1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn

16 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 374,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THANH SANG TÌM HIỂU KHẢ NĂNG SINH SẢN VÀ LAI TẠO BÁN TỰ NHIÊN GIỮA CÁ RÔ ĐỒNG Anabas testudineus CÀ MAU, CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THANH SANG

TÌM HIỂU KHẢ NĂNG SINH SẢN VÀ LAI TẠO BÁN TỰ

NHIÊN GIỮA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus)

CÀ MAU, CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG

VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁ BỘT TRONG ĐIỀU KIỆN

CÓ VÀ KHÔNG CÓ BỔ SUNG THỨC ĂN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS DƯƠNG THÚY YÊN

2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THANH SANG

TÌM HIỂU KHẢ NĂNG SINH SẢN VÀ LAI TẠO BÁN TỰ

NHIÊN GIỮA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus)

CÀ MAU, CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG

VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁ BỘT TRONG ĐIỀU KIỆN

CÓ VÀ KHÔNG CÓ BỔ SUNG THỨC ĂN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS DƯƠNG THÚY YÊN

2014

Trang 3

TÌM HIỂU KHẢ NĂNG SINH SẢN VÀ LAI TẠO BÁN TỰ NHIÊN

GIỮA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus) CÀ MAU, CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG

VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁ BỘT TRONG ĐIỀU KIỆN CÓ

VÀ KHÔNG CÓ BỔ SUNG THỨC ĂN

Nguyễn Thanh Sang Sangc1201006@student.ctu.edu.vn Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ

ABSTRACT

The aims of research are to study the semi-natural reproduction and hybridization between the wild climbing perch (Anabas testudineus Block, 1792) originated from

Ca Mau (CM) and square head climbing perch (SHCP), and the growth of their fry

in conditions with and without supplemental feeding The experiments consist of four crossing treatments which are pure crossing of CM and SHCP, and their 2 reciprocal crossings

Result from 4 times of semi-natural reproduction (no injecting hormones, reproduction was stimulated by continuously flowing water system) showed that the SHCP did not reproduce, while reproduction of fish in the other treatments was successful However, the spawning rate of treatment SHCP x CM was low (4,2%) This proved that SHCP reproduction was more difficult than CM climbing perch The CM strain had the highest spawning rate (45,8%), fertilization rate (90,5% ± 4,4%), and hatching rate (96,3% ± 1,6%) The fertilization and hatching rates of both reciprocal crosses (CM x SHCP, and SHCP x CM) were more than 87%

In condition without supplemental feeding, the growth of fry from 0 to 24 hours (after hatch) was fastest (2,26 – 3,21 mm), but it became slow after 3 days At 9 days-old, the length of fish in 4 treatments was not significantly different (P>0,05) At that day, they died about 70 – 80% at sampling and completely died in one day In condition

of supplemental feeding which started from 2 days after hatch, fish grew fast after 3 days old The length of fish in 4 treatments was significant (P<0,05) From 3 to 14 days, the length of fish was highest in square head perch (12,78 mm) and was lowest

in SHCP x CM hybrid (11,14 mm)

TÓM TẮT

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) tự nhiên có nguồn gốc từ Cà Mau, cá rô Đầu Vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn, từ

đó cung cấp thông tin cho việc lưu giữ nguồn gien của từng dòng cá Thí nghiệm gồm bốn công thức sinh sản từ 2 dòng cá rô đồng Cà Mau, cá rô Đầu Vuông và phép lai hai chiều giữa chúng

Trang 4

Kết quả sinh sản bán tự nhiên (không tiêm kích thích tố, kích thích sinh sản bằng hệ thống phun nước liên tục) 4 đợt đều cho thấy cá rô Đầu Vuông không sinh sản, trong khi 3 nghiệm thức cá rô Cà Mau, cá rô Cà Mau x Đầu Vuông và cá rô Đầu Vuông x

Cà Mau đều sinh sản nhưng tỉ lệ đẻ của nghiệm thức cá rô Đầu Vuông x Cà Mau rất thấp (4,2%) Điều này chứng tỏ dòng cá Đầu Vuông khó sinh sản tự nhiên hơn cá Cà Mau Dòng cá Cà Mau có tỉ lệ đẻ (45,8%), tỉ lệ thụ tinh (90,5 ± 4,4%) và tỉ lệ nở (96,3 ± 1,6%) cao nhất Con lai Cà Mau x Đầu Vuông và Đầu Vuông x Cà Mau đều

có tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ nở cao (>87%)

