Để thấy được hiện quả sản xuất bắp và đâu là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức thu nhập của người nông dân em quyết định thực hiện đề tài “Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình trồng l
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trước tiên em xin cám ơn quý thầy cô của Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh trường Đại Học Cần Thơ đã tận tâm giảng dạy và truyền đạt kiến thức bổ ích cho em trong suốt bốn năm qua Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Đỗ Thị Hoài Giang, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình
Em xin cám ơn các chú, anh trong phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Ôn đã nhiệt tình cung cấp những thông tin, số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài để em hoàn thành tốt luận văn của mình Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức và thời gian có hạn nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em kính mong được sự
đóng góp ý kiến của quý cơ quan cùng quý Thầy Cô để luận văn này
hoàn thiện hơn và có ý nghĩa thực tế hơn
Cuối lời em kính chúc quý Thầy Cô khoa kinh tế và quản trị kinh doanh cùng quý cô, chú, anh, chị tại phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Trà Ôn được dồi dào sức khỏe, công tác tốt, luôn vui
vẻ trong cuộc sống và thành đạt trong công việc
Xin chân thành cảm ơn!
Ngày ……… tháng…………năm 2013
Sinh viên thực hiện
(ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Bích Tuyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng bài luận văn này là do tôi thực hiện, số liệu thu thập và kết quả phân tích hoàn toàn trung thực, không trùng với bất kì đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày… tháng… năm 2013
Sinh viên thực hiện
(ký và ghi họ tên)
Nguyễn Thị Bích Tuyền
Trang 5NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……
Ngày … tháng … năm 2013
Thủ trưởng đơn vị
(Ký tên và đóng dấu)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi thời gian 2
1.3.3 Phạm vi không gian 3
1.4 CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Các giả thuyết cần kiểm định 3
1.4.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 4
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Hộ nông dân 4
2.1.2 Thu nhập của nông hộ 4
2.1.3 Lao động 4
2.1.4 Lao động gia đình 5
2.1.5 Khái niệm sản xuất nông nghiệp 5
2.1.6 Trồng luân canh 5
2.1.7 Hiệu quả sản xuất 6
2.1.8 Các chỉ tiêu cần phân tích 6
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 7
Trang 72.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 7
2.2.2 Phương pháp phân tích 7
2.3 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 11
CHƯƠNG 3 12
GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG 13
3.1 GIỚI THIỆU VỀ TỈNH VĨNH LONG 13
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 13
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội: 15
3.2 GIỚI THIỆU VỀ HUYỆN TRÀ ÔN 26
3.2.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 27
CHƯƠNG 4 29
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÔ HÌNH TRỒNG LUÂN CANH BẮP TRÊN NỀN ĐẤT LÚA TẠI HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG 29 4.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NÔNG HỘ TRỒNG BẮP 29
4.1.1 Mô hình trồng luân cánh bắp trên nền đất ruộng 29
4.1.2 Diện tích đất 30
4.1.3 Trình độ học vấn của chủ hộ 31
4.1.4 Nguồn lực lao động 31
4.1.5 Vốn 32
4.1.6 Kinh nghiệm sản xuất 33
4.1.7 Lý do chọn mô hình luân canh bắp 34
4.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT BẮP CỦA NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRÀ ÔN 34
4.3 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT TRỒNG LUÂN CANH BẮP TRÊN NỀN ĐẤT LÚA Ở HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG 36
4.4 THU HOẠCH VÀ TIÊU THỤ BẮP VỤ HÈ-THU 41
4.1 Thu hoạch bắp vụ Hè-Thu 41
4.2 Tiêu thụ bắp vụ Hè-Thu 41
Trang 84.5 HIỆN TRẠNG THU NHẬP VÀ CƠ CẤU THU NHẬP CỦA NÔNG
DÂN 42
4.5.1 Nguồn thu nhập của nông hộ 42
4.5.2 Thu nhập 43
4.5.3 Những khó khăn trong việc nâng cao thu nhập 43
4.6 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trồng bắp trong năm 44
4.7 NHẬN XÉT CHUNG 46
4.8 GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO CÁC NÔNG HỘ TRỒNG LUÂN CANH BẮP TRÊN NỀN ĐẤT LÚA 47
4.8.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc tạo thu nhập của các nông hộ trồng bắp 47
4.8.2 Một số giải pháp nâng cao thu nhập 48
CHƯƠNG 5 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 KẾT LUẬN 50
5.2 KIẾN NGHỊ 51
5.2.1 Đối với chính quyền địa phương 51
5.2.2 Đối với nhà nước 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 1 53
PHỤ LỤC 2 60
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Phân phối cỡ mẫu điều tra nông hộ trồng luân canh bắp 7
Bảng 2.2 Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính 10
Bảng 4.3 Diện tích đất của nông hộ trồng luân canh bắp trên nền đất lúa 30
Bảng 4.4 Trình độ học vấn của chủ hộ trồng luân canh bắp trên nền 31
đất lúa 31
Bảng 4.5 Nguồn lực lao động của nông hộ trồng luân canh bắp trên nền 32
đất lúa 32
Bảng 4.6 Kinh nghiệm sản xuất bắp của nông hộ trồng luân canh bắp trên nền đất lúa 33
Bảng 4.7 Diện tích trồng bắp trên địa bàn huyện trà ôn giai đoạn 2010-2012 34 Bảng 4.8 Năng suất và sản lượng bắp của huyện Trà Ôn giai đoạn 2010-2012 35
Bảng 4.9 Lý do sử dụng giống bắp của nông hộ trồng luân canh bắp trên nền đất lúa 36
Bảng 4.10 Năng suất bắp của nông hộ trồng luân canh bắp trên nền 37
Bảng 4.11 Các chỉ số kinh tế vụ Hè – Thu 39
Bảng 4.12: Tiêu thụ bắp của nông hộ trồng luân canh bắp trên nền đất lúa 42
Bảng 4.13: Nguồn thu nhập của nông hộ trồng luân canh bắp trên nền 42
đất lúa 42
Bảng 4.14 Kết quả chạy mô hình hồi quy tuyến tính các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bắp của nông hộ trồng luân canh bắp 44
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Cơ cấu chi phí sản xuất bắp vụ Hè- Thu 37 Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện mức thu nhập của nông hộ 43
Trang 12CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngô, bắp hay bẹ (danh pháp hai phần: Zea mays L ssp mays) là một trong
những loại cây lương thực chính của thế giới, là sản phẩm có vai trò vô cùng to lớn đối với các nước đang phát triển và đặc biệt là Việt Nam Ở Việt
Nam, bắp là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan
trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác Cây bắp không chỉ cung cấp lương thực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn SX bắp cả nước qua các năm không ngừng tăng về diện tích, năng suất, sản lượng: Năm 2001 tổng diện tích bắp là 730.000 ha, đến năm 2005 đã tăng trên 1 triệu ha; năm 2012, diện tích bắp cả nước 1.121.000
ha, năng suất 43,1 tạ/ha, sản lượng trên 4,8 triệu tấn Tuy vậy, cho đến nay SX bắp ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài
khi những mặt hàng nông sản nước ta hoàn toàn có khả năng gia tăng sản xuất, giảm bớt tình trạng phụ thuộc nhập khẩu nguyên liệu cần được tính toán đưa vào cơ cấu mùa vụ
Đứng trước tình hình đó Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn khuyến
khích nông dân và tìm giải pháp phát triển luân canh cây màu trên đất lúa ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long Nổi bật nhất trong mô hình chuyển đổi luân canh
lúa-màu là tỉnh Vĩnh Long Nhờ địa thế nằm giữa sông Tiền, sông Hậu và hệ thống kênh, rạch tạo nguồn nước tưới tiêu thuận lợi quanh năm, tỉnh Vĩnh Long có 12.000 ha bắp, chủ yếu là bắp nếp trồng nhiều ở các huyện Trà Ôn, Bình Tân, thị xã Bình Minh Sở NN&PTNT Vĩnh Long cho biết, mô hình luân canh sau vụ lúa ĐX là trồng bắp vụ XH có khoảng 600ha và đang có xu hướng tăng lên
Huyện Trà Ôn được xem là cửa ngõ của tỉnh Vĩnh Long, có tiềm năng để phát triển thương mại với nhiều vùng lân cận do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đất đai màu mỡ Nhưng hiện nay mức thu nhập của người dân còn thấp, chủ yếu dựa vào hoạt động nông nghiệp Toàn Huyện có 145.455 nhân khẩu có 70%hộ là dân tộc thiểu số Đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp chiếm gần 90% Bên cạnh diện tích trồng lúa thì diện tích trồng màu như bắp cũng chiếm một phần đáng kể Nông dân nơi đây đã có kinh nghiệm từ nhiều
Trang 13năm, dù vậy nhưng mức thu nhập của người dân vẫn còn thấp nhất là hộ nghèo Toàn huyện có 28% số hộ không có đất sản xuất, suốt năm phải làm thuê kiếm sống qua ngày Trong những năm gần đây được sự quan tâm, giúp
đỡ của các cấp chính quyền, các ban ngành địa phương về nhiều mặt nên mức sống của người dân đã phần nào được cải thiện Để thấy được hiện quả sản xuất bắp và đâu là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức thu nhập của người
nông dân em quyết định thực hiện đề tài “Phân tích hiệu quả sản xuất mô
hình trồng luân canh bắp trên nền đất lúa tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình trồng luân canh bắp trên nền đất lúa tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người nông dân
Mục tiêu 3: Đề xuất những kiến nghị góp phần nâng cao thu nhập cho nông hộ trên địa bàn nghiên cứu
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hộ trồng luân canh cấy bắp trên nền đất lúa ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Hiệu quả sản xuất bắp của các nông hộ ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Những nhân tố ảnh hưởng đến mức thu nhập của nông hộ trồng bắp tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
1.3.2 Phạm vi thời gian
- Các số liệu thứ cấp được dùng để phân tích được thu thập từ các báo cáo, tài liệu của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Trà Ôn, Tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2010 - 2012
Trang 14- Số liệu sơ cấp được thu thập dựa trên bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các nông dân sản xuất bắp 2012 – 2013 tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp từ 8/2013 - 11/2013
1.3.3 Phạm vi không gian
Địa bàn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
1.4 CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Các giả thuyết cần kiểm định
Các nguồn nhân lực, vật lực và nguồn lực tài chính có ảnh hưởng đến
thu
nhập của nông hộ trồng bắp
1.4.2 Câu hỏi nghiên cứu
Tình hình sản xuất bắp của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu hiện nay như thế nào?
