TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH SẢN XUẤT GIỐNG CUA BIỂN Scylla paramamosain Ở MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH SẢN XUẤT
GIỐNG CUA BIỂN (Scylla paramamosain) Ở MỘT SỐ TỈNH
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Cần Thơ, 12/ 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH SẢN XUẤT
GIỐNG CUA BIỂN (Scylla paramamosain) Ở MỘT SỐ TỈNH
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Cán bộ hướng dẫn:
PGs, Ts TRẦN NGỌC HẢI Ths TRẦN MINH NHỨT
Cần Thơ, 12/ 2014
Trang 3HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH SẢN XUẤT GIỐNG
CUA BIỂN (Scylla paramamosain) Ở MỘT SỐ TỈNH ĐỔNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Liêu Bình Nhưỡng Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ
ABSTRACT
Through the survey on technical and financial aspects of 25 mud crab hatcheries
in three provinces Bac Lieu, Ca Mau, Kien Giang using prepared forms, the results showed that, most of mud crab hatcheries are from the shrimp hatcheries are now completely used for mud crab seed production or alternatively used for mud crab and shrimp production All hatcheries apply the open-clear water system During nursing period, Artermia and commercial feed are used to feed to larvae without using rotifers The average production was 5,55 ± 10,31 million inds/hatchery/year The average profit was 1921,96 ± 4009,55 million VND/hatchery/year This result indicate that mud crab farming sector is very active and important in supplying seeds for mud crap farming of Mekong Delta generally and three provinces (Bac Lieu, Ca Mau, Kien Giang) particularly
Keywords: Mud crab, mud crab hatchery, technical aspects, financial aspects
Title: Technical and financial aspects of mud crab hatcheries in the Mekong Delta
TÓM TẮT
Qua khảo sát các khía cạnh kỹ thuật và hiệu quả sản xuất của 25 trại sản xuất giống cua biển ở 3 tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau bằng biểu mẫu soạn sẵn, kết quả cho thấy, phần lớn các trại là trại sản xuất tôm trước đây, nay chuyển sang sản xuất cua hoàn toàn hoặc sản xuất luân phiên theo mùa vụ Các
trại đều áp dụng quy trình nước trong hở, chỉ sử dụng Artermia và thức ăn nhân
tạo cho ương nuôi ấu trùng mà không sử dụng luân trùng Sản lượng trung bình mỗi trại đạt 5,55 ± 10,31 triệu giống/trại/năm, đạt lợi nhuận 1921,96 ± 4009,55 triệu đồng/trại/năm Kết quả này cho thấy nghề sản xuất giống cua biển hiện rất năng động, cung cấp số lượng con giống đáng kể góp phần quan trọng vào phát triển nghề nuôi cua ở 3 tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau nói riêng và ĐBSCL nói chung
I GIỚI THIỆU
Trang 4Cua biển thuộc giống Scylla ở nước ta có 2 loài là S paramamosain (cua sen) và S olivacea (cua lửa) (Keenan, 1999; Macintosh et al., 2002) Đây là
những đối tượng giáp xác quan trọng trong nuôi trồng thủy sản ở các nước vùng
Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương và ở nước ta Trong sản xuất giống cua biển, thành công đầu tiên trong ương nuôi và xác định các giai đoạn ấu trùng cua biển được thực hiện bởi Ong Kah Sin năm 1964 (Ong, 1964) Hiện nay, nhiều quốc gia cũng đã đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển sản xuất giống cua biển đại trà,
cung cấp cho nghề nuôi
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu trước đây về sản xuất giống từ những năm 1995 đến nay (Tran Ngoc Hai, 1997; Nguyễn Cơ Thạch, 2004; Truong Trong Nghia, 2007) Hiện nay, nghề sản xuất giống và nuôi cua thương phẩm phát triển khá nhanh ở nước ta, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL Theo kết quả điều tra Chi cục nuôi trồng Thủy sản 3 tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau (năm 2014) thì hiện nay có khoảng 296 trại sản xuất giống cua biển Tuy nhiên, nghề này vẫn còn phải đòi hỏi nhiều kỹ thuật đối với người sản xuất Nhằm làm cơ sở đánh giá và phát triển nghề sản xuất giống cua ở ĐBSCL, thông qua việc điều tra khảo sát các trại giống, đề tài “hiện trạng kỹ thuật và tài chính
sản xuất giống cua biển (Scylla paramamosain) ở một số tỉnh ĐBSCL” sẽ phân
tích hiện trạng về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của các trại sản xuất giống cua biển
ở ĐBSCL
Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 09/2014 đến tháng 12/2014 thông qua phiếu phỏng vấn khảo sát 25 trại sản xuất giống cua biển ở các tỉnh Kiên Giang (n=10), Bạc Liêu (n=5), Cà Mau (n=10) theo biểu mẫu Nội dung chủ yếu của biểu mẫu phỏng vấn gồm các vấn đề về kỹ thuật như thiết kế trại, phương pháp nuôi vỗ cua mẹ, phương pháp ương nuôi ấu trùng và cua con; các vấn đề về hiệu quả kinh tế của sản xuất giống như sản lượng cua sản xuất, thu nhập, chi phí
và lợi nhuận Ngoài ra, thông tin chung về tình hình sản xuất giống cua cũng được thu thập từ các Chi cục Thủy sản các tỉnh, liên quan đến số lượng trại sản xuất cua, sản xuất tôm, tổng sản lượng cua giống Các số liệu thu thập sẽ được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, dựa
Trang 5III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Thông tin chung về tình hình sản xuất cua
Nghề sản xuất cua giống đã hình thành từ nhiều năm nay Hiện nay, qua kết quả điều tra 3 tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang có gần 300 trại sản xuất giống cua biển với khoảng 132000 m3 bể ương (Chi cục Thủy sản Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, 2014) Số lượng trại tăng hơn so với những năm trước đây nhằm đáp ứng nhu cầu con giống cho nghề nuôi Tổng sản lượng cua biển sản xuất từ 3 tỉnh đạt gần 860000 con/năm
Bảng 1: Thông tin chung về tình hình sản xuất giống
Tỉnh Kiên Giang
(n=10)
Bạc Liêu (n=5)
Cà Mau (n=10) Thông tin
Số đợt sản xuất trong 1 năm (đợt) 7,4 ± 3,72 7,2 ± 1,30 7,6 ± 4,93 Tổng sản lượng cua giống (triệu con) 59,2 100 700
2 Kết cấu của các trại sản xuất giống cua biển
Nhìn chung, kết cấu trại sản xuất giống cua biển của 3 tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau cũng không quá đặc thù Qua kết quả điều tra, tất cả các trại sản xuất giống cua biển đều sử dụng bể composite hình tròn để ương zoae và các
