làm sạch cho hiệu quả tối ưu nhất, hiệu suất chiết tách đạt 58,5%, trung bình diện tích không qua làm
Trang 4sạch cao hơn so với làm sạch Giới hạn định lượng của phương pháp trên mẫu bùn (LOQ) là 4ng/g
Từ khóa: Quinalphos, bùn đáy, dư lượng thuốc trừ sâu, mô hình lúa – cá GIỚI THIỆU
Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 50% diện tích và sản lượng, đóng góp đến 90% sản lượng gạo xuất khẩu (Lưu Hoàng Vân, 2010), đóng vai trò quan trọng phát triển KT – XH của cả nước nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng Đồng thời cũng là vùng sản xuất thủy sản đứng đầu cả nước với sản lượng thủy sản xuất khẩu chiếm 65% tổng sản lượng thủy sản toàn quốc.ĐBSCL có nhiều thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) Tuy nhiên, sau một thời gian tăng trưởng và phát triển nhanh, NTTS của vùng cũng còn gặp không ít thách thức, khó khăn (FlCen, 2014) Đời sống nông dân cũng lâm vào khó khăn, vì thế để cải thiện kinh tế gia đình nhiều nông dân đã áp dụng mô hình cá lúa kết hợp Nuôi cá kết hợp trong ruộng lúa giúp nông dân giảm được chi phí làm cỏ, chi phí thuốc BVTV, chi phí đầu tư thức ăn cho cá Bởi vì, cá – lúa có mối quan hệ cộng sinh với nhau, cùng sống trong ruộng lúa nhưng không có sự cạnh tranh về thức ăn, ngược lại có sự hổ trợ lẫn nhau Ruộng lúa cung cấp rơm rạ mục, sâu bọ, các loại động vật sống trong ruộng lúa… làm thức ăn cho cá giảm chi phí thức ăn cho cá Ngược lại, các loại chất thải của cá tích tụ có tác dụng làm phân bón, tăng độ mùn cho ruộng lúa, giảm chi phí làm đất Kết quả thực tế cho thấy lợi nhuận thu được từ mô hình lúa –
cá lớn hơn nhiều so với trồng lúa đơn thuần (Lê Nga, Trung tâm Thông tin Nông nghiệp & PTNN, 2013), theo báo cáo của Chi cục Thủy sản thành phố Cần Thơ, (2011) cho thấy diện tích nuôi cá trong ruộng lúa ở thành phố Cần Thơ năm 2011
là 9.954 ha chiếm 73,5% tổng diện tích nuôi Sản lượng nuôi đạt 3.256 tấn, bình quân đạt 327 kg/ha Tuy nhiên, trong sản xuất nông nghiệp nếu không sử dụng thuốc BVTV thì một nửa mùa màng và năng suất ước tính bị phá hoại (Bộ Y tế,2009) vì thế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là bắt buộc và không ngừng tăng lên Theo Berg, (2001) ở Việt Nam mỗi năm tiêu thụ không dưới 30 ngàn tấn thuốc BVTV (trích dẫn bởi Nguyễn Văn Công et al, 2006) Vì vậy dư lượng thuốc BVTV có thể tồn lưu trong đất, nước và thủy sản Một trong các loại thuốc trừ sâu
sử dụng phổ biến trên ruộng lúa là Kinalux 25 EC (chứa hoạt chất Quinalphos) có nồng độ hoạt chất 250 g/L do Công ty United Phosphorus Ltd sản xuất Quinalphos là hoạt chất trừ sâu gốc lân hữu cơ hiện đang được sử dụng rộng rãi trên rau, trái cây, bông và lúa Việc sử dụng rộng rãi thuốc các loại thuốc trừ sâu
Trang 5không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước, vi sinh vật, các thiên địch trên ruộng lúa mà còn ảnh hưởng đến vi sinh vật trong đất kể cả đất trầm tích (đất bùn) Đất có thể xem là một hồ chứa một số loại hợp chất thuốc trừ sâu trong môi trường vì thế việc phân tích dư lượng thuốc trừ sâu trong đất có thể có ích trong việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khỏe con người
