Mục đích của nghiên cứu là đánh giá yếu tố mối nguy ảnh hưởng đến tỉ lệ chết, tình hình bệnh xảy ra trên cá điêu hồng nuôi bè ở tỉnh Vĩnh Long.. Thông tin thu thập được từ nông hộ cho t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ MINH CHÁNH
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ YẾU TỐ MỐI NGUY LIÊN QUAN ĐẾN TỶ LỆ CHẾT CÁ ĐIÊU HỒNG
(Oreochromis sp.) NUÔI BÈ Ở VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ MINH CHÁNH
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ YẾU TỐ MỐI NGUY LIÊN QUAN ĐẾN TỶ LỆ CHẾT CÁ ĐIÊU HỒNG
(Oreochromis sp.) NUÔI BÈ Ở VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS TRẦN THỊ TUYẾT HOA
2014
Trang 3NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ YẾU TỐ MỐI NGUY LIÊN QUAN ĐẾN TỈ LỆ CHẾT CÁ ĐIÊU HỒNG
(Oreochromis sp.) NUÔI BÈ Ở VĨNH LONG
Lê Minh Chánh 1 , Trần Thị Tuyết Hoa
1
Khoa Thuỷ sản, Trường Đại học Cần Thơ
ABSTRACT
The study was conducted in the region of Red tilapia cage cultured on Tien river, Long Ho district - Vinh Long from July to November 2014 The purpose of the study was to access: risk factors affecting mortality rate, the situation disease occurs in red tilapia cages in Vinh Long province Information collected from the farm shoed that the fish mortality rate within a crop is high with more than 50 % Four risk factors were identified: stocking density, fingerlings sizes, farming experiences, previous mortality rate have significant impact on the mortality of fish within a crop
Keyword: red tilapia, mortality rate, risk factors
Title: Study assessing risk factors related to the mortality rate of cage cultured of red tilapia (Oreochromis sp.) in Vinh long province
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành tại vùng nuôi cá điêu hồng lồng bè trên sông Tiền thuộc huyện Long Hồ - Vĩnh Long từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2014 Mục đích của nghiên cứu là đánh giá yếu tố mối nguy ảnh hưởng đến tỉ lệ chết, tình hình bệnh xảy ra trên
cá điêu hồng nuôi bè ở tỉnh Vĩnh Long Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 50 hộ nuôi
cá điêu hồng trên bè tại địa bàn nghiên cứu Thông tin thu thập được từ nông hộ cho thấy tình hình tỉ lệ chết của cá trong một vụ nuôi cũng cao (>50%) Bốn yếu tố mối nguy được xác định là mật độ nuôi, kích cỡ cá giống, kinh nghiệm nuôi, tỉ lệ chết vụ trước ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ chết của cá trong một vụ nuôi
Từ khóa: cá điêu hồng, tỉ lệ chết, yếu tố mối nguy
1 GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây ngành thủy sản Việt Nam phát triển mạnh mẽ và không ngừng đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho quốc gia Đóng góp quan trọng này không thể không kể đến đồng bằng sông Cửu Long, nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển thủy sản, đặc biệt là tỉnh Vĩnh Long, nơi có địa thế trải dọc theo tuyến sông Tiền Bên cạnh các đối tượng nuôi chủ lực như cá tra, cá basa thì cá điêu hồng cũng
là một đối tượng nuôi tiềm năng đang được chú ý
Song song với sự phát triển của nghề nuôi cá điêu hồng lồng bè thì dịch bệnh xảy ra ngày càng nghiêm trọng và đang là vấn đề nan giải cho người nuôi Các bệnh thường
