Qua đó nghiên cứu hy vọng đề tài có thể giúp người nông dân, cơ quan,… thấy được thực trạng sản xuất, mức hiệu quả kỹ thuật của sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long... 1.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QTKD
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QTKD
PHAN THỊ KIM HẰNG MSSV: 4105120
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ CÁC CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CỦA VIỆC SẢN XUẤT
Trang 3
LỜI CẢM TẠ
Sau 4 năm học tập và nghiên cứu tại Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh Trường Đại học Cần Thơ Hôm nay, với những kiến thức đã học được ở trường và những kinh nghiệm thực tế trong quá trình học tập, em đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Nhân quyển luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn đến:
Quý thầy (cô) trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là các thầy (cô) Khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh đã dầy công truyền đạt kiến thức cho em trong suốt 3 năm học tập tại trường Đặc biệt, em xin gửi lời cám ơn đến cô Trần Thụy Ái Đông Cô đã nhiệt tình hướng dẫn và đóng góp ý kiến giúp em hoàn thành tốt luận văn này
Bên cạnh đó, em cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các cô chú, các anh chị Phòng nông nghiệp huyện Trà Ôn đã tạo mọi điều kiện cho em thực hiện đề tài luận văn của mình
Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức và thời gian có hạn nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý cơ quan cùng quý thầy (cô) để luận văn này hoàn thiện hơn và có ý nghĩa thực tế hơn
Cuối lời, em kính chúc quý thầy (cô) khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh cùng quý cô chú, anh/chị tại phòng nông nghiệp huyện Trà Ôn được dồi dào sức khỏe, công tác tốt, luôn vui vẻ trong cuộc sống và thành đạt trong công việc
Trân trọng kính chào!
Cần Thơ, ngày 02 tháng 12 năm 2013
Người thực hiện
PHAN THỊ KIM HẰNG
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu
của tôi và các kết quả nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp
nào khác
Cần Thơ, ngày 02 tháng 12 năm 2013
Người thực hiện
PHAN THỊ KIM HẰNG
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Phạm vi không gian 2
1.3.2 Phạm vi thời gian 2
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.4 Nội dung nghiên cứu 3
1.4 Lược khảo tài liệu 3
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 Phương pháp luận 5
2.1.1 Khái niệm nông hộ, kinh tế nông hộ 5
2.1.2 Khái niệm về sản xuất 5
2.1.3 Một số khái niệm về hiệu quả trong sản xuất 6
2.1.4 Một số khái niệm về doanh thu, chi phí, lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính khác 9
2.2 Phương pháp nghiên cứu 11
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 11
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 12
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 13
Chương 3: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI ĐỊA BÀN NGUYÊN CỨU 17
3.1 Tổng quan về xã Lục Sĩ Thành 17
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 17
3.1.2 Kinh tế - văn hóa xã hội 17
3.2 Tình hình trồng củ sắn tại xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn 19
Trang 63.2.1 Giới thiệu về cây củ sắn 19
3.2.2 Thực trạng sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn 21
Chương 4: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA CỦ SẮN TẠI XÃ LỤC SĨ THÀNH, HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG 23
4.1 Phân tích thực trạng sản xuất củ sắn ở của nông hộ 23
4.1.1 Mô tả các nguồn lực của nông hộ trong quá trình trồng củ sắn 23
4.1.2 Lý do trồng củ sắn 27
4.1.3 Kỹ thuật sản xuất 29
4.1.4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc trồng củ sắn 31
4.2 Phân tích chi phí, doanh thu và các chỉ tiêu tài chính 34
4.2.1 Phân tích các khoản mục chi phí 34
4.2.2 Doanh thu từ hoạt động trồng củ sắn 40
4.2.3 Phân tích các chỉ số tài chính 41
4.3 Hiệu quả kỹ thuật và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của việc sản xuất củ sắn tại địa bàn nghiên cứu 43
4.3.1 Mô hình hảm sản xuất Cobb-Douglas 43
4.3.2 Hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật 44
Chương 5: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA VIỆC SẢN XUẤT CỦ SẮN Ở XÃ LỤC SĨ THÀNH, HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG 49
5.1 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành 50
5.1.1 Thuận lợi 50
5.1.2 Khó khăn 52
5.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long 52
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
6.1 Kết luận 54
6.2 Kiến nghị 56
6.2.1 Đối với cơ quan nhà nước 56
6.2.2 Đối với tổ chức khuyến nông, bảo vệ thực vật, viện nghiên cứu 57
6.2.3 Đối với các nhà kinh doanh 57
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 PHỤ LỤC 1 59 PHỤ LỤC 2 62
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu mẫu số liệu điều tra tại xã Lục Sĩ Thành năm 2013 12
Bảng 3.2 Diện tích, năng suất, sản lượng củ sắn tại xã Lục Sĩ Thành giai đoạn 2010-2012 21
Bảng 4.3 Số nhân khẩu và lao động của nông hộ năm 2013 23
Bảng 4.4 Tuổi của chủ hộ 24
Bảng 4.5 Trình độ học vấn của nông hộ trồng củ sắn theo các cấp học 25
Bảng 4.6 Kinh nghiệm của nông hộ 25
Bảng 4.7 Tổng diện tích đất và diện tích đất trồng sắn của nông hộ 27
Bảng 4.8 Lý do trồng củ sắn của nông hộ 28
Bảng 4.9 Tập huấn các kiến thức kỹ thuật cho nông hộ 31
Bảng 4.10 Những thuận lợi đầu vào của việc sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành 31
Bảng 4.11 Những khó khăn đầu vào của nông hộ gặp phải khi sản xuất 32
Bảng 4.12 Những thuận lợi đầu ra của nông hộ trồng củ sắn 33
Bảng 4.13 Những khó khăn đầu ra của nông hộ trồng củ sắn 34
Bảng 4.14 Chi phí sản xuất củ sắn trung bình của nông hộ 35
Bảng 4.15 Chi phí giống trung bình trên 1.000 m2 36
Bảng 4.16 Năng suất, giá bán và doanh thu củ sắn trung bình trên 1.000 m2 40
Bảng 4.17 Các chỉ tiêu tài chính trong hoạt động sản xuất củ sắn 42
Bảng 4.18 Thống kê các biến số trung bình trong hàm sản xuất của vụ sản xuất củ sắn năm 2012 43
Bảng 4.19 Kết quả ước lượng bằng phương pháp MLE hàm sản xuất biên Cobb-Douglas và hàm phi hiệu quả kỹ thuật cho 60 hộ trồng củ sắn tại xã Lục Sĩ Thành 44
Bảng 4.20 Phân phối mức hiệu quả kỹ thuật của nông hộ trồng củ sắn 48
Bảng 4.21 Năng suất mất đi do kém hiệu quả kỹ thuật 49
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 4.1 Mật độ trồng củ sắn của nông hộ 30 Hình 4.2 Cơ cấu chi phí sản xuất trung bình trong sản xuất củ sắn năm 2012 35
Trang 10
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
CP: Chi phí
DT: Doanh thu
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
HQLĐ: Hiệu quả lao động
LĐGĐ: Lao động gia đình
LN: Lợi nhuận
PTNT: Phát triển nông thôn
UBND: Ủy ban nhân dân
ĐVT: Đơn vị tính
Trang 11
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Việt Nam là nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, chính vì
thế nông nghiệp giữ vai trò quan trọng và luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu
kinh tế của nước nhà Với khoảng 80% dân số sinh sống ở vùng nông thôn và
hơn 74% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp;
cho thấy phần lớn cuộc sống người dân vẫn dựa sản xuất nông nghiệp là
chính Mặc dù cơ cấu kinh tế hiện nay có phần thay đổi theo hướng giảm tỷ
trọng nông nghiệp nhưng vẫn dễ dàng nhận thấy vao trò chủ đạo của sản xuất
nông nghiệp trong tăng trưởng kinh tế đất nước Từ lâu khi đề cập đến sản
xuất nông nghiệp thì lúa là một đại diện tiêu biểu và được người nông dân
canh tác nhiều giai đoạn; nhưng ở một số khu vực tiêu biểu là khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long, cây lúa không phải chiếm vị trí độc tôn do yếu tố điều
kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc canh tác đất lúa
Vĩnh Long là một trong các tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL và cũng là địa
