Do đó chất thải là nguyên nhân dẫn đến chất lượng nước suy giảm, theo Hellawell 1968 trích dẫn bởi Lê Công Quyền, 2009 chất thải hữu cơ đi vào trong nước đã làm giảm hàm lượng oxy hòa ta
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HUỲNH HỒNG NGHI
THÀNH PHẦN ĐỘNG VẬT ĐÁY (Zoobenthos) TRÊN SÔNG HẬU THUỘC VEN BỜ SÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀO MÙA
KHÔ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HUỲNH HỒNG NGHI
THÀNH PHẦN ĐỘNG VẬT ĐÁY (Zoobenthos) TRÊN SÔNG HẬU THUỘC VEN BỜ SÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀO MÙA
KHÔ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN THS NGUYỄN VĂN THƯỜNG
2014
Trang 3THÀNH PHẦN ĐỘNG VẬT ĐÁY (Zoobenthos) TRÊN SÔNG HẬU THUỘC
VEN BỜ SÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀO MÙA KHÔ
Huỳnh Hồng Nghi Email:Nghic1201001@student.ctu.edu.vn
ABSTRACT
The objective of research was to determine the diversity of zoobenthos and database supply to build bioassessment program in Hau river The study was conducted at 14 sites of sampling consisted of 5 sites in the Hau river and 9 sites in its tributaries with two sampling times (12/2013 and 03/2014) in dry season period at Can Tho City The results showed that there were 68 species
of benthic macroinvertebrate belonging of 6 classes: Oligochaeta, Polychaeta, Gastropoda, Bivalvia, Crustacea and Insecta Among them, the species number of Gastropoda and Bivalvia classes was higher than that of others with 34 species (50%) and 16 species (24%), respectively The different of zoobenthos species between Hau river (53 species) and its tributaries (57 species) was not found The average of density of benthic organisms on Hau river (783±49 ind.m -2 ) was lower than that on its tributaries (930±96 ind.m -2 ) Common species in study area was Branchiura sowerbyi, Limnodrilus hoffmoisteri (Oligochaeta), Clea helena (Gastropoda), Corbicula fluminea (Bivalvia) The Sorencen’s similarity index between Hau river and its tributaries is 0.7 The Shannon–Weiner mean diversity index on major river (2.040.34) was higher than that on its tributaries (1.87±0.38) In general, benthic macroinvertebrate was quite diversity and they could be indicator organisms to appreciate organic pollution of research area
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tính đa dạng thành phần loài động vật đáy, cung cấp nguồn dữ liệu cơ bản cho việc xây dựng các chương trình quan trắc sinh học trên sông Hậu Nghiên cứu được thực hiện gồm 2 đợt thu mẫu vào mùa khô với đợt 1 vào tháng 12/2013 và đợt 2 là tháng 3/2014 tại Thành phố Cần Thơ Tổng số điểm thu mẫu gồm 14 điểm với 5 điểm trên sông chính và 9 điểm trên sông nhánh Kết quả đã tìm thấy được 68 loài động vật đáy thuộc 6 lớp: Oligochaeta, Polychaeta, Gastropoda, Bivalvia, Crustacea và Insecta Trong đó lớp Gastropoda
và Bivalvia có thành phần loài cao hơn các lớp khác lần lượt là 34 loài (50%) và 16 loài (24%) Không có sự khác biệt về thành phần loài động vật đáy giữa sông chính (53 loài) và sông nhánh (57 loài) Mật độ động vật đáy trung bình trên tuyến sông chính (78349 cá thể/m 2 ) thấp hơn so với các sông nhánh (93096 cá thể/m 2 ) Các loài thường gặp là Branchiura sowerbyi, Limnodrilus hoffmoisteri (Oligochaeta),