Tình trạng thu nhập hiện nay của các nông hộ trồng bắp ra sao?
Nguồn lực của nông hộ (lao động, vốn, sở hữu đất đai, trình độ học vấn ) có phải là nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập không?
Người trồng bắp nơi đây gặp những khó khăn và thuận lợi gì trong việc nâng cao thu nhập?
Những nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng bắp trên địa bàn nghiên cứu là gì?
Trang 15CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Hộ nông dân
Hộ nông dân là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong
nông – lâm – ngư nghiệp, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết tộc sống chung trong một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập, tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các thành viên trong hộ (Yến, 2009)
2.1.2 Thu nhập của nông hộ
Thu nhập của một nông hộ được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm
mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao của lao động gia đình, cho tích lũy
và tái sản xuất mở rộng nếu có Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện và có thể phân thành 3 loại:
Thu nhập nông nghiệp: Gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như trồng trọt (lúa, rau màu, cây ăn trái,…), chăn nuôi (gia súc, gia cầm,…) và nuôi trồng thủy sản (cá, tôm,…)
Thu nhập phi nông nghiệp: Là thu nhập tạo ra từ các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí,… Ngoài ra, thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, thu gom,…
Thu nhập khác: Đó là các nguồn thu nhập từ các hoạt động làm thuê, làm công ăn lương, từ các nguồn trợ cấp xã hội
2.1.3 Lao động
Lao động là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra, nó cũng được xem
như một loại hàng hóa và dịch vụ nên cũng chịu ảnh hưởng bởi quy luật cung cầu.Người có nhu cầu về hàng hóa lao động là nhà sản xuất, người cung ứng hàng hóa là người lao động Cũng như những hàng hóa khác lao động cũng được trao đổi , mua bán trên thị trường gọi là thị trường lao động Thị trường lao động là nơi cung và cầu về lao động gặp nhau để hình thành nên giá cả lao động, đó là số tiền thực tế mà người sử dụng lao động trả cho người lao động
Trang 16giới tính, kinh nghiệm của người lao động,… và cả lượng cung và cầu lao
động
2.1.4 Lao động gia đình
Lao động gia đình là nguồn lực cơ sở của nông hộ, là yếu tố cơ bản
nhằm phân biệt kinh tế hộ gia đình với các doanh nghiệp, công ty Lao động gia đình được xác định là tất cả những người trong gia đình có khả năng lao động và sẵn sàng tham gia lao động gồm những người trong độ tuổi lao động
và những người ngoài độ tuổi lao động, không loại trừ lao động đổi công, lao
động thuê mướn hoặc đi làm thuê vào thời điểm làm đất, thu hoạch,…
2.1.5 Khái niệm sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của
nền kinh tế quốc dân Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế - xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên Sản xuất nông nghiệp bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản
2.1.6 Trồng luân canh
Luân canh là trồng liên tiếp nhiều loài cây trên cùng một khoảnh đất,
mỗi thời gian một loài, nhằm cải tạo đất (chẳng hạn, dùng cây này sản sinh ra những chất dinh dưỡng cần cho cây sau), tận dụng các lớp đất (liên tiếp bằng những loài có rễ ăn xuống những độ sâu khác nhau)
Phải tiến hành luân canh bởi vì: Luân canh là trung tâm của các biện
pháp kỹ thuật nông nghiệp khác Tất cả các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp đều căn cứ vào chế độ luân canh mà xác định nội dung của mình Các chế độ canh tác khác như thuỷ lợi, bón phân, tưới nước, làm đất, diệt trừ cỏ dại đều căn cứ vào loại cây trồng, trình tự luân phiên cây trồng trong hệ thống luân canh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật cụ thể cho suốt cả chu kỳ luân canh
* Hiệu quả của việc trồng luân canh
Việc trồng luân canh có các tác dụng sau:
+ Điều hoà dinh dưỡng và nước trong đất
+ Luân canh chính xác có tác dụng cải tạo và bồi dưỡng đất
+ Chống xói mòn và bảo vệ đất
+ Phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại
+ Điều tiết hoạt động của vi sinh vật trong đất
+ Tăng năng suất cây trồng và tăng sản lượng nông nghiệp
Trang 17+ Điều hoà lao động và việc sử dụng các vật tư kỹ thuật khác
2.1.7 Hiệu quả sản xuất
Hiệu quả sản xuất bao gồm: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả tài chính, hiệu
+ Hiệu quả kỹ thuật: Là việc tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định từ việc
sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Nó được xem là một thành phần của hiệu quả kinh tế Bởi vì muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết phải đạt được hiệu quả kỹ thuật
+ Hiệu quả phân phối: Hiệu quả phân phối trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào liên quan đến việc lựa chọn một kết hợp về mặt số lượng các yếu tố đầu vào (chẳng hạn như lao động và vốn) để sản xuất ra một số lượng hàng hóa nhất định với mức chi phí thấp nhất (trong điều kiện giá cả của các yếu tố đầu vào hiện tại)
- Hiệu quả tài chính: Là hiệu quả phản ánh kết quả tài chính của mô hình sản xuất như doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu,…
- Hiệu quả chi phí: Là chỉ tiêu được sử dụng chủ yếu trong các chương trình
và các dự án xã hội (sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục,…) mà trong đó việc nhận biết và định lượng các lợi ích dưới dạng tiền tệ không đơn giản, nhưng đồng thời sự mong muốn có hoạt động này là nhất thiết cần phải được thực hiện Mục tiêu là để so sánh các chi phí cho mỗi đơn vị kết quả của hai chương trình với mục đích dự trù vốn
2.1.8 Các chỉ tiêu cần phân tích
Tổng chi phí: Là toàn bộ chi phí sản xuất đầu tư mà nông hộ bỏ ra để có
được các nguồn lực đầu vào nhằm thực hiện quá trình sản xuất với mục đích nhận được sản phẩm nông nghiệp đầu ra Các loại chi phí bao gồm: chi phí chuẩn bị đất, chi phí giống, chi phí thuê lao động, chi phí phân bón, chi phí nhiên liệu, chi phí thu hoạch, chi phí vận chuyển,…
Doanh thu: Là giá trị thành tiền từ sản lượng sản phẩm nhân với đơn giá
Trang 18Doanh thu = Số lượng * Đơn giá
Thu nhập của nông hộ: Là số tiền dôi ra từ doanh thu sau khi trừ các
khoản chi phí để có được nguồn lực đầu vào Đặc trưng của sản xuất nông hộ
là lấy công làm lời, tức là kết quả cuối cùng của sản xuất nông nghiệp được thể hiện qua thu nhập và được thể hiện bằng công thức sau:
Thu nhập = Tổng doanh thu – Tổng chi phí (chưa tính chi phí lao động nhà)
Thu nhập/chi phí: Phản ánh một đồng chi phí bỏ ra nhận được bao nhiêu
đồng thu nhập
Doanh thu/chi phí: Phản ánh một đồng chi phí bỏ ra nhận được bao
nhiêu đồng doanh thu
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu điều tra được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và thuận tiện tại 3 xã trong huyện với cỡ mẫu là 60 hộ
Bảng 2.1 Phân phối cỡ mẫu điều tra nông hộ trồng luân canh bắp