phương vừa canh tác đất lúa vừa trồng một số cây hàng năm và cây lâu năm
khác Điều kiện tự nhiên, đất đai ở một số khu vực nơi đây phù hợp với lúa,
cây rau màu, cây ăn trái, cây công nghiệp ngắn ngày nên Vĩnh Long là một
tỉnh có cơ cấu cây trồng đa dạng, thu nhập người dân không quá phụ thuộc
vào cây lúa Tỉnh Vĩnh Long có nhiều nông sản nổi tiếng mang lại cuộc sống
đầy đủ và lâu dài cho nông dân như: cam sành ở huyện Tam Bình, bưởi ở thị
xã Bình Minh, xà lách xoong ở thị xã Bình Minh, củ sắn ở huyện Trà Ôn,…
Trong những nông sản kể trên, củ sắn ở huyện Trà Ôn dù chưa trở thành
thương hiệu nổi tiếng nhưng vẫn là một trong những cây chủ lực tạo góp phần
giữ vững thu nhập giúp cuộc người dân địa phương được ổn định Củ sắn
được trồng nhiều nhất ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, nơi đây cũng được
gọi là vùng đất chuyên củ sắn qua nhiều thế hệ Mặc dù củ sắn được đưa vào
sản xuất rất lâu, nhưng năng suất vẫn còn chưa cao do phần lớn nông dân canh
tác theo kinh nghiệm “cha truyền con nối”, trình độ người dân và tập quán
canh tác còn lạc hậu nên chưa tạo được hiệu quả kỹ thuật cho củ sắn tại địa
bàn Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu chọn đề tài: “Phân tích hiệu quả
kỹ thuật và các chỉ tiêu tài chính của việc sản xuất củ sắn tại xã Lục Sĩ
Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long” Qua đó nghiên cứu hy vọng đề tài
có thể giúp người nông dân, cơ quan,… thấy được thực trạng sản xuất, mức
hiệu quả kỹ thuật của sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Trang 12Từ đó đề xuất những giải pháp góp phần cải thiện kỹ thuật và nâng cao năng
suất cho nông dân
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích các chỉ số tài chính và đo lường khả năng có thể tăng năng suất bằng việc phân tích hiệu quả kỹ thuật; đồng thời nghiên cứu cũng tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các nông hộ trồng
củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật của các nông hộ trong quá trình sản xuất tại địa bàn nghiên cứu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Phân tích tình hình sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện
Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Mục tiêu 2: Phân tích chi phí, doanh thu và các chỉ tiêu tài chính của nông
dân trồng củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Mục tiêu 3: Tính toán mức hiệu quả kỹ thuật trong quá trình sản xuất củ
sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Mục tiêu 4: Phân tích các nhân tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả
kỹ thuật của các nông hộ sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn
Mục tiêu 5: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật
cho các nông hộ trồng củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh
Trang 13Nghiên cứu thực hiện từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013
1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những nông hộ sản xuất củ sắn trên địa bàn nghiên cứu
1.3.4 Nội dung nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu đề tài có hạn, thực tiễn quá trình sản xuất củ sắn
là khá phức tạp và việc thu thập số liệu sơ cấp gặp rất nhiều khó khăn nên nghiên cứu chỉ phân tích hiệu quả kỹ thuật và một số chỉ tiêu tài chính từ số liệu sơ cấp thu được từ 60 nông hộ Nghiên cứu chỉ tập phản ánh một số nội dung: phân tích tình hình sản xuất củ sắn; phân tích chi phí, doanh thu, lợi nhuận đạt được của nông dân trồng củ sắn; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất; tính toán mức hiệu quả kỹ thuật và nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật trong quá trình sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Từ những phân tích trên đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật cho các nông hộ trồng củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
1.4 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
Nguyễn Thị Hồng Thúy (2011): “Phân tích hiện quả sản xuất của mô
hình trồng khoai mỡ ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang” Với đề tài này tác
giả tập trung phân tích hiệu quả sản xuất khoai mỡ thông qua 3 mục tiêu cụ thể Mục tiêu thứ nhất: tìm hiểu khái quát tình hình sản xuất khoai mỡ ở huyện Tân Phước; đối với mục tiêu này tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp xếp hạng Raking và phương pháp so sánh quy mô và tình hình sản xuất Mục tiêu thứ hai: xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất khoai mỡ và giải thích ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả sản xuất; với mục tiêu này tác giả tính toán các chỉ tiêu tài chính và sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để lượng hóa mối qua hệ giữa năng suất, lợi nhuận với các biến độc lập Kết quả của quá trình phân tích chỉ số tài chính từ hoạt động sản xuất khoai mỡ thu được: chi phí trung bình 3.128.732 đồng/công, doanh thu 4.119.588 đồng/công, lợi nhuận 990.856 đồng/công Kết quả phân tích nhân tố ảnh hưởng đến năng suất khoai mỡ 2011 thể hiện: yếu tố lượng giống, lượng thuốc BVTV, số lao động là những yếu tố ảnh hưởng đến mô hình; còn lại các yếu tố trình độ, số năm, kinh nghiệm, diện tích là không có ý nghĩa trong mô hình Kết quả phân tích nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận khoai mỡ
2011 chỉ ra các nhân tố: chi phí phân, chi phí phân khác, năng suất, diện tích ảnh hưởng đến lợi nhuận của mô hình; còn lại chi phí giống, chi phí thuốc BVTV, chi phí lao động, nhóm địa chỉ là không có ý nghĩa trong mô hình
Trang 14Mục tiêu thứ ba: tác giả đề xuất một số giải pháp nhầm nâng cao hiệu quả sản xuất cho khoai mỡ ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
Nguyễn Hữu Đặng, (2012) “Hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kỹ thuật của hộ trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam trong giai đoạn 2008-2011” Đề tài tập trung nghiên cứu sự thay đổi của
hiệu quả kỹ thuật của hộ trồng lúa ở ĐBSCL dựa vào dữ liệu thu thập từ 155
hộ trồng lúa ở 4 tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng Tác giả thống kê các yếu tố năng suất, số lượng giống, phân bón theo hoạt chất, thuốc nông dược theo hoạt chất, lao động qua các năm 2008 và 2011; sau đó sử dụng phương pháp so sánh tuyệt đối và tương đối để cho thấy sự thay đổi theo thời gian của các yếu tố Tác giả tiến hành xây dựng hàm sản xuất Cobb-Douglas, ước lượng hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật Kết quả ước lượng hiệu quả kỹ thuật bằng phương pháp MLE đưa ra mức hiệu quả kỹ thuật trung bình là 88,96% với các biến đầu vào: đất đai, phân lân, lao động, loại giống, chỉ số đất, thời gian có ý nghĩa thống kê và mang hệ số dương nên góp phần tăng trưởng sản lượng của hộ; biến phân đạm, phân kali, phương pháp sạ không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật bằng phương pháp ước lượng phi hiệu quả kỹ thuật cho thấy biến kinh tế xã hội: giới tính, học vấn, số LĐGĐ, khoảng cách
từ thửa ruộng lớn nhất đến nhà, quy mô đất là các nhân tố không ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật; còn biến kinh nghiệm, tỷ lệ đất thuê mang dấu dương nên làm hạn chế hiệu quả kỹ thuật; những biến tín dụng, tham gia tập huấn, tham gia Hội là những biến mang dấu âm nên có tác động tích cực đến hiệu quả kỹ thuật Tác giả cũng tiến hành so sánh 2 mức hiệu quả kỹ thuật của năm
2008 với năm 2011 và nhận thấy hiệu quả kỹ thuật đang có xu hướng giảm từ 89,2% xuống còn 88,7%
Trang 15CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
có những đơn vị đăc trưng riêng, có một cơ chế vận hành khá đăc biệt không giống như những đơn vị kinh tế khác như: ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sỡ hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa
quá trình sản xuất trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng.”