Trang 4gặp trên cá điêu hồng là bệnh xuất huyết, lồi mắt, bệnh gan thận mủ…diễn biến ngày một phức tạp hơn và làm tỉ lệ chết ở cá ngày càng cao hơn (Dương Nhựt Long, 2004) Trên thế giới, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đối tượng này, nhiều công trình nghiên cứu về dịch tễ học, đặc điểm bệnh học, biện pháp điều
trị cũng như các loại vaccine phòng một số bệnh trên cá điêu hồng (Ferguson et
al.,1994; Yanong and Francis-Floyd, 2002; Evan et al., 2004; Sheehan, 2009; Zilberg
et al., 2010) Tuy nhiên, trên nước ta chưa có nhiều công trình đầu tư, nghiên cứu về
các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ chết trên cá điêu hồng, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay tỉ lệ chết của cá ngày càng cao hơn Vì vậy, nghiên cứu này ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Mục đích của nghiên cứu này nhằm đưa ra những yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ chết, tình hình bệnh xảy ra trên cá điêu hồng nuôi bè ở tỉnh Vĩnh Long, đồng thời góp phần tìm ra giải pháp ngăn chặn kịp thời, giảm hao hụt đến mức thấp nhất, nâng cao chất lượng cá điêu hồng nuôi bè Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cần thiết cho việc quy hoạch nghề nuôi cá điêu hồng lồng bè trên sông hướng đến làm giảm tỉ lệ chết cũng như hạn chế tình hình dịch bệnh gây ảnh hưởng đến năng suất nuôi nhằm đảm bảo tính bền vững của nghề nuôi
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được tiến hành trên 50 hộ nuôi cá điêu hồng trên bè ở tỉnh Vĩnh Long, từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2014 Bè nuôi được chọn phân bố dọc theo tuyến sông Tiền, trải dài trên 4.000m Nghiên cứu này bao gồm
Thu thập thông tin về tỉ lệ chết của cá hằng ngày trong vụ nuôi
Tổng số có 2 bè được chọn để ghi nhận tỉ lệ chết của cá hằng ngày, từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2014 Thông tin về tỉ lệ chết của cá điêu hồng trong ngày sẽ được ghi theo phiếu điều tra được gởi đến hộ nuôi và thu lại vào tháng kế tiếp
Thu thập thông tin về kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên cá điêu hồng
Thu thập các thông tin sơ cấp phỏng vấn trực tiếp 50 hộ nuôi cá điêu hồng ở địa bàn nghiên cứu.Trao đổi trực tiếp cùng chủ hộ nuôi để ghi nhận những thông tin về kỹ thuật nuôi, những bệnh thường xảy ra trong quá trình nuôi và tỉ lệ chết của cá trong
một vụ nuôi
Thu thập các thông tin thứ cấp, báo cáo định kì năm của sở, chi cục thủy sản ở địa bàn nghiên cứu Các tạp chí chuyên ngành và các website chuyên ngành liên quan
đến tình hình bệnh trên cá điêu hồng
Tất cả các số liệu của đề tài được thu thập, tổng hợp, xử lý bằng phần mềm EpiData (phần mềm hỗ trợ nhập và quản lí số liệu), Microsoft Excel, ước lượng mô hình hồi qui tuyến tính bằng phần mềm Stata, chọn mức ý nghĩa alpha là 1% để ước lượng mô hình
Trang 53 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung về hộ nuôi cá điêu hồng
Thời gian nuôi
Thời gian của một vụ nuôi thường kéo dài từ 4-7 tháng, thời gian nuôi thường phụ thuộc vào giá cả thị trường, kích cỡ cá, điều kiện thời tiết khí hậu và tình hình dịch bệnh Kích cỡ cá là một trong những nguyên nhân hàng đầu do phải đáp ứng yêu cầu khách hàng dẫn đến việc kéo dài thời gian nuôi