Tồn lưu thuốc BVTV được nghiên cứu nhiều bởi các tác giả trong và ngoài nước.Nguyễn Thanh Phong(2013) tối ưu hóa phương pháp trên hệ thống sắc ký đầu dò cộng kết điện tử, xây dựng quy trình làm sạch mẫu cơ, xây dựng phương pháp ly trích mẫu nước và đánh giá mức độ tồn lưu của ba loại thuốc bảo vệ thực vật (trifluralin, quinalphos và dichlovos) Angeslique Lazartigues et al (2011) xác định dư lượng 13 loại thuốc trừ sâu bằng phương pháp LC – MS/MS, giới hạn định lượng dưới 5ng/g trong nước, trong đất bùn và cơ thịt cá dưới 1ng/g
Tồn dư lượng thuốc BVTV trong đất đã để lại các tác hại đáng kể cho môi trường
Có khoảng 1000 hợp chất hóa học được sử dụng trên thế giới trung bình có khoảng 50% lượng thuốc trừ sâu được phun đã rơi xuống đất, tồn động trong đất
và lôi cuốn vào chu trình: Đất – Cây – Động vật – Người (Lê Văn Khoa, 1995) Thuốc BVTV đi vào môi trường đất do các nguồn: Phun xử lý đất, phun phòng chống các loại dịch hại lúa Tồn lưu hoạt chất thuốc trừ sâu trong đất bùn có thể ảnh hưởng đến nồng độ thuốc trừ sâu trong cá nuôi ở mô hình lúa – cá Do đó đề tài “Phát triển phương pháp phân tích tồn lưu thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos trong mẫu bùn và nghiên cứu mối tương quan giữa nồng độ thuốc trong cá và bùn đáy của mô hình lúa cá có sử dụng quinalphos” được thực hiện nhằm xác định khoảng thời gian thu hoạch cá tốt nhất để hạn chế tối đa sự lây nhiễm hóa chất thuốc trừ sâu trong cơ thịt cá
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện tại bộ môn dinh dưỡng và chế biến, Khoa Thủy Sản, trường Đại học Cần Thơ Nguyên vật liệu gồm bùn, mẫu cá chép thu từ ruộng, thuốc trừ sâu Kinalux 25 EC có hoạt chất quinalphos thuộc gốc lân hữu cơ được mua từ đại
lý kinh doanh thuốc BVTV Chất chuẩn Quinalphos, Sigma-Aldrich, St Louis, Missouri, United States và Nội chuẩn Chlorpyriphos D10 Hóa chất thí nghiệmgồm có:n-hexan, acetone, chloroform, ethyl acetace, dichlomethan.Thí nghiệm được tiến hành bởi sự hỗ trợ của các dụng cụ như: Tủ đông -200C, giấy lọc, phiễu, bình tam giác 50 mL, 100mL, hệ thống máy sắc ký khí Shimazdu 2010 đầu dò cộng kết điên tử ECD Micropipete, Máy lắc ngang SHAKER-SK300, hệ thống cô quay chân không
Trang 6Chuẩn bị mẫu
Mẫu bùn được lấy trên ruộng lúa có mô hình lúa cá kết hợp ở huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ Bùn được lấy ở độ sâu từ 0 đến 4 cm (Angélique Lazartigues et al, 2011) Sau khi thu mẫu cho vào túi PE (khoảng 3 đến 5 túi, mỗi túi khoảng 500 g) đem về phòng thí nghiệm trữ trong tủ đông –200C cho đến khi phân tích
Phương pháp phân tích
Xác định dung môi chiết tách phù hợp trong phân tích tồn lưu Quinalphos trong bùn
Thí nghiệm được tiến hành nhằm tìm ra dung môi chiết tách thích hợp nhất để tách thuốc trừ sâu hoạt chất Quinalphos trong mẫu bùn trên ruộng lúa tối ưu nhất.Thí nghiêm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lăp lại, có 3 nghiệm thức, tổng số mẫu là 9 Thí nghiệm được tiến hành với 3 loại dung môi chiết tách khác nhau là: Acetone: hexane (1:9), Acetone: Dichloromethan (1:9) và ethylacetate: chlorofrom (50:50) (Quy trình chiết tách dựa trên mô tả của Pathan et al, 2012 ) với một số thay đổi)
Cân chính xác 5gram bùn ướt cho vào bình tam giác, thêm 1 mL gồm chất chuẩn
