TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THUỶ SẢN PHAN MINH THIỆN ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NỒNG ĐỘ NITRITE KHÁC NHAU ĐẾN SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI, CẤU TRÚC MÔ MANG VÀ GAN TỤY CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Litopena
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
PHAN MINH THIỆN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NỒNG ĐỘ NITRITE KHÁC NHAU ĐẾN SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI, CẤU TRÚC MÔ MANG VÀ GAN TỤY CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Litopenaeus vannamei)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
PHAN MINH THIỆN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NỒNG ĐỘ NITRITE KHÁC NHAU ĐẾN SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI, CẤU TRÚC MÔ MANG VÀ GAN TỤY CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Litopenaeus vannamei)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs Ts ĐẶNG THỊ HOÀNG OANH PGs Ts TRƯƠNG QUỐC PHÚ
2014
Trang 3ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NỒNG ĐỘ NITRITE KHÁC NHAU ĐẾN SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI, CẤU TRÚC MÔ MANG VÀ GAN TỤY CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
Litopenaeus vannamei
Phan Minh Thiện và Đặng Thị Hoàng Oanh*
Bộ môn Bệnh học Thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
* Email: dthoanh@ctu.edu.vn
ABSTRACT
This study was carried out to examine the effects of nitrite on the morphological changes and
gill tissue and tissue structure of of hepatopancreas (HP) white shrimp (Litopenaeus vannamei)
PL15 The experiment included 5 treatments and a control Shrimp were esposed to the nitrite concentration at 0; 0.5; 1; 2.5; 5 and 10 mg/L NO2-N Shrimp samples were collected for observation by using microscope at the magnification of 25 times, and samples were collected at the same time for histological analysis Results showed that the HP of experimental shrimp had bright colors, gill looked apparently healthy and intact, healthy body shrimp and quick response Histological analysis revealed that gill and HP tissues were normal However, shrimp displayed slow growth in treatments with nitrite concentrations of 5 and 10 mg/L NO2-N which was statistically significant (p < 0.05) with the other treatments
Keyword: Litopenaeus vannamei, nitrite, histopathology
TÓM TẮT
Đề tài được thực hiện nhằm xem xét ảnh hưởng của nitrite lên sự thay đổi hình thái và cấu
trúc mô mang và mô gan tụy của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) ở giai đoạn PL15
Thí nghiệm được bố trí gồm 5 nghiệm thức cảm nhiễm và 1 nghiệm thức đối chứng Tôm được cảm nhiễm ở các nồng độ nitrite lần lượt là 0; 0,5; 1; 2,5; 5 và 10 mg/L NO2-N Mẫu tôm thí nghiệm được thu để quan sát hình thái bằng kính hiển vi ở độ phóng đại 25 lần, đồng thời mẫu cũng được thu cùng thời gian để phân tích mô học Kết quả cho thấy khối gan tụy có màu sắc tươi sáng, mang tôm bình thường, nguyên vẹn, cơ thể tôm khỏe, phản ứng nhanh Kết quả mô học cũng ghi nhận được cấu trúc mô mang và mô gan tụy của tôm thí nghiệm bình thường Tuy nhiên, ở các nghiệm thức có nồng độ nitrite là 5 và 10 mg/L NO2-N tôm chậm lớn và khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p<0,05) với các nghiệm thức còn lại