Trang 4Clea helena (Gastropoda), Corbicula fluminea (Bivalvia) Thành phần động vật đáy trên sông chính và sông nhánh ở mức tương đồng 0,7 Chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’) trung bình trên các sông chính (2,040,34) cao hơn so với tuyến sông nhánh (1,870,38) Nhìn chung, thành phần động vật đáy khá đa dạng và chúng có thể được xem là sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu
1 GIỚI THIỆU
Sông Hậu có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp cho Thành phố Cần Thơ Cần Thơ còn là trung tâm công nghiệp của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi có mật độ dân cư đông đúc, đã làm gia tăng một lượng lớn chất thải đổ vào các con sông Do đó chất thải là nguyên nhân dẫn đến chất lượng nước suy giảm, theo Hellawell (1968) (trích dẫn bởi Lê Công Quyền, 2009) chất thải hữu cơ đi vào trong nước đã làm giảm hàm lượng oxy hòa tan, gia tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong nước, làm thay đổi vật chất nền đáy gây nên sự thay đổi thành phần loài và sự phân bố của sinh vật trong quần xã sinh vật trong hệ thống sông ngòi Hiện nay, việc nghiên cứu và sử dụng các sinh vật để đánh giá, kiểm soát và cải thiện chất lượng môi trường đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới (Lê Văn
Khoa và ctv., 2007) Một trong những phương pháp đánh giá nhanh là quan trắc môi
trường thông qua nhóm sinh vật chỉ thị, nhóm sinh vật này phản ứng với toàn bộ tác
động của môi trường nước (Nguyễn Dương Thạo và ctv., 2007) Do đó trường hợp
đánh giá tác động của ô nhiễm nước từ chất thải sinh hoạt đến hệ sinh thái nước thì
nhóm động vật đáy thường được chọn (Lê Văn Khoa và ctv., 2007) Ngoài ra, động
vật đáy là nhóm sinh vật có vai trò quan trọng trong thủy vực như là mắc xích rất quan trọng trong mạng lưới thức ăn, có khả năng lọc sạch nước và làm sinh vật chỉ thị cho môi trường (Thái Trần Bái, 2010) Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thành phần loài động vật đáy trong quan trắc chất lượng nước trên tuyến sông Hậu thuộc Thành
phố Cần Thơ còn rất hạn chế Do đó đề tài “Thành phần động vật đáy (Zoobenthos)
trên sông Hậu thuộc ven bờ sông Thành phố Cần Thơ vào mùa khô” được thực
hiện nhằm xác định tính đa dạng thành phần loài động vật đáy để đánh giá nguồn thức ăn tự nhiên ở khu vực nghiên cứu; đồng thời cung cấp dữ liệu cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình quan trắc sinh học trên tuyến sông Hậu
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện gồm 2 đợt thu mẫu vào mùa khô với đợt 1 vào tháng 12/2013 và đợt 2 là tháng 3/2014 trên sông Hậu thuộc đoạn sông của Thành phố Cần Thơ Tổng cộng có 14 điểm thu mẫu bao gồm 5 điểm trên sông chính và 9 điểm trên sông nhánh (Bảng 1) Mẫu động vật đáy được thu bằng gàu đáy Pertersen có diện tích miệng gàu 0,03 m², trọng lượng 14kg Mỗi điểm thu 10 gàu theo mặt cắt ngang của sông, cách bờ 10-20 m đối với sông chính và 5-10 m đối với sông nhánh Sau khi thu, lọc sơ bộ mẫu qua sàng đáy có kích thước mắt lưới 0,5 mm để loại bỏ bớt bùn, rác, sau đó cho mẫu vào bọc nylon và cố định bằng formol với nồng độ 8-10%, sau
Trang 5đó mẫu được làm sạch bằng cách dùng pel gắp những cá thể động vật đáy có trong mẫu thu cho vào chai nhựa và trữ mẫu bằng cồn 90o