và nội chuẩn (quinalphos 500ppb, Chlorpyriphos D10), để yên trong 30 phút Thêm 10 mL dung môi chiết tách (Acetone: Hexan (1:9),Acetone:Dichloromethan (1:9) hoặc ethylacetate: chlorofrom (50:50)), khuấy đều Sau đó đặt lên máy lắc ngang, lắc qua đêm với tốc độ 125 lần/phút Tiếp theo thêm 2 gram Na2SO4 khan trước khi lọc qua giấy lọc, rửa giấy lọc bằng 1 mL dung môi chiết tách, rót dịch lọc vào bình cầu rửa cốc bằng 2 mL dung môi chiết tách Cô quay dịch lọc, sau đó hoàn nguyên bằng 1 mL Acetone Lọc qua đầu lọc 0,2µm trước khi phân tích trên
hệ thống sắc ký khí (GC)
Khảo sát quy trình làm sạch trong quá trình phân tích mẫu bùn
Dựa vào kết quả từ thí nghiệm 1 chọn được dung môi chiết tách tối ưu nhất để tiến hành thí nghiệm 2 Trước khi phân tích trên hệ thống sắc ký khí làm sạch mẫu đất
có thể làm giảm độ nhiễu nền tăng diện tích chất cần phân tích Thí nghiệm được
bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 quy trình khác nhau và lặp lại 3 lần, có 4 nghiêm thức, tổng số mẫu là 12 Các nghiệm thức 1, 2, 3 và 4 lần lượt là làm sạch bằng SPE, làm sạch bằng lỏng - lỏng qua dung môi H2O, làm sạch bằng lỏng - lỏng qua dung môi acetonenitril và không qua làm sạch
Làm sạch qua cột SPE
Chuẩn bị cột SPE: Cho vào cột một lớp mỏng bông gòn thủy tinh và cân lần lượt 5 gram mỗi loại forisil, silicagel, Na2SO4 cho vào cột và sau đó lại cho thêm một lớp mỏng bông gòn thủy tinh trên lớp mặt Tiếp theo tiến hành hoạt hóa cột bằng cách
Trang 7cho lần lượt 4 mL acetone, 4 mL n-hexan sau đó cho dịch chiết lọc qua cột và cuối cùng thêm vào 10 mL dung dịch acetone : hexan (1: 9) Cô quay dịch lọc, sau đó hoàn nguyên bằng 1 mL acetone Lọc qua đầu lọc 0,2µm trước khi phân tích trên
hệ thống sắc ký khí (GC)
Làm sạch bằng lỏng – lỏng
Chất chuẩn Quinalphos được cho vào 5 gram mẫu đất và tiến hành chiết tách như thí nghiệm 1 Sau đó thêm 4 mL dung môi làm sạch (H2O hoặc Acetonitril) và lắc ngang 30 phút, hỗn hợp phân lớp hút phần dịch chiết lớp trên cho vào bình cầu Cô quay dịch chiết, sau đó hoàn nguyên bằng 1 mL acetone Lọc qua đầu lọc 0.2 µm trước khi phân tích trên hệ thống sắc ký khí (GC)
Không qua làm sạch
Cân chính xác 5gram bùn ướt cho vào bình tam giác, thêm 1 mL gồm chất chuẩn
và nội chuẩn (quinalphos 500ppb, Chlorpyriphos D10), để yên trong 30 phút Thêm 10 mL dung dịch acetone:hexan (1:9), khuấy đều Sau đó đặt lên máy lắc ngang, lắc qua đêm với tốc độ 125 lần/phút Tiếp theo thêm 2gram Na2SO4 trước khi lọc qua giấy lọc, rửa giấy lọc bằng 1 mL dung dịch acetone:hexan (1:9), rót dịch lọc vào bình cầu và rửa cốc bằng 2 mL dung dịch acetone:hexan (1:9) Cô quay dịch lọc, sau đó hoàn nguyên bằng 1 mL acetone Lọc qua đầu lọc 0.2 µm trước khi phân tích trên hệ thống sắc ký khí (GC)
Phân tích mẫu cơ thịt cá
Tồn lưu qinalphos trên mẫu cơ thịt cá thu từ thí nghiệm được phân tích theo phương pháp mô tả bởi Nguyễn Văn Quí (2013) Mẫu cơ ly trích bằng dung môi Acetonitrile:aceton (1:1) Cân 2g mẫu cá, thêm 2g muối Na2SO4 + 8ml acetonitrile:aceton (1:1), votex, lắc ngang 20 phút (300 lần/phút và ly tâm lần 1 (5000 vòng/phút, 250C,5 phút), hút lấy phần dịch chiết, phần rắn còn lại lặp lại quy trình như trên nhưng không thêm muối, dịch chiết sau lần ly tâm 1 và 2 trộn lẫn với nhau và cô quay Thêm10ml dung môi n – hexan vào bình cầu sau khi cô quay, sau đó ly tâm lần 2 (5000 vòng/phút, 250C,5 phút), lấy dịch chiết lớp trên đem cô quay lần 2 và hoàn nguyên bằng 100µL Nội chuẩn trong ACE, 900 µL acetone và lọc qua đầu lọc 0.2 µm trước khi phân tích bằng sắc ký khí GC/ECD