bể xi măng hình vuông với thể tích lớn để ương megalopa, cua con Kích cỡ trung bình của các bể ương trong khoảng 1 - 8 m3 Các trại sử dụng bể nuôi cua
mẹ và nuôi cua mang trứng đơn giản chỉ là xô nhựa khoảng 10 - 60 lít Đối với bể ương, các trại sản xuất giống cua biển có quy mô trong khoảng 116,31 - 147,64
m3, có trại lên đến 525 m3/trại Theo kết quả điều tra của Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009) ở Cà Mau các trại có quy mô trong khoảng 89,77 - 99,26 m3, cao nhất 240 m3/trại cho thấy quy mô sản xuất của các trại ở ĐBSCL
đã có xu hướng mở rộng rất nhiều
Trang 6Bảng 2: Kết cấu trại sản xuất giống cua biển ở Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau
Đặc điểm các bể
Thấp nhất
Cao nhất
Trung bình (n=25)
Bể nuôi vỗ
cua:
Tổng thể tích (m3/trại) 0,18 4,5 1,14 ± 1,11 Thể tích mỗi bể (lít/bể) 12 60 4 ± 1,00
Bể cua ôm
trứng:
Tổng thể tích (m3/trại) 0,18 64 4,67 ± 14,09 Thể tích mỗi bể (m3/bể) 0,012 2 0,22 ± 0,54
Bể ương
Zoae:
Tổng thể tích bể ương (m3/trại) 39 525 147,64 ± 133,64 Thể tích mỗi bể (m3/bể) 1 8 3,40 ± 2,21
Bể ương
Megalopa:
Tổng thể tích bể ương (m3/trại) 15 500 123,80 ± 112,04 Thể tích mỗi bể (m3/bể) 1 8 3,60 ± 2,10
Bể ương
cua con:
Tổng thể tích bể ương (m3/trại) 8 500 116,31 ± 116,99 Thể tích mỗi bể (m3/bể) 1 8 4,37 ± 1,79
3 Nuôi vỗ cua mẹ
Kết quả khảo sát về kỹ thuật chọn nuôi cua mẹ và cua mang trứng được trình bày ở bảng 3 Nhìn chung, cua mẹ được chọn nuôi vỗ có kích cỡ khá lớn, trung bình 500 ± 57,28 gam/con, hầu hết các trại sản xuất giống cua biển của 3 tỉnh đều chọn cua mẹ từ huyện Năm Căn của Cà Mau và vùng ven biển Bạc Liêu kéo dài đến thị trấn Gành Hào Kết quả cho thấy các trại sử dụng bể nuôi 10 - 60 lít, để phòng tính lây truyền, nhiễm bệnh các trại đều có xu hướng thả nuôi từng con cua mẹ trong một bể riêng nhưng kết quả sinh sản ấu trùng vẫn tốt
Trong quá trình nuôi vỗ, cua được cho ăn chủ yếu là thịt nhuyễn thể như
sò huyết, nghêu, vọp, mực, hào, tôm, ốc mượn hồn với tỷ lệ cho ăn theo nhu cầu Thay nước hàng ngày với tỷ lệ 30 - 100% lượng nước trong bể Nước nuôi có độ mặn trung bình 26 - 30%o và nhiệt độ 27 – 32,50C Tất cả các trại (100% số trại) đều không che tối bể trong quá trình nuôi vỗ Trung bình 7 - 18 ngày cua cái sẽ
đẻ Thời gian mang trứng của cua là 10 - 12 ngày, trung bình là 11 ngày sau khi
ấp, trứng sẽ nở Kết quả phân tích ảnh hưởng của kích cỡ cua mẹ đến thời gian
Trang 7nuôi vỗ cho thấy cua có kích cỡ cua lớn thường chậm đẻ trứng hơn, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Trong quá trình khảo sát đã có 20% số trại sản xuất giống cua không nuôi
vỗ cua mẹ, các trại này mua cua mẹ đã ôm trứng sẵn tại các nhà phân phối Nhìn chung, phương pháp và kết quả nuôi vỗ cua mẹ ở 3 tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và