Ở điều kiện không bổ sung thức ăn, tăng trưởng của cá bột từ 0 – 24 giờ (sau khi nở) đạt nhanh nhất (2,26 – 3,21 mm), sau 3 ngày tăng trưởng của cá chậm Khi cá bột đến 9 ngày tuổi, chiều dài của cá ở 4 nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống

kê (P>0,05) Lúc này cá chết khoảng 70 – 80% và chết hoàn toàn trong ngày Trong điều kiện có bổ sung thức ăn từ 2 ngày tuổi, cá bột tăng trưởng nhanh sau 3 ngày tuổi Chiều dài của cá ở 4 nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05), từ ngày thứ 3 đến 14 ngày thì cá Đầu Vuông có chiều dài cao nhất (12,78 mm) thấp nhất là Đầu Vuông x Cà Mau (11,14 mm)

1 GIỚI THIỆU

Cá rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) có chất lượng thịt ngon và có giá trị

kinh tế cao nên là một trong những đối tượng nuôi quan trọng ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Cá rô đồng có thể nuôi được nhiều loại hình mặt nước như ao, mương vườn, ruộng lúa… với năng suất cao và mang lại nguồn thu nhập cho người nuôi…(Dương Nhựt Long, 2003)

Vào năm 2008 cá rô đầu vuông xuất hiện từ ao nuôi của một hộ nông dân tại huyện

Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Chúng có ưu điểm vượt trội là tốc độ sinh trưởng nhanh hơn rất nhiều so với cá rô đồng, con đực và con cái tăng trưởng tương đương nhau Trong những năm gần đây cá rô đầu vuông được người dân chú ý phát triển mạnh với mô hình nuôi thâm canh như ở Thốt Nốt (Cần Thơ), các huyện Vị Thủy, Long

Mỹ, Phụng Hiệp (Hậu Giang), bước đầu đem lại một số kết quả khả quan (baohaugiang.com.vn)

Tuy nhiên, việc nuôi bùng phát như vậy không tránh khỏi cá thất thoát ra môi trường bên ngoài Khi gặp điều kiện thuận lợi chúng có thể sinh sản với nhau và có thể lai tạo với cá rô đồng tự nhiên Nếu dự đoán này xảy ra, việc lai tạo giữa các dòng cá rô

sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn gien của cá rô đồng nói chung Trong điều kiện được kích thích sinh sản, cá rô đầu vuông lai tạo thành công với cá rô đồng thường (Hà Huy Tùng, 2012) Tuy nhiên, đến nay chưa có thông tin về khả năng lai tạo của chúng trong điều kiện tự nhiên

Kết quả lai tạo thành công thể hiện đầu tiên ở khả năng phát triển của cá bột Trong quá trình phát triển của cá bột thì thức ăn và khả năng bắt mồi của cá bột là yếu tố sống còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá

Trang 5

Từ cơ sở trên, đề tài này được thực hiện nhằm tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng và cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột lai tạo trong điều kiện có và không có thức ăn bên ngoài

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thí nghiệm 1: Khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên của các dòng cá rô

Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức sinh sản từ 2 dòng cá rô đầu

vuông và cá rô tự nhiên có nguồn gốc từ Cà Mau (gọi tắt là cá Cà Mau) như sau:

- Nghiệm thức 1: Cái đầu vuông x đực đầu vuông (ĐV)

- Nghiệm thức 2: Cái cà mau x đực cà mau (CM)

- Nghiệm thức 3: Cái cà mau x đực đầu vuông (CM x ĐV)

- Nghiệm thức 4: Cái đầu vuông x đực cà mau (ĐV x CM)

Mỗi nghiệm thức được lặp lại 2 lần và được bố trí trong bể đẻ 1m3, mỗi bể có 3 cặp

bố mẹ

Chuẩn bị bể cá đẻ: các bể được bố trí nằm cạnh bên nhau, mỗi bể có thể tích 1m3 Ở trên bể thiết kế hệ thống phun nước tự động được làm bằng ống nhựa được tạo những

lỗ nhỏ Nước từ bồn chứa chảy vào bể qua những lỗ nhỏ (như phun mưa) nhờ áp suất cao Ở giữa bể có ống thoát nước để giữ cho mực nước trong bể ổn định (khoảng 200

L nước)

Chọn cá bố mẹ: cá đực mình thon dài, dùng tay vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục có sẹ màu

trắng đặc quánh chảy ra là cá đủ tiêu chuẩn cho sinh sản, cá cái bụng cá to nhô ra hai bên hông của cá, khi dùng tay vuốt nhẹ phần bụng có cảm giác mềm đều và lỗ sinh dục của cá có màu hồng