Từ khóa: Litopenaeus vannamei, nitrite, mô bệnh học
1 GIỚI THIỆU
Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) là loài tôm được nuôi phổ biến nhất trên thế
giới hiện nay Việt Nam cũng là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á du nhập giống tôm thẻ chân trắng Qua rất nhiều năm, tôm thẻ chân trắng đem lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở những vùng đất hoang hóa, đã khẳng định được tính ưu việt về mật độ nuôi, tốc độ tăng trưởng và năng suất Đến nay, tôm thẻ chân trắng đã phát triển khắp cả nước trong đó Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm đến gần 50% (15.727 ha) tổng diện tích Năm 2013, diện tích nuôi tôm
Trang 4chân trắng tăng 57,9% so với năm 2012 còn sản lượng tăng 50,5% (VASEP, 2013) Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, đến hết tháng 1/2014 đã có 7.034 ha tôm chân trắng và 120.441 ha tôm
sú được thả Tổng cục đánh giá đến cuối quý 1/2014 sẽ có đến 162.397 ha tôm chân trắng được thả (tăng lên hơn 23 lần) và tôm sú chỉ dừng lại ở 124.960 ha
Sự phát triển của tôm thẻ chân trắng nhanh chóng đã kéo theo nhiều áp lực về nguồn thức
ăn, nguồn giống, chất lượng nước và vấn đề dịch bệnh gia tăng Năm 2012 cả nước có khoảng 100.766 ha tôm nước lợ bị thiệt hại do dịch bệnh trong đó 91.174 ha nuôi tôm sú và 7.068 ha nuôi tôm thẻ chân trắng Tôm bị dịch bệnh do hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) chiếm 45%, chủ yếu trên diện tích nuôi tôm công nghiệp, còn lại là do bệnh đốm trắng và đầu vàng (VASEP, 2012)
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là sự tích tụ các khí độc trong các hệ thống nuôi sẽ gây tổn thương đến cơ thể hoặc làm giảm đi khả năng đề kháng của tôm thẻ chân trắng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh nitrite có độc tính với giáp xác, mức độ ảnh hưởng phụ thuộc nồng độ,
điều kiện môi trường tiếp xúc và loài (Chen and Chen, 1992; Alcaraz et al., 1999; Philips et al.,
2002; Domonic, 2008) Nên không thể loại trừ rủi ro do độc tố này mang lại trong quá trình nuôi tôm Tuy nhiên, những thông tin khoa học về nitrite ảnh hưởng đến giáp xác vẫn còn hạn chế, đặc biệt là khả năng gây ra biến đổi trên mang và gan tụy Nên đề tài xác định “ảnh hưởng của các nồng độ nitrite khác nhau đến sự thay đổi hình thái, cấu trúc mô mang và gan tụy của tôm thẻ
chân trắng Litopenaeus vannmei” được thực hiện
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Hậu ấu trùng của tôm thẻ chân trắng (PL10) mua ở trại tôm giống tại Cần Thơ được thuần hóa ở độ mặn 25 ppt Tôm được nuôi dưỡng trong bể composite 1m3 (Hình 1A) đến khi tôm đạt kích cỡ PL15 thì tiến hành bố trí thí nghiệm Trong quá trình thuần dưỡng, tôm được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp chuyên dùng của công ty Uni-Presedent (UP), trong giai đoạn này tôm được cho ăn bổ sung vitamin C Liều lượng cho ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp pha nitrite
Cơ sở bố trí mật độ tôm và nồng độ nitrite được dựa theo nghiên cứu của Boyd và Tucker
(1998), Alcaraz et al (1999); Rudin et al (2004) và Liao et al (2012) Trong khoảng 1% đến