Đánh giá mức độ tồn lưu của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos trong đất bùn và
cá từ ruộng có sử dụng hoạt chất quinalphos
Mẫu cá và bùn được thu từ ruộng thí nghiệm có sử dụng thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos Thí nghiệm được bố trí như sau: Sau khi cho nước và thả cá vào ruộng lúa 3 ngày tiến hành phun thuốctrừ sâu hoạt chất quinalphos trên lúa gây nhiễm cho đất lần 1 với hàm lượng quinalphos theo khuyến cáo của nhà sản xuất là
Trang 842,5g/1000m2 Mẫu được thu tại các thời điểm trước khi phun thuốc (ngày 0) và sau khi phun thuốc 1 ngày, 3, 7, 14, và 24 ngày Sau 24 ngày tiến hành thì tiếp tục phun thuốc lần 2, cùng nồng độ với lần 1, thu mẫu tại các thời điểm sau khi phun thuốc 1 ngày, 3, 7, 14, 28 ngày sau khi xịt thuốc, sau đó cách 7 ngày thu mẫu 1 lần cho đến cuối vụ lúa Phương pháp thu mẫu: Mẫu bùn được thu từ ruộng ở độ sâu
từ 0 đến 4 cm Sau đó cho mẫu vào bao PE đem về phòng thí nghiệm trữ trong tủ đông – 200C cho đến khi phân tích
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 và Microsoft Excel 2007
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả phương pháp chiết tách phù hợp trong phân tích tồn lưu Quinalphos trong bùn bằng phương pháp sắc ký khí
Kết quả phân tích của 3 phương pháp chiết tách được trình bày ở bảng 1
Bảng 1: Kết quả phân tích của 3 dung môi chiết tách (n=3), giá trị được thể hiện bằng trung bình ± độ lệch chuẩn
Diện tích peak Dung môi Chất chuẩn
(500 ng/mL)
Nội chuẩn (40 ng/mL)
Hiệu suất thu hồi
(%) Acetone:hexan (1: 9) 44859 46788 58,5±1,35a Chloroform: Ethylacetate
(50:50) 37135 24390 48,4±4,18
ab
Acetone: Dichloromethan
(1:9) 28017 6863 36,5±10,5
b
Ghi chú: các chữ cái giống nhau trên cùng 1 cột biểu hiện sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở p<0,05
Kết quả thí nghiệm thể hiện ở bảng 1 cho thấy hiệu suất thu hồi của chất chuẩn của quy trình 1 (dung môi chiết tách là acetone:hexan (1:9)) là 58,5±1,35a, cao hơn
so với quy trình 2 và 3 và nó cũng có độ lệch chuẩn thấp nhất và do dung dịch n-hexan có khả năng phân cực tốt Như vậy ta sẽ áp dụng quy trình 1 để chiết tách quinalphos đối với mẫu đất Do tính chất của đất nên hiệu suất thu hồi của phương pháp nhỏ hơn so với hiệu suất thu hồi trên mẫu cá và nước được thực hiện bởi Nguyễn Văn Quí (2013) sử dụng hỗn hợp dung dịch acetonitric và acetone (1:1)
để phân tích quinalphos trên mẫu cơ có hiệu suất thu hồi 88,5%, dung môi n-hexan chiết tách trên mẫu nước cho hiệu suất thu hồi 97,4%
Kết quả khảo sát quy trình làm sạch trong quá trình phân tích mẫu đất
Trang 9Kết quả làm sạch được trình bày ở bảng 2
Bảng 2: Trung bình diện tích peak và tỉ lệ chất chuẩn trước trên chất chuẩn sau dựa vào hiệu suất thu hồi của cả 4 quy trình (n=3), giá trị được thể hiện bằng trung bình ± độ lệch chuẩn
Diện tích peak Dung môi làm
sạch (n=3) Chất chuẩn (500 ng/mL) Hiệu suất thu hồi (%)
H2O 41553 50,7±11,8b
Acetonitril 4672 5,67±4,91a
Không làm sạch 44859 54,7±1,28b
Ghi chú: các chữ cái giống nhau trên cùng 1 cột biểu hiện sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở p<0,05.
