1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giai đoạn nuôi thịt (pila polita)

14 488 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 455,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ KHÁC NHAU ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ỐC BƯƠU ĐỒNG GIAI ĐOẠN NUÔI THỊT PILA POLITA Trần Thanh Sĩ, Lê Văn Bình và Ngô Thị Thu Thảo Bộ môn kỹ thuật

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

TRẦN THANH SĨ

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ KHÁC NHAU ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ỐC BƯƠU ĐỒNG GIAI ĐOẠN NUÔI THỊT (PILA POLITA)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

TRẦN THANH SĨ

ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ỐC BƯƠU ĐỒNG GIAI ĐOẠN NUÔI THỊT (PILA POLITA)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs.Ts NGÔ THỊ THU THẢO

2014

Trang 3

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ KHÁC NHAU ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ỐC BƯƠU ĐỒNG GIAI ĐOẠN

NUÔI THỊT (PILA POLITA)

Trần Thanh Sĩ, Lê Văn Bình và Ngô Thị Thu Thảo

Bộ môn kỹ thuật nuôi Hải sản, Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ

This study was conducted in 2 months to evaluate the effects of different substrates

on the growth and survival rate of black apple snail, snail Pila polita The experiment was arranged with three different substrates as followed: water hyacinth (LB), nylon bunches (NL) and the control (without substrates, DC) with three replicates for each treatment Juvenile snails with initial weight of 0.74 g were released into each tank (250L) at the stocking density of 100 snails per tank After 60 days, survival rate of snails were not significant difference among treatments (P> 0.05) However, growth rate of snails in term of total weight and shell height (0.08 g/day and 0.31 mm/day) in water hyacinth substrate were higher than other treatments (P<0.05)

Keywords: Black apple snail, Pila polita, growth, survival, substrates

Tittle: Effects of different substrates on the growth and survival rate of black apple snail Pila polita during grow out period

TÓM TẮT

Đề tài này được thực hiện trong 2 tháng nhằm đánh giá ảnh hưởng của các giá thể đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng (Pila polita) giai đoạn nuôi thịt Thí nghiệm được bố trí với 3 loại giá thể khác nhau là: cây lục bình (LB), chùm nilon (NL) và không có giá thể (ĐC) với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức Số lượng ốc được thả vào mỗi bể (250 L) là 100 con với khối lượng ban đầu là 0,74 g/con Sau 60 ngày nuôi, tỷ lệ sống của ốc bươu đồng không khác biệt giữa các nghiệm thức (P>0,05) Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng về khối lượng và chiều cao (0,08 g/ngày và 0,31 mm/ngày) của nghiệm thức giá thể lục bình đều cao hơn các nghiệm thức khác (P<0,05)

Từ khóa: Ốc bươu đồng, Pila polita, sinh trưởng, tỷ lệ sống, giá thể

1 GIỚI THIỆU

Ốc bươu đồng thường phân bố ở các ao, hồ, kênh rạch hay nước tù đọng trong đầm lầy, mương, đồng ruộng Việt Nam là nước có các điều kiện

tự nhiên phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của ốc bươu đồng Đây là loài có giá trị kinh tế cao do chất lượng thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng và còn được dùng để làm thuốc Vì thế, nhu cầu của thị trường ngày càng tăng lên không ngừng dẫn đến khai thác quá nhiều làm suy kiệt nguồn giống tự

Trang 4

nhiên, trong khi đó các nghiêm cứu về kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm ở Việt Nam và cũng như thế giới là không nhiều Với sự xuất hiện của

ốc bươu vàng ở Việt Nam (do du nhập từ nước ngoài) càng làm cho nơi sống

và thức ăn của ốc bươu đồng bị cạnh tranh mạnh (nơi nào có ốc bươu vàng thì

ốc bươu đồng không xuất hiện) Trước tình hình đó, việc thử nghiệm nuôi thương phẩm ốc bươu đồng là vấn đề rất cần thiết và cấp bách nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, giảm áp lực khai thác, bảo vệ và phục hồi nguồn lợi ốc

tự nhiên (ốc bản địa) cũng như đa dạng hóa đối tượng nuôi trong nghề nuôi trồng thủy sản Bên cạnh việc xác định loại thức ăn, mật độ, mực nước trong nuôi thương phẩm thì giá thể cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng Hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về giá thể trong nuôi thương phẩm