20% của LC50 – 96 h (giá trị LC50-96 h là 51,93 mg/L) Nồng độ nitrite được pha bằng cách hòa tan NaNO2 (99%) vào nước, khối lượng NO2- được tính dựa trên phương trình phân li như sau
(Đỗ Thị Thanh Hương và ctv., 2010):
Trang 5NaNO2 = Na + NO2
69 g 14 g
Y (g) X (g) Trong đó X (g) là nồng độ nitrite của các nghiệm thức
Vậy lượng NaNO2 cần dùng: Y (g) = (X x 69)/14
2.2.2 Bố trí thí nghiệm
Hệ thống thí nghiệm được bố trí gồm 18 bể composite 100L, thể tích nước là 80L, độ mặn 25ppt với mật độ là 320 con/bể Bể nuôi được bố trí trong nhà, nước tĩnh có sục khí nhẹ và liên tục (Hình 1B)
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 6 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Nồng độ nitrite được bố trí lần lượt là 0,5; 1; 2,5; 5 và 10 mg/LNO2-N tương ứng với các nghiệm thức 1, 2, 3, 4, 5 Nghiệm thức đối chứng không bổ sung nitrite Nồng độ nitrite bố trí không đổi trong mỗi bể và có sục khí suốt thời gian tiến hành thí nghiệm Cho tôm ăn 3 lần trong ngày lúc 7giờ, 12h giờ và 21giờ bằng thức ăn UP và không cho ăn bổ sung vitamin C hay thuốc khác với lượng cho ăn từ 25-30% trọng lượng tôm Hàng ngày theo dõi tôm chết, siphon chất cặn, thức ăn thừa trong bể Định kỳ kiểm tra nồng độ nitrite mỗi bể và thay 15 – 30% thể tích nước, cách 3 - 5 ngày/ lần, nước mới dùng để thay phải có nồng độ nitrite như nồng độ bố trí của bể Thời gian tiến hành thí nghiệm là 30 ngày
Các chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi sự thay đổi về hình thái (màu sắc và hình dạng) và cấu trúc
mô mang, gan tụy của tôm Đồng thời các chỉ tiêu môi trường: nhiệt độ, pH, DO được đo 2 lần/
ngày vào lúc 7h và 14h
Hình 1: (A) Tôm được dưỡng trong bể trước khi bố trí thí nghiệm (B) Hệ thống thí nghiệm 2.2.3 Phương pháp thu mẫu mô
Thu mẫu: mẫu được thu theo hai nhịp Nhịp 1 (trong 5 ngày đầu) thu liên tục 4 lần, 10 PL/ lần
Mỗi lần thu cách nhau 24 h (24 h, 48 h, 72 h và 96 h) Nhịp 2 (từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 30) Tổng cộng có 5 lần thu, mỗi lần thu 5 PL, cách 5 ngày thu 1 lần Mẫu được cố định ngaysau khi
Trang 6thu Dung dịch cố định mẫu là Davidson’s Sau 12-24 giờ, chuyển mẫu sang cồn 70 để bảo quản
Kỹ thuật mô học được thực hiện theo phương pháp của Lightner (1996)
Đọc kết quả: Quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10X, 40X), ghi chú và mô tả
những biểu hiện về màu sắc, hình dạng, cấu trúc của tế bào/mô mang và gan tụy tôm
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Yếu tố môi trường
Nhiệt độ, pH và DO trung bình trong thời gian thí nghiệm được trình bày trong bảng 1 Nhìn chung trong khoảng thời gian bố trí thí nghiệm, các điều kiện môi trường luôn ổn định và nằm trong khoảng thích hợp đối với điều kiện sinh lý, sinh hóa bình thường của tôm và không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm
Bảng 1 Nhiệt độ và pH trung bình trong khoảng thời gian thí nghiệm
Nghiệm
thức (mg/l)
Đối chứng 26,82±0,72 27,73±0,75 7,58±0,27 8,03±0,26 6,92±0,23 7,04±0,30 0,5 26,72±0,75 27,70±0,79 7,60±0,26 8,05±0,26 6,98±0,21 7,04±0,30 1,0 26,77±0,75 27,75±0,80 7,60±0,27 8,08±0,26 6,98±0,20 7,07±0,22 2,5 26,83±0,70 27,80±0,73 7,61±0,27 8,08±0,27 6,99±0,19 7,06±0,29 5,0 26,82±0,74 27,72±0,74 7,62±0,27 8,10±0,27 6,95±0,18 7,03±0,29 10,0 26,88±0,70 27,77±0,72 7,62±0,27 8,10±0,27 6,95±0,20 7,02±0,31