Thả cá và theo dõi cá sinh sản: Khi bể đã chuẩn bị sẵn sàng và cá thành thục tốt,

mỗi bể được thả 3 cặp bố mẹ (không tiêm kích thích tố) và dùng lưới đậy kín bể nhằm tránh cá nhảy ra ngoài khi phun mưa Khi thả các cặp cá vào bể thì bắt đầu phun nước liên tục Sau khi cá đẻ xong, vớt trứng bằng vợt lưới mịn, thao tác vớt nhẹ nhàng Rửa lại trứng bằng cách tưới nước sạch lên vợt. Ấp trứng bằng xô nhựa 60 L chứa khoảng 40 L nước sông đã qua lắng và sục khí liên tục Trứng từ mỗi bể cá đẻ được ấp trong 1 xô

Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản

 Tỷ lệ cá đẻ (%) = (số cá đẻ / số cá tham gia sinh sản) *100

 Tỷ lệ thụ tinh (%) = (số trứng thụ tinh / số lượng trứng theo dõi) *100

 Tỷ lệ nở (%) = (số trứng nở / số trứng thụ tinh) *100

 Sức sinh sản thực tế (trứng/g) = số trứng cá đẻ ra / khối lượng cá sinh sản

 Đo đường kính trứng 40 trứng (bằng kính hiển vi có thước đo) được lấy ngẫu

nhiên (khi bố trí vào bể ấp) từ mỗi bể cá sinh sản

Trang 6

2.2 Thí nghiệm 2: Theo dõi sự tăng trưởng của các dòng cá rô bột ở điều kiện có

và không có bổ sung thức ăn bên ngoài

Kích thích sinh sản nhân tạo: Cá cái được kích thích sinh sản bằng cách tiêm

LHRHa với liều lượng 100g và 10mg Domperidone cho 1kg cá cái Liều cho cá đực bằng ½ liều cá cái Kích thích tố được tiêm vào dưới gốc vi ngực Tiêm cho các

dòng cá của 4 nghiệm thức

Bố trí thí nghiệm: Cá bột của bốn nghiệm thức được theo dõi ở cả 2 điều kiện: có và

không có cho ăn Sau khi trứng nở thành cá bột, cá được bố trí ngẫu nhiên vào xô nhựa 60 lít chứa 30L nước có sục khí, mỗi xô bố trí 400 con Do ở điều kiện không

bổ sung thức ăn ít rủi ro nên nghiệm thức được lặp lại 2 lần và ở điều kiện có cho ăn được lặp lại 3 lần Nguồn nước là nước sông đã qua lắng

Chăm sóc thí nghiệm cá cho ăn

Đối với điều kiện cho ăn, thức ăn cho giai đoạn ương như sau: từ ngày thứ 1- 3: cho

ăn luân trùng, lòng đỏ trứng, từ ngày 3 - 7: cho ăn luân trùng, moina, từ ngày 7 – 14: cho ăn thức ăn công nghiệp hiệu Tomboy dạng mịn chứa 42% đạm Siphon đáy bể, hàng ngày, kiểm tra sục khí thường xuyên và cho cá ăn 4 lần/ngày vào lúc 7h, 10h, 14h và 17h Đối với điều kiện không cho ăn, chỉ sục khí và siphon đáy bể, thay nước khi nước bẩn

Theo dõi các chỉ tiêu

+ Theo dõi sự phát triển về chiều dài của cá bột trong điều kiện không bổ sung thức ăn: đo kích thước cá mới nở (bằng kính hiển vi có thước đo) sau mỗi 12 giờ trong 4 ngày đầu và đo cách khoảng 24 giờ từ ngày thứ 5 trở đi (ngày thứ 5, 6, 7, 8…) cho đến khi cá chết trên 70% Mỗi lần đo ngẫu nhiên 30 con/bể

+ Theo dõi sự phát triển về chiều dài của cá bột có bổ sung thức ăn: thời gian thu mẫu đo và số lượng mẫu đo tương tự như trong điều kiện không có bổ sung (sau mỗi

12 giờ trong 4 ngày đầu và đo cách khoảng 24 giờ từ ngày thứ 5 trở đi), chỉ khác là