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Dụng cụ: cân 2 số lẻ Satorius, thước đo, nhiệt độ kế, bộ test kiểm tra các yếu tố (NO2

-, NH4 +

/NH3, pH và kiềm)

Trang thiết bị: Bể nhựa xanh 1 m3 trữ nước, bể nhựa xanh 500 L nuôi

ốc, giá thể (dây nylon, cây lục bình), hệ thống sục khí (máy thổi khí, ống dẫn khí, van điều chỉnh, đá bọt), hệ thống bơm nước (máy bơm, ống dẫn nước, ổ cắm điện), lưới lọc 50 µm, xô nhựa, rổ và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ cho công tác nghiên cứu

Nguồn nước sử dụng là nước ngọt Nước được bơm lên bể chứa 1 m3

và để lắng trong 5-7 ngày và bơm qua túi lọc (50 µm) vào bể nuôi

Thức ăn dùng trong thí nghiệm là thức ăn công nghiệp dạng nổi được mua ngoài thị trường có độ đạm là 18% (thức ăn cho cá có vẩy)

Chuẩn bị các loại giá thể để tiến hành nghiên cứu như: lục bình, dây nilon

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Bể nuôi: Tổng cộng có 9 bể composite, thể tích của mỗi bể là 500 lít, bể được vệ sinh bằng Chlorine để diệt khuẩn Mực nước trong bể nuôi được duy trì khoảng 40 cm (250 lít), có sục khí duy trì liên tục và mật độ ốc thả nuôi là

100 con/bể Ốc giống có kích cỡ trung bình: chiều cao (14,65 mm), chiều rộng (10,65 mm) và khối lượng (0,74 g) Nước trong bể nuôi được định kỳ thay mới (70-80%) sau mỗi 10 ngày, riêng đối với giá thể lục bình thì khi thay nước đồng thời cũng thay lục bình mới Thời gian nuôi ốc là 60 ngày

Trang 5

Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức giá thể khác nhau, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Các loại giá thể khác nhau được bố trí như sau:

Nghiệm thức 1 (NT1): Cây lục bình Nghiệm thức 2 (NT2): Chùm dây nylon Nghiệm thức 3 (NT3): Không có giá thể Giá thể của các nghiệm thức được chuẩn bị trước khi tiến hành thí nghiệm như: với giá thể lục bình thì sử dụng cây còn sống, để nguyên cây, chọn cây non có chiều dài 9-10 cm, mỗi nghiệm thức của NT1 sử dụng 4-6 cây lục bình, còn đối với dây nylon thì sử dụng dây nylon đen ngâm trong môi trường nước ngọt khoảng 2-3 ngày rồi rửa sạch và phơi khô, sau đó xé nhuyễn, chiều dài dây nylon 30 cm, bó thành từng chùm, mỗi nghiệm thức của NT2 sử dụng 3-5 chùm

Thức ăn và chế độ cho ăn: cho ốc ăn 2 lần/ngày vào 7 giờ sáng và 17 giờ chiều Khẩu phần ăn tương đương 1,5-3% trọng lượng ốc trong bể nuôi và lượng thức ăn được điều chỉnh theo khối lượng ốc nuôi sau mỗi lần cân thu mẫu theo dõi sinh trưởng

2.2.2 Thu thập và xử lý số liệu

Chiều cao (L), chiều rộng (R) và khối lượng cá thể ốc (Wt) được xác định 10 ngày/lần nhằm đánh giá sự tăng trưởng về kích thước và khối lượng của ốc nuôi Đồng thời xác định sinh khối ốc trong bể để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp

Tốc độ tăng trưởng khối lượng tương đối (SGR) và tuyệt đối (DWG) Tốc độ tăng trưởng chiều cao tương đối (SGR) và tuyệt đối (DWG) Tốc độ tăng trưởng chiều rộng tuyệt đối (SGR) và tuyệt đối (DWG)

Tỷ lệ tăng sinh khối (%)

Tỷ lệ sống (%)