Nhiệt độ: thí nghiệm được bố trí trong trại giống nhau nên nhiệt độ trong ngày không chênh lệch
nhiều và giữa các nghiệm thức tương tự nhau, dao động trung bình 26,72-27,8o
C
pH: kết quả phân tích ở bảng 1 cho thấy pH trung bình giữa các nghiệm thức tương tự nhau và ít
biến động trong suốt thời gian nuôi pH trong ngày đạt giá trị từ 7,58 đến 8,1 Trong tự nhiên tôm thích nghi với pH biến động từ 6,5-8,5 Trên hoặc dưới giới hạn này sẽ không có lợi cho sự phát triển của tôm Nhiều tác giả cho rằng khoảng pH thích hợp cho tôm là 7,5–8,5 (Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 1999; Vũ Thế Trụ, 1999) Vì vậy, khoảng nhiệt độ và pH trong thí nghiệm này là
thích hợp cho tôm thí nghiệm
DO: Oxy hòa tan trung bình ở các nghiệm thức đều >6,5 mg/L, dao động từ 6,92–6,98mg/L (buổi
sáng) và 7,02–7,07 mg/L (buổi chiều), mặc dù ở các nghiệm thức DO có biến động nhưng vẫn
>4mg/L là hàm lượng oxy cần thiết để duy trì hoạt động bình thường cho tôm (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) Khi DO xuống thấp sẽ làm động vật thủy sản tăng cường độ hô hấp và làm độc chất hấp thụ vào cơ thể nhanh hơn, gây độc nhanh hơn (Trần Sỹ Nam, 2012)
Trang 73.2 Hình thái của tôm thẻ chân trắng thí nghiệm
Tôm thẻ chân trắng trước khi bố trí thí nghiệm được tiến hành phân tích mô bệnh học để xác
định nguồn tôm sạch bệnh Kết quả phân tích mô học cho thấy tôm bố trí là tôm khỏe với vùng gan tụy của tôm bình thường, không thấy có sự tổn thương nào Ngoài ra, khi kiểm tra PCR đều không phát hiện WSSV, YHV và MBV Quan sát dưới kính hiển vi nổi, ruột tôm đầy thức ăn, màu sắc tôm tươi sáng (Hình 2A và B) Nhìn bên ngoài gan tụy tôm bình thường (Hình 2C)
Hình 2: Hình thái của tôm thẻ chân trắng khi nuôi trong môi trường có nitrite (A) Tôm khỏe nhưng chậm lớn, màu sắc bình thường, ruột đầy thức ăn, ở nghiệm thức 5 (10 mg/L NO2-N) (độ phóng đại 25 lần) (B) Tôm khỏe, màu sắc bình thường, ruột đầy thức ăn ở nghiệm đối chứng (độ phóng đại 25 lần) (C) Khối gan tụy bình thường của tôm ở nồng độ
10 mg/L NO2-N (độ phóng đại 25 lần)
Mang tôm là cơ quan chịu tác động mạnh của các chất độc từ môi trường sống Khi môi trường chứa các chất độc như NH3, H2S, NO2 sẽ gây ra hiện tượng bất thường và tổn thương mang tôm Nhưng ở trong nghiên cứu này có lẽ do tiếp xúc với các nồng độ độc tố nitrite cao như vậy nên tôm không chịu đựng được sẽ chết, số tôm còn lại có lẽ đã thích nghi dần Bên cạnh đó độc tính của nitrite còn chịu sự chi phối của độ mặn trong nước, ở độ mặn 25 ppt khả năng gây ảnh hưởng lâu dài của nitrite bị giảm Do vậy mang tôm vẫn bình thường
3.3 Mô bệnh học
Mô bệnh học là phương pháp xác định các tổn thương ở các mô và tế bào (vi thể) Phương pháp này kết luận tính chất của các vùng tổn thương và so sánh đối chiếu các tổn thương với những biểu hiện lâm sàng của vật chủ để tìm hiểu mối quan hệ giữa mầm bệnh và những biến đổi hình thái, các rối loạn chức năng ở vật chủ nhằm làm cơ sở cho việc chẩn đoán (Chanratchakool
et al., 2010) Nếu chỉ dựa vào những hình thái tổn thương bên ngoài mà không có các thông tin