2.1.1.2 Kinh tế nông hộ
Kinh tế hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình và mục đích của loại hình kinh tế này là nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình Tuy nhiên, hộ gia đình cũng có sản xuất ra để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế
2.1.2 Khái quát về sản xuất
2.1.2.1 Khái niệm sản xuất
Sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào và qui trình biến đổi để tạo ra một sản phẩm và dịch vụ nào đó
Yếu tố đầu vào: là các loại hàng hóa và dịch vụ dùng để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ khác Trong sản xuất củ sắn các yếu tố đầu vào bao gồm: giống, phân bón, thuốc nông dược, đất, nước, lao động, vốn, máy móc thiết bị Yếu tố đầu ra (sản phẩm): hàng hóa và dịch vụ được tạo ra từ quá trình sản xuất yếu tố đầu ra thường đo bằng sản lượng Trong sản xuất củ sắn, đầu
ra là toàn bộ sản lượng củ sắn thu hoạch trong một năm
2.1.2.2 Hàm sản xuất
Hàm sản xuất là một hàm số biểu diễn về mặt toán học của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của một quá trình sản xuất Thông thường được viết dưới dạng:
Trang 16Y = f (x1, x2, x3, x4, ……, xn)
Trong đó: Y là sản lượng đầu ra và xi = (1, 2, 3….n) là các yếu tố đầu vào Các biến trong hàm sản xuất được giả định là dương, liên tục và các yếu
tố đầu vào được xem là có thể thay thế cho nhau tại mỗi mức sản lượng
Hàm sản xuất cho biết mức sản lượng tối đa được tạo ra ứng với mỗi phương án kết hợp các yếu tố đầu vào cho trước Các yếu tố đầu vào bao gồm các yếu tố cố định (là những yếu tố được nông dân sử dụng một lượng cố định
và nó không ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất như: chi phí máy tưới, chi phí máy bơm nước, …) và các yếu tố biến đổi (là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất như: giống, lao động, phân bón, thuốc nông dược, …) Tuy có nhiều dạng hàm sản xuất được ứng dụng trong nghiên cứu thực nghiệm nhưng dạng hàm Cobb-Douglas được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Các ông Cobb và Douglas (1928) thấy rằng logarithm của sản lượng Y, và của các yếu tố đầu vào xi thường quan hệ theo dạng tuyến tính Do vậy hàm sản xuất được viết dưới dạng:
lnY = lnβ0 + β1lnX1 + β2lnX2 + …+ βklnXk
Trong đó: Y và xi (i = 1, 2, …., k) lần lượt là các lượng đầu ra đầu vào của quá trình sản xuất Hằng số β0 có thể được gọi là tổng năng suất nhân tố, biểu diễn tác động của các yếu tố nằm ngoài những yếu tố đầu vào có trong hàm sản xuất Những yếu tố này có thể là sự tiến bộ công nghệ, sự hiệu quả Với cùng lượng đầu vào xi, β0 càng lớn sản lượng tối đa có thể đạt được sẽ càng lớn
2.1.2.3 Quá trình sản xuất
Quá trình sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào biến chúng thành yếu tố đầu ra dưới dạng sản phẩm hay dịch vụ Trong quá trình chuyển hóa cũng là quá trình phát sinh các chi phí khác nhau cấu thành sản phẩm hay dịch vụ Quá trình sản xuất còn là một kế hoạch được hoạch định của con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên để hoàn thành một sản phẩm hay dịch vụ nào đó
2.1.3 Một số khái niệm về hiệu quả trong sản xuất
2.1.3.1 Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên sao cho đạt kết quả cao nhất Pauly (1970) và Culyer (1985) đã cho rằng hiệu quả bao gồm ba yếu tố: không sử dụng nguồn lực lãng phí, sản xuất với chi phí thấp nhất, sản xuất
để đáp ứng nhu cầu thị trường (Nguyễn Phú Son và cộng sự, 2005)
Trang 17Xét theo góc độ thuật ngữ chuyên môn thì hiệu quả theo nghĩa kinh tế là
“Mối quan hệ giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch
vụ có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả kỹ thuật hoặc theo chi phí được gọi là hiệu quả kinh tế.”
2.1.3.2 Hiệu quả sản xuất
Trong bất kì hoạt động sản xuất nào khi tính đến hiệu quả sản xuất thì tường đề cập đến ba nội dung cơ bản: hiệu quả kinh tế (hiệu quả chi phí), hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối Nhưng do thời gian có giới hạn nên nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá hiệu quả kỹ thuật của mô hình trồng củ sắn tại địa bàn nghiên cứu
Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp được tính như sau:
Trong đó:
Thu nhập/đơn vị diện tích = Giá bán * Sản lượng/đơn vị diện tích
Tổng chi phí trên một đơn vị diện tích bằng tổng chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất trên một đơn vị diện tích
- Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là khả năng có thể đạt được lợi nhuận tối đa của doanh nghiệp, ứng với mức giá và lượng đầu vào cho trước của doanh nghiệp
- Hiệu quả kỹ thuật (TE)
Theo Nguyễn Hữu Đặng (2012, trang 270) hiệu quả kỹ thuật là khả năng đạt năng suất tối đa dựa trên các yếu tố sản xuất và kỹ thuật hiện có Hiệu quả
kỹ thuật được ước lượng bằng phương pháp tham số hoặc phi tham số Trong nghiên cứu này, hiệu quả kỹ thuật được ước lượng bằng phương pháp tham số
- hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (Stochastic frontier production function) Hiệu quả kỹ thuật (TE) là tỷ số giữa năng suất hoặc sản lượng thực tế và năng suất hoặc sản lượng tối đa TE được tính như sau:
TE i = Y i /Y * I = f(x i ; )exp(V i -U i )/ f(x i ; ) exp(V i )=exp(-U i ) (1)
Trong đó, Yi là mức năng suất hoặc sản lượng thực tế của hộ i; Yi* là mức năng suất hoặc sản lượng tối đa của hộ i
f(x i; ) trong phương trình (1) là hàm sản xuất biên (Frontier production Lợi nhuận trên một đơn vị diện tích = Doanh thu trên một đơn vị diện tích – Tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị diện tích
Trang 18function), sử dụng dạng mô hình Cobb-Douglas Mô hình Cobb –Douglas với biến thời gian có dạng sau:
- Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên MLE
Trong nghiên cứu này, hiệu quả kỹ thuật được ước lượng bằng phương pháp tham số - hàm sản xuất biên ngẫu nhiên MLE (Stochastic frontier production function), hàm này được đề xuất bởi Aigner, Lovell và Schmidt (1977), Meeusen và Broeck (1977); và được phát triển bởi Battese (1992) Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên có dạng sau:
Y i = f(x i; )exp(V i – U i ) (3)
Trong đó: Yi là năng suất hoặc sản lượng trên hộ; xi là yếu tố sản xuất đầu vào thứ i; là hệ số cần ước lượng; vi là sai số thống kê do tác động bởi các yếu tố ngẫu nhiên và được giả định có phân phối chuẩn (v ~ N(0,σ2