Năng suất (g/m3)

Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)

Tỷ lệ phân hóa sinh trưởng theo chiều cao và khối lượng

Các yếu tố môi trường được theo dõi trong quá trình thí nghiệm: nhiệt

độ (dùng nhiệt kế đo 2 lần/ngày vào 7 giờ 30 và 13 giờ 30), pH, hàm lượng

NH4+/NH3, NO2-, độ kiềm (dùng các bộ test SERA để xác định 10 ngày/lần)

Sử dụng phần mềm Excel để tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn

và vẽ đồ thị

Trang 6

Phân tích ANOVA một nhân tố trong phần mềm SPSS được sử dụng để

so sánh giá trị trung bình của các nghiệm thức ở mức P<0,05 bằng phép so sánh Duncan

3 KẾT QUẢ

3.1 Các yếu tố môi trường

Nhiệt độ trung bình buổi sáng (27oC), nhiệt độ buổi chiều (29,5oC) Nhiệt độ thích hợp cho ốc bươu đồng 20-32oC, khi nhiệt độ xuống dưới 15oC hay trên 40oC thì ốc sẽ chuyển sang trú đông (Lum Kong et al., 1989) Đối

tượng thủy sản sinh trưởng tốt ở 25-30oC (Boyd, 1998) Do thời gian thí nghiệm là vào đầu mùa mưa nên chỉ có vài đợt mưa lớn, chủ yếu rơi vào cuối chu kỳ nuôi nên không ảnh hưởng nhiều tới các kết quả của nghiệm thức Tuy nhiên theo quan sát, khi xuất hiện những cơn mưa đầu mùa thì hầu hết ốc chuyển xuống tầng đáy nhưng khi hết mưa thì lên tầng mặt rất nhiều Ốc ăn rất

ít, quan sát thấy có một số con chết vào những ngày sau mưa

Bảng 1: Trung bình nhiệt độ ( o C) trong các nghiệm thức thí nghiệm

Chỉ tiêu Lục bình Nilon Đối chứng

Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Theo Nguyễn Thị Diệu Linh (2011), có thể nuôi thương phẩm ốc bươu đồng ở pH 7,1-8,4 Còn theo Nguyễn Đình Trung (1998), đồng vật thân mềm

có vỏ đá vôi không phân bố ở vùng nước có pH<7 Khoảng biến động của pH trong thời gian thí nghiệm từ 7,5-8,5 là phù hợp cho sinh trưởng của ốc

Theo Nguyễn Đình Trung (1998) nồng độ nitrite cho phép trong ao nuôi từ 0,5-1,7 mg/L Kết quả nghiên cứu nuôi ốc bươu đồng của Nguyễn Thị Đạt (2010) thì hàm lượng NO2

dao động 0,3-1 mg/L Từ những nhận định trên thì độ kiềm, hàm lượng NH4+/NH3 và NO2- trong thời gian thí nghiệm không gây bất lợi cho ốc bươu đồng

Bảng 2: Trung bình pH, độ kiềm, NO 2

-, NH 4 +

/NH 3 trong các nghiệm thức thí nghiệm

Chỉ tiêu Lục bình Nilon Đối chứng

Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Trang 7

3.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao, chiều rộng và khối lượng của ốc bươu đồng theo thời gian

3.2.1 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều cao, chiều rộng và khối lượng

Ốc bươu đồng nghiệm thức sử dụng lục bình làm giá thể có tốc độ tăng trưởng chiều cao cao nhất (0,31 mm/ngày), kế đến là nilon (0,23 mm/ngày) và nghiệm thức không có giá thể là thấp nhất (0,19 mm/ngày) Kết quả nghiên cứu ương ốc bươu đồng của Nguyễn Thị Bình (2011), cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều cao tuyệt đối đạt 0,22-0,32 mm/ngày khi ương trong bể và 0,24-0,44 mm/ngày khi ương trong giai So với kết quả nghiên cứu trên thì chỉ có nghiệm thức lục bình là cho kết quả khá tốt còn 2 nghiệm thức còn lại cho kết quả tương đối thấp

