TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN TRƯƠNG HOÀNG ANH XÁC ĐỊNH LIỀU BENZOCAINE ETHYL 4-AMINOBENZOATE GÂY MÊ PHÙ HỢP TRONG TIÊM VẮC-XIN PHÒNG BỆNH CHO CÁ TRA Pangasianodon hypophth
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRƯƠNG HOÀNG ANH
XÁC ĐỊNH LIỀU BENZOCAINE (ETHYL
4-AMINOBENZOATE) GÂY MÊ PHÙ HỢP TRONG TIÊM
VẮC-XIN PHÒNG BỆNH CHO CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRƯƠNG HOÀNG ANH
XÁC ĐỊNH LIỀU BENZOCAINE (ETHYL
4-AMINOBENZOATE) GÂY MÊ PHÙ HỢP TRONG TIÊM
VẮC-XIN PHÒNG BỆNH CHO CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
PGs.TS TỪ THANH DUNG
2014
Trang 3XÁC ĐỊNH LIỀU BENZOCAINE (ETHYL 4-AMINOBENZOATE) GÂY MÊ PHÙ HỢP TRONG TIÊM VẮC-XIN PHÒNG BỆNH CHO CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus)
Trương Hoàng Anh*,Từ Thanh Dung
Bộ môn Bệnh học thủy sản, Khoa thủy sản, trường Đại học Cần Thơ
*Email: Anh103243@student.ctu.edu.vn
ABSTRACT
Objective of the study is to determine the appropriate dose of anesthesia in vaccination activities In 4-size catfish fish like experimental fish were chose in 4 groups 5 - 10g, 12 - 20g, 22 - 40g and 42 - 70g Each group was carried out 7 concentrations benzocaine such as 40, 60, 80, 100, 120, 140, 160ppm and 1 control group without anesthetic The experiment was repeated 3 times and recorded behaviour swimming and feeding activities 7 days Results showed that the sizes of fish in different concentrations of different anesthetics Results showed that the appropriate dose of anesthetic for vaccination at the sizes of fish 5 - 40g and 42 - 70g were 80 - 100 and 60 - 100ppm, respective Experimental fish became normal feedings after 2 day no fish kills
Keysword: catfish, Pangasianodon hypophthalmus, Benzocaine
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định liều gây mê phù hợp trong hoạt động tiêm vắc-xin cá tra giống ở 4 cỡ cá 5 - 10g, 12 - 20g, 22 - 40g và 42 - 70g Mỗi cỡ cá được thí nghiệm với 7 nồng độ thuốc khác nhau lần lượt là 40, 60, 80, 100, 120, 140, 160ppm
và 1 lô đối chứng không có thuốc gây mê Thí nghiệm được lặp lại 3 lần đồng thời theo dõi hoạt động bơi lội, bắt mồi 7 ngày sau khi thí nghiệm Nồng độ gây mê phù hợp ở cá cỡ 5 – 40g là 80 - 100ppm và 42 - 70g là 60 - 100ppm Ở nồng độ gây mê phù hợp sau 2 ngày cá bắt mồi lại bình thường và không có hiện tượng cá chết
Từ khóa: Cá tra, Pangasianodon hypophthalmus, benzocaine
1 GIỚI THIỆU
Ngành công nghiệp nuôi cá tra đã phát triển rất mạnh trong những năm qua, đưa cá tra trở thành sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ lực của nước ta Tuy nhiên những năm gần đây tình trạng dịch bệnh xảy ra thường xuyên Trong đó bệnh do vi khuẩn gây thiệt hại rất lớn Hiện nay, thuốc kháng sinh vẫn là biện pháp điều trị bệnh phổ biến nhất Việc lạm dụng thuốc trong cách trị bệnh và sử dụng không đúng liều lượng qui định, đã làm cho tình trạng bệnh trên cá ngày càng nghiêm trọng và khó khăn hơn trong việc điều trị do việc xuất hiện các dòng vi khuẩn kháng thuốc (Từ Thanh Dung