đo đến 14 ngày

2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Các chỉ tiêu theo dõi được tính toán giá trị trung bình và độ lệch chuẩn bằng phần mềm excel Sự khác biệt về giá trị trung bình các chỉ tiêu theo dõi giữa các nghiệm thức (nhóm cá) được so sánh bằng phương pháp ANOVA một nhân tố và phép thử Ducan Xử lý thống kê được thực hiện bằng chương trình SPSS 16.0

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Sinh sản và lai tạo bán tự nhiên của các dòng cá rô

Thí nghiệm sinh sản và lai tạo bán tự nhiên của các dòng cá rô được thực hiện 4 lần vào tháng 7, tháng 9/ 2013 và tháng 5, tháng 6/ 2014 do ở mỗi lần chỉ có 2 hoặc 3 trong 4 công thức sinh sản thành công Kết quả cả 4 lần đều cho thấy cá ở nghiệm thức Đầu Vuông x Đầu Vuông (ĐV) không sinh sản Nguyên nhân dẫn đến cá không

Trang 7

tham gia sinh sản có thể là do quá trình nuôi vỗ đã dần thay đổi tập tính sinh sản ban đầu, hoặc yêu cầu về điều kiện sinh sản tự nhiên của cá rô đầu vuông khắt khe hơn cá

rô đồng Cá rô ngoài tự nhiên sinh sản nơi có dòng chảy hay nguồn nước mới kết hợp với trời mưa lớn (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009) Mặc dù thí nghiệm cũng đã bố trí hệ thống phun mưa nhân tạo nhưng cá rô đầu vuông cái vẫn khó sinh sản trong khi cá rô Cà Mau và cá rô Đầu Vuông đực sinh sản dễ dàng hơn

3.1.1 Điều kiện môi trường trong bể cá bố mẹ sinh sản

Kết quả theo dõi yếu tố môi trường trong bể đẻ của các dòng cá rô được trình bày ở bảng 1

Bảng 1: Biến động nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm

Thời điểm đo Nhiệt độ (0C)

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh sản của cá Theo Dương Nhựt Long (2006) thì nhiệt độ thích hợp cho cá từ 24 – 300C, nhưng cá có thể chịu đựng nhiệt độ từ 11 – 390

C Thí nghiệm được tiến hành trong trại có mái che nên nhiệt độ dao động không nhiều so với các nghiệm thức Nhiệt độ dao động từ 26,5 – 27,50

C đối với buổi sáng và từ 29,5 – 310C đối với buổi chiều và được xem là thích hợp cho

cá sinh sản

3.1.2 Thời gian hiệu ứng

Trong mỗi bể cá sau khi thả và được phun nước chúng rượt đuổi lẫn nhau, tùy theo từng dòng cá khác nhau mà chúng bắt đầu sinh sản ở thời gian khác nhau Mặc dù các nghiệm thức được tiến hành trong cùng một điều kiện nhưng thời gian hiệu ứng giữa các nghiệm thức có sự chênh lệch khá cao: ở cá Cà Mau thì thời gian ngắn nhất nằm khoảng 6 giờ 45 phút – 12 giờ, ở các nghiệm thức còn lại CM x ĐV là: 7 giờ 30 phút – 58 giờ và ĐV x CM là 13 giờ 15 phút (sau khi bố trí) Ngoài thực tế, cá rô tự nhiên (trong thí nghiệm là cá Cà Mau) dễ thích nghi với điều kiện môi trường và cá

dễ dàng sinh sản ở nhiều loại thủy vực khác nhau

Trang 8

3.1.3 Tỉ lệ đẻ

Bảng 2: Tỉ lệ đẻ qua các đợt của dòng cá

Nghiệm

Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Trung bình

Ghi chú: (-) là cá không tham gia sinh sản

Qua các lần thí nghiệm thì cá Cà Mau cả 4 đợt đều tham gia sinh sản kế đến là Cà Mau x Đầu Vuông 3 đợt và Đầu Vuông x Cà Mau 1 đợt Riêng nghiệm thức Đầu Vuông x Đầu Vuông cá không sinh sản Kết quả chung cho thấy cá Cà Mau có tỷ lệ