v)) và độc lập với ui Ui là phần phi hiệu quả kỹ thuật được giả định lớn hơn hoặc bằng 0 (non-negative) và có phân phối nữa chuẩn (u ~|(N(0, 2
u)|) Nếu u=0, hoạt động sản xuất của hộ nằm trên đường sản xuất biên (frontier), tức đạt mức năng suất hoặc sản lượng tối đa dựa trên các yếu tố sản xuất và kỹ thuật hiện có Nếu u > 0, hoạt động sản xuất của hộ nằm dưới đường sản xuất biên (frontier), tức năng suất, sản lượng thực tế (Yi) thấp hơn năng suất, sản lượng tối đa (Y*) và hiệu số giữa Y* và Yi là phần phi hiệu quả kỹ thuật và hiệu số này càng lớn, hiệu quả kỹ thuật càng thấp (Coelli và các cộng sự, 2005)
- Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật
Uit trong công thức (2) là hàm phi hiệu quả kỹ thuật (technical inefficiency function), hàm này được sử dụng để giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến phi hiệu quả kỹ thuật hay ngược lại là hiệu quả kỹ thuật Hàm phi
hiệu quả kỹ thuật có dạng sau:
Trang 19- Hiệu quả phân phối
Hiệu quả phân phối là khả năng lựa chọn một lượng đầu vào tối ưu mà ở
đó giá trị sản phẩm biên của đơn vị đầu vào cuối cùng bằng với giá đầu vào
đó
2.1.4 Một số khái niệm về doanh thu, chi phí, lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính khác
2.1.3.1 Khái niệm doanh thu
Doanh thu là giá trị sản phẩm hay toàn bộ số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm, tức là tất cả số tiền mà nông hộ nhận được sau khi bán sản phẩm Hay nói cách khác doanh thu chính bằng sản lượng củ sắn khi tiêu thụ nhân với giá bán
Doanh thu = Sản lượng x Đơn giá
2.1.4.2 Khái niệm chi phí
Chi phí là tất cả những hao phí đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh
để tiêu thụ sản phẩm hay là toàn bộ chi phí bỏ ra để sản xuất ra một sản phẩm nhất định
Chi phí gồm có hai loại: định phí và biến phí Sự thay đổi của tổng chi phí là do sự biến đổi của biến phí Khi sản lượng bằng không đồng nghĩa với việc không sản xuất lúc này chi phí bằng định phí
Chi phí = Biến phí + Định phí
- Định phí (hay còn gọi là chi phí cố định) là chi phí không thay đổi trên tổng số bất chấp sự thay đổi của mức hoạt động Ví dụ: chi phí khấu hao xưởng, chi phí lãi vay dài hạn,…
- Biến phí (hay còn gọi là chi phí biến đổi) là chi phí thay đổi trên tổng
số theo sự thay đổi của mức hoạt động của tổ chức Ví dụ: số giờ lao động, số giờ máy,…
2.1.3.3 Khái niệm lợi nhuận
Lợi nhuận là khoản chênh lệnh giữa doanh thu và chi phí bỏ ra Hay nói cách khác lợi nhuận là phần thu nhập còn lại của nông dân sau khi đã trừ những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Có 2 loại lợi nhuận: lợi nhuận không tính công lao động gia đình và lợi nhuận có tính công lao động gia đình (thu nhập)
Trang 202.1.3.4 Khái niệm thu nhập
Thu nhập là phần lợi nhuận thu được cộng với chi phí lao động gia đình (CPLĐGĐ) đã bỏ ra hay là phần thu nhập gồm cả công lao động và lãi chưa tính công lao động nằm trong giá trị sản xuất sau khi trừ đi chi phí biến đổi, chi phí cố định, thuế (nếu có)
Thu nhập = Lợi nhuận + CP LĐGĐ
Ngày công lao động gia đình là số ngày công lao động trực tiếp sản xuất
bỏ ra để chăm sóc cây trồng
Số ngày công lao động gia đình trong một năm sản xuất = (Số giờ chăm sóc cây trồng hàng ngày * Số ngày tham gia sản xuất trong một vụ), một ngày công lao động là 8 giờ
2.1.3.5 Các chỉ tiêu tài chính khác
- Doanh thu trên chi phí
Doanh thu trên chi phí (DT/CP): tỷ số này phản ánh một đồng chi phí đầu tư thì chủ thể đầu tư sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu Trong trường hợp chỉ số này nhỏ hơn 1 người sản xuất bị lỗ, khi tỷ số này bằng 1 người sản xuất hoà vốn và lớn hơn 1 người sản xuất mới có lợi nhuận
- Lợi nhuận trên chi phí
Lợi nhuận trên chi phí (LN/CP): tỷ số này phản ánh một đồng chi phí bỏ
ra thì chủ đầu tư sẽ thu lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu LN/CP là số dương người sản xuất có lợi nhuận, ngược lại nếu tỷ số này là số âm thì phần chi phí bỏ ra lớn hơn lợi nhuận sẽ khiến cho việc sản xuất kém hiệu quả, nhà sản xuất thua lỗ
- Thu nhập trên chi phí (TN/CP):
Thu nhập trên chi phí (TN/CP): tỷ số này phản ánh một đồng chi phí bỏ
ra nông hộ sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập Nếu TN/CP là số dương thì người sản xuất có lời, đồng thời cũng cho thấy nông hộ sử dụng lao động nhàn
rỗi có hiệu quả, chỉ số này càng lớn càng tốt
Trang 21
- Lợi nhuận trên doanh thu
Lợi nhuận trên doanh thu (LN/DT): tỷ số này phản ánh trong một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận, nghĩa là nông hộ giữ lại được bao nhiêu phần trăm trong giá trị sản xuất tạo ra, đây chính là tỷ suất lợi nhuận
- Hiệu quả lao động
Hiệu quả lao động (HQLĐ) = Thu nhập/Ngày công lao động gia đình Chỉ tiêu này nói lên thu nhập do sử dụng một ngày công lao động gia đình tạo ra
Thu nhập
HQLĐ =
Ngày công lao động gia đình
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu của đề tài là xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Lý do chọn địa bàn xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn để nghiên cứu
là khi tham khảo ý kiến của các cán bộ nhân viên phòng Nông nghiệp huyện Trà Ôn, được biết xã Lục Sĩ Thành là nơi tập trung nhiều hộ nông dân trồng củ sắn nhất trong huyện và cả toàn tỉnh Vĩnh Long, nên địa bàn nghiên cứu sẽ thực hiện tại các ấp thuộc địa bàn xã: ấp Mỹ Thạnh A, ấp Mỹ Thạnh B, ấp An Thạnh và Kênh Đào Những ấp được chọn có số nông hộ trồng củ sắn chiếm
tỷ trọng cao hơn so với các ấp khác trong toàn xã Người nông dân tại địa bàn nghiên cứu có truyền thống trồng củ sắn lâu dài nên có bề dày kinh nghiệm khi tham gia sản xuất củ sắn, vì vậy sẽ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc quan sát và thu thập số liệu Đặc biệt diện tích trồng củ sắn nhiều và tập trung, nên nghiên cứu số liệu tại các ấp sẽ có tính đại diện cao để đại diện cho
Lợi nhuận
LN/DT =
Doanh thu
Thu nhập TN/CP =
Chi phí
Trang 22tình hình sản xuất của xã Lục Sĩ Thành
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Đối tượng phỏng vấn là những nông hộ trồng củ sắn tại địa bàn nghiên cứu, bao gồm các ấp Mỹ Thạnh A, Mỹ Thạnh B, An Thạnh, Long Hưng, Kênh Đào - những nơi trồng củ sắn tiêu biểu của xã Lục Sĩ Thành.Cụ thể trong tổng 177,53 ha diện tích đất chuyên màu của xã thì ấp Mỹ Thạnh A có khoảng 61,87 ha trồng màu nhưng phần lớn là đất chuyên trồng củ sắn, ấp An Thạnh với diện tích đất chuyên củ sắn là 14,26 ha ấp Mỹ Thạnh B, Kênh Đào, Long Hưng có diện tích màu lần lượt là 7,5 ha, 8,6 ha và 6,17 ha trong tổng diện tích trồng màu toàn xã (thống kê của cục Bảo Vệ Thực Vật) Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện thông qua bảng câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp nông dân trên địa bàn trên cơ sở đó tìm hiểu tình hình sản xuất củ sắn của nông hộ Cơ cấu mẫu số liệu khảo sát được trình bày ở bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1: Cơ cấu mẫu số liệu điều tra tại xã Lục Sĩ Thành năm 2013
Nguồn: số liệu điều tra thực tế xã Lục Sĩ Thành năm 2013
Sự phân bố mẫu không đều ở các ấp trong xã Lục Sĩ Thành, mẫu được thu nhiều nhất tại ấp Mỹ Thạnh A, mẫu được thu ít nhất tại địa bàn 2 ấp Long Hưng và Mỹ Thạnh B Do quá trình thu thập gặp một số trở ngại: sự phân bố của các hộ nông dân khá rải rác, không tập trung thành cụm, một số hộ ở những nơi hẻo lánh; tuy có tuyến đường giao thông xuyên qua địa bàn xã nhưng đường giao thông ở ấp vẫn chưa được hoàn thiện; không nắm rõ địa bàn nên quá trình di chuyển cũng như trao đổi với nông hộ còn nhiều hạn chế
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Về số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ các nguồn:
số liệu thống kê của Phòng Nông nghiệp huyện Trà Ôn – tỉnh Vĩnh Long, niên giám thống kê huyện Trà Ôn – tỉnh Vĩnh Long, báo cáo kinh tế xã hội của Ủy ban nhân dân xã Lục Sĩ Thành, các đề tài, dự án nghiên cứu, tài liệu hội thảo
có liên quan đến việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào trồng củ sắn của các trường Đại học/Viện nghiên cứu, các tổ chức khác Ngoài ra còn sử dụng các
Trang 23thông tin từ các website, tạp chí có liên quan đến nội dung nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
2.2.3.1 Đối với mục tiêu 1
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả thực trạng và tình hình sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
+ Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và kinh doanh bằng cách rút ra những kết luận dựa trên số liệu và thông tin được thu thập trong điều kiện không chắc chắn
+ Trong bài nghiên cứu, phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để thống kê các số liệu về năng suất, sản lượng, diện tích của việc sản xuất củ sắn qua các năm 2010, 2011, 2012; đồng thời đưa ra những đánh giá về những số liệu đã tổng hợp
- Kết hợp với phương pháp thống kê mô tả, nghiên cứu còn vận dụng phương pháp so sánh để đánh giá hoạt động sản xuất của nông hộ trong các năm 2010, 2011, 2012 Có hai phương pháp so sánh:
+ So sánh tuyệt đối: lấy giá trị tuyệt đối của năm sau trừ đi năm trước để thấy được sự chênh lệch
y = y1 – y0
y: giá trị chênh lệch
y1: giá trị năm sau
y0: giá trị năm trước
+ So sánh tương đối: lấy giá trị tương đối của năm sau trừ đi năm trước
để thấy được sự chênh lệch
%y = %y1 – %y0
%y: giá trị chênh lệch
%y1: giá trị năm sau
%y0: giá trị năm trước
2.2.3.2 Đối với mục tiêu 2
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả các từ các số liệu thu thập ở 60 nông hộ, sau đó thực hiện tính toán các chỉ tiêu như: tổng chi phí, doanh thu
và các chỉ tiêu tài chính để đánh giá hiệu quả của việc sản xuất củ sắn của nông hộ
Trang 242.2.3.3 Đối với mục tiêu 3
Nhằm phân tích và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào mà nông
hộ ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn sử dụng cho sản xuất củ sắn Qua đó thiết lập hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng sau:
lnY = β0 + β1 lnX1 + β2 lnX2+ β3 lnX3 + β4 lnX4 + β5 lnX5 + β6 lnX6 + β7 lnX7
Trong đó:
Biến phụ thuộc Y: năng suất củ sắn mà nông hộ đạt được (tấn/1.000 m2
) β0: hệ số tự do
βi (i = 1,2,…,7): các tham số được ước lượng bằng việc tính toán
từ phần mềm frontier 4.1
Các biến độc lập : Xi = (1, 2, 3… 7)
X1: số lượng giống gieo sạ trên 1.000 m2 (kg/1.000 m2), yếu tố này phản ánh ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất
X2: lượng phân đạm nguyên chất sử dụng (kg/1.000 m2)
X3: lượng phân lân nguyên chất sử dụng (kg/1.000 m2)
X4: lượng phân kali nguyên chất sử dụng (kg/1.000 m2)
Các loại phân nguyên chất trên được tính bằng: lượng phân hỗn hợp
mà nông hộ sử dụng trên 1.000 m2
nhân cho %N, %P, %K có trong các loại phân hỗn hợp đó như: NPK (16-16-8), NPK (20-20-15), Ure (46%N), DAP (18-46-0)
X5: chi phí thuốc nông dược được tính bằng tổng chi phí cho các loại thuốc sâu, thuốc cỏ, thuốc dưỡng Do thuốc nông dược được người nông dân sử dụng đa dạng cả về lượng thuốc, loại thuốc và dạng tồn tại của thuốc (thuốc dạng bột đơn vị tính là gam, thuốc dạng dung dịch đơn vị tính là ml) nên quá trình tính toán thành phần hoạt chất sẽ gặp nhiều trở ngại Vì lí do đó nghiên cứu tiến hành thay thế biến: lượng hoạt chất thuốc nông dược bằng chi phí thuốc nông dược (đồng/1.000m2
) để tạo tính tương đối nhằm phục vụ nghiên cứu
X6: số ngày công lao động (ngày/1.000 m2) Lượng lao động gia đình được sử dụng trong vụ, lao động gia đình tham gia hầu hết trong các khâu bón phân, phun thuốc, cắt đọt, thu hoạch, tưới tiêu,…
X7: khoản chi phí dùng để thuê lao động trong các khâu từ làm đất đến thu hoạch, được tính bằng tổng số tiền thuê cho 1.000 m2
(ngàn đồng/1.000 m2
)
Trang 25Phương pháp “ước lượng khả năng cao nhất” (MLE) được áp dụng để ước lượng các tham số của mô hình biên ngẫu nhiên Kết quả ước lượng cũng cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và đưa ra mức hiệu quả kỹ thuật của từng nông hộ Dựa vào mức hiệu quả kỹ thuật của từng hộ để xác định mức thất thoát của các nông hộ
2.2.3.4 Đối với mục tiêu 4
Nhằm phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật
của việc sản xuất củ sắn của xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Nghiên cứu tiến hành thiết lập hàm phi hiệu quả kỹ thuật như sau:
2.2.3.5 Đối với mục tiêu 5
Từ kết quả phân tích của những mục tiêu trên để đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn hạn chế, phát huy điểm mạnh nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật và nâng cao năng suất cho nông hộ sản xuất củ sắn ở xã Lục
Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Trang 26CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 3.1 TỔNG QUAN VỀ XÃ LỤC SĨ THÀNH
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Lục Sĩ Thành là một xã thuộc huyện Trà Ôn với diện tích tự nhiên là 4.273,4 ha, có vị trí giáp giới như sau:
- Phía Bắc giáp xã Ngãi Tứ (Tam Bình) và xã Mỹ Hòa (Bình Minh)
- Phía Đông và phía Đông Bắc giáp xã Thiện Mỹ, Tích Thiện và thị trấn Trà Ôn
- Phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng
- Phía Tây và Tây Bắc giáp thành phố Cần Thơ (ranh giới sông Hậu)
Xã Lục Sĩ Thành cách thị xã Vĩnh Long khoảng 13 km về hướng Tây Bắc, đồng thời cách thị trấn Trà Ôn khoảng 8 km Lục Sĩ Thành nằm trên tuyến sông huyết mạch của khu vực là sông Hậu, nối liền TP.HCM với các tỉnh miền Tây và giáp với sông Măng (sông Măng Thít) nối liền sông Cổ Chiên và sông Hậu là tuyến giao thông thủy ngắn nhất từ các tỉnh miền Tây về TP.HCM Đồng thời, do tiếp giáp với thị trấn Trà Ôn nên có điều kiện thuận lợi về giao lưu thương mại dịch vụ, trao đổi hàng hóa, đặc biệt là nông sản Kinh tế vườn là thế mạnh của Lục Sĩ Thành Xã Lục Sĩ Thành có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái do có ưu thế phong cảnh sông nước miệt vườn của vùng miền Tây Nam Bộ
3.1.2 Kinh tế - văn hóa xã hội
3.1.2.1 Kinh tế
* Sản xuất nông nghiệp:
Số liệu 6 tháng đầu năm cho thấy:
- Vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ vườn kém hiệu quả sang vườn cây có hiệu quả diện tích 38,76 ha/ 30ha đạt 129,2 % so nghị quyết, nâng tổng diện tích vườn toàn xã là 1.241 ha
- Vườn: thu hoạch 1.178 ha gồm: chôm chôm, cam sành, bưởi, nhãn ước sản lượng 18.422,5 tấn, thu nhập 135,08 tỷ đồng
Trang 27- Màu và cây công nghiệp ngắn ngày: thu hoạch 407 ha, ước sản lượng 6.155 tấn, thu nhập 30,775 tỷ đồng và xuống giống mới 259 ha rau màu, cây công nghiệp
* Chăn nuôi: tổng số 19.324 con gia súc, gia cầm (tăng 6.065 con so năm
2011), có 170 hộ sử dụng vacxin tiêm phòng cúm gia cầm và tiến hành phun tiêu độc sát trùng 04 đợt với diện tích 33.370m2, tiêm vắcxin phòng bệnh trên đàn gia cầm được 11.493 liều Thu hoạch 37 tấn tạo thu nhập 1,8 tỷ đồng
* Nuôi trồng thủy sản: hiện có 29 ao thả nuôi (tăng 08 ao) với diện tích
16,82 ha mặt nước gồm cá tra, cá các loại, thu hoạch 08 ao, sản lượng 3.695,25 tấn thu nhập 88,6 tỷ đồng
* Chuyển giao khoa học kỹ thuật: kết hợp với công ty phân bón Yara và
phòng nông nghiệp huyện mở 12 cuộc có 370 người dự nội dung về phân bón,
áp dụng khoa học kỹ thuật trên cây ăn trái, cách phòng trị sâu đục trái bưởi Thống kê diện tích nhãn bị chổi rồng toàn xã có 450 hộ với diện tích 159,833 ha (trong đó tỷ lệ nhiễm dưới 30% 13,0305 ha; tỷ lệ nhiễm 30% -70% 104,1482 ha; tỷ lệ nhiễm trên 70% 42,6544 ha) Có 450 hộ nhận thuốc và tiền
hổ trợ số tiền 437.834.500 đồng
* Xây dựng nông thôn mới: xây dựng hoàn thành đề án qui hoạch chung
xây dựng xã nông thôn mới được huyện phê duyệt, bên cạnh dự thảo đồ án đang trình huyện phê duyệt Tổ chức hội thi “nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên và quần chúng nhân dân về xây dựng nông thôn mới “có
143 người dự (12 đội dự thi), kết quả xếp 04 giải nhất nhì, ba và khuyến khuyến; đồng thời chuẩn bị tốt và tham gia vòng thi huyện kết quả đạt giải nhì; đưa 01 cán bộ tập huấn nông thôn mới tại trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT (thời gian 05 ngày); lấy ý kiến đóng góp quy hoạch xây dựng nông thôn mới 03 cuộc có 78 người dự
Qua khảo sát của ban chỉ huy xây dựng nông thôn mới: xã đạt 06 tiêu chí (tiêu chí 01: quy hoạch, tiêu chí 3: thủy lợi, tiêu chí 8: bưu điện, tiêu chí 14: giáo dục, tiêu chí 16: văn hóa, tiêu chí 18: tổ chức hệ thống chính trị) đạt
300 % so nghị quyết
* Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ
Toàn xã có 338 cơ sở sán xuất kinh doanh cho thu nhập khoảng 5,54 tỷ đồng; hợp tác xã làng nghề bánh tráng ấp Tân Thạnh có 28 hộ sản xuất thường xuyên trung bình 500 bánh/hộ/ngày, sản lượng cả năm ước thu nhập 3,36 tỷ đồng Thành lập 02 tổ: tổ hợp tác sản xuất rau màu củ sắn có 08 thành viên và
tổ mua bán trái cây (Tân Thạnh) có 03 thành viên đạt 100% theo nghị quyết
Trang 2802 điểm hộ gia đình cho thuê lưu trú có khoảng 231 người đến cư trú để tham quan du lịch
- Điện sinh hoạt: kết hợp điện lực Trà Ôn khảo sát chiết tính và lập đề nghị phòng công thương hổ trợ hộ nghèo có điện ấp Tân An 04 hộ, nâng lên 2.811/2.830 hộ đạt 99,32% đạt 100,32% so nghị quyết (2.292 hộ có điện kế đạt 81%), còn lại 519 hộ câu đuôi và 19 hộ không có điện
- Nước sinh hoạt: lắp 59 đồng hồ nước đạt 109% so nghị quyết (nghị quyết 54 hộ), nâng 457/461 hộ sử dụng chiếm 99,13% so số hộ trong bán kính, chiếm 16,14 % so tổng số hộ trên toàn xã (có 99% hộ sử dụng nước sạch phổ thông)
* Giao thông nông thôn - thủy lợi:
- Xây dựng kết cấu hạ tầng: được trên đầu tư xây dựng trường mẫu giáo,
trạm y tế nghiệm thu đưa vào sử dụng với tổng diện tích 4.326,9m2
tổng kinh phí 9,8 tỷ đồng Xây dựng bến phà An Thành (Lục Sĩ Thành - Thị Trấn Trà Ôn) khoảng trên 1,7 tỷ đồng, xây dựng đường đal Kênh Ngây, đường đal vào UBND xã dài 1.291m với kinh phí 252.439.867 đồng (ngân sách xã: 230.179.867 đồng, nhân dân: 22,260 triệu đồng)
Xây dựng cầu rạch Miếu (Kinh Ngây), nâng cấp cầu Ba Khuyên, cầu Pót, cầu Tư Cam, tổng kinh phí 91,6 triệu đồng (nhân dân: 68 triệu đồng, còn lại ngân sách xã)
- Phát hoang cây che chắn trên tất cả các tuyến đường dài 20 km đảm bảo lưu thông thuận lợi trong dịp tết Nguyên đán Kết hợp các ngành nâng cấp lộ, đập dài 1.850 m, vận động nhân dân đóng góp tiền bơm cát, kè và sửa chữa đal 1.064 m với tổng kinh phí 11 triệu đồng
- Thủy lợi: sửa chữa các đoạn bị sạt lỡ, gia cố đê bao, phát hoang cây che chắn đường bộ, sông rạch để lưu thông dòng chảy với tổng chiều dài 2.700 m; nâng cấp đê bao, đắp cống, các đập 6.071,5 m với tổng kinh phí khoảng 143.500.000 đồng (trong đó huyện hổ trợ 112 triệu đồng)
3.2 TÌNH HÌNH TRỒNG CỦ SẮN TẠI XÃ LỤC SĨ THÀNH, HUYỆN TRÀ ÔN
3.2.1 Giới thiệu về cây củ sắn
Củ sắn là loại nông sản thuộc họ Đậu, có dây leo, ra hoa và tạo quả như những loại đậu khác, tuy nhiên người ta chỉ thu hoạch và sử dụng củ sắn chứ không dùng hạt Thân dây leo dài 4-5 mét, có thể đến 10 mét nếu có dàn để
bò, gồm một thân chính và nhiều nhánh phụ, từ củ mọc thành chồi mới để tạo
Trang 29thành các thân chính ở các thế hệ tiếp theo Củ do những đoạn rễ cái phình to hình thành Vỏ củ có màu vàng và mỏng như giấy còn ruột có màu trắng kem hơi giống ruột khoa tây hay quả lê Củ sắn có chứa: 2,4% tinh bột, 4,51% đường toàn bộ (glucoza), 86 - 90% nước; protein (1,46%)
Củ sắn được đánh giá là dễ trồng, ít kén đất, nhưng quá trình trồng cũng gặp nhiều khó khăn Sau đây là quy trình canh tác củ sắn của nông hộ:
* Thời vụ gieo trồng: thông thường nông hộ xuống giống vào tháng 9 hoặc tháng 10 dương lịch (nhằm tháng 8, tháng 9 âm lịch) và thu hoạch vào dịp Tết (tháng 1- tháng 2 âm lịch), xuống giống thời điểm này củ sắn thường cho năng suất từ 10-12 tấn/1.000 m2
Một số nông hộ lựa chọn xuống giống sớm vào tháng 7 dương lịch (hay tháng 6 âm lịch) và thu hoạch vào tháng 12
âm lịch; năng suất vụ sớm khoảng 6 - 7 tấn/1.000 m2
- Phòng trừ cỏ dại: phun cỏ, diệt mầm Sau khi gieo hạt từ 20 – 25 ngày
mà cỏ mọc lại thì tiếp tục phun thuốc hậu nảy mầm
- Bón phân: tùy theo vùng đất mà sử dụng phân khác nhau, trung bình lượng phân cho 1.000 m2
là 150 kg NPK trong suốt vụ Khoảng cách tưới phân là 10 ngày tưới 1 lần, lượng phân tăng dần theo thời gian sinh trưởng của
củ sắn
Trang 30- Cắt đọt: đặc tích của cây củ sắn là thân bò, cần hạn chế sự sinh trưởng của cây sắn để tập trung phát triển củ Sau khi gieo trồng được 20 – 25 ngày cây ra lá thật hoàn toàn thì tiến hành cắt đọt lần thứ nhất:
+ Lần 1: cắt đọt giữ lại 2 lá mầm và 2 đến 3 lá phía trên
+ Lần 2: sau 10 ngày từ lần cắt đọt thứ 1, tiến hành cắt đọt lần 2, lần này giữ lại 1 lá kế tiếp
+ Lần 3: sau 10 – 15 ngày sau lần cắt thứ 2, tiến hành cắt đọt lần 3 và giữ lại 1 lá kế tiếp
Sau 3 lần cắt thì cây sắn được khoảng 8 – 10 lá, nông hộ giữ những lá đó
và tiếp tục cắt đọt nếu cây phát triển thêm
3.2.2 Thực trạng sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn
Củ sắn là một trong những cây trồng được coi là chủ lực của xã Lục Sĩ Thành, trong các năm từ 2010 – 2012 diện tích củ sắn tăng dần và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu các cây trồng ở xã Theo số liệu từ cán bộ nông nghiệp xã, trong năm 2012, diện tích củ sắn là 130 ha, trong khi diện tích trồng bắp là 60 ha, trồng đậu nành 72 ha, trồng mía 54 ha Củ sắn là nông sản rất phù hợp với điều kiện thời tiết, đất đai ở xã nên tạo ra sản lượng lớn, đem lại cho nông hộ nguồn thu nhập lớn Chính vì thế diện tích củ sắn ngày càng được mở rộng, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong nông sản ở xã Số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng củ sắn xã Lục Sĩ Thành giai đoạn
2010 – 2012 thể hiện trong bảng 3.2 sau:
Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng củ sắn tại xã Lục Sĩ Thành giai đoạn
2010 – 2012
2011-2010 2012-2011 Chênh
lệch
Tỷ lệ (%)
Chênh lệch
Tỷ lệ (%)
Sản lượng tấn 9.800 12.065 12.740 2.265 23,11 675 5,59
Nguồn: số liệu thống kê xã Lục Sĩ Thành, 2012
Qua bảng 3.2 ta thấy:
+ Diện tích củ sắn tăng dần qua các năm, năm 2010 diện tích củ sắn là
109 ha, đến năm 2011 đã tăng 18 ha lên 127 ha (tỷ lệ tăng lên đến 16,51% tổng diện tích củ sắn năm 2010) Đến năm 2012 toàn xã đã có 130 ha trồng sắn, tăng 3 ha (tỷ lệ 2,36%) so với năm 2011 Nguyên nhân khiến cho diện tích củ sắn tăng lên qua các năm là do: nông hộ nhận thấy củ sắn phù hợp với
Trang 31đặc điểm đất cồn ở xã nên quá trình sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh; củ sắn mang lại năng suất cao cũng như lợi nhuận lớn cho nông hộ; với truyền thống trồng củ sắn lâu dài nên nông hộ ngày càng có nhiều kinh nghiệm hơn nên mạnh dạng mở rộng diện tích để trồng củ sắn
+ Sản lượng: cũng như diện tích, sản lượng củ sắn cũng tăng dần qua các năm Cụ thể: sản lượng năng 2010 là 9.800 tấn, đến năm 2011 là 12.065 tấn, tăng 2.265 tấn (tỷ lệ 23,11%) so với năm 2010; năm 2012 sản lượng củ sắn tiếp tục tăng, đạt mức 12.740 tấn, tăng 675 tấn (tỷ lệ 5,59%) sản lượng năm
2011 Nguyên nhân của việc tăng sản lượng một phần là do diện tích củ sắn tăng dần qua các năm nên sản lượng sản xuất ra tăng lên; mặc khác do kinh nghiệm trồng sắn nông hộ tích lũy qua nhiều năm nên có thể làm cho sản lượng tăng lên nhanh chóng
+ Năng suất: năng suất củ sắn tăng dần qua các năm 2010 – 2012, năm
2010 năng suất củ sắn là 90 tấn/ha, đến năm 2011 năng suất tăng lên 95 tấn/ha,
tỷ lệ tăng là 5,56% so với năm 2010, năm 2012 năng suất củ sắn đạt mức 98 tấn/ha Do diện tích và sản lượng củ sắn qua các năm cùng có biến động tăng nên dẫn đến năng suất củ sắn cũng có chiều hướng tăng theo
Trang 32CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA
CỦ SẮN TẠI XÃ LỤC SĨ THÀNH, HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH
VĨNH LONG 4.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CỦ SẮN CỦA NÔNG HỘ 4.1.1 Mô tả các nguồn lực của nông hộ trong quá trình trồng củ sắn
4.1.1.1 Nguồn lực lao động
Lao động là một nguồn lực quan trọng góp phần không nhỏ trong hoạt động sản xuất nông sản; đặc biết đối với hoạt động sản xuất theo hộ gia đình chủ yếu sử dụng lao động gia đình để giảm thiểu chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận khi canh tác nông sản Bảng 4.3 thể hiện số nhân khẩu là lao động của nông hộ ở xã Lục Sĩ Thành năm 2013
Bảng 4.3: Số nhân khẩu và lao động của nông hộ năm 2013
Nguồn: số liệu điều tra thực tế xã Lục Sĩ Thành năm 2013
Qua bảng 4.3 ta thấy: số người trong nông hộ cao nhất lên đến 7 người và
ít nhất là 2 người, số người trung bình gần 5 người Tuy nhiên số người tham gia trực tiếp sản xuất cho nông hộ khá ít, cao nhất chỉ có 3 người và thấp nhất
là 1 người, trong 60 hộ điều tra chỉ có trung bình gần 2 người tham gia sản xuất chủ yếu Lực lượng lao động sẵn có trong gia đình là ưu thế nhưng người nông dân chưa sử dụng hợp lý để tạo lợi thế sản xuất, giảm thuê mướn, trong khi số nhân khẩu gia đình ở mức khá cao Nguyên nhân của vấn đề này là do: gia đình nông dân đa số sống chung nhiều thế hệ, dù nhân khẩu cao nhưng chỉ một số ít người tham gia lao động sản xuất, những thành viên còn lại có thể không đủ tuổi hoặc vượt quá tuổi lao động
Trong hoạt động sản xuất nói chung và với sản xuất củ sắn nói riêng thì lao động nam là nguồn lực lao động quan trọng góp phần tạo năng suất cho nông sản Lực lượng lao động gia đình nam ở địa bàn nghiên cứu là khá thấp, cao nhất chỉ có 3 lao động và thấp nhất là 1 lao động, trung bình chỉ có gần 2 người nam trong nông hộ Quá trình chuẩn bị đất, bón phân, xịt thuốc, tưới tiêu,… lao động nam vẫn là nguồn lao động thực hiện chủ yếu, chính vì thế,