Tiến hành định danh tên các giống loài động vật đáy theo tài liệu đã được công bố của Bouchard (2004), Đặng
Ngọc Thanh và ctv (1980) và Sangpradub and Boonsoong (2006) Ngoài ra, nghiên
cứu còn tính toán chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’) (1963) và chỉ số tương đồng Sorensen (1948) để xác định tính đa dạng và sự tương đồng thành phần loài động vật đáy giữa khu vực khảo sát Số liệu được thống kê theo từng điểm thu và từng đợt thu mẫu bằng phần mềm Excel
Bảng 1: Các điểm thu mẫu của khu vực khảo sát
Sinh thái
sông
Điểm thu
Sông
chính
Thốt Nốt
Chịu ảnh hưởng nước thải sinh hoạt của cư dân hai bên bờ, buôn bán cây xăng, lò rượu và nhiều tàu bè qua lại
Ô Môn Có tàu lớn qua lại, ít nhà dân
Bình Thủy
Ảnh hưởng bởi nước và nhiều rác thải sinh hoạt của cư dân hai bên bờ sông, nhiều tàu bè và nhiều váng dầu trên mặt sông Trà Nóc
Thủy vực chịu ảnh hưởng từ khu công nghiệp và thủy sản, có nhiều tàu lớn qua lại
Ninh Kiều Ít chịu ảnh hưởng nước thải
Sông
nhánh
Bò Ót Có nhiều nhà dân ở hai bên bờ và nhiều lò sấy
K Thắng
Lợi 1
Dân cư hai bờ thưa thớt, chịu ảnh hưởng từ nước thải từ ao nuôi cá tra
K Thắng
Lợi 2 Có nhiều nhà dân, gần trường học, nhiều ghe lúa đậu ở ven sông và chịu ảnh hưởng từ khu thủy sản cá tra Thốt Nốt
Chịu ảnh hưởng nước thải sinh hoạt từ khu dân cư, có nhà máy gạo và nhiều tàu bè qua lại
NT Sông
Hậu 1
Có nhiều nhà dân và chịu ảnh hưởng bởi nước thải từ sản xuất nông nghiệp
NT Sông
Hậu 2
Ô Môn
Ảnh hưởng bởi nước thải sinh hoạt từ khu dân cư, rác trên sông nhiều Có công ty vật liệu xây dựng và cây xăng
Trà Nóc Chịu ảnh hưởng từ nước và rác thải sinh hoạt của khu dân cư Cái Răng
Thủy vực chịu ảnh hưởng nước thải sinh hoạt từ khu dân cư, hoạt động của xuồng ghe, cây xăng, nước đục phù sa
Hình 1: Bản đồ Thành Phố Cần Thơ
Trang 63 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần động vật đáy trên sông Hậu
Qua hai đợt thu mẫu, thành phần loài động vật đáy trên tuyến sông Hậu thuộc Thành phố Cần Thơ đã tìm thấy được tổng số 68 loài thuộc 6 lớp: giun ít tơ (Oligochaeta), giun nhiều tơ (Polychaeta), chân bụng (Gastropoda), hai mảnh vỏ (Bivalvia), giáp xác (Crustacea) và ấu trùng côn trùng (Insecta) Trong đó, Gastropoda đa dạng nhất
và chiếm ưu thế tại các khu vực khảo sát với 34 loài (50%); kế tiếp là Bivalvia có 16 loài (24%); các lớp còn lại có số lượng ít hơn dao động từ 2 đến 6 loài (3%-9%) (Hình 2)
Oligochaeta
6 loài, 9%
Insecta
5 loài 7%
Crustacea
5 loài, 7%
Polychaeta
2 loài 3%
Gastropoda
34 loài 50%
Bivalvia
16 loài
24%
Hình 2: Thành phần loài động vật đáy trên sông Hậu
Qua Hình 2 cho thấy kết quả của nghiên cứu này có thành phần loài động vật đáy (68 loài) cao hơn so với kết quả khảo sát thành phần loài động vật đáy trên tuyến sông hậu thuộc tỉnh An Giang và Thành Phố Cần Thơ của Nguyễn Thị Mai Thuy (2013), với 5 đợt khảo sát tìm thấy 38 loài động vật đáy thuộc 6 lớp, trong đó lớp Gastropoda
có số lượng loài nhiều nhất với 13 loài (33%), ít nhất là lớp polychaeta với 3 loài (8%) Điều này cho thấy ở khu vực khảo sát có thành phần loài động vật đáy thu được khá phong phú Lớp Gastropoda và Bivalvia có thành phần loài phong phú hơn
so với các lớp khác, do các thủy vực được khảo sát là thủy vực nước chảy, cấu trúc nền đáy mềm phần lớn là bùn-cát đến bùn nên thuận lợi cho chúng phát triển Theo
nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh và ctv., (2002) cấu trúc nền đáy có tác động đến
sự phân bố cũng như cấu trúc thành phần loài động vật không xương sống, các thủy vực nước nông, nền đáy mềm bùn-cát, cát-bùn thuận lợi cho sinh vật đáy phát triển Qua hai đợt thu mẫu, những loài động vật đáy có số lượng lớn và chiếm ưu thế như:
Branchiura sowerbyi, Limnodrilus hoffmeisteri, Tubifex sp (Oligochaeta); Namalycastis logiciris, Tylorhynchus heterochaetus (Polychaeta); Clea helena, Filopadulina sumatrensis (Gastropoda); Corbicula fluminea, Limnoperna fortunei
(Bivalvia)
Trang 73.2 Thành phần động vật đáy qua các đợt thu mẫu
Thành phần loài động vật đáy qua 2 đợt thu mẫu không có sự chênh lệch lớn, trong
đó thành phần loài đợt 1 (51 loài) thấp hơn đợt 2 (54 loài) Trong đó lớp Gastropoda
có thành phần loài cao nhất (21-26 loài) và lớp Bivalvia có thành phần loài cao thứ 2 (13-15 loài) Các lớp còn lại có số loài ít hơn, lớp Polychaeta là lớp có số loài ít nhất (2 loài) (Hình 3)
0
10
20
30
40
50
60
Hình 3: Cấu trúc thành phần loài động vật đáy qua hai đợt khảo sát
Sự biến động số loài giữa hai đợt chủ yếu là do sự phân bố của một số loài chỉ xuất
hiện trong đợt 1 mà không thấy xuất hiện trong đợt 2 như: Aulodrilus sp,,
Lumbrilculus sp (Oligochaeta); Angulyagra polyzonata, Bellamya quadrata, Bythiospeum clessini, Clea scalarina, Filopadulina martensi, Gyraulus convexiusculus, Melanoides turbeculata, Pomacea canaliculata (Gastropoda); Corbicula leviuscula (Bivalvia); Caridina sp (Crustacea); Ablabesmyia sp (Insecta)
Và ngược lại, số loài xuất hiện trong đợt 2 mà không có trong đợt 1 như: Bellamya
angularis, Brotia friniana, Gyraulus sp., Lymnae sp., Melanoides maculata, Morrisonietta siamensis, Oncomelania hupensis, Pomacea sp., Radix ovata, Sermyla venustula, Stenothyra moussoni, Volvarina sp., Wattebledia sp (Gastropoda); Anodonta sp., Corbicula moreletiana, Scabies sp (Bivalvia); Corophium sp
(Crustacea) Qua hai đợt khảo sát loài Limnodrilus hoffmeisteri và Branchiura
sowerbyi luôn xuất hiện ở hầu hết các điểm do chúng là loài có khả năng tồn tại trong
môi trường có hàm lượng vật chất hữu cơ cao và thích hợp với tất cả các loại nền đáy
ở thủy vực Ngoài ra, ấu trùng của lớp Insecta luôn có số loài rất thấp cũng được tìm thấy ở một số điểm thu mẫu do chúng chủ yếu phân bố tại các thủy vực có nhiều cây
cỏ thủy sinh và nước tĩnh như đồng ruộng, ao, hồ, đầm Ở các thủy vực đã bị nhiễm
bẩn nặng thành phần động vật đáy ấu trùng muỗi Chironomus sp chiếm ưu thế so với Oligochaeta Khi ở thủy vực bẩn vừa thì Oligochaeta và Chironomus sp thay
phiên nhau giữ vai trò ưu thế nhưng ở những thủy vực bẩn vừa loại α Oligochaeta
luôn chiếm ưu thế (Nguyễn Xuân Quýnh và ctv., 2004; trích dẫn bởi Nguyễn Thị
Mai Thuy, 2013)
3.3 Biến động thành phần và mật độ động vật đáy trên sông chính
Trang 8Thành phần loài động vật đáy trên tuyến sông Hậu tại các điểm thu mẫu dao động từ 11-21 loài Phần lớn các điểm thu mẫu đều có thành phần loài ở đợt 2 cao hơn so với đợt 1, tuy nhiên điểm thu tại sông Ô Môn thì ngược lại, riêng sông Bình Thủy có số loài (Hình 4) không thay đổi qua hai đợt khảo sát Mật độ động vật đáy tại các điểm thu mẫu dao động từ 160-2.543 cá thể/m2