và ctv., 2008) Do đó, việc tiêm chủng vắc-xin phòng bệnh cho cá là hướng đi mới
nhằm kiểm soát dịch bệnh và giảm bớt rủi ro cho người nuôi giúp cho ngành nuôi
Trang 4công nghiệp cá tra phát triển bền vững trong tương lai Tuy nhiên, phương pháp này cũng tồn tại một số nhược điểm như gây xây xác, gây stress cho cá Để khắc phục các nhược điểm của phương pháp tiêm vắc xin, trước khi tiêm việc gây mê cá là một
bước quan trọng và không thể thiếu Chính vì thế, đề tài “Xác định liều benzocaine (Ethyl 4-aminobenzoate) gây mê phù hợp trong tiêm vắc xin phòng bệnh cho cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)” được thực hiện là rất cấp thiết nhằm hỗ trợ
cho việc tiêm vắc-xin phòng trị bệnh trên cá tra
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Cá thí nghiệm: Cá tra giống sạch bệnh được kiểm tra sức khỏe và thuần dưỡng ở
trại cá giống tại thị xã Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp, được ương trong bể bạt 30 - 50m3
từ giai đoạn cá bột lên cá giống Nhằm kiểm soát được hoàn toàn các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sức khỏe đàn cá và kết quả thí nghiệm Khi cá đạt kích cỡ cá được vận chuyển về phòng thí nghiệm bộ môn Bệnh học Thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ Thuần dưỡng 2 tuần trong bể composite 0,5m3 mật độ
500 con/m3, cho ăn 2 lần/ngày, thường xuyên kiểm tra các thông số môi trường như nhiệt độ, oxy hòa tan, độ pH, NH3, NO2 trong bể tiến hành thí nghiệm
Hóa chất: Benzocaine (Ethyl 4-aminobenzoate) là một đồng phân của tricaine được
sử dụng như một thuốc gây mê cho cá Benzocaine có dạng bột màu trắng, không mùi Benzocaine không bền nên được lưu trữ trong bóng tối
Chuẩn bị dung dịch chuẩn thuốc gây mê: Benzocaine được hòa tan vào dung môi
cồn 960 theo tỉ lệ 10g vào 100ml cồn, ta thu được dung dịch chuẩn benzocaine 100.000ppm, từ dung dịch chuẩn này pha loãng ra các nồng độ dùng cho thí nghiệm Dung dịch được bảo quản trong tủ lạnh 40C
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp tiến hành gây mê
Trước khi gây mê 12 - 24 giờ không cho cá ăn tránh cá bị sốc và nôn thức ăn ra ngoài Khi bắt cá, chú ý giữ tay luôn ướt và thao tác nhẹ nhàng tránh xay xác da cá Kiểm tra, duy trì các thông số môi trường như nhiệt độ, hàm lượng ôxy hòa tan, độ
pH trong bể gây mê giống với môi trường nước nuôi để tránh gây sốc cho cá Nhiệt
độ không được chênh lệch quá 20
C, khử sạch cặn bẩn trong bể gây mê Cá thí nghiệm được gây mê theo phương pháp tắm, từ dung dịch chuẩn ban đầu 100.000ppm pha với nước sạch đến các nồng độ cần để tiến hành thí nghiệm, sau
đó thả cá cần gây mê vào Thí nghiệm được thực hiện từ nồng độ thấp đến nồng độ cao
Trang 52.2.2 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với sự đồng nhất về hóa chất, loại cá, nguồn nước và bể thí nghiệm Hệ thống thí nghiệm được bố trí gồm 1 bể gây mê, 1 bàn tiêm, 10 bể nước sạch để cá hồi tĩnh và 24 bể theo dõi sau khi thí nghiệm Bể được bố trí trong nhà, có sục khí nhẹ và liên tục