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp: Thu thập số liệu sơ cấp trực tiếp thông qua các phiếu điều tra được soạn trước Đối tượng được chọn để phỏng vấn là các nông hộ trồng bắp trên địa bàn huyện Trà Ôn Những nội dung được phỏng vấn liên quan tới mục tiêu nghiên cứu Phương pháp chọn mẫu điều tra được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên tại 5 xã trong huyện với cỡ mẫu là 60
Số liệu thứ cấp: Tham khảo từ các thông tin về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội cũng như thông tin liên quan đến sản xuất tạo thu nhập trên địa bàn qua sách, báo, internet, niên giám thống kê, tài liệu của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Trà Ôn
2.2.2 Phương pháp phân tích
Mục tiêu 1: Mô tả tình hình sản xuất bắp và các nguồn lực của nông hộ:
Trang 19- Thông tin về chủ hộ: trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất
- Thông tin về nông hộ: Nhân khẩu, số lao động, diện tích đất
- Nguồn vốn cho sản xuất
- Tình hình sản xuất: Diện tích trồng bắp, năng suất bắp, sản lượng, giá bán
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả với các chỉ tiêu như tần số, tần suất , tỉ
lệ, số trung bình… để thấy được những thuận lợi và khó khăn về nguồn lực trong việc sản xuất bắp của nông hộ trồng bắp trên địa bàn nghiên cứu
Phương pháp thống kê mô tả là phương pháp mô tả dữ liệu bằng các phép tính và các chỉ số thống kê như giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn,… bằng quy trình xử lý số liệu thu thập được nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu Bước đầu tiên để mô tả và tìm hiểu về đặc tính của một mẫu số liệu thô là lập bảng phân phối tần số
Bảng phân phố tần số là bảng tóm tắt các dữ liệu được sắp xếp thành từng tổ khác nhau Để lập một bảng phân phối tầng số trước hết ta phải sắp xếp dữ liệu theo thứ tự tăng dần hoặc giảm dần Sau đó thực hiện các bước sau:
+ Bước 1: Xác định số tổ của dãy phân phối
Số tổ =[2* số quan sát(n) ]0,3333
+ Bước 2: Xác định khoảng cách tổ(k)
k= (xmax –xmin)/ số tổ
xmax : Lượng biến lớn nhất của dãy phân phối
xmin : Lượng biến nhỏ nhất của dãy phân phối
+ Bước 3: Xác định giới hạn trên và giới hạn dưới của mỗi tổ Giới hạn dưới của tổ đầu tiên là lượng biến nhỏ nhất của dãy số, sau đó lấy giới hạn dưới cộng với khoảng cách tổ ta được giới hạn trên, lần lượt làm như vậy cho đến
Một số khái niệm:
Trang 20+ Giá trị trung bình: Bằng tổng của tất cả các giá trị biến quan sát chia cho số quan sát
+ Số trung vị: Là giá trị đứng ở giữa của một chuỗi dãy số đã được sắp xếp theo thứ tự tăng hoặc giảm dần Số trung vị chia dãy số thành hai phần, mỗi phần có số quan sát bằng nhau
+ Mode: Là giá trị có tần số xuất hiện cao nhất trong tổng số hay một dãy số phân phối
+ Phương sai: Là trung bình giữa bình phương các độ lệch giữa các biến và trung bình của các biến đó
+ Độ lệch chuẩn: là căn bậc hai của phương sai
Mục tiêu 2: Sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để xác định những
nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập bắp của người trồng bắp
Mô hình hồi quy đa biến là thủ tục ước lượng các hệ số trong một phương trình hồi quy, khi kết quả dự báo phụ thuộc tuyến tính vào các biến
mô tả Mô hình hồi quy đa biến có biến phụ thuộc là Y, và Y phụ thuộc vào nhiều biến độc lập X khác nhau
Mô hình có dạng:
Yi = β0 + β1X1i + β2X2i +…+βpXpi +εi
Trong đó:
Xpi biểu hiện giá trị của biến độc lập thứ p tại quan sát thứ i
β0 là hệ số tự do ( hệ số chặn) nó là giá trị trung bình của biến Y khi βp = 0
βp là các tham số ước lượng, đo lường sự thay đổi của giá trị trung bình Y khi
Xp thay đổi 1 đơn vị, khi các biến độc lập khác không đổi
εi là sai số ước lượng trong lần quan sát thứ i
Độ phù hợp của mô hình :
+ Hệ số xác định R2 và R2 hiệu chỉnh được dùng để đánh giá độ phù hợp của
mô hình Vì R2 sẽ tăng khi ta đưa thêm biến độc lập vào mô hình nên dùng R2hiệu chỉnh sẽ an toàn hơn khi đánh giá độ phù hợp của mô hình R2 hiệu chỉnh càng lớn thể hiện độ phù hợp của mô hình càng cao
+ Kiểm định độ phù hợp của mô hình: để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy đa biến ta dùng giá trị F ở bảng phân tích ANOVA
Giả thuyết H0 : β1=β2=…=βp=0 Nếu Sig F < α (α là mức ý nghĩa, α phổ biến là 1%,5%, 10%) thì bác bỏ H0 khi đó mô hình phù hợp với tập dữ liệu và
Trang 21có thể suy rộng ra cho toàn tổng thể Nếu Sig F> α thì chấp nhận H0 khi đó mô
hình không phù hợp với tập dữ liệu và không thể suy rộng ra cho toàn tổng
thể
Bảng 2.2 Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính
TDHVCH X1 Trình độ học vấn của chủ hộ, nhận giá trị 1
nếu chủ hộ học dưới cấp 1, nhận giá trị 2,3,4, tương ứng với chủ hộ học cấp 1,2,3 nhận giá trị 5 nếu chủ hộ có trình độ học vấn trên cấp 3
+
Trang 22LAOĐONG X2 Số người trong độ tuổi lao động, nhận giá trị
tương ứng với số lao động trong độ tuổi lao động
+
DIENTICH X3 Diện tích đất canh tác, nhận giá trị tương ứng
với diện tích đất canh tác của hộ
+
THAMGIA X6 Tham gia các tổ chức ở địa phương như hội
nông dân, hội phụ nữ Nhận giá trị 1 nếu có tham gia, nhận giá tri 0 nếu không tham gia
+
Mục tiêu 3: căn cứ vào kết quả phân tích của mục tiêu 1,2 và 3 đề ra
những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của nông hộ trồng lúa trên địa bàn
nghiên cứu
Đề tài sử dụng phần mềm Excel và SPSS để tổng hợp và xử lý số liệu
2.3 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Phan Thành Tâm (2003) cho rằng thu nhập nông hộ chịu ảnh hưởng bởi
các yếu tố như: trình độ văn hóa chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất, số thành viên
trong gia đình, lao động ngoài nông nghiệp và khả năng tiếp cận với vốn vay
Ngoài ra, thu nhập nông hộ còn bị tác động gián tiếp bởi các yếu tố ảnh hưởng
đến năng suất lúa và chính sách đa canh đa dạng hóa sản xuất của nông trường
thông qua các mô hình canh tác
Theo Nguyễn Thị Nghệ (2006) ở Đồng bằng Sông Hồng cơ cấu thu nhập
của các hộ có sự khác nhau giữa các vùng Thu nhập của hộ nông dân ở vùng
ven đô thị phụ thuộc nhiều vào chăn nuôi và hoạt động thương mại dịch vụ
Trong khi, tại các vùng thuần lúa và đa dạng hóa nông nghiệp thì nguồn thu
nhập chủ yếu từ trồng trọt Vùng duyên hải ven biển có tỷ lệ thu nhập từ các
ngành tương đối đồng đều, tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là từ các hoạt động
chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
Nguyễn Thanh Tâm (2002) “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu
nhập của nông hộ tại địa bàn nông trường Sông Hậu huyện Ô Môn, tỉnh Cần
Thơ, trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Bằng phương pháp hồi quy
Trang 23để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ, thống kê kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập của nông hộ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: trình độ văn hóa của chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất, số thành viên trong gia đình, khả năng tiếp cận vốn vay
Trang 24GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG 3.1 GIỚI THIỆU VỀ TỈNH VĨNH LONG
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí
Tỉnh lỵ Vĩnh Long cách thành phố Hồ Chí Minh 135 km về phía Bắc theo quốc lộ 1A, cách thành phố Cần Thơ 33 km về phía Nam theo quốc lộ 1A Những địa bàn này vừa là thị trường tiêu thụ lớn, vừa là các trung tâm hỗ trợ đầu tư cho tỉnh trên nhiều lĩnh vực Điều này tạo cho Vĩnh Long có lợi thế lớn trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, thu hút đầu
tư Song, đó cũng là thách thức lớn đối Vĩnh Long trong điều kiện cạnh tranh, thu hút nước ngoài, thu hút chất xám và chiếm lĩnh thị trường
+ Địa hình
Nằm kẹp giữa hai con sông lớn, địa hình của Vĩnh Long tương đối bằng phẳng, 62,85% diện tích tỉnh có cao trình khá thấp so với mực nước biển (< 1,0 m ) Độ cao của địa hình giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ vùng ven sông trở vào trong, tạo thành dạng lòng chảo Trên từng cánh đồng có những chỗ gò
(cao trình từ 1,2 - 1,8 m) hoặc trũng cục bộ (cao trình < 0,4 m)
Xét về độ cao, địa bàn Vĩnh Long có thể chia thành 4 vùng địa hình như sau:
+ Khí hậu
Tỉnh Vĩnh Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2
mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Nhìn chung, khí hậu Vĩnh Long rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với cơ cấu cây trồng và vật nuôi phong phú và các hoạt động kinh tế khác Khí hậu điều hoà quanh năm, ít thiên tai Tuy nhiên, sự phân hoá giữa hai mùa khiến cho vấn đề thủy lợi phải được chú trọng, nhất là việc giải quyết nước tưới vào mùa khô cho các vùng thâm canh
lúa cao sản của tỉnh
Những năm gần đây, thời tiết ở Vĩnh Long đã có những dấu hiệu thất thường
do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Mùa khô thường đến sớm và kéo dài, gây
ra hạn hán gay gắt trên diện rộng Theo dự báo của Trung tâm Khí thượng Thủy văn Vĩnh Long thì từ tháng 03-2010 sẽ xuất hiện những ngày nắng nóng trên 350C và những đợt nắng nóng gay gắt, cao điểm sẽ là cuối tháng 3 Mùa khô năm 2010 sẽ khô hạn và nắng nóng gay gắt, nhiệt độ cao nhất vào khoảng
35 - 37oC xảy ra vào tháng 04 đến nửa đầu tháng 05-2010, rất dễ xảy ra hạn Nguyên nhân là do hiện tượng El-Nino vẫn còn đang hoạt động với cường độ
Trang 25có xu hướng mạnh lên và có khả năng sẽ tiếp diễn cho đến mùa hè năm 2010 Như vậy, trong suốt mùa khô 2009 - 2010, tỉnh chịu tác động của hiện tượng El-Nino với cường độ tương đối mạnh Ngoài ra, mùa khô năm 2009 - 2010 ở Vĩnh Long đã bắt đầu rất sớm, từ trung tuần tháng 10 năm 2009 Điều đặc biệt
là năm 2010 khi bắt đầu vào mùa khô, thời tiết lại ít có mưa trái mùa, như trong tháng 11 và đầu tháng 12 vừa rồi, mưa chỉ xảy ra trong 1 - 2 ngày Thời gian mưa trái mùa ngắn, nên chỉ mới bước vào mùa khô mà Vĩnh Long đã rất khô Một điều khá đặc biệt là trong nửa đầu tháng 12-2009, nhiệt độ ở Vĩnh Long đã cao hơn trung bình nhiều năm từ 1 - 2 độ, cho nên lượng bốc hơi cũng tăng lên, góp phần làm cho khô hạn diễn ra nhanh hơn
+ Thủy văn
Hệ thống sông rạch trên địa bàn tỉnh khá dày, ngoài hai con sông lớn là
nhỏ như: Mang Thít, Trà Ôn, Cái Đôi, Cái Côn, Cái Cam, Cái Cá, Long Hồ, Tân Quới, Trà Mơn
Hầu hết các địa phương trong tỉnh đều có nước ngọt quanh năm và hằng năm được bồi đắp một lượng phù sa lớn từ sông Tiền, sông Hậu Nguồn nước mặt của hai con sông chính là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất, sinh hoạt của người dân Sông Tiền và sông Hậu cũng là đường giao thông thủy quan trọng để Vĩnh Long thông thương với các tỉnh bên ngoài Ngoài ra, trong tỉnh còn có nhiều sông suối, kênh rạch khác, tạo thành một mạng lưới chằng
chịt, có giá trị giao thông vận tải và cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất
+ Tài nguyên thiên nhiên
- Đất đai
Các nhóm đất:
Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 01-01-2008, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Vĩnh Long là 147.900 ha Đất ở Vĩnh Long được chia thành 3 nhóm chính: nhóm đất phù sa, nhóm đất nhiễm phèn và nhóm đất cát giồng
Nhóm đất phù sa chiếm 30,29% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, phân bố chủ yếu ở vùng đất cao ven sông Tiền và sông Hậu, thuộc địa bàn các huyện: Trà
Đây là nhóm đất tốt, thành phần cơ giới thịt nhẹ và thịt trung bình, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt thích nghi với việc canh tác lúa cao sản và cây ăn trái Loại đất này đã được khai thác và đưa vào sử dụng hầu hết
Trang 26Nhóm đất nhiễm phèn có diện tích lớn nhất, chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của tỉnh, phân bố chủ yếu ở các vùng trũng thuộc địa bàn các huyện:
(84,4%), tầng sinh phèn ở rất sâu, phèn ít, nên vẫn được khai thác sử dụng Phần còn lại là đất phèn nông, muốn khai thác phải cải tạo
Nhóm đất các giồng có diện tích không lớn lắm, phân bố rải rác trên các vùng tương đối cao ven sông Tiền, sông Hậu, thuộc một phần huyện Vũng Liêm và thành phố Vĩnh Long Nhóm đất này ở địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu sử dụng làm đất thổ cư và trồng cây ăn trái, rau màu
- Sinh vật
Nằm trong vùng đất phù sa ngọt ở trung tâm vùng Đồng bằng Sông Cửu
Long, Vĩnh Long là tỉnh duy nhất trong vùng không có diện tích rừng tập trung, chỉ có khoảng 140.000 ha đất trồng cây phân tán Giới sinh vật trên địa bàn tỉnh hiện nay hầu hết đều đã được thay thế bằng hệ sinh thái nông nghiệp
và các loại cây trồng Vĩnh Long nổi tiếng với những vườn cây trái tươi tốt trên các cù lao với nhiều trái cây đặc sản, vừa có giá trị kinh tế nông nghiệp, vừa là tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái
Hệ động vật trong tỉnh hiện nay chủ yếu là các vật nuôi và sinh vật dưới nước Nguồn thủy sản nước ngọt trên sông Tiền, sông Hậu và các ao hồ, kênh rạch trên địa bàn tỉnh là tiềm năng rất lớn để phát triển ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Tỉnh cũng có một số loại động vật quý hiếm như: chồn, rắn hổ, sóc, bìm bịp, cá sấu và một số loại động vật nhập: đà điểu, gà sao, khỉ
- Khoáng sản
Vĩnh Long là tỉnh đặc biệt nghèo về tài nguyên khoáng sản, cả về số lượng lẫn chất lượng Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, tỉnh này có trữ lượng cát khoảng 129.833,822 triệu m3 tính đến năm 2020 Do nằm ở hạ nguồn sông Tiền và sông Hậu nên lượng cát sông trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
có thể được bổ sung hàng năm tùy thuộc vào chế độ dòng chảy và hàm lượng bùn, cát mang theo Đây là nguồn tài nguyên quý giá và đặc thù mà thiên nhiên ban cho tỉnh Vĩnh Long còn có lượng đất sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào, đất sét làm nguyên liệu sản xuất gạch, ngói, gốm được tập trung chủ yếu dọc theo sông Tiền và rải rác ở các huyện, thị trong tỉnh, tổng trữ lượng đất sét các loại có thể khai thác được toàn tỉnh đạt 92 triệu m3
Trang 27So với các tỉnh trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, quy mô dân số của Vĩnh Long thuộc dạng nhỏ Năm 1995, dân số Vĩnh Long là 997.471 người, năm 2003 dân số của tỉnh là 1.038.965 người Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2008, dân số trung bình của tỉnh là 1.069.100 người, đứng thứ 10 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, cao hơn các tỉnh Hậu Giang,