Mùa vụ
Theo kết quả điều tra, nguồn giống cá điêu hồng được cung cấp quanh năm từ địa phương và một số địa điểm giáp ranh thuộc tỉnh Đồng Tháp, vì vậy mùa vụ nuôi không xác định cụ thể (theo nước, tránh lũ lụt) Cá điêu hồng được thả liên tục từ tháng 1 đến tháng 6, cá được thả nhiều nhất từ tháng 2 đến tháng 3 chiếm 50% số hộ điều tra (Hình 1)
Nguồn giống là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tính mùa vụ của nghề nuôi Thời vụ thả giống tùy thuộc vào điều kiện cụ thể nhưng tốt nhất nên thả cá đầu
vụ khoảng tháng 3 đến tháng 4 hằng năm (Dương Nhựt Long, 2004)
Thể tích bè nuôi
Qua khảo sát cho thấy, thể tích bè nuôi lớn hơn 250 m3
chiếm tỉ lệ nhiều nhất với khoảng 44%, thể tích bè nuôi nhỏ hơn 200m3 và từ 200-250 m3 chiếm 28% (Hình 2) Thể tích bè nuôi lớn giúp nông hộ có thể nuôi với qui mô lớn hoặc thả với mật độ vừa phải nhằm hạn chế dịch bệnh giảm tỉ lệ hao hụt và tăng năng suất nuôi cao hơn
Hình 1: Thời gian thả cá giống Hình 2: Thể tích bè nuôi (m 3 )
5
12
13
8
5 7
0
2
4
6
8
10
12
14
Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6
28%
28%
44%
< 200m3 200 - 250m3 > 250 m3
Trang 625
8
6
0
5
10
15
20
25
30
0-10% 11-20% 21-30% 31-40%
Tỷ lệ chết
Mật độ thả giống
Qua khảo sát cho thấy mật độ trung bình khoảng 128 con/m3
nước Qua phân tích hồi qui tuyến tính đơn biến cho thấy mật độ nuôi cá điêu hồng ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ
lệ chết của bè cá khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05; bảng 4) Với mật độ trên cho thấy cá được nuôi khá dày, cao hơn mật độ nuôi tối đa khuyến cáo là 100 con/m3 nước (Dương Nhựt Long, 2004) Mật độ là một trong những nguyên nhân ảnh hướng đến tốc độ tăng trưởng, mật độ nuôi quá dày làm cá chậm lớn, hao hụt nhiều, tăng khả năng lây nhiễm khi có dịch bệnh xảy ra
Tỉ lệ cá chết trong vụ nuôi
Tỉ lệ chết trong vụ nuôi ảnh hưởng lớn đến năng suất và lợi nhuận của người nuôi, nếu cá chết quá nhiều có thể dẫn đến thua lỗ Qua kết quả điều tra cho thấy, tỉ lệ cá chết nhiều nhất trong hai tuần đầu thả giống là 11-20% chiếm 50% số hộ nuôi, 12%
số hộ nuôi có tỉ lệ chết từ 31-40% (Hình 2) Đây là những hộ có tỉ lệ cá chết cao, có thể do cá mới bắt về bị xay xác do vận chuyển, stress nên hao hụt nhiều
Tỉ lệ chết của cá tăng dần theo thời gian nuôi, vì vậy cũng không nên kéo quá dài thời gian nuôi, trong suốt một vụ nuôi tỉ lệ hao hụt từ 41-50% có 9 hộ chiếm 18%, từ 21-40% có 31 hộ chiếm 62%, 2 hộ có tỉ lệ chết thấp nhất từ 0-10% (Hình 3) Trong một vụ nuôi người dân cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật, cách chăm sóc, quản lý tốt nhất có thể để góp phần làm giảm tỉ lệ chết, tăng năng suất cũng như lợi nhuận cho nông hộ
Kinh nghiệm nuôi
Qua khảo sát cho thấy các hộ nuôi có kinh nghiệm nuôi trung bình khoảng 4,4 năm
Số hộ nuôi có kinh nghiệm từ 4-9 năm chiếm tỉ lệ cao nhất 58%, các hộ có kinh nghiệm nuôi nhỏ hơn 4 năm chiếm 36% và các hộ nuôi có kinh nghiệm nuôi từ 10 năm trở lên chiếm 6%
2
8
14
17
9
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18
0-10% 11-20% 21-30% 31-40% 41-50%