Thí nghiệm được bố trí gồm 8 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, mỗi lần 10 con Nồng độ benzocaine được bố trí lần lượt là 40, 60, 80, 100, 120, 140 và 160ppm tương ứng với các nghiệm thức 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và nghiệm thức đối chứng
lá 0 ppm Với tổng số cá thí nghiệm 960 con Thời gian tiến hành thí nghiệm là 7 ngày
Các chỉ tiêu theo dõi: Cá sau khi gây mê được theo dõi trong 7 ngày, theo dõi hoạt
động bơi lội bắt mồi tình trạng sức khỏe cá, tỷ lệ cá chết và các biểu hiện bất thường của cá, đồng thời đo các chỉ tiêu môi trường: nhiệt độ, pH, DO, NO2, NH3/NH4 đo 2lần/ngày vào lúc 7h và 14h
2.2.3 Các bước gây mê
Thí nghiệm được mô phỏng theo quy trình gây mê và tiêm vắc-xin ngoài thực tế ao nuôi
Bước 1: Cá được thả vào bể thuốc gây mê, theo dõi thời gian cá chuyển từ tạng thái tĩnh sang mê Ghi nhận kết quả T1
Hình 1 Cá chuyển sang trong trạng thái gây mê
Bước 2: Chuyển cá mê từ môi trường gây mê sang bàn tiêm theo dõi và ghi nhận thời gian cá tĩnh trong thời gian tiêm
Trang 6Hình 2 Cá được chuyển lên bàn tiêm
Bước 3: Cá được tiêm trong khoảng 3-4 phút, ghi nhận thời gian T2
Bước 4: Cá được thả vào bể hồi sức với môi trường nước sạch Theo dõi thời gian cá dần phục hồi, trở lại trạng thái bình thường Ghi nhận thời gian T3
Hình 3 Cá bắt đầu hồi tĩnh trong môi trường nước sạch sau vài phút
Bước 6: Sau khi hồi sức cá được chuyển sang bể nước sạch để theo dõi tình trạng sức khỏe, hoạt động bắt mồi trong một tuần
Hình 4 Cá được theo dõi 1 tuần
Trang 72.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu tính các giá trị trung bình bằng phầm mềm excel
Phân tích số liệu bằng chương trình MSTATC và so sánh các cặp trung bình nghiệm thức bằng kiểm định Duncan
3 KẾT QUẢ
3.1 Một số chỉ tiêu môi trường
Nhiệt độ, pH, DO, NO2 và NH3/NH4 nhìn chung trong khoảng thời gian bố trí thí nghiệm, các điều kiện môi trường luôn ổn định và nằm trong khoảng thích hợp đối với điều kiện sinh lý, sinh hóa bình thường của cá và không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm Với kết quả đo được: Nhiệt độ (26,5-28 0
C), pH (6,5 – 7,5), DO (4 – 6mg/l), NH3 (0,01– 0,1 mg/l) và NO2 (0,07 – 0,1 mg/l)
3.2 Kết quả thí nghiệm xác định nồng độ benzocaine gây mê phù hợp
3.2.1 Kết quả thí nghiệm cỡ cá 5 - 10g
Bảng 1: Thời gian cá mê trung bình và tỉ lệ % cá chết ở những ngưỡng nồng độ xác định
Nghiệm
thức
Nồng độ (ppm)
Thời gian (phút) Tỉ lệ cá chết
(%)
1 40 12±0,2 a
3±0.13a 1±0,05 a
0c
2 60 3,8±0,02 b
3±0,14a 1,6±0,06 a
0c
3 80 2±0,02 c
3±0,1a 1,3±0,02 a
0c
4 100 1,5±0,01 cd
3±0,12a 1,5±0,03 a
0c
5 120 1,2±0,01 cd
3±0,16a 1,7±0,03 a
0c
6 140 1±0,03 d
3±0,09a 1,3±0,05 a
6,7b±0,02
7 160 0,8±0,01 d
3±0,11a 1,2±0,03 a
16,7±0,37a
Ghi chú: các giá trị trên cùng một cột có các ký tự giống nhau là khác biệt không có ý nghĩa
về mặt thống kê, P > 0,05