Cà Mau là khá ổn định Các nơi trên thế giới cũng có phương pháp nuôi đa dạng gồm nuôi riêng lẻ từng con trong bể nhỏ (Tran Ngoc Hai, 1997; Truong Trong Nghia 2007;) hay nuôi chung nhiều con trong bể lớn; loại bỏ 1 mắt hay 2 mắt (Tran Ngoc Hai 1997) Theo nghiên cứu gần đây cho thấy cua mẹ có trọng lượng
300 - 500 gam được chọn để tham gia sinh sản nhiều hơn với sản lượng đạt 217,186 ± 67,430 con/cua mẹ, tỷ lệ sống của ấu trùng từ Z1 đến C1 đạt khá cao 6,41 ± 1,72%, (Lâm Tâm Nguyên, 2010)
Bảng 3: Thông tin kỹ thuật nuôi vỗ cua mẹ và cua mang trứng
Đặc điểm kỹ thuật
Thấp nhất
Cao nhất
Trung bình (n=25)
Khối lượng cua mẹ (gam) 375 625 500 ± 57,28 Mật độ nuôi vỗ: Bể 10L - 60L (con/bể) 1 1 1
Phương pháp loại bỏ cuống mắt
Nhiệt độ nước (o
Thời gian đẻ sau khi cắt mắt (ngày) 2 30 12,98 ± 8,33 Thời gian ấp trứng (ngày) 10 12 10,70 ± 0,80 Thời gian trứng nở (giờ) 0,08 4 0,82 ± 1,10
Trang 83 Ương ấu trùng cua biển giai đoạn Zoae 1 đến Zoae 5
Qua kết quả điều tra cho thấy kỹ thuật ương ấu trùng từ giai đoạn Zoae 1 đến Zoae 5 được thể hiện ở bảng 4 Mật độ ương ấu trùng dao động trong khoảng
50 - 400 con/L, trung bình 157,40 ± 97,80 con/L Mật độ ương này dao động cao
so với kết quả 50 - 150 con/L Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009), cho thấy trình độ kỹ thuật của các trại đang có xu hướng phát triển mạnh Độ mặn nước ương tương đối ổn định và thích hợp, trong khoảng 25 - 30%o Tuy nhiên, việc quản lý nước như mức nước, thay nước còn dao động khá lớn giữa các trại
Có 2 trại (8% số trại) đã không thay nước trong quá trình ương mà chỉ sang bể và cấp nước thêm
Bảng 4: Đặc điểm kỹ thuật ương ấu trùng Zoae1-Zoae 5
Đặc điểm
Thấp nhất
Cao nhất
Trung bình (n=25)
Mật độ ương Zoae1 (con/lít) 50 400 157,40 ± 97,80 Giai đoạn Zoae bắt đầu thay nước Zoae 1 Zoae 3 1,08 ± 0,57
Nước
ương:
Độ mặn nước ương (%o) 25 30 27,24 ± 1,28 Mức nước ương (m) 0,8 1,7 1,11 ± 0,21
Số lần thay nước (ngày/lần) 2 6 4,20 ± 1,29
Tỉ lệ thay nước (%/ lần) 0 100 30,28 ± 21,46
Thức ăn
Artemia:
Số lượng (g/m3/ngày)
Zoae1 - Zoae3 4,5 30 12,95 ± 7,21 Zoae3 - Zoae5 5 69,23 20,45 ± 15,54
Thức ăn
nhân
tạo:
Số lượng (g/m3/ngày)
Zoae1 - Zoae3 0 6,15 1,05 ± 1,46 Zoae3 - Zoae5 0 6,15 2,27 ± 2,37
Thời gian ương từ Z1-Z5 (ngày) 9 20 13,22 ± 2,20
Tỉ lệ sống đến giai đoạn Zoae 5 (%) 20 80 57,00 ± 16,14
Trang 9Theo bảng 4, thức ăn chủ yếu cho ương ấu trùng Zoae là Artemia cho tất
cả các giai đoạn Giai đoạn Zoae 1 - Zoae 3 cho ăn Artemia bung dù mà không có luân trùng, giai đoạn Zoae 3 trở đi cho ăn bằng ấu trùng Artemia mới nở và bổ sung thêm một ít thức ăn nhân tạo Lượng Artemia ấp cho ăn trung bình trong
khoảng 12,95 – 20,45g/m3/ngày, được chia làm nhiều lần trong ngày (2 - 6 lần/ngày) để tăng hiệu quả bắt mồi Các trại cũng sử dụng thức ăn nhân tạo (thức
ăn dùng trong ương ấu trùng tôm sú) cho ương Zoae, tuy nhiên, lượng cho ăn rất hạn chế Phương pháp cho ăn này giúp khâu cho ăn, chăm sóc đơn giản hơn do không phải nuôi tảo và luân trùng phải yêu cầu phương tiện đầy đủ, kỹ thuật cao, tốn kém lao động và chi phí Mặc dù việc cho ấu trùng ăn chỉ hoàn toàn bằng
Artemia bung dù và Artemia mới nở ở giai đoạn Zoae1 - Zoae5 đã được nghiên
cứu thử nghiệm nhiều nơi và cho thấy vẫn đạt kết quả, tuy nhiên, đa số cho rằng, việc bổ sung luân trùng ở giai đoạn Zoae 1 đến Zoae 3 là rất cần thiết để nâng cao
tỷ lệ sống cho các giai đoạn Zoae
Bảng 4 cũng cho thấy, Zoae 1 sau thời gian ương từ 9 - 20 ngày, trung bình 12 - 14 ngày, ấu trùng sẽ đạt giai đoạn Zoae5 và tỷ lệ sống đến giai đoạn Zoae 5 đạt trong khoảng 20 - 80 %, trung bình 57,00 ± 16,14 %
4 Ương ấu trùng cua giai đoạn Zoae 5 đến cua con (C1)
Theo bảng 5 cho thấy, với kỹ thuật ương hai giai đoạn và sang thưa, mật
độ ương ấu trùng Zoae 5 được giảm xuống khá thấp, trong khoảng 3 - 100 con/L, trung bình là 35,32 ± 32,97 con/L Độ mặn nước ương giai đoạn này cũng được giảm xuống 21 - 29%o và mức nước ương cũng khá thấp, trung bình 0,77 ± 0,30
m Tất cả các trại đều thay nước hàng ngày, 5 - 60% lượng nước bể, có 5 trại (20% số trại) đã không thay nước Hầu hết các trại (100% số trại) đều có đặt giá thể lưới cho Megalopa bám So với giai đoạn ương Zoae1 - Zoae5, lượng thức ăn Artemia cho giai đoạn này thay đổi khá lớn, lượng thức ăn nhân tạo được tăng lên, trung bình 5,38 – 8,33 g/m3/ngày Một số trại đã không sử dụng thức ăn nhân tạo mà chỉ sử dụng Artermia và ngược lại Bảng 5 cũng cho thấy, tỷ lệ sống của 2 giai đoạn, giai đoạn Zoae 5 chuyển Megalopa đạt khoảng 3 – 65 % , trung bình 34,26 ± 18,32 % và Megalopa chuyển cua đạt khoảng 8 – 100 %, trung bình 80,72 ± 21,72 % Tỷ lệ sống giữa các trại dao động khá cao
Nhìn chung, phương pháp ương ấu trùng giai đoạn Z5 đến C1 của các trại tương đối hợp lí chỉ có mật độ ương dao động quá lớn, khoảng 3 - 100 con/L so với 15 - 60con/L (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009) phần lớn do
Trang 10các trại đã không định lượng được mật độ trong quá trình ương mà chỉ ước lượng bằng mắt thường
Bảng 5: Đặc điểm kỹ thuật ương Zoae5 – Cua 1
Đặc điểm
Thấp nhất
Cao nhất
Trung bình (n=25)
Mật độ Zoae 5 (con/l) 3 100 35,32 ± 32,97 Nước
Tỉ lệ thay nước (%/lần) 0 60 29,40 ± 20,28
Thức ăn
Artemia:
Số lượng
(gam/m3/ngày)
Zoae5-Megalopa 0 53,85 16,71 ± 17,20 Megalopa-Cua 0 53,85 12,22 ± 16,45
Số lần cho ăn (lần /ngày) 0 6 3,64 ± 2,18 Thức ăn
nhân
tạo:
Số lượng
(gam/m3/ngày)
Zoae5-Megalopa 0 30 5,38 ± 6,51 Megalopa-Cua 0 40 8,33 ± 10,08
Số lần cho ăn (lần /ngày) 0 8 3,12 ± 2,11
Tỉ lệ sống từ Z5 sang Megalopa (%) 3 65 34,26 ± 18,32
Tỉ lệ sống từ Megalopa sang Cua1 (%) 8 100 80,72 ± 21,72
5 Hiệu quả kinh tế sản xuất giống cua biển
Theo bảng 6, mỗi trại sản xuất trung bình 5,55 ± 10,31 triệu con cua con/năm, sản lượng dao động trong khoảng 0,7 - 50 triệu con cua /năm Mỗi con cua mẹ sau khi sinh sản và ương nuôi, có thể thu được từ 85000 đến 300000 cua con Với mức chi phí trung bình 495,24 ± 716,74 triệu đồng/trại/năm và với giá cua con dao động trong khoảng từ 300 - 600 đồng/con, lợi nhuận thu được mỗi trại khá cao, đạt trung bình 1921,96 ± 4009,55 triệu đồng/trại/năm Tuy nhiên,