Tỉ lệ chết
Hình 3: Tỷ lệ cá chết 2 tuần đầu
thả giống Hình 4: Tỷ lệ cá chết trong một vụ nuôi
Trang 7Theo kết quả điều tra, hầu hết các hộ nuôi chẩn đoán bệnh qua kinh nghiệm nuôi là chính Theo kết quả điều tra, những hộ có kinh nghiệm nuôi trên 5 năm thì tỉ lệ hao hụt giảm 15-20% so với những hộ ít kinh nghiệm nuôi hơn
Kích cỡ con giống và cách xử lý
Qua kết quả điều tra, nguồn cá giống được mua từ địa phương, cá giống có kích cỡ dao động từ 20-40 cm Cá được thả vào bè sau khi mua và được xử lý hóa chất Vì thế nguồn giống có chất lượng ổn định được người dân tin dùng Tuy nhiên, vẫn có những hộ không xử lý hóa chất, chất lượng giống không đảm bảo, do cá bị trầy xước, xây xác dẫn đến chậm lớn hoặc bị kí sinh trùng, vi khuẩn xâm nhập gây hao hụt, làm tăng tỉ lệ chết của cá trong vụ nuôi
Bảng 1: Kích cỡ con giống khi thả nuôi
STT Kích cỡ giống (con/kg) Số hộ nuôi Tỉ lệ (%)
1 20-30 25 50
2 35-40 16 32
3 40 9 18
Chất lượng con giống ban đầu quyết định đến sự thành công hay thất bại của vụ nuôi Kích cỡ cá thả nuôi phải đồng đều, khỏe mạnh, không nhiễm bệnh và không dị tật (Dương Nhựt Long, 2004)
Biện pháp quản lí lồng bè
Qua khảo sát cho thấy, tất cả các hộ nuôi không sử dụng các biện pháp quản lí chất lượng nước trong khu vực nuôi Do vùng nuôi thường xuyên chịu ảnh hưởng của
Hình 5: Kinh nghiệm nuôi của nông hộ
36%
58%
6%
Trang 8triều cường nên khó có biện pháp tối ưu để quản lí Có 96% hộ nuôi tiến hành vệ
sinh lồng bè vào cuối mỗi vụ nuôi Trong quá trình nuôi, cần thường xuyên kiểm tra
vị trí đặt và cố định bè nuôi Vệ sinh, lau chùi hằng ngày mặt sàn bè nuôi cá Người
nuôi thường lặn xuống dưới lồng để kiểm tra, tránh việc rách lưới lồng gây thất thoát
cá ra ngoài môi trường( Dương Nhựt Long, 2004)
Tình hình bệnh
Theo kết quả điều tra cho thấy, tình hình diễn biến bệnh ngày càng phức tạp và gây
ảnh hưởng không nhỏ đến nghề nuôi Theo người nuôi cho biết, thời gian đầu khi
nghề nuôi mới phát triển, bệnh chưa xuất hiện nhiều, những năm gần đây nghề nuôi
phát triển nhanh, số hộ nuôi tăng, tình hình xuất hiện bệnh cũng nhiều và gây thiệt
hại lớn hơn (Bảng 2) Hầu hết cá điêu hồng ở các hộ nuôi đều nhiễm kí sinh trùng,
đặc biệt là trùng mặt trời với 48/50 hộ nuôi, cá bị bệnh gầy yếu, da và mang tiết
nhiều niêm dịch, từng phần mang bị thối loét, bạc màu, chức năng hô hấp bị phá
hoại, khiến cá bị ngạt Cá bệnh thường nổi đầu thành đàn, bơi lờ đờ, chậm chạp (Từ
Thanh Dung và ctv, 2005) Ngoài ra, người nuôi còn gặp không ít khó khăn trong
khâu điều trị bệnh cho cá, đặc biệt hiện nay tình hình dịch bệnh diễn biến ngày càng
phức tạp hơn Cá còn mắc phải các bệnh như xuất huyết, gan thận có mủ với tỉ lệ
nhiễm cũng rất cao Cá bị bệnh vận động khó khăn, bơi không có định hướng, não,
thận và tỳ tạng là những cơ quan bị tổn thương nhiều nhất và đây là lý do gây chết cá
(Đặng Thị Hoàng Oanh, 2012)
Bảng 2: Các bệnh xuất hiện nhiều trên cá điêu hồng nuôi bè
Loại bệnh Biểu hiện bệnh Số hộ Tần xuất
có cá bệnh xuất hiện (%)
Ngoại kí sinh Da chuyển màu xám, có nhiều nhớt 48 96
(trùng mặt trời) màu trắng, cá ngứa ngáy, nổi đầu
Xuất huyết Xuất huyết toàn thân, hậu môn 40 80
sưng lồi, mắt lồi ra, gan, thận xuất