liên quan đến mô và tế bào thì kết luận sẽ không chính xác (Đặng Thị Hoàng Oanh, 2011) Kết quả phân tích mô bệnh học cho thấy mô gan tụy tôm thí nghiệm bình thường Có sự hiện diện của tế bào B và tế bào F, tế bào R (Hình 3)
C
Trang 8Hình 3: Mô gan tụy của tôm thẻ chân trắng ở nghiệm thức 5 (40X) (A) Mô gan tụy bình thường có sự xuất hiện tế bào B và tế bào F, tế bào R (B) mô gan tụy bình thường ở nghiệm thức đối chứng có sự xuất hiện tế bào B và tế bào F, tế bào R
Mặc dù nitrite cũng là một dạng độc chất ảnh hưởng lên gan tụy của của tôm nhưng với thời gian tiếp xúc lâu dài, cũng như độc tính của nitrite sẽ giảm trong môi trường nước lợ nên ảnh hưởng của nitrite lên gan tụy của tôm thẻ chân trắng không thấy rõ Mặc khác trong bể nuôi có sục khí liên tục thì sẽ dễ dẫn đến hiện tượng nitrite kết hợp với oxy qua sự chuyển hóa của vi
khuẩn nitrobacter trong môi trường nước tạo nên nitrat không gây độc cho tôm
Sousa et al (2007) cho rằng bề mặt của mỗi sợi mang được phủ bởi một lớp cutium mỏng
chạy dọc theo và bắt màu hồng đậm hơn so với toàn sợi mang Các sợi mang được cấu tạo bởi những tế bào biểu mô Lớp biểu mô bao bọc sợi mang sơ cấp và sợi mang thứ cấp thì rất mỏng và
nó thường dầy hơn ở đầu của sợi mang Qua lát cắt có thể thấy bên trong những tế bào máu hình cầu, bắt màu tím đậm của thuốc nhuộm H&E phân bố khắp nơi trong sợi mang
Hình 4 Mang tôm bình thường, không có sự thay đổi cấu trúc mang, các sợi mang sơ cấp
và thứ cấp bình thường (40X) (A) Mang tôm ở nghiệm thức đối chứng, (→) các tế bào máu phân bố đều khắp các phiến mang B Mang tôm ở nghiệm thức 5 (10X)
Qua các đợt thu và cắt mẫu nhận thấy cấu trúc mang bình thường ở các nghiệm thức gồm những vật chất bắt màu hồng đậm của thuốc nhuộm haematoxylin và eosin kéo dài bên trong
Trang 9mang, các phiến mang có hình lông chim giữa các phiến mang có một khoảng không gọi là các khe mang, các tế bào máu hình cầu bắt màu tím đậm của thuốc nhuộm phân bố khắp sợi mang (Hình 4)
Tuy nhiên, một nghiên cứu trên tôm càng xanh khi tiếp xúc với Trichlorfon đã cho thấy rằng khi mang tôm tiếp xúc với Trichlorfon 24mg/l-1 trong vòng 24h các phiến mang bị phồng ra, các
tế bào biểu mô cũng phồng lên Bên cạnh đó, phần đầu của mang có cấu trúc không bình thường,
bị hoại tử (Bhavan, 2000)
3.4 Tốc độ tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng thí nghiệm
Sau 30 ngày nuôi, tôm thẻ chân trắng tăng trưởng chậm theo nồng độ độc tố nitrite tăng dần (Hình 5) Trong đó tôm có khối lượng lớn nhất là tôm ở nghiệm thức đối chứng (0.22g) và tôm có khối lượng nhỏ nhất được tìm thấy ở nghiệm thức 5 (0.07g) Ở NT4 và NT5 có khối lượng tôm nhỏ nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê với 4 nghiệm thức còn lại (p<0.05) Do nồng độ độc tố nitrite ở 2 nghiệm thức này ở mức cao nhất (5 mg/L NO2
-N và 10 mg/L -NO2
-N) Theo Nguyễn Thanh Phương (2004) thì nồng độ Nitrite >0,1-1 mg/L ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm Nghiệm thức đối chứng do nuôi trong môi trường không có độc tố nitrite nên tôm trăng trưởng rất tốt, ruột đầy thức ăn, mang, khối gan tụy màu sắc, hình dạng bình thường
0
0.05
0.1
0.15
0.2
0.25
0.3
Nghiệm thức
0.19ab
0.17b
0.14c
0.22a
Hình 5 Tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng sau 30 ngày nuôi
