TÓM TẮT Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879 trong mô hình luân canh 2 vụ tôm 1 vụ lúa tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, nhằm nâng cao thu nhập cho ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ TRỌNG NHÂN
THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ TÔM 1 VỤ LÚA TẠI HUYỆN
THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ TRỌNG NHÂN
THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ TÔM 1 VỤ LÚA TẠI HUYỆN
THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS.TS DƯƠNG NHỰT LONG
2014
Trang 3THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ TÔM 1 VỤ LÚA TẠI HUYỆN
THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
Lê Trọng Nhân
Khoa Thủy sản, Trường Đại Học Cần Thơ
ABSTRACT
Experiment the stocking of giant freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879)
in the rotational culture with two crops of prawns alternate with one crop of rice at Thoai Son District, An Giang Province, to increase income for culturist and contribute to building a complete technical processes the stocking of giant freshwater shrimp in paddy fields The study was carried – out at two paddies where each field was 1 hactare Prawns were stocked in nursing ponds, beside paddy, with stocking density of 50 inds/m 2 After 2.5 months reared in nursing pond, male prawns were selected and stocked in rice paddies Those prawns were harvested after 3.5 months
The results showed that environmental factors (temperature, turbidity, pH, DO, ammonium COD, PO 4 - , H 2 S) in dry season was unfavorable than rainy season but these factors was suitable range for giant freshwater prawns grow and develop After 6 months culturing period of dry season, average weight fluctuated from 49,6 – 56 g/ind Survival rate fluctuated from 32 – 36% Production fluctuated from 935 – 1.112 kg/ha Profits varied from 30,309 – 82,137, millions VN Dong/ha Profit rate fluctuated from 19,8 – 53,6% After 7 months culturing period of rainy season, average weight changed from 62.1 – 69.6 g/ind Survival rate ranged from 33 – 33% Production fluctuated from 1.421 – 1.543 kg/ha Profits fluctuated from 96,563 – 106,335 millions VN Dong/ha Profit rate fluctuated from 72 – 73%
Key words: Rotation, Survival, Productivity, Giant freshwater prawn
Title: Experiment the stocking of giant freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) in the rotational culture with two crops of prawns alternate with one crop of rice at Thoai Son District, An Giang Province
TÓM TẮT
Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) trong mô hình luân canh 2 vụ tôm 1 vụ lúa tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, nhằm nâng cao thu nhập cho người nuôi và góp phần xây dựng hoàn chỉnh qui trình kỹ thuật nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa Nghiên cứu được thực hiện trong 2 ruộng có diện tích là 1 ha/ruộng, tôm được thả nuôi trong ao ương liền kề với ruộng với mật độ 50 con/m 2 Sau 2,5 tháng ương nuôi trong ao tôm càng xanh đực được tuyển chọn và thả nuôi trong ruộng, nuôi thêm 3,5 tháng nữa thì tiến hành thu hoạch