Tốc độ tăng trưởng về chiều rộng của ốc bươu đồng cũng khá giống với chiều cao, khi lục bình vẫn cho thấy sự vượt trội (0,2 mm/ngày), kế đến là nilon (0,16 mm/ngày) và cuối cùng là đối chứng (0,13 mm/ngày) Chiều rộng của ốc bươu đồng khi bố trí thí nghiệm từ 10,55-10,78 mm, sau 60 ngày nuôi chiều rộng của ốc bươu đồng ở lục bình đạt 22,81 mm, nilon đạt 20,42 mm và đối chứng là 19,24 mm

Khối lượng trung bình ốc giống khi bố trí dao động ở 0,73-0,75g và sau

60 ngày nuôi ốc đạt 4,85-7,53g Kết quả thu được sau khi thu hoạch ốc bươu đồng ở lục bình có tốc độ tăng trưởng cao nhất (0,08 g/ngày) và thấp nhất là nghiệm thức đối chứng (0,04g) Các kết quả phân tích cho thấy sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê (P<0,05) về tốc độ tăng trưởng của ốc nuôi bằng giá thể lục bình so với chùm nilon hoặc không có giá thể (Bảng 3)

Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều cao, chiều rộng và khối lượng

Chỉ tiêu Lục bình Nilon Đối chứng

Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

3.2.2 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều cao, chiều rộng và khối lượng

Trong chu kỳ nuôi, tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều cao của nghiệm thức lục bình tăng cao ở giai đoạn đầu của chu kỳ nuôi (2,01 %/ngày), sau đó giảm dần đến cuối chu kỳ (1,63-1,33%/ngày) Ở các nghiệm thức Nilon

và đối chứng thì tốc độ tăng trưởng khá ổn định Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Đạt (2010), tốc độ tăng trưởng đặc biệt về chiều rộng từ 2,36-2,55

%/ngày và chiều cao là từ 1,99-2,20 %/ngày So với nghiên cứu của Nguyễn

Trang 8

Thị Đạt (2010) thì tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều cao của thí nghiệm tương đối thấp hơn

Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều cao (%/ngày)

Ngày nuôi Lục bình Nilon Đối chứng

Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Có thể nhận thấy rằng lục bình có tốc độ tăng trưởng vượt trội hơn ngay từ giai đoạn 10 ngày đầu so các nghiệm thức còn lại, tuy sau đó có giảm

đi ở giai đoạn cuối nhưng do ốc đã đạt kích cỡ trưởng thành nên tốc độ tăng trưởng chậm lại So với kết quả của Nguyễn Thị Đạt thì tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều rộng của nghiệm thức này thấp hơn nhiều do thời gian nuôi ngắn (60 so với 120 ngày)

Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều rộng (%/ngày)

Ngày nuôi Lục bình Nilon Đối chứng

Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Tốc độ tăng trưởng khối lượng của ốc ở lục bình tăng cao nhất ở giai đoạn 10 ngày đầu (5,28 %/ngày) và giảm dần một cách ổn định cho đến hết chu kỳ nuôi Còn ở nilon và đối chứng thì khá bất thường khi tăng khi giảm và luôn tăng trưởng ở mức thấp so với nghiệm thức lục bình (Bảng 6)

Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng (%/ngày)

Ngày nuôi Lục bình Nilon Đối chứng

Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Trang 9

Kết quả phân tích ANOVA một nhân tố ở 2 chỉ tiêu chiều rộng và khối lượng cho thấy nghiệm thức nilon và đối chứng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) khi sử dụng giá thể lục bình

Bảng 7: Chiều cao, chiều rộng và khối lượng của ốc bươu đồng qua các thời kỳ

Ngày nuôi Lục bình Nilon Đối chứng Ban đầu

Ngày 30

Ngày 60

Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Qua bảng 7, có thể thấy rằng 2 nghiệm thức nilon và đối chứng thấp hơn rất nhiều so lục bình Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do: ở nilon thì chỉ tạo điều kiện cho ốc lẫn tránh ánh sáng vào ban ngày nhưng lại gây cản trở cho sự di chuyễn của ốc, còn ở đối chứng thì do không có giá thể để đeo bám nên phải sống lơ lững trên mặt nước vừa tốn năng lượng vừa khó khăn trong việc di chuyển đến nơi có thức ăn Ngoài ra, ở nghiệm thức lục bình do