Mức gia tăng dân số tự nhiên của Vĩnh Long tương đối thấp và ngày càng giảm Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh giảm từ 1,55% năm 1995 xuống còn 1,16% năm 2003, thấp hơn mức gia tăng trung bình của cả nước (1.47% năm 2003) Tỷ lệ sinh của tỉnh đã giảm đáng kể trong những năm gần đây, trong khi tỷ lệ tử đã ở mức thấp tương đối ổn định Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, đến cuối tháng 11-2008, số trẻ sinh ra của giảm 20 trường hợp so cùng kỳ năm 2007 (9436/9456 trẻ); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cũng giảm 0,4% Qua so sánh, Vĩnh Long được xếp thứ 2 khu vực và đứng thứ hạng cao
so cả nước
Tuy quy mô dân số nhỏ, nhưng do diện tích không lớn, nên mật độ dân cư của Vĩnh Long thuộc dạng cao nhất khu vực Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2008, mật độ dân số của tỉnh là 723 người/km2, trong khi mật
mật độ dân số này, tỉnh Vĩnh Long đứng jàng thứ 2 ở khu vực Đồng bằng
Vĩnh Long phân bố không đều, trên 80% dân số sống ở nông thôn Các huyện
Bình, Long Hồ, Trà Ôn; thấp nhất là huyện Mang Thít và thành phố Vĩnh
+ Giáo dục
Hệ thống giáo dục của tỉnh Vĩnh Long bao gồm đầy đủ các cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 30-09-2008, tỉnh Vĩnh Long có 366 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 8 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Tổng số học sinh phổ thông tại thời điểm 31-12-2008 là 170.484 em, trong đó, cấp tiểu học là 75.113 em, cấp trung học cơ sở là 60.245 em, cấp trung học phổ thông là 35.126 em Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31-12-2008 là 9.780 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 4.057 người, giáo viên trung học cơ sở là 3.587 người, giáo viên trung học phổ thông
là 2.136 người Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2007 -
Trang 28Long (84,41) và cả nước (86,58%) Năm học 2008 - 2009, tỷ lệ tốt nghiệp
trung học phổ thông của tỉnh là 81%
Giáo dục chuyên nghiệp của tỉnh gặp nhiều khó khăn Theo thống kê của
Sở Lao động - Thương binh - Xã hội Vĩnh Long, năm 2009 toàn tỉnh có 30 trường nghề, cơ sở dạy nghề với 619 giáo viên tham gia giảng dạy, trong đó chỉ có 394 giáo viên cơ hữu, còn lại là giáo viên là hợp đồng và thỉnh giảng (chiếm 36,4%) Bình quân hàng năm tỉnh tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 19.000 lượt người và dựa trên nhu cầu thực tế còn thiếu đến 240 giáo viên Riêng tại 8 trung tâm dạy nghề công lập còn thiếu gần 60 giáo viên Số lượng giáo viên thiếu, chất lượng lại không đồng đều do tỉnh chưa có chính sách khuyến khích thu hút giáo viên dạy nghề, đặc biệt là giáo viên giỏi Đây cũng
là nguyên nhân khiến nguồn lao động của tỉnh không có chất lượng
+ Y tế
Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh Vĩnh Long có 116
cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Trong đó có 9 bệnh viện, 6 phòng khám đa khoa khu vực và 101 trạm y tế phường xã; tổng số giường bệnh là 1.695 giường, trong đó các bệnh viện có 1.130 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 60 giường, trạm y tế có 505 giường Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh có 471 bác sĩ, 623 y sĩ, 500 y tá, 283 nữ hộ sinh,
51 dược sĩ cao cấp, 192 dược sĩ trung cấp và 80 dược tá
Cơ sở vật chất và nguồn nhân lực là khó khăn lớn nhất mà ngành y tế
Vĩnh Long phải đối mặt Một cuộc kiểm tra của ngành môi trường hồi tháng 10-2008 cho biết 8 bệnh viện đa khoa đang hoạt động trên địa bàn tỉnh gồm: Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long, Bệnh viện Đa khoa Quân dân y kết hợp Tân Thành (gọi tắt là Bệnh viện Tân Thành) và các bệnh viện đa khoa các huyện còn lại đều không đạt tiêu chuẩn môi trường Về nước thải, có 5/8 bệnh viện
có xây dựng hệ thống xử lý nước thải Đoàn kiểm tra đã lấy mẫu nước thải tại các bệnh viện, kết quả là 8/8 mẫu nước thải đều vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép Trong 8 bệnh viện đa khoa được kiểm tra, có 3 bệnh viện đã được cấp giấy môi trường và 5 bệnh viện chưa có đăng ký hồ sơ môi trường, 2/8
bệnh viện chưa có lò đốt rác y tế
+ Văn hóa:
Vĩnh Long là vùng đất mang nhiều dấu ấn văn hoá Nam Bộ với các công trình kiến trúc đình, miếu; cùng các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ẩm
Trang 29thực Nơi đây cũng là quê hương của nhiều danh nhân văn hoá, văn nghệ sĩ nổi tiếng
- Văn hoá ẩm thực cũng là một nét đẹp đặc trưng của văn hoá Vĩnh Long Hệ thống sông rạch chằng chịt với nhiều loài thủy sản, thảo mộc phong phú đã để lại dấu ấn khá sâu đậm trong phong cách ẩm thực của cư dân Vĩnh Long Người dân địa phương đã biết sử dụng nguồn nguyên liệu động thực vật tại chỗ kết hợp với kinh nghiệm ăn uống tích lũy được để chế biến ra những món
ăn ngon lành và bổ dưỡng
+ Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chi chít với những con sông nước lợ rộng mênh mông tiếp giáp với cửa biển đã cung cấp cho cư dân Vĩnh Long nhiều loại cá ngon nổi tiếng như: cá cháy, cá lẹp, cá phèn, cá lưỡi trâu, cá linh, + Đặc thù sông nước mênh mông cũng tạo cho đời sống ẩm thực của người dân Vĩnh Long đủ loại rau rừng, rau sông có thể ăn được như: đọt non của cây săng máu, rau choại, đọt non cây bằng lăng, lá bứa rừng vừa dày vừa chua nhẹ
ăn với bánh xèo, bánh khọt rất ngon; ăn mắm kho thì kiếm rau mát, lá chòi mòi, cỏ xước, bông súng, bông lục bình, bồn bồn, cọng lá tai tượng màu vàng, ngó môn; nấu cháo cá bỏ thêm lá sầu đâu; nấu canh chua cũng có thể dùng rất nhiều loại rau, quả như củ mái dầm, cải trời, trái bần, đọt cóc, lá giang, lá bứa rừng,…
+ Kinh tế:
Nhận định chung
Nằm ở trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Vĩnh Long có thế mạnh để phát triển kinh tế nông - ngư nghiệp Sản phẩm chủ lực của tỉnh
là lúa gạo, cây ăn trái và thủy sản Từ khi được tách tỉnh vào năm 1991, kinh
tế Vĩnh Long dần dần đi vào ổn định và tăng trưởng GDP của tỉnh thời kỳ
1991 - 1994 tăng bình quân 7,9%/năm, thời kỳ 1995 - 2003 tăng trưởng bình quân 6 - 8%/năm Riêng năm 2003, tốc độ tăng trưởng GDP là 8% so với năm trước, cao hơn mức tăng bình quân của cả nước (7.3%)
Cơ cấu GDP của tỉnh có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông - Lâm - Ngư nghiệp giảm dần từ 65,1% năm 1995 xuống còn 55,2% năm 2003, Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 10,2% lên 13,7% trong thời điểm tương ứng, Thương mại - Dịch vụ tăng từ 24,7 lên 31,1>% trong thời điểm tương ứng Theo thông tin từ Webiste tỉnh Vĩnh Long, 6 tháng đầu năm 2009, GDP của tỉnh tăng 6,4% (theo giá so sánh) so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm thủy sản tăng 5,6%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 2,66%;
Trang 30không đáng kể Khu vực I tỷ trọng còn cao, chiếm 53,57%; khu vực II chiếm 15,64%; khu vực III chiếm 30,79% So với cơ cấu kinh tế của khu vực và cả nước, Nông - Lâm - Ngư nghiệp của Vĩnh Long vẫn chiếm tỷ trọng cao và chuyển dịch chậm Để đảm bảo cho kinh tế của tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao
và cơ cấu phù hợp với xu thế mới, tránh nguy cơ tụt hậu, nhất thiết tỉnh phải đẩy mạnh chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực I nhanh hơn nữa
Cơ cấu thành phần kinh tế cũng có sự biến đổi phù hợp với xu thế chung của cả nước, nhưng tốc độ còn rất chậm Khu vực kinh tế trong nước vẫn giữ vai trò gần như tuyệt đối (99,7% tổng GDP) Kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng không lớn, song có xu hướng tăng lên qua các năm, từ 13% năm 1995 lên 18% năm 2003 và có vai trò trọng yếu trong một số lĩnh vực: thương mại - dịch vụ, công nghiệp nặng, xây dựng cơ sở hạ tầng Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn chiếm tỷ trọng quá nhỏ (0,33% vào năm 2003) Từ năm 2002, Vĩnh Long mới bắt đầu có dự án đầu tư nước ngoài Tỉnh đã ban hành những chính sách ưu đãi, khuyến khích đặc biệt, theo phương châm "một cửa, tại chỗ", nhiều năm trở lại đây, tỉnh được đánh giá là một trong những tỉnh dẫn đầu trong cả nước về mức độ hấp dẫn đầu tư và chỉ số năng lực cạnh tranh
Các khu vực kinh tế
Nông - Lâm - Ngư nghiệp
Nông - Lâm - Ngư nghiệp hiện vẫn là ngành chiếm hơn 1/2 tỷ trọng
trong cơ cấu GDP của tỉnh Vĩnh Long Mặc dầu tỷ trọng có xu hướng giảm qua các năm, nhưng tốc độ vẫn còn khá chậm Trong cơ cấu nội bộ của ngành, nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm 93,6% giá trị sản xuất của ngành năm 2003; ngư nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng đã có xu hướng tăng dần
qua các năm Lâm nghiệp có vai trò không đáng kể trong cơ cấu ngành này
Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp đã và đang giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế tỉnh Vĩnh Long Giá trị sản xuất (GTSX) nông nghiệp đạt tốc độ tăng khá ổn định trong giai đoạn 1995 - 2003, trung bình tăng 4,5%/năm Năm 2002, tốc
độ tăng đạt 6,6% so với năm trước Năm 2008, GTSX ngành nông nghiệp tăng 6,8% so năm 2007, chiếm tỷ trọng 84,14% trong cơ cấu Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tăng 2,06% so với năm 2007
Trồng trọt
Tuy tỉ trọng GTSX có giảm trong những năm gần đây, song ngành trồng trọt vẫn là thế mạnh trong nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long Là một tỉnh đồng bằng phù sa màu mỡ, Vĩnh Long có lợi thế trong trồng cây lương thực, hoa màu và
Trang 31cây ăn trái Cây lương thực chiếm phần lớn diện tích cây trồng của tỉnh (khoảng 95% vào năm 2003) Những năm gần đây, ngành trồng trọt tiếp tục chuyển biến trên nhiều mặt: phong trào đưa cây màu xuống ruộng, cải tạo lập vườn mới và đầu tư chuyên canh vườn cây ăn trái có giá trị kinh tế cao phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng và
xuất khẩu
Theo kế hoạch phát triển đến năm 2015 tầm nhìn 2020 của ngành nông nghiệp
tỉnh, ngành trồng trọt được định hướng phát triển như sau:
- Mục tiêu:
+ Phát triển trồng trọt theo hướng toàn diện, tăng trưởng liên tục và bền vững, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, nhất là thực phẩm sạch, an toàn, đáp ứng tốt yêu cầu thị trường mang lại giá trị sản lượng, lợi nhuận và thu nhập cao ổn định trên một đơn vị diện tích, cũng như một đơn vị sản phẩm
+ Cơ cấu nội bộ trồng trọt đến thời điểm 2010 là: 69,14% và đến năm 2015 cơ cấu trên là 63,98%, đến năm 2020 là 58,5%
+ Giá trị sản xuất bình quân trên 01 ha đất trồng trọt năm 2010 là: 90 triệu đồng/ha (theo dự báo), năm 2015 là: 130 triệu đồng/ha, năm 2020 là: 150 triệu ( tính theo giá hiện hành)
- Định hướng cây trồng: ưu tiên các loại cây trồng đặc sản truyền thống và các
cơ cấu cây trồng mà nông dân và các cơ quan khoa học đã tổ chức nghiên cứu hoặc thực nghiệm thành công tại Vĩnh Long, bao gồm các loại nông sản chủ lực sau:
+ Lúa: bố trí thời vụ sớm hơn 15 – 25 ngày so với chính vụ Sử dụng các giống lúa đặc sản có chất lượng cao: Jasmine 85, MTL 250, IR 64 thuần chủng Ứng dụng chương trình thâm canh lúa tổng hợp (giảm 1,5 triệu đồng/ha) Tăng cường khâu bảo quản (sấy), chế biến, phân loại để gạo xuất khẩu có chất lượng cao
+ Trái cây: sử dụng giống đặc sản, giống thuần, không sâu bệnh (bưởi Năm Roi, cam sành Chăm sóc đúng kỹ thuật để đạt năng suất cao và điều chỉnh ra quả trái vụ Ứng dụng IPM và tăng cường khâu bảo quản, chế biến
+ Các cây trồng cạn luân canh với lúa (bắp, khoai lang, đậu nành,…): trồng ở
vụ Đông Xuân và Xuân Hè, rải vụ thu hoạch Sử dụng các giống mới, năng suất cao, nhất là các giống lai Hợp lý hoá kỹ thuật để tăng năng suất, giảm giá thành mới có thể thay thế nông sản nhập khẩu
Trang 32Chăn nuôi là ngành đang được chú trọng ở Vĩnh Long với tỷ trọng về GTSX tăng từ 17,3% năm 1995 lên 24,1% năm 2005 trong cơ cấu GTSX nông nghiệp Trong giai đoạn 2000 - 2007, giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi đạt mức độ tăng trưởng bình quân 2,36%/năm; riêng giai đoạn 2005 - 2007 giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi đạt mức tăng trưởng bình quân đã tăng lên 5,3%/năm Năm 2008, ngành này chiếm tỷ trọng 25,94%, tăng 3,18% so với năm 2007
Định hướng phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020, tỉnh Vĩnh Long đề ra các mục tiêu cụ thể như sau:
Giai đoạn 2011 – 2015:
+ Phấn đấu đến năm 2015 đưa tỷ trọng sản xuất ngành chăn nuôi chiếm 30 – 32% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp với tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2011 – 2015 là: 8 – 9%/năm
+ Nâng cao chất lượng đàn gia súc - gia cầm: đàn heo nạc hóa chiếm trên 95% tổng đàn; đàn bò lai Zebu: 34 – 35% tổng đàn; đàn gia cầm giống mới có năng suất thịt, trứng cao: 50 – 55% tổng đàn
+ Hình thành các vùng chăn nuôi tập trung cho từng loại gia súc, phát triển chăn nuôi hàng hóa lớn theo hướng trang trại, gia trại với phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp chiếm từ 35 – 40%
+ Phấn đấu 25% số hộ chăn nuôi gia đình, 80% hộ chăn nuôi trang trại, công nghiệp và các cơ sở giết mổ gia súc gia cầm ứng dụng phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi phù hợp (biogas, ủ phân, nuôi cá, VAC …) và có hiệu quả để bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường
Giai đoạn 2016 – 2020:
+ Phấn đấu đến năm 2020 đưa tỷ trọng sản xuất ngành chăn nuôi chiếm 35 - 40% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp với tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là: 7 - 8%/năm
+ Nâng cao chất lượng đàn gia súc - gia cầm: đàn heo nạc hóa chiếm trên 99% tổng đàn; đàn bò lai Zebu: 40 – 45% tổng đàn; đàn gia cầm giống mới có năng suất thịt, trứng cao: 60 – 65% tổng đàn
+ Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi hàng hoá lớn theo hướng trang trại, gia trại với phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp chiếm từ 50 – 60%
Trang 33+ Phấn đấu 45% số hộ chăn nuôi gia đình, 100% hộ chăn nuôi trang trại, công nghiệp và các cơ sở giết mổ gia súc gia cầm ứng dụng phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi phù hợp (biogas, ủ phân, nuôi cá, VAC …) và có hiệu quả để bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường
Lâm nghiệp