Kết quả cho thấy các yếu tố về môi trường (nhiệt độ, độ trong, pH, Oxy, N – NH 4
+
, COD, P –
PO 4
3-, H 2 S) trong mùa khô bất lợi hơn mùa mưa nhưng đều nằm trong khoảng thích hợp cho tôm
Trang 4càng xanh sinh trưởng và phát triển Sau chu kỳ nuôi 6 tháng ở vụ mùa khô, khối lượng trung bình dao động từ 49,6 – 56 g/con Tỉ lệ sống dao động từ 32 – 36% Năng suất dao động 935 – 1.112 kg/ha Lợi nhuận dao động 30,309 – 82,137 triệu đồng/ha Tỉ suất lợi nhuận dao động 19,8 – 53,6% Ssau chu kỳ nuôi 6 tháng ở vụ mùa mưa, khối lượng trung bình dao động từ 62,1 – 69,6g/con Tỉ lệ sống dao động từ 32 – 33% Năng suất dao động 1.421 – 1.543 kg/ha Lợi nhuận dao động 96,563 – 106,335 triệu đồng/ha Tỉ suất lợi nhuận dao động 72 – 73%
1 GIỚI THIỆU
Tôm Càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là loài sống chủ yếu ở nước ngọt, có
kích thước lớn nhất trong các loài tôm nước ngọt, có chất lượng thịt thơm ngon là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế, giá cao lời nhiều, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nuôi Tuy nhiên những năm gần đây diện tích nuôi tôm càng xanh ở nhiều địa phương vùng ĐBSCL có xu hướng sụt giảm Riêng ở tỉnh An Giang, đến cuối năm 2011 thống kê diện tích nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa luân canh chỉ còn khoảng 390 ha (Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư An Giang, 2011) Nguyên nhân là do có nhiều yếu tố chi phối được ghi nhận như: (1) thiếu giống cả về số lượng lẫn chất lượng cung cấp cho mô hình nuôi, đặc biệt lưu ý về chất lượng con giống, tỉ lệ sống tôm nuôi thương phẩm thấp và biến động lớn, (2) thiếu vốn xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng vận hành hệ thống nuôi, (3) giá con giống và thức ăn tăng cao, (4) sức sản xuất sinh học trong mô hình ương nuôi thấp, (5) thiếu kiến thức kỹ thuật về quản lý, cải thiện chất lượng nước
Năm 2012, kết quả thực nghiệm 2 mô hình nuôi tôm càng xanh luân canh trong ruộng lúa ở xã Phú Thuận huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang, (1) Nuôi tôm càng xanh luân canh trên ruộng lúa với mật độ 15 con/m2 vận hành theo phương pháp truyền thống và (2) Cải tiến phương pháp ương nuôi giống tôm càng xanh trong ao đất, mật độ cao 50 con post15/m2, sau thời gian ương 2,5 tháng, tiến hành chọn lọc tôm đực, đồng đều về kích cỡ
để thả nuôi thêm 3 tháng trên ruộng lúa với mật độ trung bình 4 con tôm đực/m2
Trong
đó mô hình (1) cho lợi nhuận 88,4 ± 14,3 triệu đồng/ha, tỉ suất lợi nhuận bình quân đạt 65
± 4 %, mô hình (2) đạt dao động từ 103,9 ± 5,8 triệu đồng/ha, tỉ suất lợi nhuận đạt 72 ± 3
% Điều này cho thấy được hiệu quả mô hình (2) cao hơn mô hình (1)(Trần Văn Hận, 2012)
Do vậy, để nâng cao năng suất, ổn định mô hình và sản lượng tôm càng xanh cung cấp cho tiêu dùng và xuất khẩu quanh năm ở địa phương, đồng thời nhằm góp phần làm tăng thêm thu nhập, lợi nhuận cho người nuôi tôm trên cùng diện tích canh tác thì người dân trong vùng hoàn toàn có thể sắp xếp được thời gian khai thác trên cơ sở tăng thêm 1