đó là giá thể sống nên vẫn thực hiện được các chức năng của một thực vật thủy sinh là giúp làm lắng lọc các vật chất hữu cơ lơ lững trong nước góp phần giúp cải thiện chất lượng nước trong bể, giá thể lục bình còn là thức ăn bổ sung cho

ốc (rể, thân, là)

Trang 10

3.3 Tỷ lệ sống, tỷ lệ tăng sinh khối, năng suất và hệ số tiêu tốn thức ăn của

ốc bươu đồng

3.3.1 Tỷ lệ sống

Sau 2 tháng nuôi, tỷ lệ sống trung bình của ốc bươu đồng đạt cao nhất ở đối chứng (90%), kế đến là lục bình (87,67%) và thấp nhất ở nilon (86,33%) Tuy nhiên giá trị của các nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Hình 2 Tỷ lệ sống của ốc bươu đồng

Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Bình và ctv (2014), sau 35 ngày ương cho tỷ lệ sống 93,3-94,4% Theo Nguyễn Thị Bình (2011) thì sau 28 ngày ương thì tỷ lệ sống của ốc bươu đồng 88,1% (ương trong giai) và 90,9% (ương trong bể) Theo nghiên cứu ảnh hưởng thức ăn và mật độ nuôi ốc bươu đồng thương phẩm của Nguyễn Thị Diệu Linh (2011) thì tỷ lệ sống đạt từ 72-78% Nếu so sánh với các kết quả trên thì dễ thấy rằng tỷ lệ sống của ốc bươu đồng trong nuôi thương phẩm sẽ thấp hơn khi ương giống Kết quả thí nghiệm này cho thấy tỷ lệ sống khá tương đồng với các nghiên cứu trên và luôn duy trì ổn định trong suốt chu kỳ nuôi

Ở giai đoạn cuối của chu kỳ nuôi, ốc bươu đồng ở các nghiệm thức chết nhiều Ngoài nguyên nhân do môi trường đã được nêu ở phần 3.1 (các yếu tố môi trường), thì còn một nguyên nhân nữa là do nguồn nước (ao số 2) bị ô nhiễm làm ảnh hưởng đến ốc

3.3.2 Tỷ lệ tăng sinh khối

Sau 2 tháng nuôi, tỷ lệ tăng sinh khối của nghiệm thức sử dụng lục bình làm giá thể là cao nhất (802%), kế đến là nilon (527%) và cuối cùng là đối chứng (494%) (Bảng 8) Theo nghiên cứu của Lê Văn Bình và ctv (2014), thì

trung bình tỷ lệ tăng sinh khối (363-893%)

Ngày đăng: 16/09/2015, 12:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Trung bình pH, độ kiềm, NO 2 - ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giai đoạn nuôi thịt (pila polita)
Bảng 2 Trung bình pH, độ kiềm, NO 2 (Trang 6)
Bảng 1: Trung bình nhiệt độ ( o C) trong các nghiệm thức thí nghiệm - ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giai đoạn nuôi thịt (pila polita)
Bảng 1 Trung bình nhiệt độ ( o C) trong các nghiệm thức thí nghiệm (Trang 6)
Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng (%/ngày) - ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giai đoạn nuôi thịt (pila polita)
Bảng 6 Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng (%/ngày) (Trang 8)
Hình 2. Tỷ lệ sống của ốc bươu đồng - ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giai đoạn nuôi thịt (pila polita)
Hình 2. Tỷ lệ sống của ốc bươu đồng (Trang 10)
Bảng 8: Tỷ lệ sống, tỷ lệ tăng sinh khối, năng suất và hệ số thức ăn - ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giai đoạn nuôi thịt (pila polita)
Bảng 8 Tỷ lệ sống, tỷ lệ tăng sinh khối, năng suất và hệ số thức ăn (Trang 11)
Hình 4. Biểu đồ tỷ lệ phân đàn theo chiều cao - ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giai đoạn nuôi thịt (pila polita)
Hình 4. Biểu đồ tỷ lệ phân đàn theo chiều cao (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm