30 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ HUYỆN NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG..... Thực tiển đặt ra là cần có một nghiên cứu để phân tích hiệu quả tài chính trong sản xuất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
DƯƠNG THỊ NHƯ Ý
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÔ HÌNH
LÚA 2 VỤ Ở HUYỆN NGÃ NĂM, TỈNH
SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số ngành: 52620115
Tháng 9 - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
DƯƠNG THỊ NHƯ Ý
MSSV:4105176
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÔ HÌNH
LÚA 2 VỤ Ở HUYỆN NGÃ NĂM, TỈNH
Tháng 9 - 2013
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Sau 3,5 năm học tập và nghiên cứu tại Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, trường Đại học Cần Thơ Hôm nay, với những kiến thức đã được học ở trường và những kinh nghiệm thực tế trong quá trình học tập, em đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Nhân quyển luận văn này, em xin gởi lời cảm ơn đến:
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ dạy và giúp đỡ tận tình của cô Trần Thụy Ái Đông cô đã hướng dẫn, chỉ dạy và định hướng đầy đủ, chi tiết cho tôi hoàn thành luận văn Chính thầy đã giúp tôi vượt qua những bước ngoặt, giai đoạn khó khăn về kiến thức để đi đúng hướng và hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn tất cả quý thầy, cô Trường Đại học Cần Thơ đã cung cấp kiến thức quý giá trong suốt thời gian tôi học tại trường Đặc biệt, quý thầy, cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh đã giúp tôi có đủ kiến thức quan trọng để hoàn thành luận văn
Những nông hộ sản xuất lúa tại huyện Ngã Năm là những người quan trọng nhất, đóng góp thiết thực nhất vào kết quả của luận văn Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả nông hộ đã nhiệt tình cung cấp thông tin quý giá cho tôi hoàn thành luận văn Cảm ơn chị Trần Thị Hiếu trạm khuyến nông phòng nông nghiệp huyện Ngã năm đã đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Tuy nhiên do kiến thức và trình độ hiểu biết còn hạn chế nên đề tài không tránh những sai sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy (cô) để luận văn này được hoàn chỉnh hơn
Sau cùng, em kính chúc quý thầy (cô) khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, các
cô chú phòng Nông nghiệp huyện cũng như các cô chú cán bộ xã, cán bộ nông dân luôn dồi dào sức khỏe, công tác tốt và thành công hơn trong cuộc sống
TP.Cần Thơ, ngày….tháng…năm 2013
Sinh viên thực hiện
DƯƠNG THỊ NHƯ Ý
Trang 4LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào khác
TP.Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
DƯƠNG THỊ NHƯ Ý
Trang 5NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
TP.Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013
Thủ trưởng đơn vị
(ký tên và đóng dấu)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Phạm vi không gian 3
1.3.2 Phạm vi thời gian 3
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 2 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5
2.1.1 Hộ nông dân và kinh tế hộ 5
2.1.1.1 Hộ nông dân 5
2.1.1.2 Kinh tế hộ 5
2.1.2 Đặc điểm và tầm quan trọng của kinh tế hộ 5
2.1.3 Sản xuất các yếu tố đầu vào 6
2.1.3.1 Khái niệm sản xuất và hàm sản xuất 6
2.1.3.2 Các yếu tố đầu vào của nông nghiệp 7
2.1.4 Một số khái niệm trong sản xuất nông nghiệp 8
2.1.4.1 Khái niệm đa dạng hóa cây trồng trong nông nghiệp 8
2.1.4.2 Các khái niệm cơ bản 8
2.1.5 Hiệu quả tài chính 10
2.1.5.1 Khái niệm 10
2.1.5.2 Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính 10
2.1.6 Khái quát về cây lúa 12
Trang 72.1.6.1 Cây lúa 12
2.1.6.2 Đặc điểm của cây lúa 13
2.1.6.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa 13
2.1.7 Xu hướng phát triển kinh tế hộ trong giai đoạn hiện nay 14
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 15
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 15
2.2.3 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 16
CHƯƠNG 3 18
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 18
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 18
3.1.1 Khái quát về địa bàn Sóc Trăng 19
3.1.2 Khái quát về địa bàn Ngã Năm 19
3.1.2.1 Vị trí địa lý kinh tế 19
3.1.2.2 Khí hậu thời tiết, thủy văn 19
3.1.2.3 Tài nguyên đất đai 20
3.1.2.4 Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất 21
3.1.2.5 Đặc điểm địa hình 22
3.1.2.6 Tài nguyên nước 23
3.1.3 Dân số và nguồn lực 23
3.1.3.1 Dân số và phân bố dân cư 23
3.1.3.2 Tình hình sử dụng nguồn lao động 24
3.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Ngã năm 24
3.1.5 Thực trạng sản xuất lúa năm 2008-2012 huyện Ngã Năm 26
3.1.5.1 Lịch thời vụ 27
3.1.5.2 Cơ cấu giống 28
3.1.5.3 Các yếu tố tác động đến sản xuất 28
3.1.5.4 Tình hình cơ giới hóa khâu thu hoạch 28
3.1.5.5 Thuận lợi khó khăn 28
CHƯƠNG 4 30
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ HUYỆN NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG 30
Trang 84.1 TÌNH HÌNH CHUNG THEO MẪU ĐIỀU TRA 30
4.1.1 Thông tin chung về nông hộ 30
4.1.1.1 Một số thông tin sơ lược về nông hộ 30
4.1.1.2 Diện tích canh tác và nhân lực tham gia sản xuất của nông hộ 30
4.1.1.3 Tuổi của chủ hộ sản xuất 31
4.1.1.4 Trình độ văn hóa 32
4.1.2 Kinh nghiệm và trình độ kỷ thuật của nông hộ 32
4.1.2.1 Kinh nghiệm 32
4.1.2.2 Trình độ kỷ thuật 33
4.1.3 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ 33
4.1.3.1 Thực trạng sản xuất 33
4.1.3.2 Lý do chọn giống của nông hộ 35
4.1.3.3 Nơi mua giống của nông hộ 35
4.1.3.4 Thực trạng tiêu thụ 36
4.1.4 Công tác tập huấn kỷ thuật và khuyến nông 39
4.1.4.1 Tình hình tham gia tập huấn 39
4.1.4.2 Ứng dụng khoa học kỷ thuật trong sản xuất 40
4.2 PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH VÀ CÁC MỤC CHI PHÍ CỦA VỤ ĐÔNG XUÂN 2012-2013 VÀ VỤ HÈ THU 2013 CỦA NÔNG HỘ TẠI HUYỆN NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG 43
4.2.1 So sánh các khoản mục chi phí của nông hộ vụ Đông xuân và vụ Hè thu 43
4.2.2 Phân tích các yếu tố năng suất và giá bán 49
4.3 PHÂN TÍCH CÁC TỶ SỐ TÀI CHÍNH CỦA VỤ ĐÔNG XUÂN 2012-2013 VÀ VỤ HÈ THU 2013 CỦA NÔNG HỘ TẠI HUYỆN NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG 50 4.4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ 53
4.4.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lúa vụ Đông xuân 2012-2013 của nông hộ 53
4.4.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lúa vụ Hè thu 2013 của nông hộ 55
4.5 ĐIỂM MẠNH ĐIỂM YẾU CỦA MÔ HÌNH 59
4.5.1 Điểm mạnh của mô hình trồng lúa 59
4.5.2 Điểm yếu của mô hình trồng lúa 60
Trang 94.5.3 Thuận lợi 60
4.5.4 Khó khăn 60
4.6 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CHO NÔNG DÂN TRỒNG LÚA Ở HUYỆN NGÃ NĂM 60
CHƯƠNG 5 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 KẾT LUẬN 63
5.2 KIẾN NGHỊ 63
5.2.1 Đối với nông hộ 63
5.2.2 Đối với doanh nghiệp 64
5.2.3 Đối với chính quyền địa phương 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai 22
Bảng 3.2 Dân số, mật số dân số huyện năm 2010 24
Bảng 3.3 Tình hình sản xuất lúa cả năm của huyện giai đoạn năm 2008-2012 27
Bảng 4.1 Thông tin sơ lược về nông hộ sản xuất lúa 30
Bảng 4.2 Đặc điểm về nhân khẩu của hộ 30
Bảng 4.3 Tuổi của hộ sản xuất lúa trên địa bàn huyện Ngã Năm 31
Bảng 4.4 Trình độ học vấn của chủ hộ 32
Bảng 4.5 Số năm kinh nghiệm của hộ 33
Bảng 4.6 Thực trạng sử dụng giống lúa trong mẫu 34
Bảng 4.7 Lý do chọn giống của nông hộ 35
Bảng 4.8 Nơi mua lúa giống của nông hộ 35
Bảng 4.9 Người mua lúa của nông hộ 37
Bảng 4.10 Các nguồn thông tin chính về giá lúa của nông hộ 37
Bảng 4.11 Hình thức thanh toán khi mua giống lúa 38
Bảng 4.12 Mức độ tham gia tập huấn các nông hộ 39
Bảng 4.13 Ứng dụng khoa học kỷ thuật trong sản xuất 40
Bảng 4.14 Nguồn thông tin khoa học kỷ thuật của chủ hộ sản xuất lúa địa bàn huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng 40
Bảng 4.15 Tình hình tham gia HTX của nông hộ 41
Bảng 4.16 Lợi ích của việc tham gia HTX 41
Bảng 4.17 Lý do nông hộ không tham gia vào HTX 42
Bảng 4.18 Mong muốn của nông hộ khi tham gia vào HTX 42
Bảng 4.19 So sánh các khoản mục chi phí của nông hộ của vụ Đông xuân và vụ Hè thu 43
Bảng 4.20 Số lượng dưỡng chất N, P2O5, K2O được nông hộ sử dụng vụ Đông xuân và vụ Hè thu 44
Bảng 4.21 Số lượng giống và chi phí giống ma nông hộ sử dụng ở vụ Đông xuân và vụ Hè thu 44
Bảng 4.22 Số ngày công lao động gia đình và số ngày công lao động thuê mà nông hộ sử dụng vụ Đông xuân và vụ Hè thu 47
Trang 11Bảng 4.23 Số ngày công theo từng hoạt động trong sản xuất lúa của vụ Đông xuân và
vụ Hè thu 47 Bảng 4.24 Năng suất và giá bán của nông hộ vụ Đông xuân và vụ Hè thu 49 Bảng 4.25 So sánh các tỷ số tài chính của hộ vụ Đông xuân và vụ Hè thu 50 Bảng 4.26 Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất vụ Đông xuân 54 Bảng 4.27 Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất vụ Hè thu 57
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 4.1 Các nguồn thông tin chính về giá lúa của nông hộ 38 Hình 4.2 Hình thức thanh toán khi mua giống lúa 39
Trang 13DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- NN&PTNT : nông nghiệp và phát triển nông thôn
- ĐBSCL : đồng bằng sông cửu long
- Thuốc BVTV : thuốc bảo vệ thực vật
- LĐGĐ : lao động gia đình
- SXNN : sản xuất nông nghiệp
- KHKT : khoa học kỷ thuật
- HTX : hợp tác xã
Trang 14về đất đai, lao động, và điều kiện tự nhiên… nếu nước ta muốn phát triển công
nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy phát triển nông nghiệp làm gốc
Lúa được xem là một cây trồng chủ yếu của các nước Châu Á và sản phẩm lúa gắn liền với con người việt nam Ngày nay, tuy ngành công ngiệp và dịch vụ dã phát triển và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nhưng nghành nông nghiệp vẫn là nghành chủ đạo nhất là nghề trồng lúa đã đem lại thu nhập cao cho người dân giúp cho cuộc sống của người dân ổn định Từ lâu nông dân việt nam
đã biết canh tác lúa nước, từ khoảng 3 thập kỷ gần đây nước ta từ một nền nông nghiệp lạc hậu nhờ các cuộc khoa học kỷ thuật đã tác động mạnh mẽ đối với nền nông nghiệp đã đưa nước ta trở thành nước đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo Đặt biệt là ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng phần lớn đất đai của huyện là đất nông nghiệp, và thu nhập chính của người dân là nghề trồng lúa Trong thời gian qua người dân gặp nhiều khó khăn trong việc sản xuất và tiêu thụ nông sản
do nguồn nguyên liệu đầu vào ngày càng tăng , tình tình giá cả biến động về đầu
ra khi đến vụ thu hoạch hoặc đến vụ thu hoạch xong vẫn chưa tìm được đầu ra cho sản phẩm Đáng ngại hơn cây lúa là một cây trồng chiếm tỷ lệ cao của tỉnh
và đóng vai trò lớn trong việc tạo ra thu nhập cho người dân, vì thế việc tiêu thụ đầu ra cao cũng rất quan trọng và khó khăn do quá nhiều người thu hoạch nên tình trạng bị ép giá xảy ra đối với người dân
Sóc Trăng là một trong những tỉnh trọng điểm sản xuất nông nghiệp của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ( ĐBSCL) và cả nước, có tiềm năng đa dạng
và nhiều lợi thế phát huy về nền nông nghiệp lúa nước Sóc Trăng nằm ở cửa nam sông hậu, nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Hậu Giang, Thành Phố Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thuận lợi cho việc phát triển lúa nước Lúa là một cây trồng chủ yếu của nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng Nó giữ vai trò quan trọng trong việc tao ra thu nhập chính trong gia đình của người dân Tỉnh có nhiều thế mạnh về nông nghiệp, thủy hải sản, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, nhu cầu lúa gạo nhiều hơn, đa dạng hơn về chất lượng và chủng
Trang 15loại tạo thị trường tiêu thụ ngày càng rộng và nhiều cơ hội hơn cho ngành sản xuất lúa gạo của vùng ĐBSCL nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng
Bên cạnh những mặt thuận lợi ; hiện nay, tình hình sản xuất lúa cũng gặp không ít khó khăn về tính đa dạng của giống lúa, chất lượng lúa, dịch bệnh phân bón…đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản lượng cũng như chất lượng lúa gạo xuất khẩu của Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và của tỉnh Sóc Trăng nói riêng Hiệu quả tài chính là tiền đề quan trọng để phân tích thực trạng sản xuất Sản xuất lúa của huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng có mang lại lợi nhuận cao giúp người dân thoát nghèo, nâng cao đời sống người dân Thực tiển đặt ra là cần có một nghiên cứu để phân tích hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa của nông hộ ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
Để nắm bắt từ những vấn đề tồn tại trên và vai trò trong sản xuất lúa tại huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Chính vì vậy nên em đi sâu và phân tích đề tài
“Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình lúa 2 vụ ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài phân tích hiệu quả sản xuất mô hình lúa 2 vụ lúa ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Những thuận lợi và khó khăn khi người dân gặp trong sản xuất Qua đó, giúp đề ra một số phương hướng giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất nâng cao thu nhập của người dân
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Có những mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
- Phân tích thực trạng sản xuất lúa năm 2010,2011,2012,2013 của huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
- Phân tích hiệu quả sản xuất lúa qua 2 vụ là Đông Xuân năm 2012-2013, Hè Thu năm 2013 của nông hộ ở địa bàn nghiên cứu
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng năng suất đến quá trình sản xuất lúa của nông hộ tại huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại nông hộ
huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các khoản chi phí phát sinh và lợi nhuận mang lại cho nông hộ sản xuất lúa
Trang 16Trong quá trình sản xuất lúa của nông hộ tai huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã sử dụng yếu tố đầu vào nào? Sử dụng như thế nào? Mang lại hiệu quả như thế nào?
Các thông tin thị trường đầu ra của sản phẩm sản xuất được thể hiện như thế nào?
Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất của nông hộ gặp phải?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến năng suất lúa của nông hộ?
Cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa năm
2012-2013 tại huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng?
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Về thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu 2 vụ lúa là vụ Đông Xuân năm 2012-2013, vụ Hè Thu năm 2013 tại nông hộ huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Đề tài được thực hiện từ ngày 12/ 8/2013 – 18/11/2013
1.3.2 Về không gian nghiên cứu
Địa bàn huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
1.3.3 Về đối tượng nghiên cứu
Các hộ sản xuất lúa ở huyện ngã năm, tỉnh Sóc Trăng
1.4 Lược khảo tài liệu
Nguyễn Thị Thu An (2006), “phân tích hiệu quả của việc ứng dụng khoa học kỷ thuật vào sản xuất lúa nông hộ xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng” Mục tiêu của đề tài phân tích hiệu quả sản xuất khi nông dân áp dụng khoa học kỷ thuật vào sản xuất lúa và xác định những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp liên quan đến việc ứng dụng khoa học kỷ thuật mới đối với nông hộ
Nguyễn Phương Trang (2008), đã so sánh hiệu quả của hai mô hình sản xuất chuyên canh lúa và mô hình sản xuất luân canh lúa-màu của nông hộ xã Nguyễn Thanh Trung, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long”, Đề tài trên cho thấy tác giả cho thấy được hai mô hình luân canh lúa với mô hình luân canh lúa-màu đạt được nâng suất cao mang lại thu nhập cho nông hộ, giúp cải thiên được đời sống của người dân tỉnh Vĩnh Long
Đào Thị Tho (2008) với đề tài “Phân tích đánh giá hiệu quả sản xuất của
mô hình lúa – cá và lúa – màu ở xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước long, tỉnh Bạc
Trang 17Liêu” Đề tài đi sâu phân tích tình hình sản xuất của hai mô hình lúa – cá và lúa – màu, những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất của hai mô hình này, những thuận lợi
và khó khăn mà nông dân gặp phải trong mô hình này Đề tài kết luận mô hình lúa- màu phát triển hơn mô hình lúa – cá khá cao Điều này cho thấy cần có sự quan tâm hơn nửa từ chính quyền địa phương để mô hình này phát triển hơn nửa Trần Lê Tiến (2013), “ Phân tích hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa vụ Đông Xuân của nông hộ tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang”, luận văn tốt nghiệp, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân phối tần
số và mô hình hồi quy
- Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả và phân tích thực trạng sản xuất vụ lúa đông xuân 2012/2013 ở Tân Hiệp, Kiên Giang
- Đề tài sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích các yếu tố ảnh hướng đến lợi nhuận và năng suất lúa
Trang 18CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp luận
2.1.1 Hộ nông dân và kinh tế hộ
2.1.1.1 Hộ nông dân
Hộ nông dân (hộ gia đình) là những người cùng huyết tộc hoặc quan hệ
huyết tộc sống chung một mái nhà, có chung ngân quỹ và tiến hành hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích chung phục vụ nhu cầu các thành viên trong gia đình để sở hữu chung và thụ hưỡng các thành quả sản xuất của hộ gia đình
Hộ nông dân (hay nông hộ) là những đơn vị kinh tế tự chủ, là những cơ sở
kinh doanh trong nền kinh tế hàng hóa, điều kiện và cách làm ăn của mỗi nông
hộ là khác nhau
Trong cứu trúc nội tại của hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ, Do đó có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sỡ hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất Có sự thống nhất giữa quá trình phân phối, trao đổi và tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế, do đó hộ cùng lúc có thể thực hiện được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không thực hiện được
2.1.1.2 kinh tế hộ
Kinh tế hộ là một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh của hộ gia đình Quá trình phát triển của kinh tế hộ gắn liền với quá trình phát triển của hộ đang hoạt động
Kinh tế nông hộ là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cấp, tự túc hoặc có sản xuất hàng hóa với năng suất lao động thấp nhưng có vai trò phát triển trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của hộ gia đình trong nông – lâm – ngư nghiệp Các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu thành viên của hộ
2.1.2 Đặc điểm và tầm quan trọng của kinh tế hộ
a) Đặc điểm
Kinh tế hộ có những đặc tính riêng biệt với quá trình tiến triển của hộ qua các giai đoạn lịch sử Cũng do những đặc tính riêng biệt này của nó mà có thể cho rằng hộ là đơn vị kinh tế xã hội đặc biệt
Trang 19Có quy mô sản xuất nhỏ lẻ, trình độ công tác lạc hậu, trình độ khai thác tự nhiên thấp và có xu hướng ngày càng nhỏ hơn do sự gia tăng dân số rất nhanh trong khi sản xuất đất nông nghiệp không tăng mà ngày càng giảm xuống
Hộ mang tính huyết tộc Các thành viên huyết tộc của hộ là chủ thể đích thực của hộ, và tạo nên sự thống nhất chặt chẽ của hộ giữa quá trình phân phối, trao đổi, quản lý, sở hữu và sử dụng các yếu tố đầu vào sản xuất Có một người quyết định cao nhất thường là chủ hộ
b) Tầm quan trọng của kinh tế hộ
Kinh tế hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng Ở việt nam kinh tế nông hộ mặc dù còn ở quy mô sản xuất nhỏ lẻ
và phân tác nhưng có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển nông nghiệp
Do đặc trưng riêng biệt của mình nên kinh tế hộ có vai trò quan trọng trong
sự phát triển của nền kinh tế xã hội Cụ thể:
- Sản xuất nông sản đáp ứng được nhu cầu xã hội
- Chuyển từ nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Là thành phần chủ yếu của kinh tế nông thôn, có vai trò quan trọng trong xây dựng cơ sở hạ tầng, góp phần xây dựng nền văn minh
2.1.3 Sản xuất các yếu tố đầu vào
2.1.3.1 Khái niệm sản xuất và hàm sản xuất
Sản xuất: Là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào và quá trình biến đổi (inputs) để tạo thành các yếu tố đầu ra: một sản phẩm và dịch vụ nào đó (outputs)
Để biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và các đầu ra của nhà kinh tế thường thể hiện bằng hàm sản xuất
Trang 202.1.3.2 Các yếu tố đầu vào của nông nghiệp
Theo Đinh Phi Hổ (2003), các nguồn lực chủ yếu trong nông nghiệp bao gồm: đất đai, lao động, vốn và khoa học – công nghệ
a) Đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt nếu sử dụng hợp lý thì chất lượng của đất tăng lên Đất đai là một yếu tố đầu vào rất quan trọng và không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai có giới hạn về mặt diện tích
Về mặt số lượng: bao gồm những người hội đủ các yếu tố thể chất và
tâm lý trong độ tuổi lao động và một bộ phận dân cư ngoài tuổi lao động có khả năng tham gia lao động sản xuất nông nghiệp
Về mặt chất lượng: thể hiện khả năng hoàn thành công việc với kết quả
đạt được trong thời gian lao động nhất định Chất lượng tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe Trình độ thành thạo của lao động, mức độ và tính chất trang bị của lao động và tri thức của người lao động
c) Vốn trong nông nghiệp
Vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Đó là số tiền dùng để mua hoặc thuê ruộng đất, đầu tư hệ thống thủy nông, vườn cây lâu năm, máy móc thiết bị, công
cụ và tiền mua vật tư (phân bón, nông dược, thức ăn gia súc….)
Vốn trong nông nghiệp cũng được phản ánh thành vốn cố định và vốn lưu động
Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào tài sản cố định ( Tài sản cố định: tư liệu lao động có giá trị lớn, sử dụng trong một thời gian dài nhưng vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu và giá trị của nó được chuyển dần sang giá trị sản phẩm sản xuất ra theo mức độ hao mòn
Vốn Lưu động: là biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào tái sản lưu động (Tài sản lưu động là những tư liệu lao động có giá trị nhỏ, được sử dụng trong
Trang 21một thời gian ngắn, sau một chu kỳ sản xuất mà nó mất đi hoàn toàn hình thái ban đầu và chuyể toàn bộ vào giá trị sản xuất ra
Vốn trong nông nghiệp được đo lường bằng giá trị mà chúng được sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghiệp và được xem như một thứ hàng hóa,
Vì vậy, trong mỗi giai đoạn sản xuất nông nghiệp sẽ xuất hiện một khoản chi phí liên quan đến sử dụng vốn như: chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, lao động Sự tác động của vốn vào trong quá trình sản xuất và hiệu quả sản xuất không phải bằng cách trực tiếp mà là gián tiếp thông qua đát, cây trồng, vật nuôi
2.1.4 Một số khái niêm trong nông nghiệp
2.1.4.1 Khái niệm đa dạng hóa cây trồng
Đa dạng hóa cây trồng trong nông nghiệp là hệ thống cây trồng được bố trí một cách tối ưu trong một diện tích đất canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, từng khu vực nhằm phòng tránh rủi ro trong sản xuất Vì sản phẩm nông nghiệp mang tính rủi ro cao do phụ thuộc vào thời tiết, đồng thời đa dạng hóa cây trồng cũng là hình thức giảm rủi ro về thị trường, khó bị tồn động khi vào vụ thu hoạch Góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống người dân, bảo vệ môi trường tiến đến bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững
2.1.4.2 Các khái niệm cơ bản
Độc canh: là một hình thức khi gieo trồng một loại cây trồng trên
một mảnh đất nhằm thu được càng nhiều lợi nhuận càng nhiều, càng tốt Độc canh thường mang lại cho người nông dân một số bất lợi như sau:
- Thường gặp rủi ro về thiên tai, dịch bệnh
- Gia đình đông người ăn, ít người làm
- Thiếu vốn, thiếu tư liệu sản xuất
- Lãng phí nguồn tài nguyên đất, dễ bị thoái hóa đất
- Thường bị ép giá khi vào mùa vì số lượng nhiều mang tính đồng loạt
- Những hậu quả chủ yếu của độc canh:
Trang 22- Dịch bệnh dễ phá hoại khi canh tác một loài cây
- Rủi ro kinh tế khi sử dụng một loại cây nếu sâu bệnh, thiên tai sẽ phá hủy hoàn toàn Ngay cả khi được mùa cây trồng đó sẽ bị hạ xuống do số lượng cung cấp quá nhiều trên thị trường
Luân canh: là hiện tượng nông dân trồng luân phiên các cây trồng
khác nhau trên một đơn vị diện tích Nó giảm sự thoái hóa phì nhiêu, hiện tượng thiếu dinh dưỡng vi lượng và các dịch bệnh thường xuyên xảy ra, để xây dựng một kế hoạch luân canh tốt thì phải biết cách kết hợp giống hay chọn giống, loài tốt để phù hợp với nguồn dinh dưỡng Vì vậy luân canh cây trồng có những lợi
ích sau:
- Đa dạng hóa sản phẩm, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
- Duy trì độ phì nhiêu của đất đai
- Khắc phục được tình trạng kháng thuốc của sâu bệnh
- Hạn chế sự rủi ro
- Tránh lãng phí nguồn tài nguyên đất
- Luân canh có tác dụng bồi dưỡng và cải tạo đất
- Tăng năng suất cây trồng và sản lượng trong nông nghiệp
Xen canh: là trên cùng một diện tích có thể trồng hai loại hoa màu
hay vừa trồng vừa nuôi thủy sản cùng một lúc hoặc cách nhau một thời gian không lâu để tận dụng được diện tích đất, không gây lãng phí để tăng thu nhập
Xen canh giúp tiết kiệm được diện tích, chất dinh dưỡng và ánh sáng
Canh tác kết hợp: Hệ thống canh tác kết hợp là một biến dạng của kiểu canh tác nhiều loài gồm nhiều loài cây khác nhau trên cùng một lô đất
Tài nguyên nông hộ: là những nguồn tài nguyên có thể sử dụng
vào việc sản xuất của mình như: đất đai, lao động, tài chính, kỷ thuật,…, chúng
có mối quan hệ lẫn nhau giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa chăn nuôi và thủy sản, giữa sản xuất và dịch vụ Nông hộ khi sử dụng các nguồn lực này một cách triệt
để sẽ tạo nên một chu kỳ khép kín trong sản xuất và sẽ nâng cao được hiệu quả
sử dụng nguồn lực của mình, làm tăng thu nhập
Lịch thời vụ: Là lịch ghi rõ các hoạt động chính, các khó khăn và
thuận lợi trong suốt chu kỳ hàng năm dưới dạng biểu đồ, nó có thể sử dụng các việc như:
- Thời vụ ở địa phương
- Khí hậu (lượng mưa và nhiệt độ)
Trang 23- Thứ tự gieo trồng hoa màu
- Chăn nuôi gia súc
- Nuôi trồng thủy sản
- Các hoạt động sản xuất của hộ
- Nhu cầu lao động
2.1.5 Hiệu quả tài chính
2.1.5.1 Khái niệm
Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động và chi phí bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định
Hiệu quả tài chính hay hiệu quả sản xuất – kinh doanh là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp, một đơn vị sản xuất Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí
mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế
Hiệu quả tài chính phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của xã hội trong sản xuất thông qua việc so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
2.1.5.2 Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính
Tổng giá trị sản phẩm (TVP) là toàn bộ giá trị mà nông hộ thu được trên
đơn vị diện tích đất canh tác từ việc tiêu thụ sản phẩm Nó phụ thuộc vào tổng sản lương thu hoạch và giá bán sản phẩm
i i i
Trong đó: TVP tổng giá trị sản phẩm tính trên một đơn vị diện tích; Qi : khối lượng sản phẩm của cây trồng thứ i; Pi :giá bán sản phẩm của cây trồng loại thứ i; với i= 1,2,3….,n; A: diện tích canh tác
Lợi nhuận là bộ phận giá trị còn lại của tổng giá trị sản phẩm thu được (TVP) trừ đi tổng chi phí sản xuất (TC) Đây là chỉ tiêu quan trọng đề phân tích hiệu quả tài chính trong sản xuất
Công thức tính lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp:
Lợi nhuận (P) = Tổng giá trị sản phẩm (TVP) – Tổng chi phí (TC)
Trang 24Tổng doanh thu: là toàn bộ giá trị tài sản của sản phẩm cho một đơn vị diện tích bằng năng suất nhân cho đơn giá của sản phẩm cho một đơn vị diện tích
Tổng doanh thu = Năng suất * Đơn giá * Đơn vị diện tích
Tổng chi phí: Tổng chi phí là toàn bộ số tiền chi ra cho hoạt động canh tác
để tạo ra sản phẩm bao gồm: chi phí lao động, chi phí vật chất, chi phí khác
Tổng chi phí = Chi phí lao động + Chi phí vật chất + Chi phí khác
Tổng Thu nhập: “ Thu nhập là phần thu nhập mà hộ gia đình nhận đƣợc bao gồm lợi nhuận và chi phí cơ hội của lao động gia đình”
Tổng thu nhập = Lợi nhuận + Chi phí cơ hội LĐGĐ
Trong bài các yếu tố trên đƣợc tính trên 1.000m2
Doanh thu/chi phí (DT/CP) Tỷ số này phản ánh một đồng chi phí đầu tƣ thì
chủ thể đầu tƣ sẽ thu đƣợc bao nhiêu đồng doanh thu
Doanh thu DT/CP =
Chi phí
Lợi nhuận trên doanh thu (LN/DT): Thể hiện một đồng doanh thu thu đƣợc sẽ
có bao nhiêu đồng lợi nhuận
Lợi nhuận LN/DT =
Doanh thu
Thu nhập trên chi phí chưa có LĐGĐ(TN/CPchưa có LĐGĐ): Thể hiện một
đồng chi phí chƣa có lao động gia đình bỏ ra sẽ thu đƣợc bao nhiêu đồng thu nhập
Thu nhập TN/CP chƣa có LĐGĐ =
CP chƣa có LĐGĐ
Lợi nhuận/ngày công gia đình: Chỉ tiêu này đánh giá mức hiệu quả của việc
sử dụng ngày công nhàn rỗi của gia đình
Trang 25Hiệu quả lao động = lợi nhuận/tổng lao động: Chỉ tiêu nay nói lên lợi nhuận
do sử dụng một ngày công tạo ra (kể cả lao động gia đình và lao động thuê mướn)
+ Chi phí mua lúa giống, phân bón (URE,DAP,KALI, NPK,Trung vi lượng), thuốc bảo vệ thực vật, chi phí khác
+ Chi phí lao động theo từng khoản mục cụ thể (lao động nhà, lao động thuê) + Tổng chi phí, thu nhập, lợi nhuận
+ Lợi nhuận/Doanh thu
+ Lợi nhuận/Chi phí (BCR)
+ Thu nhập/Chi phí
+ Lợi nhuận/Ngày lao động gia đình
+ Hiệu quả lao động = lợi nhuận/tổng lao động
2.1.6 Khái quát về cây lúa
2.1.6.1 Cây lúa
Cây lúa là cây lương thực quan trọng của nước ta có vị trí quan trọng ở
vùng Đồng Bằng Sông Cữu Long (ĐBSCL) Trồng lúa là một ngề của nông dân
từ rất xa xưa và là một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất đá góp phần cho thành quả chung đó
Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng khí hậu ôn hòa, ít có bảo lớn xảy ra, lượng mua trung bình từ 1500 – 2000mm tạo điều kiện sinh trưởng và phát triển cho cây lúa Cây lúa mang lại nguồn thu nhập cho người dân góp phần nâng cao đời sống cho nông dân, trồng lúa không những đáp ứng được nhu cầu về lương thực mà còn giải quyết được việc làm cho người dân Đa số người dân nắm được những kiến thức về các kỷ thuật trồng lúa và các điều kiện tự nhiên mà mỗi vùng có cách gieo trồng và các giống lúa khác nhau
2.1.6.2 Đặc điểm của cây lúa
Lúa là một cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất, , tuy nhiên vẫn còn thiếu tài liệu để xác định chính xác thời gian đưa vào thực tiễn được rất nhiều
người thừa nhận cây lúa có vai trò rất quan trọng trong đời sống mỗi người Thời gian sinh trưởng tính từ lúc cây lúa nảy mầm lến lúc chính 90 ngày đến
180 ngày tùy theo giống và điều kiện ngoại cảnh, các giống trung ngày có thời gian sinh trưởng từ 140 – 160 ngày, lúa vụ mùa thì 200 – 240 ngày cá biệt có
những giống có thời gian sinh trưởng kéo dài đến 270 ngày
Trang 26Trong toàn bộ thời gian sinh trưởng cây lúa chia ra làm hai thời kỳ sinh trưởng chủ yếu: sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
+ Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng là tính từ lúc gieo trồng đến lúc làm đòng, trong thời kỳ này cây lúa chủ yếu hình thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như: lá, rễ, đẻ nhánh,….,
+ Thời kỳ sinh thực là thời kỳ phân hóa hình thành các cơ quan sinh sản được tính từ lúc làm đòng cho đến khi thu hoạch Bao gồm các quá trình lam đòng, trổ bông và hình thành hạt
2.1.6.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” là câu nói truyền miệng của cha
ông chúng ta trong kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp Quả đúng như vậy muốn lúa đạt năng suất cao cần có 4 yếu tố trên ảnh hưởng nhiều nhất và mức đọ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng cũng khác nhau
Nước: Hòa tan các chất dinh dưỡng và vận chuyển chúng trong đất để
cung cấp cho cây Các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây hầu hết là chất khoáng nếu không được hòa tan trong nước thì rễ cây không hút được Góp phần quan trọng vào việc cải tạo đất, tạo điều kiện cho vi sinh vật hoạt động phân giải các chất hữu cơ làm tăng độ phì nhiêu của đất Giúp cây trồng sinh trưỡng tốt, bộ rễ
phát triển mạnh giúp cây hút được chất dinh dưỡng tốt hơn
Giống: Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học các
loại giống mới được tao ra ngày càng nhiều, nhằm nâng cao năng suất chất lượng của sản phẩm, từng loại giống khác nhau sẽ khác nhau về năng suất, điều kiện thích nghi cũng khác nhau Những đặc tính này nếu được khai thác phù hợp với từng loại đất và khí hậu thì nó sẽ mang lại năng suất và lợi nhuận cao giúp nguời
nông dân bán được giá cao
Phân bón: Có 16 dưỡng chất cần thiết cho cây trồng Trong đó do 3
nguyên tố do nước và không khí cung cấp (C,H,O) Mười ba nguyên tố khác do đất đai và phân bón do con người cung cấp Phân bón được chia thành các loại
phân sau đây chúng có tác dụng lên cây trồng
- Phân đạm (URE): là chất tạo hình cho cây lúa là thành phần chủ
yếu của Protein và các chất diệp lục làm cho lá xanh tốt Phân đam thường chứa 46% Nito nguyên chất
- Phân lân: Lân có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng
Lân có trong thành phần hạt nhân tế bào, rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây Lân tham gia vào các thành phần enzim, các protein tham gia vào quá trình tổng hợp các axitamin
Trang 27Lân tổng hợp các chất đạm trong cây kích thích sự phát triển của cây,
làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra chung quanh, tạo điều kiên cho cây chống được hạn và ít đổ ngã
- Phân Kali: kali có vai trò chủ yếu trong chuyển hóa năng lượng
trong quá trình đồng hóa chất dinh dưỡng của cây
Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không lợi từ bên ngoài và chống chịu với một số loại bệnh kali tạo cho cây cứng chắc ít đổ ngã tăng khả năng chịu hạn, chịu rét
Kali làm tăng khả năng nông sản và góp phần làm tăng năng suất cho cây.kaki làm tăng hàm lượng đường trong quả làm cho sắc quả đẹp tươi, làm cho hương vị quả thơm và làm tăng khả năng bảo quản của quả Kali làm tăng chất bột trong củ khoai, làm tăng hàm lượng trong mía
+ Thuốc trừ sâu bệnh:do thời tiết có những diễn biến phức tạp và điều kiện thuận lợi cho loai sâu bệnh phát triển Để phòng chống sâu bệnh có hiệu quả nhanh và it tốn công người ta thường dùng các loại thuốc hóa học để phun cho lúa.Tuy nhiên, chi phí cho việc phòng trừ sâu bệnh rất cao và khả năng sâu bệnh kháng thuốc ngày càng tăng
- Chăm sóc: Trong quá trình sản xuất lúa thì khâu chăm sóc rất quan
trọng Chăm sóc cây tôt góp phần tăng vụ cây trồng, phát hiện được sâu bệnh sớm, từ đó có biện pháp phòng trừ sâu bệnh kịp thời và hạn chế thấp nhất do sâu bệnh gây ra
2.1.7 Xu hướng phát triển kinh tế hộ trong giai đoạn hiện nay
Xu hướng phát triển của nông nghiệp việt nam chuyển từ tự túc, tự cấp
sang sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Tuy nhiên trong diều kiện kinh tế thị trường thì những hộ nông dân sẽ biến đổi theo những hướng sau:
- Các hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc chuyên sang sản xuất hàng hóa nhỏ, các hộ này thuộc chủ yếu vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được nhà nước hỗ trợ, nhưng do quy mô sản xuất nhỏ, diện tích đất nông nghiệp nhỏ không có điều kiện
- Các hộ nông dân sản xuất tự cấp, tự túc chuyển sang sản xuất hàng hóa cao chưa phải là chủ trang trại Loại hình này tập trung nhiều ở vùng Đồng Bằng Sông Hồng, vùng Trung du và miền núi trồng cây chuyên môn hóa Chủ hộ
là những người có trình độ và kinh nghiệm sản xuất, nhưng quỹ đất han hẹp không đủ điều kiện để thành lập trang trại
Trang 28- Các hộ sản xuất có tỷ suất hàng hóa cao trở thành trang trại Đây là những hộ chưa trở thành trang trại, nhưng sẽ phát huy ưu thế của quá trình tập trung đất đai
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Địa bàn khảo sát của huyện Ngã năm gồm 3 xã: xã Vĩnh Biên, xã Long Tân
và xã Long Bình Phương pháp chọn địa bàn dựa theo một số tiêu chí sau:
Tham khảo từ các báo cáo kinh tế, đồng thời tham khảo sự giới thiệu của các cô, chú, anh, chị trong phòng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện để chọn địa bàn có nông hộ trồng lúa nhiều nhất Có nhiều phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, chọn mẫu cụm,… Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu em chọn phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Trong huyện em chọn 3 xã, mỗi xã em sẽ chọn 3 ấp từ 5 đến 10 mẫu Tổng số điều tra là 44 mẫu
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Số liệu thứ cấp
Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất lúa nói riêng về năng suất, sản lượng, diện tích sản xuất lúa qua các năm 2010 – 2012 được thu thập từ Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn của huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
Niên giám thống kê huyện, niên giám thống kê tỉnh sóc trăng
Thu thập trên sách báo, tạp chí kinh tế, giáo trình đại học, Internet,…
2.2.2.2 Số liệu sơ cấp
Sử dụng bảng câu hỏi soan sẵn để phỏng vấn trực tiếp 44 nông hộ và điều chỉnh để điều tra các hộ trồng lúa của huyện
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu nhập trên phần mềm excel, được xử lý bằng phần mềm Eviews
Các phương pháp được phân tích trong bài viết bao gồm:
Phân tích thống kê mô tả, phân tích hồi quy tuyến tính, phân tích so sánh Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng trong sản xuất lúa năm qua 2 vụ là vụ Đông
Xuân năm 2012-2013, Hè Thu năm 2013 ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Với mục tiêu này sử dụng thống kê mô tả nhằm để mô tả thực trạng trồng lúa và phương pháp so sánh số tuyệt đối và tương đối để tính tốc độ tăng trưởng qua các năm
Trang 29 Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp tập hợp các số liệu đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực kinh doanh bằng cách rút ra kết luận dựa trên số liệu thông tin được thu thập trong điều kiện không chắc chắn Thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu này để phân tích thực trạng lúa của vụ Đông Xuân năm 2012-2013,vụ Hè Thu năm 2013 ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp dùng để phân tích các hoạt động kinh
tế, các phương pháp này đòi hỏi các chỉ tiêu có cùng điều kiện có tính so sánh được để xem xét, đánh giá, rút ra kết luận về hiện tượng, quá trình nghiên cứu có
- So sánh bằng số bình quân: Số bình quân là biểu hiện mức độ chung nhất về mặt lượng của các đơn vị bằng cách san bằng mọi chênh lệch trị số giữa các đơn
vị đó, nhằm khái quát đặc điểm điển hình của một tổ, một bộ phận hay một tổng thể có hiện tượng cùng tính chất
Mục tiêu 2: Phân tích hiệu quả sản xuất lúa thông qua 2 vụ chính vụ Đông
Xuân năm 2012-2013, Hè Thu năm 2013 của huyện Ngã Năm
Bảng thống kê: là hình thức trình bày số liệu thống kê và số liệu thu thập được làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là trình bày kết quả nghiên cứu, nhờ đó
mà các nhà quản trị có thể nhận xét một cách tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu 3: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lúa năm
2012-2013 của các nông hộ huyện Ngã Năm như: phân bón, thuốc, lao động… Hàm sản xuất Cobb-Douglas thường được dùng trong nghiên cứu kinh tế sản xuất nông nghiệp Cobb-Douglas (1928) nhận xét rằng log của các yếu tố đầu vào Xi và sản lượng đầu ra Y có mối quan hệ với nhau Họ đã đưa ra giả thuyết
về hàm sản xuât Cobb-Douglas như sau:
Trang 30Hằng số 0 di diện cho tham số hiệu quả từ các yếu tố đầu vào cố định Xi, 0
có thể lớn, 0 càng lớn thì thu được đầu ra Y cực đại từ các yêu tố đầu vào
Mục tiêu 4: Đánh giá hiệu quả của mô hình và đề ra các giải pháp phát triển
cho mô hình Từ những số liệu thống kê sử dụng phương pháp logic để suy luận
để đánh giá ưu điểm và nhược điểm của mô hình sản xuất
Trang 31
CHƯƠNG 3GIỚI THIỆU TỐNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Khái quát về địa bàn Sóc Trăng
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Tỉnh sóc trăng nằm trong vùng sông cửu long thuộc việt
nam, tỉnh sóc trăng nằm ở cửa nam sông hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh 231km, cách cần thơ 62km, nằm trên quốc lộ 1A nối liền các tỉnh cần thơ, Hậu giang, Bạc Liêu, Cà Mau Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà vinh, Bến tre và Tiền Giang Sóc Trăng có vị trí tọa độ 9012’- 9056’ Vĩ Bắc và 105033’-
106023’ Kinh Đông Địa Giới hành chính của thành phố Sóc Trăng như sau:
Phía Bắc và Tây Bắc giáp Hậu Giang
Phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu
Phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh
Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông
Sóc Trăng có đường bờ biển dài 72km và 3 cửa sông lớn: Định An, Trần
Đề, Mỹ Thanh đổ ra biển Đông
Diện tích tự nhiên 3.11,7629km2( chiếm khoảng 1% diện tích cả nước và 8,3% diện tích Đồng Bằng Sông Cửu Long)
là 205,748ha (chiếm 62,13%), đất lâm nghiệp có rừng 11.356ha (chiếm 3,43%), đất nuôi trồng thủy sản 54,373ha (chiếm 16,42%), đất làm muối và đất nông nghiệp khác chiếm 0,97% Trong tổng số 278.154ha đất nông nghiệp thì có 144.156ha sử dụng cho canh tác lúa, 21,401ha cây hằng năm khác và 40.919ha dùng trồng cho cây lâu năm và cây ăn trái Riêng đất nông nghiệp là 53.963ha và 2.526ha đất chưa sử dụng
Đặc điểm địa hình: Địa hình Sóc Trăng tương đối bằng phẳng, cao ở phía sông hậu và biển Đông Vùng thấp nhất là phía Tây và Tây bắc Sóc trăng có hệ thống kênh gạch chịu ảnh hưởng của thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4m đến 1m
Trang 32 Tài nguyên rừng: Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển Sóc Trăng có nhiều điều kiện phát triển kinh tế biển tổng hợp, thủy hải sản, nông- lâm ngư nghiệp,….,
3.1.2 Khái quát về huyện Ngã Năm
3.1.2.1 Vị trí địa lý kinh tế
Ngã Năm là một huyện nằm ở phía Tây, thuộc vùng trũng của tỉnh Sóc Trăng Huyện được thành lập vào năm 2003 theo Nghị định số 127/2003/NĐ-CP ngày 31/10/2003 của Chính phủ, có tổng diện tích tự nhiên là 24.224,35 ha với 8 đơn vị hành chính gồm 7 xã, 1 thị trấn: Thị trấn Ngã Năm, xã Long Tân, xã Vĩnh
Quới, xã Tân Long, xã Long Bình, xã Vĩnh Biên, xã Mỹ Bình, xã Mỹ Quới
Huyện Ngã Năm có địa giới hành chính: phía Đông giáp huyện Mỹ Tú và Thạnh Trị, phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía Tây giáp tỉnh Bạc Liêu và phía Nam giáp huyện Thạnh Trị
Trên địa bàn Huyện có hệ thống giao thông thủy bộ kết nối thuận lợi với các trung tâm đô thị trong vùng, đặc biệt là tuyến giao thông đường thủy, bộ quốc gia Quản Lộ - Phụng Hiệp là điều kiện thuận lợi cho Huyện đẩy nhanh giao thương, thúc đẩy mạnh phát triển sản xuất một cách toàn diện nền kinh tế trong thời gian tới
Với vị trí địa lý trên, huyện Ngã Năm hoàn toàn có cơ hội để tập trung đẩy mạnh phát triển thương mại, du lịch, công nghiệp nhỏ và vừa, sản xuất nông nghiệp sinh thái đô thị
3.1.2.2 Khí hậu thời tiết, thủy văn:
a Khí hậu thời tiết:
Huyện Ngã Năm nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao, nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 26,8oc Độ ẩm không khí trung bình
83 - 84% Trong năm, khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa bình quân 1.840 mm/năm và phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mùa mưa lượng mưa chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm Trên địa bàn Huyện có 2 hướng gió chính: gió mùa Tây Nam vào mùa mưa, gió mùa Đông Bắc vào mùa khô, tốc độ gió trung bình khoảng 3,9m/s
b Thủy văn:
Chế độ thủy văn của Huyện chịu ảnh hưởng lớn bởi hệ thống kênh đào Quản Lộ - Phụng Hiệp, thông qua hệ thống kênh trục và kênh đồng Từ khi hệ
Trang 33thống ngọt hóa Quản Lộ - Phụng Hiệp hoàn thành, toàn bộ diện tích đất trên địa bàn huyện đều có nước ngọt quanh năm Sự thay đổi môi trường từ sinh thái ngập mặn sang sinh thái được ngọt hóa làm chuyển biến đáng kể ngành nông nghiệp của Huyện trong những năm qua
Với điều kiện khí hậu thời tiết, thủy văn như trên cơ bản thuận lợi cho việc
bố trí sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Đặc biệt thuận lợi cho việc nuôi trồng và khai thác thủy sản nước ngọt Tuy nhiên, những biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn
ra, nhất là vấn đề nước biển dâng sẽ tác động đến vùng ven sông Việc kiên cố hóa hệ thống đê bao cần được đặt ra trong thời kỳ quy hoạch
c) Sông ngòi
Ngã năm có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, đặc biệt là kênh sáng phụng Hiệp nối liền với Ngã Năm với Hậu Giang và Bạc Liêu thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa với hai địa bàn này và các vùng lân cận khác
Kênh sáng Phụng Hiệp cắt ngang những dòng sông khác hình thành trên dòng sông năm ngã, đây là địa điểm du lịch tương đối nỗi tiếng của vùng với tên gọi chợ nổi Ngã Năm, đây là các khu vực diễn ra các hoạt động mua bán rất lớn
3.1.2.3 Tài nguyên đất đai
Tài nguyên đất phân theo loại đất
Theo kết quả nghiên cứu xây dựng bản đồ đất cho thấy, đất huyện Ngã Năm gồm 03 nhóm chính:
- Nhóm đất phèn: bao gồm hai loại đất chính: Đất phèn tiềm tàng nhiễm
mặn đọng mùn và đất phèn hoạt động nhiễm mặn đọng mùn
+ Đất phèn tiềm tàng nhiễm mặn đọng mùn: được phân bố tại các khu vực tương đối trũng như xã Long Bình, Vĩnh Biên và một phần của xã Vĩnh Quới hướng về phía Bạc Liêu song song với kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp
+ Đất phèn hoạt động nhiễm mặn đọng mùn được phân bố rải rác tại các xã, thị trấn trên địa bàn Huyện, tập trung nhiều nhất ở các xã Vĩnh Biên, Tân Long, Long Tân và thị trấn Ngã Năm
- Nhóm đất mặn
Huyện Ngã Năm là vùng đất ngập mặn đã được ngọt hóa Diễn biến của đất mặn tương đối đa dạng dẫn đến ranh giới mặn, diện tích các đơn vị đất mặn ít, mặn trung bình hay mặn nhiều thường thay đổi theo mùa vụ và qua các năm Nhóm đất mặn bao gồm 3 loại:
Trang 34+ Đất mặn ít: Nhìn chung loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu, cây ăn trái, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày Ngoài ra còn có thể phát triển nuôi trồng thủy sản Tập trung nhiều ở các xã Tân Long, Long Tân… + Đất mặn trung bình: Loại đất này thích hợp cho trồng lúa, nuôi trồng thủy sản,… Tập trung nhiều ở thị trấn Ngã Năm, Vĩnh Biên, Vĩnh Quới…
+ Đất mặn nhiều: Tập trung nhiều ở xã Mỹ Quới, Tân Long và một phần ở
xã Mỹ Bình Loại đất này thích hợp cho trồng lúa đặc sản chất lượng cao, tuy nhiên cần quan tâm đến vấn đề thủy lợi để cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Nhóm đất nhân tác
Trong quá trình canh tác của con người và sự tác động của cơ giới hóa đã hình thành lên nhóm đất nhân tác, chủ yếu là thổ canh, thổ cư, đất vườn đã được lên líp Nhóm đất nhân tác có thuận lợi là khắc phục được nhiều hạn chế đối với
sự sinh trưởng phát triển của cây trồng như mặn, phèn và ngập úng
3.1.2.4 Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất
Theo kết quả kiểm kê đất năm 2012, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Ngã Năm là 24.224,35 ha, chiếm khoảng 7,3% trong tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Sóc Trăng
- Đất nông nghiệp là 21.775 ha, chiếm 89,6% diện tích đất tự nhiên của Huyện Trong đó:
+ Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 21.101 ha, chiếm 86,01% diện tích đất tự nhiên (trong đó diện tích đất trồng lúa là 18.176 ha);
+ Đất lâm nghiệp 663 ha, chiếm 3,42% diện tích đất tự nhiên
+ Đất nuôi trồng thủy sản là 11,46 ha, chiếm 0,073% diện tích tự nhiên
- Đất phi nông nghiệp 2.449,13 ha, chiếm 10,4% diện tích đất tự nhiên
- Ngã năm không có đất chưa sử dụng
Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn Huyện trong thời gian qua nhìn chung theo xu hướng giảm dần diện tích đất nông nghiệp và tăng diện tích đất phi nông nghiệp Trong đó, đất ở và đất chuyên dùng tăng còn đất trồng lúa giảm Tài nguyên đất đai của Huyện từng bước được khai thác sử dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên trong vùng Phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã được đầu tư thâm canh, nâng cao mức thu nhập trên một đơn vị diện tích sản xuất Đồng thời đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng khối lượng các loại sản phẩm nông sản có giá trị kinh tế cao
Trang 35Huyện Ngã Năm có địa hình tương đối bằng phẳng Tuy nhiên, nếu xét chi
tiết huyện Ngã Năm có thể chia thành hai khu vực địa hình có độ sâu ngập và
thời gian ngập tương đối khác biệt nhau:
- Khu vực 1: Khoảng 1/2 diện tích thuộc phần đất phía Đông của huyện
theo hướng huyện Mỹ Tú Đây là vùng thấp theo mặt bằng chung của huyện, bao
gồm các xã: Tân Long, Long Tân, Long Bình và thị trấn Ngã Năm có độ ngập
sâu từ 60 - 100 cm, thời gian kéo dài khoảng 3 đến 3,5 tháng
- Khu vực 2: Khoảng 1/2 diện tích thuộc phần đất phía Tây của huyện theo
hướng tỉnh Bạc Liêu Đây là vùng cao theo mặt bằng chung của huyện, có độ sâu
ngập từ 30 - 60 cm, thời gian ngập kéo dài khoảng 2 đến 2,5 tháng, bao gồm các
xã: Mỹ Bình, Mỹ Quới, Vĩnh Quới, Vĩnh Biên Tình hình ngập sâu ở khu vực
này không đồng đều Một số ít diện tích các xã Vĩnh Quới, Vĩnh Biên và Mỹ
Quới có độ sâu ngập nhiều hơn và thời gian ngập cũng lâu hơn so với toàn khu
vực
Trang 36
3.1.2.6 Tài nguyên nước
- Tài nguyên nước mặt (bao gồm nước từ các sông rạch và nước mưa): Nước mặt: Nguồn nước từ sông Hậu được dẫn qua hệ thống kênh, rạch và các công trình ngọt hoá khép kín như hệ thống kênh Phụng Hiệp là nguồn nước mặt chính phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên, một số xã giáp ranh với tỉnh Bac Liêu thường bị nước mặn xâm nhập vào một số ngày của tháng
3, 4 ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, lượng mưa hàng năm cũng là nguồn nước ngọt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt của nhân dân
Huyện Ngã Năm nằm hai bên bờ kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp nên chịu ảnh hưởng của biển Đông thông qua sông Hậu, mỗi ngày có hai lần triều lên và xuống, mực nước triều cao nhất khoảng 0,8 - 0,9 m Ngoài ra trên địa bàn Huyện còn có hệ thống sông, ngòi, kênh rạch chằng chịt Hệ thống kênh rạch tạo nguồn
cơ bản hoàn chỉnh với mật độ kênh khá cao; hệ thống kênh mương nội đồng đảm bảo đủ nước tưới cho hai vụ lúa chính
- Tài nguyên nước ngầm:
Nước ngầm: Tầng nước ngầm phổ biến ở huyện có độ sâu từ 70 - 130
m, là nước ngầm có áp, trữ lượng lớn và chất lượng khá tốt, không bị nhiễm mặn, có hàm lượng kim loại nặng thấp Tuy nhiên, nước có mùi tanh Một số mẫu bị ô nhiễm khoáng nhẹ
3.1.3 Dân số và nguồn lực
3.1.3.1 Dân số và phân bố dân cư
Theo số liệu điều tra dân số năm 2010, dân số trung bình huyện có 79,4 ngàn người, chiếm khoảng 6,2% tổng dân số của toàn tỉnh Sóc Trăng Trong đó, người Kinh là chủ yếu, chiếm 92,7%; người Khơ-me chiếm khoảng 6,1%; còn lại
là người Hoa Cộng đồng dân cư đa dạng, tạo cho huyện có nền tảng văn hoá đặc sắc, tiềm năng phong phú về nguồn lực con người; song cũng có những đặc thù riêng về tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội
Mật độ dân cư trên địa bàn huyện còn khá thưa so với toàn tỉnh, bình quân
328 người/ km2; dân số phân bố tập trung chủ yếu dọc theo các đường giao thông
và kênh rạch thuận lợi cho đi lại và sản xuất; một bộ phận còn lại phân bố rãi rác, không thuận lợi cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn
Trang 37Bảng 3.2: Dân số,mật độ dân số huyện năm 2010
HẠNG MỤC Diện tích tự nhiên
(km2)
Dân số trung bình
- Lao động ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 34.539 người năm 2007
và 36.702 người năm 2011 (chiếm 81,33% so tổng số lao động làm việc năm
2007 và chiếm 80,29% so tổng số lao động làm việc năm 2009)
- Lao động ngành công nghiệp và xây dựng giảm từ 2.172 người năm 2007 xuống 2.003 người năm 2011 (chiếm 5,11% so tổng số lao động làm việc năm
2005 và chiếm 4,38% so tổng số lao động làm việc năm 2011)
- Lao động trong các ngành dịch vụ tăng từ 5.757 người năm 2007 lên 7.006 người năm 2011 (chiếm 13,56% so tổng số lao động làm việc năm 2007 và chiếm 15,33% so tổng số lao động làm việc năm 2011)
3.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Ngã Năm
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ lực trong phát triển kinh tế của
huyện Ngã Năm Mặc dù trong thời gian qua, chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới song với việc không ngừng nổ
Trang 38lực khai thác các lợi thế về điều kiện đất đai, sinh thái đồng thời nhờ tích cực thực hiện các chương trình, chính sách phát triển nông nghiệp và thuỷ sản như áp dụng giống mới, cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ nông dân, củng cố và nâng cấp các công trình thuỷ lợi nên sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản phát triển mạnh
Trong nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch mạnh theo hướng giảm diện tích cây trồng, vật nuôi kém hiệu quả sang các cây trồng, vật nuôi cho giá trị kinh tế cao, hình thành các vùng chuyên canh Việc sử dụng các loại giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật ngày càng phổ biến, kinh nghiệm và việc áp dụng quy trình kỹ thuật vào sản xuất ngày càng được nông dân quan tâm hơn, đặc biệt
là trong sản xuất lương thực (lúa) Trong chăn nuôi việc cải tiến hệ thống chuồng trại, sử dụng giống lai và áp dụng phương pháp gieo tinh nhân tạo hiện nay khá phổ biến; Tình hình cơ giới hoá áp dụng vào sản xuất đã có bước chuyển biến tích cực Đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất đa dạng cho giá trị sản xuất và lợi nhuận cao, có khả năng nhân rộng thành vùng tập trung, quy mô lớn, như: mô hình chuyên canh cây ăn trái, mô hình chuyên canh mía giống mới, mô hình chuyên trồng rau màu thực phẩm, mô hình lúa đặc sản, chất lượng cao, mô hình lúa - màu, mô hình lúa - cá, lúa - tôm…
Trồng trọt
Trồng trọt chuyển đổi theo hướng giảm dần diện tích gieo trồng lúa, tăng dần diện tích cây màu và cây ăn quả, nhằm tăng giá trị sản xuất trên 1 đơn vị diện tích Cây lúa được gieo trồng ở hầu hết các xã, thị trấn; tập trung nhiều ở các xã Long Tân, Tân Long, Vĩnh Biên Đến năm 2010, diện tích gieo trồng lúa đạt 36.016 ha với tổng sản lượng ước đạt 210.691 tấn.đến năm 2011 diện tích gieo trồng đạt 37.522,78 ha Diện tích và sản lượng rau màu tăng nhanh, riêng diện tích trồng rau, đậu các loại ước khoảng 2.509 ha với tổng sản lượng khoảng 31.363 tấn Cây ăn quả lâu năm tăng đáng kể nhờ thực hiện chuyển đổi
cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cải tạo vườn tạp, tái tạp…
Về chăn nuôi:
Trong những năm gần đây, mặc dù liên tiếp chịu tác động của nhiều loại dịch bệnh song chăn nuôi trên địa bàn Huyện đã có những bước phát triển khá ổn định Chăn nuôi heo là thế mạnh của Huyện, được duy trì và phát triển ổn định Năm 2009 đạt 66.049 ngàn con; năm 2010 tăng lên 70.000 ngàn con, chiếm trên 16% so tổng đàn heo của tỉnh Nuôi heo phân bố ở khắp các xã, trong đó tập trung nhiều ở các xã Long Tân, Vĩnh Biên, Vĩnh Quới, Tân Long Đàn trâu bò phát triển khá nhanh trên địa bàn huyện; và gia cầm có xu hướng phục hồi tốt
Trang 39Năm 2011 đàn heo đạt 94.878 con Đàn gia cầm đạt 985.745 con Quy mô gia cầm trong địa bàn huyện củng tăng theo Năm 2012 đần heo đạt 97.077 con
- Đàn heo: Thực hiện 50.453/90.000 con, đạt 56,06% KH Ước 6 tháng
59.760 con, đạt 66%KH
- Đàn trâu, bò: Thực hiện 544/700 con, đạt 77,71% KH
- Đàn gia cầm: Thực hiện 511.315/1.200.000 con đạt 42,61% KH: Ước 6
tháng 696.000 con, đạt 58% KH
Công tác phòng, chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm tiếp tục được đẩy mạnh, dịch cúm gia cầm tiếp tục được khống chế Công tác lai tạo, nâng cao chất lượng giống và ứng dụng quy trình, công nghệ mới trong chăn nuôi được thường xuyên quan tâm Đồng thời, huyện đang tích cực thực hiện việc chuyển đổi tập quán chăn nuôi quảng canh sang phát triển chăn nuôi tập trung theo lọai hình quy
mô trang trại
- Thủy sản
Thủy sản trong thời gian qua phát triển khá nhanh do từng bước khai thác tốt các lợi thế về điều tự nhiên, hệ thống thủy lợi và mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu sản xuất Nhiều thành phần kinh tế và hộ gia đình đã mở rộng diện tích nuôi thủy sản trong ao, mương vườn và nuôi kết hợp với trồng lúa đạt hiệu quả kinh tế cao Diện tích nuôi trồng và sản lượng thủy sản liên tục tăng nhanh trong những năm qua Tổng sản lượng thủy sản trên địa bàn đạt 3600 ha năm 2010 và giảm 3.057
do ảnh hưởng của môi trường, nguồn nước và dịch bệnh nên tỷ lệ rủi ro trong nuôi trồng thuỷ sản còn khá cao
3.1.5 Thực trạng sản xuất lúa năm 2008-2012 huyện Ngã Năm
Tình hình sản xuất lúa cả năm của tỉnh Ngã Năm giai đoạn 2008-2012
nhìn chung năng suất diện tích biến động qua các năm
Trang 40Bảng 3.3: Tình hình sản xuất lúa cả năm của huyện giai đoạn năm 2008-2012
(Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn)
Bảng 3.3 cho thấy diện tích trồng lúa cả tỉnh năm 2008-2012 đã tăng từ 36.544 ha lên đến 37.523 ha tăng 2,7% diện tích, trong đó giai đoạn 2008-2010
là giảm về diện tích từ 36.544 ha xuống còn 36.016 ha giảm 528 ha, giai đoạn 2008-2009 diện tích tăng lên từ 36.544 ha lên 36.824 ngàn ha tăng 28 ha, giai đoạn năm 2009-2010 giảm về diện tích từ 36.842 ha xuống còn 36.016 ha giảm
826 ha Diện tích tăng lên là ở giai đoạn 2010-2012 với tỷ lệ tăng lên4,2% Diện tích lúa có sự dao động trong các năm là do giá lúa chưa ổn định nên hộ sản xuất theo xu hướng giá thị trường Bên cạnh đó, diện tích sản xuất lúa tăng vì quy hoạch và định hướng phát triển sản xuất lúa của huyện
Trong giai đoạn 2008-2012, năng suất lúa bình quân của tỉnh có nhiều biến động Từ năm 2008-2009 với năng suất lúa giảm từ 57,50 tạ/ha xuống 57,07 tạ/ha giảm 0,43 tạ/ha giảm 0,7% Giai đoạn 2009-2012 năng suất tăng liên tục lên từ 57,07 tạ/ha lên đến 62,0 tạ/ha (tăng 8,6% so với năm 2009) Năng suất lúa
có nhiều biến động là vì sản xuất lúa phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết, tình hình sâu bệnh phát triển phức tạp nhưng nhờ các tiến bộ trong kỹ thuật canh tác, cơ giới hóa trong nông nghiệp đã làm giảm thất thoát và tăng năng suất cho người nông dân vì thế năng suất luôn ở mức cao từ năm 2008-2012 luôn trên 50 tạ/ha Sản lượng lúa của huyện trong giai đoạn từ năm 2008- 2012 tăng lên với sản lượng năm 2008 là 210.137 tấn lên tới 225.339 tấn năm 2012 tăng 202 tấn (tăng 7,2% so với năm 2008) Sản lượng tăng là do năng suất và diện tích trồng lúa tăng Sản lượng lúa lớn đáp ứng nhu cầu hoạt động cho các nhà máy xay xát trong và ngoài tỉnh, đảm bảo nguồn lương thực cung cấp cho người dân trong tỉnh và xuất khẩu
3.1.5.1 Thời vụ
Vụ lúa Đông Xuân 2012 - 2013, năng suất đạt trên 7,2 tấn/ha, sản lượng đạt 131.882 tấn, đạt 102,8% kế hoạch, nâng tổng sản lượng tính theo năm lương thực đạt 146.429 tấn, đạt 61% kế hoạch
Vụ Hè Thu 2013 xuống giống đạt 100% diện tích, trong đó có 3.541 ha diện tích lúa đặc sản, đến nay đã thu hoạch khoảng trên 4.303,9 ha, năng suất đạt 5,2 - 5,5 tấn/ha
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2008 2009 2010 2011 2012
Diện tích Ha 36.544 36.842 36.016 37.523 37.523 Năng suất tạ/ha 57,50 57,07 58,53 60,4 62,0 Sản lượng tấn 210.137 210.154 210.803 220.515 225.339