vụ nuôi tôm với thời gian từ 3 – 3,5 tháng nuôi trong ruộng lúa Từ thực tế trên nên đề
tài “Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh trong mô hình luân canh 2 vụ tôm 1 vụ lúa tại
huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang”được thực hiện
Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài thực hiện làm cơ sở phát triển mô hình nuôi, tăng thêm vụ
nuôi tôm và tăng thu nhập cho người nuôi trên cùng diện tích canh tác
Trang 5Nội dung nghiên cứu: (1) Khảo sát tăng trưởng, tỉ lệ sống, năng suất tôm càng xanh
trong vụ mùa mưa (2) Phân tích tính hiệu quả của mô hình nuôi tôm càng xanh luân canh 2 vụ tôm 1 vụ lúa tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài thực hiện từ tháng 11/2013 đến tháng 11/2014 trên 2 ruộng lúa có diện tích 10.000 m2/ruộng tại huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang
2.2 Bố trí lịch thời vụ
Hoạt động ương nuôi tôm trong mô hình này cũng được thực hiện qua 2 giai đoạn và tuân thủ đúng lịch thời vụ được phân bố như sau:
Vụ lúa đông xuân Vụ TCX 1 Vụ TCX 2
Ương nuôi trong ao Ương nuôi trong ao
Vụ 1 (Mùa khô) Vụ 2 (Mùa mưa)
Hình 1 Lịch thời vụ
Ruộng lúa bắt đầu gieo xạ vào ngày 2/11/2013, khi gieo xạ được 45 ngày thì tiến hành thả tôm ương trong ao (ngày 16/12/2014) Lúa đông xuân thu họach vào ngày 17/2/2014 thì tiến hành cải tạo ruộng nuôi (30 ngày đến ngày 17/3/2014), lúc này tôm ương nuôi trong ao được 80 ngày tuổi tiến hành kéo tôm trong ao, tuyển lựa các con tôm đực tốt và đồng đều về kích cỡ (những con đực lớn trong đàn, 2 càng lớn tôm có màu cam) chuyển ra ruộng nuôi, tôm cái hoặc tôm càng xào (tôm đực nhưng 2 càng của tôm chuyển sang màu xanh) thì thu hoạch, những con tôm đực còn nhỏ sẽ để lại trong ao nuôi tăng cường các chất bổ dưỡng để tôm phát triển nhanh, nuôi thêm 1 tháng (ngày 15/1/4/2014) thì chuyển hết số tôm đực trong ao qua ruộng nuôi để chuẩn bị cải tạo ao ương vụ tôm thứ hai trong năm (ngày 1/5/2014 thả giống đến ngày 27/7/2014 tuyển lựa tôm đực) Tôm nuôi trên ruộng thêm 3 tháng (chu kỳ nuôi tôm càng xanh là 6 tháng, thời gian ương trong ao 3 tháng và nuôi trên ruộng 3 tháng) thì tiến hành thu hoạch (ngày 16/6/2014) để chuẩn bị cải tạo ruộng cho vụ nuôi tôm thứ 2 trong năm (ngày 29/7/2014 chuyển tôm đực ra ruộng nuôi vụ 2 và đến ngày 30/10/2014 thì thu hoạch toàn bộ để chuẩn bị sạ lúa đông xuân năm tiếp theo)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực nghiệm nuôi trong 2 ruộng lúa có diện tích nuôi là 1 ha/ruộng
Trang 6Độ sâu mực nước ao ương và ruộng lúa được duy trì 1,2 m Tôm càng xanh post 15 được mua từ trại giống Bình Thủy II thành phố Cần Thơ và được thả trong ao liền kề với ruộng (3.000 m2/ao) 50 con/m2 Sau 2,5 tháng, dùng lưới kéo thu tôm và tôm càng xanh đực được tuyển chọn và thả nuôi trong ruộng, tôm cái tiếp tục nuôi lại trong ao thêm 1 tháng thì thu hoạch
(1) Giai đoạn ương trong ao: Tôm được ương trong ao diện tích 3.000 m2 dưới hình thức thâm canh Trong quá trình ương có sử dụng quạt nước và thức ăn viên công nghiệp (grobest 42% đạm) Tôm được cho ăn 4 lần/ngày, sau tháng nuôi thứ 2 cho ăn thức ăn công nghiệp và thức ăn tươi sống với tỷ lệ 40 % thức ăn viên công nghiệp và 60
% thức ăn tươi Giai đoạn này tôm được ương 80 ngày, sau đó thu hoạch tuyển lựa cá thể đực tốt chuyển ra ruộng nuôi
(2) Giai đoạn chuyển tôm ra ruộng nuôi: Tôm được cho ăn thức ăn công nghiệp (grobest 42% đạm) kết hợp với thức ăn tươi sống (cá tạp và ốc bươu vàng) với khẩu phần ăn dao động từ 5 – 30 %/trọng lượng /ngày Lượng thức ăn cung cấp cho tôm nuôi
sẽ được điều chỉnh theo sự tăng trọng và chất lượng của tôm càng xanh trong quá trình ương và nuôi Cho tôm ăn theo nhu cầu, thông qua sàng ăn, điều chỉnh lượng thức ăn cho tôm hàng ngày không để tôm thiếu thức ăn cũng như không cho ăn thừa Tôm đực nuôi trong ruộng thêm 3,5 tháng (6 tháng tính từ lúc thả Post) tiến hành thu hoạch
2.4 Thu và phân tích mẫu
Các yếu tố môi trường được thu hàng tháng Thời gian thu mẫu thường bắt đầu từ
7 giờ 30 phút đến 11 giờ Các chỉ tiêu như pH, N-NH4+, P-PO43-, Oxygen thì dùng
bộ test tại chổ, nhiệt độ thì dùng nhiệt kế đo, ( đối với Oxygen đo tầng mặt cộng tầng đáy lúc 6 giờ) Độ trong được đo bằng đĩa secchi Mẫu tôm nuôi được thu hàng tháng với số mẫu là 30 con/ruộng để theo dõi khối lượng trung bình, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG) Tỷ lệ sống, năng suất và sự phân hóa sinh trưởng về khối lượng của tôm được xác định lúc thu hoạch
Hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình nuôi được tính toán và so sánh Tổng chi phí xây dựng mô hình bao gồm: (1) chi phí cố định: khấu hao công trình ao nuôi, máy bơm nước, lưới kéo tôm, (2) chi phí biến đổi bao gồm chi phí cải tạo ruộng nuôi, vôi bột, dây thuốc cá, phân bón, tôm giống, thức ăn, nhiên liệu, công thu hoạch
Hiệu quả kinh tế của tôm vụ 2
+ Tổng thu (vụ 2) = Tổng sản lượng tôm thu hoạch (kg) x Giá (đồng/kg)
+ Lợi nhuận (vụ 2) = Tổng thu – Tổng chi ((1) chi phí cố định + (2) chi phí biến đổi) + Tỷ suất lợi nhuận (vụ 2) (%) = (Lợi nhuận/ Vốn đầu tư) x 100
Hiệu quả kinh tế của mô hình
Trang 7Tổng thu = Tôm vụ 1 + Tôm vụ 2 + Vụ lúa + hoa màu
Tổng chi = Chi phí tôm vụ 1 + Chi phí tôm vụ 2 + Chi phí vụ lúa + Chi phí hoa màu Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi
Tất cả số liệu được thu thập, phân tích và xử lý bằng chương trình Excel để so sánh
và đánh giá kết quả của hệ thống nuôi
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các yếu tố thủy lí
Bảng 1 Các yếu tố thủy lí
Mùa mưa
Ruộng 1 29,9 ± 0,7 33,0 ± 4,2 7,8 ± 0,06 Ruộng 2 29,8 ± 0,8 32,6 ± 5,0 7,5 ± 0,2 Trung bình 29,8 ± 0,01 32,8 ± 0,27 7,6 ± 0,23
Nhìn chung, các yếu tố thủy lý đều trong giới hạn thích hợp cho sự sinh trưởng bình thường của tôm, nhiệt độ bình quân dao động từ 29,8 – 29,9 o
C Theo Trương Quốc Phú (2003) thì nhiệt độ thích hợp cho tôm cá phát triển ở vùng nhiệt đới nằm trong khoảng
25 – 31 oC Độ trong của các ruộng nuôi dao động từ 32,6 – 33 cm phù hợp với Huỳnh
Tấn Đạt (2009) là từ 31-34 cm, điều này cho thấy vào các tháng đầu vụ nuôi cao do ao mới cải tạo chất lượng nước trong ao tốt, về sau độ trong giảm dần điều này cho thấy ở các tháng tiếp theo các ruộng nuôi có hàm lượng vật chất hữu cơ và số lượng các phiêu sinh động thực vật khá phong phú, độ trong của mùa khô thấp hơn mùa mưa là do mùa khô hoat động thay nước khó hơn mùa mưa Theo Trương Quốc Phú (2003) độ trong thích hợp cho ao nuôi tôm khoảng 30 – 40 cm Qua đó cho thấy độ trong của các ruộng nuôi tôm càng xanh ở An Giang là thích hợp cho sự phát triển của tôm càng xanh Kết quả thực nghiệm nuôi cho thấy giá trị pH ở các ruộng nuôi tôm dao động từ 7,5 – 7,8,
nhận định của Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) cho rằng pH từ 7,5 – 8,5 là khoảng
thích hợp cho các loài phiêu sinh vật phát triển tạo môi trường đệm cho sự phát triển của tôm nuôi, từ đó có thể thấy rằng, với giá trị pH nước từ các ruộng nuôi ở mùa mưa thu được hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của tôm
3.2 Các yếu tố thủy hóa
Bảng 2 Các yếu tố thủy hóa
Mùa
vụ
Ruộng
COD (ppm)
Mùa
mưa
Ruộng 1 3,99 ± 0,34 0,34 ± 0,13 0,08 ± 0,02 0,07 ± 0,03 15,2 ± 5,16 Ruộng 2 3,94 ± 0,47 0,33 ± 0,19 0,09 ± 0,03 0,08 ± 0,04 16,0 ± 0,25
TB 3,96 ± 0,03 0,34 ± 0,01 0,09 ± 0,01 0,07 ± 0,01 15,6 ± 0,61
Trang 8Kết quả khảo sát cho thấy hàm lượng Oxy trung bình dao động từ 3,94 – 3,99 ppm, Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004) cho rằng hàm lượng oxy tốt cho tôm từ 3 – 7 mg/lít thì kết quả thực nghiệm cho thấy hàm lượng oxy ở các ruộng nuôi đáp ứng đủ nhu cầu hô hấp, trao đổi chất cùng các hoạt động khác của tôm
Hàm lượng NH4 ở ở các ruộng nuôi thực nghiệm dao động từ 0,33 – 0,34 ppm Hàm
lượng NH4 thấp ở các tháng đầu vụ và cao ở các tháng cuối vụ do việc sử dụng thức ăn thừa, quản lí môi trường chưa tốt Theo Nguyễn Văn Thường (2007), hàm lượng NH4+
thích hợp là 0,2 – 2 ppm Nhìn chung suốt vụ nuôi hàm lượng ammonia này không gây ảnh hưởng bất lợi cho tôm càng xanh phát triển tốt trong ruộng
Qua khảo sát cho thấy, hàm lượng PO 4
dao động trung bình 0,09 ± 0,01 ppm kết quả này thấp hơn so với Trần Quang Trí (2009) là trung bình từ 0,18 ± 0,05 ppm đến 0,20 ±0,07 ppm và cao hơn so với kết quả của Huỳnh Tấn Đạt (2009) từ 0,05 ± 0,03 ppm tới 0,1 ± 0,06 ppm, nhưng nhìn chung thì hàm lượng lân trong nước vẫn thích hợp cho sự phát triển của tôm nuôi..
Hàm lượng COD trong các ruộng nuôi ở vụ mùa khô dao động từ 17,0 – 17,2 ppm cao hơn vụ mùa mưa dao động từ 15,2 – 16 ppm do mùa mưa chủ động được nguồn nước thay, so với Huỳnh Tấn Đạt (2009) thì thấp hơn 17,7 ± 7,39 ppm –20,7 ± 10,1 ppm chỉ tiêu này chỉ thị môi trường ở mức độ dinh dưỡng khá theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nước trong các loại hình thủy vực giàu hay nghèo dinh dưỡng của Đặng Ngọc Thanh (1979)
Hàm lượng H2S trong các ruộng nuôi ở vụ mùa khô dao động từ 0,05 - 0,07 ppm thấp hơn so với vụ mùa mưa dao động từ 0,07 – 0,08 ppm do vụ mùa mưa sử dụng thức
ăn tươi sống nhiều nên hàm lượng H2S cao hơn Theo Boyd (1990), hàm lượng H2S (ppm) cho phép trong các ao, ruộng nuôi tôm càng xanh phải nhỏ hơn 0,01 ppm Tuy nhiên cũng theo Boyd (1990) trong quá trình nuôi, hàm lượng H2S có thể tăng cao từ từ