huyết, nhũn
Gan thận Bơi lờ đờ, da nhợt nhạt, gan, thận, 30 60
có mủ tỳ tạng xuất hiện những đốm trắng
bên trong chứa dịch màu trắng đục
Trang 93.2 Xác định yếu tố mối nguy liên quan đến tỉ lệ chết cá điêu hồng nuôi bè
Qua các số liệu thu được trong quá trình điều tra, tổng hợp và xử lí cho thấy mật độ nuôi, kích cỡ cá giống, kinh nghiệm nuôi, tỉ lệ chết vụ trước là những yếu tố mối nguy có ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ chết của vụ nuôi (Bảng 3)
Bảng 3: Ảnh hưởng của mật độ nuôi, kích cỡ cá giống, tỉ lệ chết vụ trước, kinh nghiệm nuôi lên tỉ lệ chết của cá điêu hồng theo mô hình hồi qui
Yếu tố mối nguy Giá trị trung bình (Độ
lệch chuẩn) Mật độ thả giống (con/m 3
) 128 ± 13,6 (p=0,000)
Kích cỡ cá giống (con/kg) 32 ± 1,5 (p=0,000)
Kinh nghiệm nuôi (năm) 4,4 ± 0,2 (p=0,008)
Tỉ lệ chết vụ trước (%) 29 ± 4,7 (p=0,000)
Mô hình hồi qui hoàn chỉnh TLC= -2,634 + 0,3*MDCG + 0,43*KCC + 3,68*TLCVT – 0,49*KNN cho giá trị (R2 = 0.9258) Qua xử lý thống kê hồi qui tuyến tính đơn biến giữa tỉ lệ chết của cá với các thông số khảo sát ghi nhận bốn biến MDCG (mật độ cá giống), KCC (kích cỡ cá), TLCVT (tỉ lệ chết vụ trước), KNN (kinh nghiệm nuôi) có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 5%
Để tiếp tục tìm hiểu và khảo sát các thông số này, nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ chết hàng ngày được thực hiện ở 2 bè cá Kết quả thu được từ việc ghi nhận tỉ lệ chết hằng ngày ở 2 hộ nuôi được ghi nhận ở Bảng 4
Trang 10Bảng 4: Kết quả ghi nhận tỉ lệ cá chết hàng ngày trong vụ nuôi
STT
Chiều
dài bè
(m)
Chiều rộng
bè (m)
Độ sâu (m)
Kích cỡ
cá giống (con/kg)
Mật độ thả (con/m 3 )
Thời gian
Số lƣợng cá chết (con)
Hộ 1
(Bè 1) 12 6 3 30 93
Tháng thứ nhất
Đầu tháng: 9 Giữa tháng: 18 Cuối tháng: 18
Tháng thứ hai
Đầu tháng: 11 Giữa tháng: 9 Cuối tháng: 8
Hộ 2
(Bè 1) 12 6 3 42 138
Tháng thứ nhất
Đầu tháng: 78 Giữa tháng: 8 Cuối tháng: 30
Tháng thứ hai
Đầu tháng: 70 Giữa tháng: 10 Cuối tháng: 8
Qua số liệu theo dõi về tỉ lệ cá chết hằng ngày cho thấy hộ thứ nhất nuôi với mật độ
93 con/m3 thì tỉ lệ chết thấp hơn hộ thứ hai là 2,8 lần Tỉ lệ chết của hộ thứ hai cao hơn rất nhiều so với hộ thứ nhất Kiểm tra và so sánh cũng nhận thấy yếu tố khác biệt Mật độ nuôi cao 138 con/m3, kích cỡ cá giống là 42 con/kg của hộ thứ hai nhỏ hơn rất nhiều so với hộ thứ nhất là 30 con/kg có thể đây là nguyên nhân chính làm cá
dễ mắc bệnh gây tỉ lệ cá chết cao Theo khuyến cáo, khi thả giống người nuôi cần thả với mật độ phù hợp, mật độ thả tối đa khuyến cáo là 100 con/m3, không nên thả quá dày và chọn cỡ giống quá nhỏ, cá yếu dễ mắc bệnh làm tỉ lệ hao hụt tăng cao, ảnh hưởng đến năng suất nuôi (Dương Nhựt Long, 2004)
4 KẾT LUẬN
Qua kết quả điều tra cho thấy mật độ thả cá giống trung bình là 128 con/m3, kích cỡ
cá giống trung bình 32 con/kg, thể tích lồng nuôi lớn hơn 250 m3
, kinh nghiệm nuôi trung bình là 4,4 năm, thời gian nuôi trung bình từ 4-7 tháng Bệnh xuất hiện quanh năm, nhưng tập trung nhiều nhất vào thời điểm giao mùa, cuối mùa khô và đầu mùa mưa Trong quá trình nuôi xuất hiện một số bệnh thường gặp như ngoại kí sinh trùng 96%, xuất huyết 80%, gan thận có mủ 60%