đẻ trung bình cao nhất là 45,8%, nghiệm thức Cà Mau x Đầu Vuông có tỷ lệ đẻ là 33,3% và Đầu Vuông x Cà Mau là 4,2% (chỉ 1 con đẻ trong 4 lần cho sinh sản) Theo Nguyễn Tường Anh (1999) nếu cá thành thục càng tốt thì chúng sẽ phối hợp nhịp nhàng làm cho cá đẻ trứng nhiều hơn tỷ lệ đẻ cao hơn và ngược lại nếu cá thành thục chưa tốt sẽ cho tỷ lệ đẻ thấp Ngoài ra, các yếu tố môi trường quan trọng như dòng chảy của nước, nhiệt độ, pH, Oxy…cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của

cá Trong điều kiện bán nhân tạo, những yếu tố môi trường không hoàn toàn giống với điều kiện tự nhiên Một số loài cá khác cũng không thể sinh sản trong điều kiện

bán nhân tạo (sinh sản tự nhiên kích thích nước) như cá Heo (Botiamodesta bleeker,

1865) (Danh Thị Trang, 2013)

3.1.4 Đường kính trứng

Qua các lần thí nghiệm thì đường kính trứng có sự chênh lệch nhỏ trong cùng một nghiệm thức (Bảng 3) Riêng cá Đầu Vuông trong công thức sinh sản Đầu Vuông x Đầu Vuông không sinh sản được nên không đo được kích thước trứng, đường kính trứng ở cái Đầu Vuông trong công thức lai Đầu Vuông x Cà Mau cao nhất (0,761 mm), sau đó là cá Cà Mau (0,742 ± 0,003 mm) và cái Cà Mau x Đầu Vuông là (0,741 ± 0,001 mm) Đường kính trứng có thể khác nhau giữa các dòng cá Theo Lê Thị Kim Loan (2013), kích thước trứng dòng cá Đầu Vuông nằm khoảng (0,74 – 0,77 mm) Nguyễn Thành Trung (1998) báo cáo kích thước trứng cá rô khoảng 0,4 – 0,8 mm Khoảng biến động trong nghiên cứu này lớn có thể là kích thước trứng ở các giai đoạn khác nhau Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009) đường kính trứng cá rô thành thục từ 0,7 – 0,8 mm

Trang 9

Bảng 3: Kích thước trứng trung bình qua các đợt sinh sản của các dòng cá

Dòng cá Các đợt thí nghiệm Trung bình (± ĐLC) (mm)

Cà Mau

1

2

3

4 Tổng cộng

0,739 0,742 0,744 ± 0,006 0,745 0,742 ± 0,003

CM x ĐV

1

2

3

4 Tổng cộng

0,741 ± 0,003

- 0,742 ± 0,001 0,740 ± 0,004 0,741 ± 0,001

ĐV x CM

1

2

3

4 Tổng cộng

- 0,761

-

- 0,761

Ghi chú: Những giá trị trong bảng không có độ lệch chuẩn là giá trị trung bình đo từ

40 trứng của 1 lần lặp lại duy nhất của 1 nghiệm thức

3.1.5 Tỉ lệ thụ tinh

Bảng 4: Tỉ lệ thụ tinh qua các đợt sinh sản của cá rô

Nghiệm

Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Trung Bình

Cà Mau 89,0 95,0 93,0 ± 1,9 85,0 90,5 ± 4,4

CM x ĐV 88,0 ± 4,2 - 95,5 ± 1,7 77,5 ± 13,0 87,0 ± 9,0

Tỷ lệ thụ tinh ở các nghiệm thức sinh sản thành công đều đạt cao, trong đó 2 nghiệm thức lai tạo: Cà Mau x Đầu Vuông đạt 90,5 ± 4,4% và Đầu Vuông x Cà Mau đạt 87,0

± 9,0% Nhìn chung tỷ lệ thụ tinh ở cá sinh sản bán nhân tạo tương đối cao do cá tham gia sinh sản đã đến giai đoạn thành thục tốt nhất, thêm vào đó là các yếu tố môi trường thuận lợi Sự lai tạo dễ dàng giữa cá rô Đầu Vuông và Cà Mau còn do chúng cùng một loài (Dương Thúy Yên và Trương Ngọc Trinh, 2013) Tuy nhiên, nếu so với cá tiêm kích thích tố thì tỷ lệ thụ tinh sinh sản bán tự nhiên vẫn thấp hơn Theo Dương Nhựt Long (2003) thì tỉ lệ thụ tinh tiêm LHRHa là 92,9 – 97,7% và tỉ lệ thụ tinh khi cá được tiêm HCG là 90,2 – 97,2%

Trang 10

3.1.6 Tỉ lệ nở

Bảng 5: Tỉ lệ nở qua các đợt của dòng cá

Nghiệm

Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Trung Bình

Cà Mau 95,1 96,5 95,0 ± 2,8 98,4 96,3 ± 1,6

CM x ĐV 87,0 ± 1,8 - 94,6 ± 0,7 98,9 ± 0,5 93,5 ± 6,0

Khi trứng được thụ tinh tốt thì kéo theo tỷ lệ nở cao Tỷ lệ nở cao nhất ở nghiệm thức