do sự thích nghi của tôm nuôi, nhưng cũng giới hạn ngưỡng chịu đựng hàm lượng H2S < 0,09 ppm
Các yếu tố thủy hóa trong quá trình thực nghiệm đều thích hợp với việc nuôi tôm càng xanh, hàm lượng H2S tuy có cao nhưng vẫn không ảnh hưởng đến sự phát triển của tôm
Trang 93.3 Khối lượng trung bình và tăng trưởng
Bảng 3 Khối lượng trung bình và tăng trưởng
Thời gian nuôi
Kết quả thực nghiệm cho thấy khối lượng tôm nuôi ở 2 ruộng khi thu hoạch dao động trung bình từ 62,1 – 69,6 g/con Nhìn chung thì tốc độ tăng trưởng trên ngày từ tháng đầu tăng dần về sao do có sự tuyển lựa sang thưa, tôm nuôi vào mùa mưa có sự trao đổi nước thường xuyên, điều kiện môi trường nước tốt nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào nên tôm có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt, kích cỡ tôm thu được lớn hơn so với các nghiên cứu trước đây của Lê Quốc Việt (2005), thực hiện tại các ruộng lúa ở tỉnh Vĩnh Long đạt khối lượng dao động từ 32 – 38 g/con, nhưng kết quả này khá phù hợp với
nghiên cứu của Trần Tấn Huy và ctv (2004), tôm nuôi trong ruộng lúa ở mùa lũ đạt khối
lượng trung bình 47,9 – 67,1 g/con, và cao hơn đề tài thực nghiệm nuôi tôm càng xanh trên nền đất lúa vào mùa khô tại huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp của Huỳnh Tấn Đạt (2009) khối lượng tôm trung bình là 44,5 – 49,83 g/con
3.4 Tỷ lệ phân hóa sinh trưởng về khối lượng
Trang 10Ghi chú: Tôm loại 1 ≥ 50g, Loại 2 20g – 49g, Tôm xô < 20g
Hình 2: Tỷ lệ phân hóa sinh trưởng về khối lượng
Trong quy trình nuôi tôm càng xanh theo 2 giai đoạn tôm đực tốt được tuyển chọn nuôi trong ruộng với mật độ trung bình 3,7 con/m2 ở ruộng 1 và 3.6 con/m2 ở ruộng 2 mật độ thưa kết hợp với cho tôm ăn thêm thức ăn tươi sống nên tôm nuôi phát triển tương đối tốt Tôm thu hoạch đạt loại 1 và 2 trong vụ mùa khô ở ruộng 1 lần lượt là 57%
và 31%, ở ruộng 2 làn lượt là 46% và 58% Tôm loại 1 và loại 2 trong vụ mùa mưa ở ruộng 1 lần lượt là 78% và 18%, ở ruộng 2 lần lượt là 81% và 15% Tôm loại 1 và loại 2 trong vụ mùa mưa cao hơn mùa khô do mùa mưa nguồn thức ăn tươi sống dồi dào, nguồn nước tốt nên tôm phát triển ngược lại thì vào mùa khô khó khăn trong việc trao đổi nước người nuôi hạn chế sử dụng thức ăn tươi sống chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp, điều này làm cho tôm giảm tăng trưởng và tăng giá thành sản phẩm So với kết quả của Huỳnh Tấn Đạt (2009), tôm nuôi trong quá trình thực nghiệm vẫn cao hơn tôm loại 1 đạt 57 – 81% so với 20 – 30%
3.5 Tỷ lệ sống và năng suất
Bảng 4 Tỷ lệ sống
Mùa mưa
Trung bình 38,7 ± 0,8 67 ± 1,8 32,5 ± 1
Tỷ lệ sống ở giai đoạn 1 dao động từ 38,1 – 39,2% và thấp hơn so với tỷ lệ sống ở giai đoạn 2 từ 65,7 – 68,2% do giai đoạn này tôm đã được tuyển chọn ra ruộng nuôi với
mật độ thấp hơn Trong quá trình nuôi, lượng tôm cái được thu hoạch sau 4 tháng nuôi
và tôm đực được nuôi ở ngoài ruộng với mật độ thưa nên tỉ lệ sống luôn ổn định cụ thể
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
Tôm loại 1 Tôm loại 2 tôm xô
Vụ mùa khô
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
Vụ mùa mưa
Ruộng 1 Ruộng 2