Kết quả thí nghiệm cá cỡ 5 - 10g ở bảng 1 cho thấy ở nồng độ 40 - 60 ppm cá có thời gian chuyển từ trạng thái tĩnh sang mê khi tiếp xúc với dung dịch gây mê dài 12 phút
và 3,8 phút không phù hợp cho việc gây mê trong hoạt động tiêm vắc-xin, ở cá nhỏ
có thời gian chuyển sang trạng thái mê khi tiếp xúc với thuốc không đồng loạt giữa các cá thể, cần có nồng độ cao phù hợp để các cá thể mê đồng loạt hơn, nhưng không quá cao có thể làm chết cá Ở nồng độ 140ppm gây chết 6,7% số cá thí nghiệm và 160ppm là 16,7% Vậy nồng độ phù hợp là 80 -100ppm với thời gian mê khi tiếp xúc với thuốc 1,5 - 2 phút, đảm bảo cá nằm im trên bàn tiêm hơn 3 phút và có thời gian hồi tĩnh khi thả vào nước sạch ngắn 1,3 - 1,5 phút
Trang 83.2.2 Kết quả thí nghiệm cỡ cá 12 - 20g
Bảng 2: Thời gian cá mê trung bình và tỷ lệ % cá chết ở những ngƣỡng nồng độ xác định
Nghiệm
thức
Nồng độ (ppm)
Thời gian (phút) Tỉ lệ cá chết
(%)
1 40 10±0,03 a
3±0,11a 0,9±0,01 c
0c
2 60 3,8±0,04 b
3±0,13a 1,2±0,03 bc
0c
3 80 2,1±0,02 c
3±0,1a 1,6±0,06 ab
0c
4 100 1,7±0,01 d
3±0,08a 1,8±0,07 ab
0c
5 120 1,2±0,01 e
3±0,04a 2,1±0,13 a
0c
6 140 1±0,01f 3±0,06a 1,8±0,03 ab 10±0,02 a
7 160 0,8±0,02f 3±0,15a 3±0,05 ab
16,7±0,01b
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột có các ký tự giống nhau là khác biệt không có
Kết quả thí nghiệm cá cỡ 12 - 20g ở bảng 2 cho thấy, ở nồng độ 40ppm và 60ppm cá
có có thời gian chuyển từ trạng thái tĩnh sang mê khi tiếp xúc với dung dịch gây mê dài 10 phút và 3,8 phút không phù hợp cho việc gây mê trong hoạt động tiêm vắc xin, nồng độ gây mê phù hợp là 80 - 100ppm với thời gian cá mê khi tiếp xúc với dung dịch thuốc là 1,7 - 2,1 phút đảm bảo cá nằm im trên bàn tiêm hơn 3 phút và hồi tĩnh khi thả vào nước sạch là 1,6 – 1,8 phút, đến nồng độ 140ppm gây chết cá với tỷ
lệ chết 10% và 16,7% ở nồng độ 160ppm
Trang 93.2.3 Kết quả thí nghiệm cỡ cá 22 - 40g
Bảng 3: Thời gian cá mê trung bình và tỉ lệ % cá chết ở những ngƣỡng nồng độ xác định
Nghiệm
thức
Nồng độ (ppm)
Thời gian (phút) Tỉ lệ cá
chết (%)
1 40 9±0,06 a
3±0,12a 2,5±0,04 b
0c
2 60 3,4±0,07 b
3±0,04a 1,3±0,05 c
0c
3 80 2,1±0,02 c
3±0,07a 1,7±0,08 bc
0c
4 100 1,5±0,01 d
3±0,15a 1,6±0,07 c
0c
5 120 1,1±0,01 e
3±0,06a 1,9±0,2 bc
0c
6 140 1±0,02 e
3±0,17a 1,5±0,01 c
20±0,01b
7 160 0,8±0,01 e
3±0,14a 3,8±0,06 a
23,4±0,4a
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột có các ký tự giống nhau là khác biệt không có ý nghĩa
về mặt thống kê, P > 0,05
Kết quả thí nghiệm cá 22 - 40g không khác nhiều so với cá 12 - 20g, nồng độ phù hợp cho hoạt động gây mê là 80 - 100ppm Với nồng độ này đảm bảo cá có thời gian
mê phù hợp cho hoạt động tiêm vắc-xin đồng thời cách xa nồng độ gây chết cá, ở nồng độ 140ppm gây chết 20% số cá thể và 23,3% cá thể ở nồng độ 160ppm
3.2.4 Kết quả thí nghiệm cỡ cá 42 - 70g
Bảng 4: Thời gian cá mê trung bình và tỉ lệ % cá chết ở những ngƣỡng nồng độ xác định
Nghiệm thức Nồng độ
(ppm)
Thời gian (phút) Tỉ lệ cá
chết (%)
1 40 9A±0,02 a
3±0,17a 2.4±0,04 a
0c
2 60 2,5±0.03 b
3±0,16a 2,4±0,04 ab