Với đặc điểm lãnh thổ là vùng đồng bằng phù sa ngọt, thế mạnh là nông nghiệp, ngành lâm nghiệp của Vĩnh Long có vai trò không đáng kể trong cơ cấu GDP nói chung và cơ cấu Nông - Lâm - Ngư nghiệp nói riêng Giá trị sản xuất thực tế năm 2003 đạt gần 40 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là khai thác và thu nhặt lâm sản như: củi gỗ, tre trúc, lá dừa nước ; trồng và nuôi rừng chiếm giá trị rất nhỏ Ở Vĩnh Long không có diện tích rừng trồng tập trung, công tác trồng rừng chủ yếu là trồng cây phân tán Theo thông tin từ Tổng cục Thống
kê, giá trị sản xuất lâm nghiệp của tỉnh sơ bộ năm 2008 là 34,4 tỷ VNĐ (giá so sánh 1994), tăng 7,37% so năm 2007; chiếm tỷ trọng 0,64% trong cơ cấu Nông - Lâm - Ngư nghiệp, giảm 0,16% so với năm 2007
Ngư nghiệp
Vĩnh Long có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản nước
ngọt, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh còn khá lớn và đa dạng: đất lúa, đất vườn, đất bãi bồi đều có thể nuôi kết hợp hoặc nuôi chuyên các giống loài thủy sản nước ngọt Bên cạnh đó hệ thống sông rạch trên địa bàn tỉnh có thể bố trí nuôi thủy sản lồng bè Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2008, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh là 2.400 ha
Môi trường nước trên hệ thống sông rạch chính của tỉnh còn khá trong sạch, sẽ rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy và giảm được các chi phí đầu
tư Ngành thủy sản của tỉnh đã phát triển tương đối mạnh trong giai đoạn vừa qua và thu được những kết quả nhất định, đây sẽ là tiền đề cho việc mở rộng
và phát triển sản xuất trong giai đoạn tới Trên địa bàn tỉnh có nhiều nhà máy chế biến thủy sản, chế biến thức ăn thủy sản; trong tương lai việc tiêu thụ sản phẩm thủy sản sẽ dễ dàng và chủ động hơn
Mục tiêu đến năm 2010, diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh đạt 14.500
ha và 455 lồng bè nuôi cá; năm 2015 là 17.500 ha và 515 lồng, bè nuôi cá; năm 2020 là 20.450 ha và 550 lồng, bè nuôi cá Diện tích nuôi thủy sản thâm canh tăng từ 760 ha ở năm 2010 lên 1.220 ha ở năm 2020 (chủ yếu nuôi cá tra)
Định hướng phát triển ngành thủy sản của tỉnh như sau:
Trang 34- Khu vực bãi bồi, cồn nổi ven sông Tiền và sông Hậu phát triển nuôi cá tra thâm canh
- Nuôi tôm càng xanh trong mương vườn và ruộng lúa theo hình thức quãng canh cải tiến (QCCT) và bán thâm canh (BTC)
- Phát triển sản xuất giống thủy sản nước ngọt để cung cấp cho nhu cầu nuôi trong tỉnh và các khu vực lân cận
- Phát triển nuôi cá bè trên sông Tiền, sông Hậu và sông Cổ Chiên với các đối tượng có giá trị như cá điêu hồng , rô phi dòng GIFT, bống tượng
- Sử dụng nguồn thức ăn sản xuất trong tỉnh để cung cấp cho nuôi thương phẩm
- Chuyển dần nuôi sử dụng thức ăn tự tạo sang sử dụng thức ăn công nghiệp
- Chuyển đổi dần những đối tượng có hiệu quả sản xuất thấp, thị trường tiêu thụ khó khăn sang nuôi những giống loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế cao hơn
- Đầu tư hệ thống hạ tầng cơ sở theo cụm, dứt điểm sau đó mở rộng khu vực khác Ưu tiên đầu tư hệ thống thủy lợi trước
- Tổ chức sản xuất theo mô hình Tổ hợp tác, Hợp tác xã hoặc tham gia các hội nghề nghiệp để chia sẻ thông tin và huy động được sự tham gia của cộng đồng
Công nghiệp - Xây dựng
Tình hình phát triển
Công nghiệp Vĩnh Long chưa có vai trò đáng kể trong nền kinh tế của tỉnh Trong cơ cấu GDP của tỉnh, nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng chiếm tỷ trọng còn khá thấp (13,7% năm 2003), trong đó công nghiệp chỉ chiếm 9,5% Năm 2003, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt 1.194,3
tỷ VNĐ (giá cố định 1994) So với các tỉnh thành trong khu vực và cả nước, công nghiệp Vĩnh Long còn ở vị trí rất khiêm tốn, chỉ chiếm 4,1% giá trị sản xuất công nghiệp của vùng Tuy vậy, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá nhanh trong giai đoạn 2000 - 2003, bình quân 14,1%/
năm
Theo thông tin từ Website tỉnh Vĩnh Long, 7 tháng năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt 2.382,142 tỷ đồng (giá cố định 2004), tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước Tháng 12-2009, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt khoảng 459 tỷ 630 triệu đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 19,23% so với tháng 12 năm 2008; khu vực kinh tế ngoài nhà
Trang 35nước tăng 3,53% so với tháng trước và tăng 11,91% so với tháng 12-2008; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 42%
so với tháng 12-2008; tuy nhiên, khu vực kinh tế nhà nước giảm 5,17% so với tháng trước và giảm 0,87% so với cùng kỳ năm ngoái
Những năm trở lại đây, Công nghiệp - Xây dựng của Vĩnh Long dù khởi sắc nhưng nhìn chung quy mô sản xuất không lớn Số doanh nghiệp cũng như
số sản phẩm có đủ khả năng cạnh tranh chưa nhiều Môi trường đầu tư, kinh doanh đã được cải thiện nhưng vẫn còn bất cập, nhất là công tác thu hồi đất, giải tỏa, bồi hoàn còn vướng mắc Trình độ nguồn nhân lực của tỉnh chưa theo kịp xu thế phát triển của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá Trong năm 2010, tỉnh Vĩnh Long phấn đấu tăng giá trị sản xuất 21% Để đạt được mức tăng trưởng này, tỉnh cần nâng cao năng lực sản xuất hiện có, thông qua sự hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, trong đó tập trung vào một số sản phẩm mũi nhọn như: thủy sản đông lạnh, rau quả đóng hộp, thức
ăn thủy sản, hột vịt muối, nấm rơm muối, giày thể thao Cần tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu, cụm, tuyến công nghiệp để tạo thêm năng lực sản xuất mới
Thương mại - Dịch vụ
Thương mại - Dịch vụ là ngành chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong cơ cấu
GDP của tỉnh Trong những năm qua, ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Vĩnh Long Tỷ trọng tổng sản phẩm của ngành đã tăng đều qua các năm và đã chiếm 31,1% trong tổng giá trị GDP năm 2003 Các ngành dịch vụ đã thu hút 12 ngàn lao động, chiếm hơn 20% tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh (năm 2003)
Theo Trung tâm Xúc tiến thương mại - Đầu tư Vĩnh Long, công tác xúc tiến thương mại - đầu tư của tỉnh vẫn còn nhiều điểm yếu, nhất là trong quảng bá, giới thiệu hàng hoá cho thị trường xuất khẩu mới, trong công tác xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu độc quyền, nhiều sản phẩm chưa đăng ký uy tín và chất lượng Công tác tổ chức hội chợ, tham gia hội chợ thời gian gần đây ngày càng giảm tính quy mô, chất lượng, hiệu quả…Năm 2008, tỉnh chỉ thực hiện được 50% kế hoạch hội chợ trong nước, kế hoạch dự hội chợ nước ngoài chưa thực hiện được
Trang 36Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Vĩnh long bao gồm các
Quốc lộ (do Cục Đường bộ Việt Nam quản lý), các Đường tỉnh (ĐT), đường
đô thị (ĐĐT), đường huyện (ĐH) và đường xã (ĐX) hình thành một mạng lưới giao thông đường bộ đều khắp, phân bố hợp lý Vĩnh Long hiện có 5 tuyến quốc lộ (QL) là: QL1A, QL53, QL57, QL54 và QL80 Tuy nhiên, chất lượng các tuyến quốc lộ còn hạn chế: đường hẹp; hệ thống cầu cống, tín hiệu giao thông chương hoàn chỉnh, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh Để phát huy thế mạnh và khai thác tốt tiềm lực kinh tế, hệ thống giao thông đường bộ của tỉnh cần phải được đầu tư xứng tầm và đồng