Kết quả thí nghiệm ở bảng 2 cho thấy hiệu suất thu hồi của không làm sạch 54,7±1,28b cao hơn so với các quy trình làm sạch, đồng thời độ nhiễu nền có các quy trình gần như giống và diện tích peak của các quy trình làm sạch không cao Trừ quy trình làm sạch bằng nước nhưng hiệu suất thu hồi có độ lệch chuẩn cao 50,7±11,8b Do đó quy trình không qua làm sạch để chiết tách quinalphos đối với mẫu đất được sử dụng Đối với phân tích mẫu cơ, không qua làm sạch cũng cho kết quả tốt hơn so với qua quy trình làm sạch (Nguyễn Văn Quí , 2013)
Kết quả đánh giá mức độ tồn lưu của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos trong đất bùn từ ruộng có sử dụng hoạt chất quinalphos
Kết quả phân tích tồn lưu quinalphos theo thời gian sau khi gây nhiễm 2 lần được thể hiện ở bảng 3
Bảng 3: Sự tồn lưu của quinalphos trong bùn theo thời gian (n=3), giá trị được thể hiện bằng trung bình ± độ lệch chuẩn
Nồng độ quinalphos ở các thời gian khác nhau (ng/g)(ppb)
Lần
gây
nhiễm
0
ngày
1 ngày
3 ngày
7 ngày
14 ngày
24 ngày
28 ngày
42 ngày 56ngày
1 0 <LOQ 3,07 19,5 10,2 7,10
2 <LOQ 39.4 73,7 91,6 26,9 15,9 <LOQ Bảng 4: Giá trị LOD và LOQ của phương pháp phân tích mẫu bùn (n=3), giá trị được thể hiện bằng trung bình ± độ lệch chuẩn
Trang 10Nồng độ (ng/g) Nồng độ được tính toán
bằng đường chuẩn (ng/g) Hệ số biến động (CV%)
100 100.6±11.2 11.2
200 197.8±13.6 6.9
Theo tài liệu hướng dẫn chuẩn hoá phương pháp phân tích được công bố trên văn
bản SANCO/12495/2011 của Châu Âu, giá trị LOQ (giới hạn định lượng) của
phương pháp được chấp nhận khi hệ số biến động (CV%) giữa các lần lập lại tại
các điểm trên đường chuẩn bắt đầu đạt được và thấp hơn 20% (bảng 4) Do đó
trong phương pháp này LOQ được xác định ở điểm 20 ng/ml đối với dung dịch
sau khi trích ly và là 4ng/g (4ppb) tính trên mẫu bùn đem phân tích (do lượng mẫu
phân tích là 5 g)
Tương quan giữa nồng độ quinalphos trong bùn và trong cá
Hình 1: Biểu đồ thể hiện sự tồn lưu của quinalphos trong bùn (a) và cá chép (b)
theo thời gian, giá trị LOQ của mẫu bùn và cá lần lượt là 4 ng/g và 3,75 ng/g
Dựa vào đồ thị ta thấy lượng tồn lưu của Quinalphos trên mẫu bùn sau khi gây
nhiễm cao sau 7 và 14 ngày gây nhiễm, lượng quinalphos tăng dần sau khi gây
nhiễm và sau ngày 14 thì giảm dần do mẫu bùn có thời gian ngấm (tích lũy) thuốc
lâu hơn Với mẫu cá thì lượng tồn lưu của Quinalphos cao nhất là 1 ngày sau khi
gây nhiễm, nồng độ quinalphos giảm dần theo thời gian từ 1913 ng/g ở ngày 1
xuống còn 24,7 ng/g ở ngày 24 Do ở mẫu cá có chứa lipid nên lượng tồn lưu hoạt
chất quinalphos cao hơn so với mẫu bùn Theo Nguyễn Quan Trung và Đỗ Thị
Thanh Hương,( 2012) quinalphos làm thay đổi hoạt tính men ChE ở não cá chép