Mật độ động vật đáy cao nhất là sông Trà Nóc (2.543 cá thể/m2) và thấp nhất sông Bình Thủy (160 cá thể/m2
) Mật độ cao tại sông Trà Nóc là do vào mùa khô hàm lượng dinh dưỡng trong môi trường nước tăng cao đồng thời sự tích tụ hàm lượng vật chất hữu cơ trên nền đáy cao, điều này thể hiện thông qua chỉ số TOM trung bình dao động 6,3-6,1 mg/g đã tạo điều kiện thuận lợi cho động vật đáy phát triển Mật độ động vật đáy tại các điểm thu mẫu trên tuyến sông chính được thể hiện ở Hình 5
0
5
10
15
20
25
Hình 4: Thành phần loài động vật đáy tại các điểm thu qua hai đợt khảo sát
trên tuyến sông chính
Tại các điểm thu mẫu bị ảnh hưởng bởi nước thải sinh hoạt như sông Thốt Nốt, sông
Ô Môn và Bình Thủy, trong đó sông Bình Thủy có thành phần loài động vật đáy kém
đa dạng hơn các điểm còn lại (14 loài) với mật độ biến động từ 160 đến 280 cá thể/m2
Điều này là do nền đáy tại thủy vực chủ yếu là bùn-cát và có nhiều váng dầu trên mặt nước từ tàu thuyền neo đậu thải ra và rất nhiều rác thải sinh hoạt tích tụ ở nền đáy và phân hủy yếm khí gây độc cho sinh vật nên hạn chế sự phát triển của các loài động vật đáy Điểm thu mẫu tại sông Ô Môn có thành phần loài biến động từ
14-17 loài (197-383 cá thể/m2) thấp hơn so với sông Thốt Nốt với 15-21 loài (627-1.327
cá thể/m²) có sự xuất hiện ưu thế của loài Limnodrilus hoffmeisteri (417 cá thể/m2
) cho thấy thủy vực bị ô nhiễm hữu cơ, mật độ động vật đáy ở Thốt Nốt tăng cao vào đợt 2 là do vào thời điểm này hàm lượng TOM đạt khá cao (7,56 mg/g) với nền đáy
là bùn cát thuận lợi cho động vật đáy phát triển
Sông Ninh Kiều cũng có số loài động vật đáy khá đa dạng từ 11-17 loài với mật độ biến động 213-273 cá thể/m², trong đợt 2 không thấy sự xuất hiện của Polychaeta, Crustacea và Insecta và số loài của Gastropoda tăng lên 10 loài chiếm ưu thế về mật
Trang 9độ 160 cá thể/m² Nền đáy tại thủy vực là bùn-cát TOM (4,12-4,24 mg/g) thích hợp cho Gastropoda và Bivalvia phát triển
Đối với điểm thu sông Trà Nóc, nơi chịu ảnh hưởng của nước thải công nghiệp có thành phần loài khá phong phú (17-18 loài) và mật độ đạt cao nhất trong số các điểm thu trên sông chính, hàm lượng TOM biến động 4,66-6,62 mg/g, nền đáy cát-bùn Trong đó, lớp Gastropoda có thành phần loài đa dạng và mật độ đạt khá cao và biến
động từ 1.410-1.733 cá thể/m² (55-95%) với sự ưu thế của loài Filopadudina
sumatrensis (980 cá thể/m2), ngoài ra mật độ của Oligochaeta cũng đạt khá cao vào
đợt 1 (1.100 cá thể/m²) với sự ưu thế của loài Limnodrilus hoffmeisteri (757 cá
thể/m2
) do điểm thu tiếp nhận lượng nước thải từ công ty chế biến thủy sản và các nhà máy sản xuất khác, lượng vật chất hữu cơ trong nước thải khi phân hủy đã tạo điều kiện thuận lợi cho lớp giun ít tơ phát triển Kết quả này cũng phù hợp với kết
quả nghiên cứu của Smiljkov et al (2005) (được trích bởi Mai Đức Long, 2011), đối
với nền đáy có cấu trúc là cát, cát-bùn, bùn-cát và bùn thì nhóm động vật thân mềm chiếm đa số Qua khảo sát thì Gastropoda xuất hiện với mật độ cao và Oligochaeta ở đợt 2 giảm chỉ còn 20 cá thể/m², cho thấy chất lượng nước và nền đáy của thủy vực đang được cải thiện, mặc dù vẫn trong tình trạng ô nhiễm
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
Hình 5: Mật độ động vật đáy trên tuyến sông chính tại các điểm thu
3.4 Biến động thành phần và mật độ động vật đáy trên các sông nhánh