bộ
Hệ thống giao thông nông thôn tại một số địa phương trong tỉnh, nhất là các khu vực nông thôn vùng sâu, vùng xa, còn hạn chế, việc đi lại của người dân ở nơi này còn nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa Vì vậy, để phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, phấn đấu cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn cơ bản đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, ngày 04-05-2009, Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành công văn số 1032/UBND-KTN chấp thuận cho lập dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông nông thôn vùng sâu, vùng xa tỉnh Vĩnh Long Dự án sẽ được triển khai tại các huyện Trà Ôn,
của tỉnh Vĩnh Long Dự án sẽ tiến hành đầu tư xây dựng mới và cải tạo nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn (bao gồm cả cầu, cống ngang đường) tại các huyện trong tỉnh
- Đối với đầu tư xây dựng mới: đường có chiều rộng nền đường 6 m, mặt đường rộng 3 m, kết cấu mặt đường là đá láng nhựa hoặc đan bêtông cốt thép chịu tải trọng 5 tấn Cầu trên tuyến có kết cấu bê tông cốt thép, chiều rộng mặt cầu phần thông xe 3 m, chịu tải trọng 5 tấn
- Đối với trường hợp cải tạo nâng cấp đường ô tô đến trung tâm xã: đường có chiều rộng nền đường 6,5 m, mặt đường 5,2 m, kết cấu mặt đường là đá láng nhựa, tải trọng 10 tấn Cầu trên tuyến có kết cấu bê tông cốt thép, chiều rộng mặt cầu phần thông xe 5 m, chịu tải trọng 10 tấn
- Đối với cống qua đường: sử dụng cống bê tông ly tâm có khẩu độ và cao trình phù hợp và đảm bảo chủ động cho việc thu và thoát nước
Tình hình vận tải
Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2007, khối lượng vận chuyển
hành khách của tỉnh là 33,3 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 617,8 triệu lượt người/km; khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt
Trang 373.520 nghìn tấn (đường bộ đạt nghìn tấn, đường thủy đạt 2.730 nghìn tấn),khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 157,4 triệu tấn/km (đường bộ đạt 35,7 triệu
tấn/km, đường thủy đạt 121,7 triệu tấn/km)
3.2 GIỚI THIỆU VỀ HUYỆN TRÀ ÔN
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
Trà Ôn là một huyện của tỉnh Vĩnh Long, nằm về hướng đông, cách
thành phố Vĩnh Long khoảng 40 km, nằm cặp sông Hậu, cách Cần Thơ17 km, trải dài theo sông Măng Thít, đồng thời huyện cũng nằm trên thủy lộ quốc gia huyết mạch giữa đồng bằng nối với Thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông
Nam Bộ Huyện Trà Ôn có diện tích 267,51 km2 và 145.455 nhân khẩu có 13 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Hựu Thành, Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Tân Mỹ, Thiện Mỹ, Tích Thiện, Phú Thành, Lục Sỹ Thành, Thới Hoà,
Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Hoà Bình và Trà Côn Huyện đang tập trung xây dựng thị trấn Trà Ôn sớm đạt chuẩn đô thị loại 4, huyện cũng đang nâng cấp xã Hựu Thành, xã Vĩnh Xuân trở thành đô thị loại 5 để thành lập 2 thị trấn dự kiến đến cuối năm 2020, Trà Ôn sẽ là đô thị loại 4 và sẽ trở thành thị xã thứ 3 của tỉnh Vĩnh Long
Trà Ôn có địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình cao từ sông Hậu và sông Trà Ôn - Mang Thít thấp dần về phía đông bắc, cao trình biến thiên từ 1,25 - 0,5 m vùng có cao trình từ 1 - 1,25 m gồm các xã ven sông Hậu và sông Trà Ôn - Mang Thít như Tích Thiện, Thiện Mỹ, thị trấn Trà Ôn và Tân
Mỹ vùng có cao trình từ 0,75 – 1 m gồm các xã Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Trà Côn Vùng có cao trình từ 0,5 - 0,75 m gồm các xã Hòa Bình, Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hòa
Tổng diện tích đất sản xuất toàn huyện là 25.839,12 ha (chiếm 17,52% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), trong đó đất sản xuất nông nghiệp 21.657,06 ha, chiếm 83,82% diện tích đất sản xuất toàn huyện; trong đó, cây hàng năm chiếm 70%, chủ yếu là trồng lúa, còn lại là cây lâu năm, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn và dài ngày chiếm 30%, không có đất lâm nghiệp Trà Ôn có hệ thống sông ngòi chằng chịt, hoạt động theo chế độ bán nhật triều, có nguồn nước ngọt quanh năm , chất lượng nước tốt kết hợp với thời tiết mưa thuận gió hòa ngoài ra huyện có diện tích khá rộng, đất đai phù sa, trù phú và khí hậu cũng khá thuận lợi nên huyện đã đã cơ cấu sản xuất nông nghiệp từng bước chuyển dịch theo hướng tập trung chuyên canh, luân canh phù hợp với từng địa bàn, với các mô hình sản xuất có hiệu quả như: lúa chuyên canh, lúa – tôm, lúa – màu, rau chuyên canh, rau màu luân canh, nuôi thủy sản chuyên
Trang 38trường Song song đó, huyện cũng tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường trên cơ sở khai thác những thế mạnh của địa phương
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Trà Ôn là một trong những huyện nghèo của tỉnh Vĩnh Long, mức sống
nhân dân còn thấp, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế
Năm 2005, huyện Trà Ôn có đến 70% số hộ Khmer nghèo chỉ có dưới 2.500 m2 đất ở và đất sản xuất, 28% số hộ không có đất sản xuất, suốt năm phải làm thuê kiếm sống qua ngày Nhờ những chính sách đổi mới trong phát triển kinh
tế, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp mang lại hiệu quả tốt, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, đời sống người dân dần dần được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo ở Trà Ôn giảm nhanh, từ trên 16% năm 2006 xuống còn hơn 13% năm
2009 với gần 3000 hộ thoát nghèo
Năm 2010, Trà Ôn phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2,46% xuống còn 11% Bên cạnh các chính sách xã hội, Trà Ôn còn được Trung ương và tỉnh quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng Ngày 31 tháng 12 năm 2009, cầu Trà Ôn được làm lễ thông xe kỹ thuật Cầu Trà Ôn bắc qua sông Mang Thít, trên tuyến quốc
lộ 54, nối liền hai huyện Trà Ôn và Tam Bình
Thị trấn Trà Ôn nằm bên bờ Bắc sông Hậu và bờ Nam thủy lộ quốc gia từ tỉnh
xây dựng cơ bản, toàn thị trấn có 2.750 căn nhà kiên cố và bán kiên cố, nhà tạm bợ còn lại tỷ lệ rất thấp; 100% hộ dân ở thị trấn có điện sử dụng, hệ thống
tiện nghe nhìn hầu như mỗi hộ đều có đa phương tiện
Năm 2012 bằng nhiều giải pháp đồng bộ và thiết thực như hỗ trợ nhà ở,
dạy nghề, hỗ trợ vốn giải quyết việc làm, phát triển sản xuất, huyện Trà Ôn đã giúp cho hơn 1.200 hộ thoát nghèo, đạt 166% chỉ tiêu nghị quyết đề ra, trong
đó có 109 hộ Khmer thoát nghèo Điều này đã tạo nên một sự thay đổi lớn trong bức tranh tổng thể về hộ nghèo của một huyện vốn có tỷ lệ hộ nghèo cao của tỉnh
Hướng dẫn phương thức làm ăn, tạo điều kiện phát triển kinh tế phù hợp cho từng hộ là giải pháp mũi nhọn tiếp theo được Trà Ôn nỗ lực thực hiện Với phương châm “cho cần câu chứ không cho con cá”, trong năm qua huyện đã tổ chức đào tạo nghề cho trên 1.300 lao động nông thôn, giải quyết cho gần 1.800 hộ vay vốn sản xuất với trên 14 tỷ đồng Phong trào giảm nghèo trong