0c
3 80 2±0.02 c
3±0,1a 1,9±0,08 bc
0c
4 100 1,8±0.02 d
3±0,05a 1,5±0,03 c
0c
5 120 1,4±0,01 e
3±0,11a 1,7±0,01 c
0c
6 140 1±0,01 f
3±0,09a 1,8±0,04 c 23,4±0,38 b
7 160 0,7±0,01 g
3±0,08a 0,9±0,11 c 50±1,8 a
Trang 10Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột có các ký tự giống nhau là khác biệt không có ý nghĩa
về mặt thống kê, P > 0,05
Cá cỡ 42 - 70g có nồng độ gây mê phù hợp thấp hơn so với cá cỡ 5 - 40g Nồng độ phù hợp là 60-100ppm có thời gian mê khi tiếp xúc với thuốc là 1,8 - 2,5 phút, nằm
im trên bàn tiêm hơn 3 phút và thời gian hồi tĩnh khi cho vào nước sạch 1,5 - 2,4 phút Ở nồng độ 140ppm tỷ lệ cá chết tăng đột biến 23,3% và lên đến 50% ở nồng độ 160ppm
3.3 Tình trạng sức khỏe hoạt động bắt mồi và tỉ lệ chết của cá trong 7 ngày
Sau khi cá hồi tĩnh được theo dõi trong trong 7 ngày Ngày thứ nhất không cho cá ăn
do hoạt động của cá chưa ổn định phản ứng mạnh với tác động từ bên ngoài, ngày thứ 2 cho cá ăn bình thường, ở một số nghiệm cá còn phản ứng bơi mất định hướng khi có tác động bên ngoài, từ ngày thứ 3 trở đi cá hoạt động bơi lội bắt mồi diễn ra bình thường, ở tất cả các nghiệm thức không có cá chết
4 THẢO LUẬN
Theo Coyle và ctv(2004) cho rằng, thuốc gây mê lý tưởng cho cá là có tác dụng gây
mê nhanh mà không làm cá hoảng loạn hay stress, dễ quản lý, duy trì trạng thái mê mong muốn và cá hồi phục nhanh khi cho vào nước sạch Do đó thí nghiệm được thực hiện lần lượt trên các kích cỡ cá khác nhau nhằm xác định liều gây mê phù hợp Qua 4 thí nghiệm cho thấy, tỷ lệ sống của cá bị ảnh hưởng ở 2 nồng độ 140ppm và 160ppm Nếu gây mê với nồng độ thích hợp sẽ duy trì cho cá ở trạng thái mê trong suốt quá trình tiêm, hoạt động trao đổi chất của cá gần như bị ngưng truệ, cá nằm im
dễ thực hiện thao tác tiêm hạn chế cá trầy xước và giảm stress, từ đó làm tăng tỉ lệ sống của cá
Đến nay chưa có nghiên cứu nào báo cáo chính xác về tác dụng thuốc gây mê benzocaine đối cá tra ở Việt Nam Nhưng benzocaine đã được nghiên cứu và ứng dụng trên nhiều loài cá khác nhau, điển hình là nghiên cứu của Ross và Geddes., (1979) khảo sát liều lượng benzocaine trên cá trê trắng và cá rô phi là 100ppm Đối
với chim trắng thì có nghiên cứu của Gomes et al (2001), ngưỡng gây mê là
100-150ppm
Với kết quả thí nghiệm trên cá tra giống, ngưỡng gây mê benzocaine an toàn phù hợp tùy theo kích cỡ cá mà có nồng độ gây mê khác nhau Theo Lydia Brown (2010)
để bảo đảm quản lý được tác dụng của chất gây mê, không nên gây mê với trọng lượng cá vượt quá 80kg/m3
nước Cá lớn có hàm lượng lipit cao, chất gây mê có thể
bị giữ lại lâu hơn trong lớp mỡ và phân hủy chậm, gây ra tác dụng dài hơn so với cá nhỏ, do đó liều gây mê cho lớn phải thấp hơn so với liều gây mê cá nhỏ
Qua thí nghiệm trên 4 kích cỡ của cá 5 - 10g , 12 - 20g, 22 - 40g, 42 - 70g, đối với mỗi khoảng kích cỡ thì ta xác định được những nồng độ an toàn và thời gian thích hợp Ở cá cỡ 5 - 40g là 80 - 100ppm đảm bảo cá nằm im trên bàn tiêm khoảng 3 phút