Nhìn chung, thành phần loài động vật đáy phát hiện được ở hầu hết các điểm thu sông nhánh đều có đợt 2 cao hơn so với đợt 1, ngoại trừ điểm thu ở kênh Thắng Lợi
1 và sông Ô Môn, riêng điểm thu ở sông Thốt Nốt có số loài không thay đổi qua các đợt khảo sát Thành phần động vật đáy tại các điểm thu trên các sông nhánh dao động từ 10-25 loài Trong đó, lớp Gastropoda và Bivalvia có thành phần loài phong phú hơn các lớp khác ở hầu hết các điểm khảo sát (Hình 6) Mật độ động vật đáy trên các sông nhánh từ 260-2.679 cá thể/m2
ở đợt 1 và 270-1.977 cá thể/m2 ở đợt 2 Mật
độ động vật đáy trên các sông nhánh cao nhất ở kênh Thắng Lợi 1 với 2.679 cá
Trang 10và thấp nhất ở kênh Nông trường sông Hậu 2 với 260 cá thể/m2 Mật độ động vật đáy tại các điểm thu mẫu được thể hiện ở Hình 7
0
5
10
15
20
25
30
Bò Ót Thắng Lợi
1
Thắng Lợi 2
NT sông Hậu (1)
NT sông Hậu (2)
Thốt Nốt Ô Môn Trà Nóc Cái Răng
Oligochaeta Polychaeta Gastropoda Bivalvia Crustacea Insecta
Hình 6: Thành phần loài động vật đáy trên sông nhánh tại các điểm thu
Các điểm chịu ảnh hưởng bởi nguồn nước thải sinh hoạt như Thốt Nốt, Ô Môn, Trà Nóc và Cái Răng có thành phần loài dao động từ 10-18 loài với mật độ trung bình 384-1.092 cá thể/m2 Trong đó, sông Thốt Nốt có thành phần loài khá đa dạng từ 18 loài, mật độ qua 2 đợt khảo sát khá cao từ 787-1.397 cá thể/m2
Do đây là thủy vực bị ảnh hưởng bởi nguồn nước thải sinh hoạt và rác thải ven bờ, hàm lượng TOM 6,2-5,37 mg/g và nền đáy là bùn-cát, cát-bùn nên tạo điều kiện thuận lợi cho sinh vật đáy phát triển Tại sông Cái Răng có thành phần loài dao động 10-11 loài với mật độ 537-679 cá thể/m2 và nền đáy chủ yếu là bùn nên thích hợp cho sự phát triển với các
loài Branchiura sowerbyi (83 cá thể/m²), Limnodrilus hoffmeisteri (337 cá thể/m²) thuộc lớp Oligochaeta; Namalycastis logiciris (33 cá thể/m2
) và Tylorhynchus
heterochaetus (200 cá thể/m2) thuộc lớp Polychaeta Do chịu ảnh hưởng bởi nguồn nước thải hữu cơ từ khu dân cư sinh sống ven sông và chợ nổi trên sông đã tác động đến chất lượng nguồn nước gây ô nhiễm hữu cơ cho thủy vực Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Văn Thọ và Đỗ Thị Bích Lộc (2009), vào mùa khô giun nhiều
tơ Namalycastis logiciris phát triển mạnh và chiếm ưu thế ở khu vực có nền đáy bùn
nhuyễn màu đen, mùi hôi với nhiều xác bã hữu cơ nơi hợp lưu của rạch và sông Điểm thu tại nhánh sông Ô Môn có thành phần loài và mật độ dao động (17-16 loài, 714-667 cá thể/m²) cho thấy thành phần loài, mật độ của Ô Môn dao động không
đáng kể, trong đợt 2 xuất hiện loài Tubifex sp (Oligochaeta) với mật độ khá cao so
với các điểm khác và là một trong hai loài chiếm ưu thế tại điểm thu này Theo
Dương Trí Dũng và ctv (2008), giun ít tơ thuộc họ Tubificidae luôn xuất hiện trên
các điểm khảo sát đã chứng tỏ sự ô nhiễm của môi trường nước Đối với sông Trà Nóc có số loài và mật độ tăng lên 11-13 loài, 347-420 cá thể/m², trong đó mật độ của Gastropoda và Bivalvia chiếm ưu thế, chứng tỏ mức độ ô nhiễm hữu cơ có xu hướng giảm đi vào đợt 2
Điểm thu tại sông Bò Ót có thành phần loài động vật đáy dao động từ 19-25 loài với mật độ 1.170-1.159 cá thể/m2
, hàm lượng TOM cũng khá cao và biến động từ 5,14-5,5 mg/g với tính chất nền đáy là sét-bùn, sét-cát-bùn là điều kiện thuận lợi cho các