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng sau 24 giờ khi tôm tiếp xúc nitrit, các chức năng sinh lý của tôm bị rối loạn (Jensen, 1990; Chen and Cheng, 1994, 1995a, 1995b, 1996; Chen and Lee, 1997a, 1997b; Cheng and Chen, 2000) Cụ thể là nitrite không những tích tụ vào máu của tôm với hàm lượng rất cao theo thời gian tiếp xúc, làm thay đổi cân bằng acid–bazơ và áp suất thẩm thấu trong
máu tôm nước ngọt Astacus astacus (Jensen, 1990), làm giảm độ pH trong máu, tăng PO2 và giảm oxyhemocyanin trong máu, làm rối loạn sự bài tiết nitơ, sự điều hòa ion và sự trao đổi khí
hô hấp ở tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii, có thể dẫn đến tình trạng thiếu oxy, nhất là
Trang 10trong điều kiện pH nước thấp (Chen and Lee, 1997a, 1997b) mà còn tích tụ trong cơ, gan tụy,
mang, ruột trước, máu, tim, cuống mắt và ruột giữa của tôm sú Penaeus monodon (29,42 ± 0,39
g) (Cheng and Chen, 2000)
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Các nồng độ nitrite thí nghiệm không gây ảnh hưởng đến hình thái và cấu trúc gan tụy của tôm thẻ chân trắng thí nghiêm Nồng độ nitrite 5; 10 mg/L NO2-N ảnh hưởng đến tăng trưởng của tôm làm tôm chậm lớn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại (p<0.05)
Tiếp tục nghiên cứu các nồng độ nitrite trong khoảng 20% đến 50% của LC50 – 96 h (51,93 mg/L) Để làm rõ ảnh hưởng lên mang, khối gan tụy của tôm thẻ chân trắng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Alcaraz G, X C Carrara, V Espinoza and C Vanegas, 1999 Acute Toxicity of Ammonia
and Nitrite to White shrimp Penaeus setiferus Postlarval Jounal of the World Aquaculture
Society, volume 35, no 1, March 1999, pages 90 - 97
2 Boyd C.E and C.S Tucker, 1998 Pond Aquaculture water quality management Kluwer Academic Publishers Nitrite toxicity to crustaceans, pages 142- 143, in 707 pages
3 Bhavan, S.P., P Geraldine, 2000 Histopathology of the hepatopancreas and gills of the prawn Macrobrachium rosenbergii exposed to endosulfan Aquaculture Toxicology
50:331-339
4 Chanratchakool P, J.F Turnbull, S.J.F Smith, I H Macrace and C Limsuwan, 1995 Health management in shrimp ponds, third edition, Bangkok in Thailand Dịch tiếng Việt bởi Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh Phương, Đặng Thị Hoàng Oanh và Trần Ngọc Hải, 2005 Nhà xuất bản Hà Nội, 2003 153 trang
5 Chien Yew – Hu, 1992 Water quality requirements and management for marine shrimp culture Water quality management rewiev, by editor Wyban J Proceedings of the special session on shrimp farming World Aquaculture society, Baton Rouge, LA, USA
6 Chen J.C and S.F Chen, 1992 Accumulation of nitrite in hemolymph of Penaeus japonicus
Marine ecology progress series, volume 83, pages 305 – 308 Deparment of Aquaculture national of Taiwan ocean university, Keelung, Taiwan of China
7 Chen, J.C., and Cheng S.Y., 1994 Hemolymph oxygen content, oxyhemocyanin, protein
levels and ammonia excretion in the shrimp Penaeus monodon exposed to ambient nitrite
Journal of Comparative Physiology B: Biochemical, Systemic, and Environmental Physiology 164 (7): 530-535
8 Chen, J.C.and Cheng, S.Y., 1995b Changes of oxyhaemocyanin and protein levels in the
haemolymph of Penaeus japonicus exposed to ambient nitrite Aquat Toxicol 33, 215–226