Cà Mau (96,3 ± 1,6%) và thấp nhất ở nghiệm thức Đầu Vuông x Cà Mau (89,6%)

Tỷ lệ nở cao do trong quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ được bổ sung đầy đủ dinh dưỡng,

do đó chất lượng trứng và tinh trùng phát triển tốt Theo Văng Thị Quỳnh Như

(2012) thì tỉ lệ nở của cá rô Cà Mau 70,3% và thấp ở cá rô Đầu Vuông 68%

3.1.7 Sức sinh sản thực tế

Bảng 6: Sức sinh sản qua các đợt sinh sản của cá rô

Nghiệm

Cà Mau 691,0 663,2 253,1 ± 85,5 146,3 438,4 ± 279,3

CM x ĐV 770,9 ± 63,8 - 325,9 ± 268,4 464,6 ± 163,8 520,5 ± 227,7

Kết quả cho thấy sức sinh sản thực tế ở cá rô Cà Mau x Đầu Vuông cao nhất (520,5 ±

227,7 trứng/g), thấp nhất là cá rô Đầu Vuông x Cà Mau (126,5 trứng/g), nếu so với

cá tiêm kích thích tố thì sức sinh sản thực tế ở nghiên cứu này có sự chênh lệch, theo

Hồ Thị Kiều (2012) với giá trị cao nhất là Đầu Vuông (561 trứng/g) còn thấp nhất Cá

Mau (392 trứng/g) và theo Lê Thị Kim Loan, 2013 cá Đầu Vuông có sức sinh sản

tương đối (555 trứng/g) và thấp nhất là Đầu Vuông x Cà Mau (429 trứng/g) Theo

Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009), sức sinh sản rất khác nhau theo loài

cá và biểu hiện cho sự thích nghi với điều kiện môi trường sống Theo Dương Nhựt

Long (2003), sức sinh sản của cá rô đồng đạt 300 – 700 trứng/g cá cái Sức sinh sản

của cá tùy thuộc vào điều kiện môi trường sống nhất là dinh dưỡng và nhiệt độ

Ngày đăng: 16/09/2015, 12:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Biến động nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Bảng 1 Biến động nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm (Trang 7)
Bảng 2: Tỉ lệ đẻ qua các đợt của dòng cá - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Bảng 2 Tỉ lệ đẻ qua các đợt của dòng cá (Trang 8)
Bảng 3: Kích thước trứng trung bình qua các đợt sinh sản của các dòng cá - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Bảng 3 Kích thước trứng trung bình qua các đợt sinh sản của các dòng cá (Trang 9)
Bảng 5: Tỉ lệ nở qua các đợt của dòng cá - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Bảng 5 Tỉ lệ nở qua các đợt của dòng cá (Trang 10)
Bảng 6: Sức sinh sản qua các đợt sinh sản của cá rô - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Bảng 6 Sức sinh sản qua các đợt sinh sản của cá rô (Trang 10)
Hình 2: Chiều dài cá bột không bổ sung thức ăn - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Hình 2 Chiều dài cá bột không bổ sung thức ăn (Trang 11)
Hình 1: Biến động nhiệt độ trong thí nghiệm  Nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm dao động từ 27 – 31 0 C - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Hình 1 Biến động nhiệt độ trong thí nghiệm Nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm dao động từ 27 – 31 0 C (Trang 11)
Bảng 7: Tăng trưởng chiều dài cá bột không bổ sung thức ăn - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Bảng 7 Tăng trưởng chiều dài cá bột không bổ sung thức ăn (Trang 12)
Hình 3: Chiều dài cá bột có bổ sung thức ăn  Bảng 8: Tăng trưởng chiều dài cá bột có bổ sung thức ăn - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Hình 3 Chiều dài cá bột có bổ sung thức ăn Bảng 8: Tăng trưởng chiều dài cá bột có bổ sung thức ăn (Trang 13)
Hình 4: Chiều dài cá bột ở giai đoạn 240- 336 giờ - tìm hiểu khả năng sinh sản và lai tạo bán tự nhiên giữa cá rô đồng (anabas testudineus) cà mau, cá rô đầu vuông và sự phát triển của cá bột trong điều kiện có và không có bổ sung thức ăn
Hình 4 Chiều dài cá bột ở giai đoạn 240- 336 giờ (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w