Trang 33đây là nguồn lao động chính giúp nông hộ tiết kiệm chi phí Bên cạnh nguồn lực lao động nam, trồng củ sắn cũng cần một lực lượng lao động nữ lớn cho các khâu gieo hạt và tỉa đọt Tuy nhiên nguồn lao động gia đình nữ còn thấp, cao nhất là 3 người, nhưng một số hộ không có lao động nữ tham gia sản xuất, trung bình trên mỗi nông hộ có khoảng 1 đến 2 lao động nữ tham gia sản xuất
củ sắn
Độ tuổi của chủ hộ tham gia sản xuất củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện
Trà Ôn là khá cao Kết quả điều tra tuổi chủ hộ được thể hiện ở bảng 4.4:
Nguồn: số liệu điều tra thực tế xã Lục Sĩ Thành năm 2013
Quan bảng 4.4 ta thấy độ tuổi chủ yếu của nông hộ vào khoảng từ 40 đến
50 tuổi, theo điều tra có 24 chủ hộ nằm trong khoảng này với tỷ trọng 40% trong tổng số 60 hộ được khảo sát Dưới 40 tuổi có 15 chủ hộ, chiếm tỉ trọng 25% trong tổng số hộ khảo sát Độ tuổi từ 51 đến 60 tuổi có 16 chủ hộ được khảo sát nằm trong khoảng này, chiếm tỷ lệ 27% Độ tuổi trên 60 tuổi có 5 hộ với tỷ trọng 8% trong tổng 60 hộ khảo sát Có thể nhận thấy tuổi chủ hộ trong địa bàn nghiên cứu được khảo sát là phần lớn chủ hộ nằm trong độ tuổi lao động, trên 50% chủ hộ nằm trong độ tuổi lao động, đó là điều kiện thuận lợi
mà nông hộ có góp phần tạo ra năng suất cao cho củ sắn Trong tổng số 60 quan sát mà nghiên cứu tổng hợp, chủ hộ có độ tuổi trẻ nhất là tuổi 27 và chủ
hộ lớn tuổi nhất là 67 tuổi, tuổi trung bình của chủ hộ là 47 tuổi
Trình độ học vấn là một yếu tố cũng không kém phần quan trọng giúp cho người nông dân dễ dàng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như vận dụng tốt từ những buổi tập huấn, trên cơ sở đó áp dụng vào thực tiễn sản xuất Sau kết quả điều tra nông hộ ở bảng 4.5 cho thấy có sự chênh lệch về trình độ học vấn của nông hộ Cụ thể như sau:
Trang 34Bảng 4.5: Trình độ học vấn của nông hộ trồng củ sắn theo các cấp học
Nguồn: số liệu điều tra thực tế xã Lục Sĩ Thành năm 2013
Nguồn số liệu tổng hợp từ bảng 4.5 cho thấy trình độ học vấn của các nông hộ trồng củ sắn tương đối cao Nông dân chủ yếu học tới cấp 2 và cấp 3,
số năm đi học trung bình khoảng 9 năm Khi trình độ học vấn càng cao người nông dân sẽ càng ít gặp khó khăn hơn trong quá trình học hỏi kỹ thuật mới từ các chuyên gia tập huấn, đó là một lợi thế giúp cho quá trình sản xuất củ sắn
có phần thuận lợi hơn, năng suất có thể cao hơn tạo nên hiệu quả sản xuất tốt hơn Tuy là khu vực không có tuyến đường giao thông thuận tiện cho việc học tập, đi lại nhưng người dân xã Lục Sĩ Thành vẫn quyết tâm xóa mù chữ và học hỏi nhiều kiến thức Trong 60 nông hộ được điều tra, các chủ hộ chỉ dừng lại ở bậc Cao đẳng, phần lớn nhân khẩu trong gia đình kết thúc chương trình học đều ở nhà tham gia lao động sản xuất, phụ giúp gia đình kiếm thêm thu nhập Kinh nghiệm trồng củ sắn của nông hộ được xem như là số năm nông dân bắt đầu canh tác củ sắn cho đến nay vì thế kinh nghiệm là một yếu tố mang tính thời gian Qua quá trình phỏng vấn, các nông hộ cho biết quá trình sản xuất dựa vào kinh nghiệm mà họ tự tích góp cũng như từ thế hệ trước để lại
Số năm kinh nghiệm càng cao thì có thể đem lại nhiều thuận lợi cho việc sản xuất củ sắn Dưới đây là bảng 4.6 thể hiện số năm kinh nghiệm của nông dân tại địa bàn nghiên cứu
Bảng 4.6: Kinh nghiệm của nông hộ
Trang 35Qua bảng 4.6 ta thấy: trong 60 nông hộ được khảo sát, kinh nghiệm sản xuất củ sắn của nông hộ tập trung chủ yếu dưới 20 năm Cụ thể, nông hộ có kinh nghiệm dưới 10 năm có tới 30 hộ, chiếm tỉ lệ 50% tổng số hộ được khảo sát, kinh nghiệm từ 10 đến 20 năm có 28 hộ với 46,67% trong 60 hộ được khảo sát, kinh nghiệm trên 20 năm chỉ có 2 nông hộ, con số này chiếm khoảng 3,33% Với số năm kinh nghiệm tương đối ít, thời gian tham gia sản xuất tương đối ngắn (hộ kinh nghiệm dưới 10 năm) là một khó khăn cho nông hộ
Đa số nông dân sản xuất nông nghiệp đều dựa vào kinh nghiệm mà làm theo,
vì thế kinh nghiệm ít có thể ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất củ sắn; tuy nhiên khi chưa có kinh nghiệm, người sản xuất sẽ có nhiều hướng đi mới cho quá trình sản xuất của mình, dễ dàng tích cực tham gia tập huấn kỹ thuật, cũng như tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, công tác phòng trừ sâu hại mới, hiệu quả Mặc khác, những nông hộ có kinh nghiệm càng cao sẽ càng thuận lợi cho sản xuất củ sắn, nhưng khi càng có kinh nghiệm, nông dân có thể trở nên bảo thủ, ít chọn biện pháp mới để tránh rủi ro cho sản xuất, nông dân ít tiếp cận khoa học kỹ thuật mới hoặc ít tham gia tập huấn cũng như hội thảo khoa học
4.1.1.2 Nguồn lực vốn
Trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công bước đầu cho mọi quá trình sản xuất, có đủ vốn sẽ giúp người nông dân có thể chăm sóc củ sắn tốt hơn và thuận lợi xoay sở chi phí khi có vấn đề phát sinh: dịch bệnh hay bón phân bổ sung dinh dưỡng cho
củ sắn
Đối với sản xuất củ sắn, vốn là một yếu tố quyết định, vì trong quá trình canh tác có rất nhiều chi phí về lao động thuê, chi phí giống, phân bón, thuốc trừ sâu, … Qua cuộc trao đổi với 60 nông hộ trồng củ sắn ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, nghiên cứu nhận thấy: phần lớn nông dân sử dụng vốn tự có để sản xuất, ít vay mượn và không nợ tiền ở các ngân hàng khi sản xuất do nhiều nguyên nhân:
- Thứ nhất, phần lớn nông dân ở xã trồng cây hoa màu, mỗi đợt thu hoạch
vụ màu trước sẽ là vốn cho vụ canh tác tiếp theo, mặc khác người dân có trồng các loại cây lâu năm nên cũng tạo thu nhập đáng kể để có vốn sản xuất cho những cây màu khác
- Thứ hai, các cơ sở, đại lý phân, thuốc nông dược tại địa phương có phương thức kinh doanh mua, bán chịu; khi đến thu hoạch sẽ thanh toán tiền, nên người nông dân có thể tận dụng hình thức này để không bị sức ép thiếu vốn cũng như tiết kiệm một khoản vốn nhỏ để phục vụ cho hoạt động sản xuất
Trang 36khác Đa số cơ sở, đại lý phân thuốc đều sinh sống trên địa bàn xã cũng như có quan hệ quen biết lâu dài nên người nông dân dễ dàng mua trả sau để có điều kiện canh tác tốt
- Thứ ba, nguồn lao động trong sản xuất củ sắn là những người sinh sống trong địa bàn xã nên quá trình thuê mướn cũng như trả tiền công trở nên dễ dàng thương lượng và nông hộ cũng dễ dàng gia hạn thời gian trả, không bị sức ép từ lao động
- Thứ tư, nông dân thường e ngại thủ tục vay vốn rườm rà, tốn nhiều thời gian, yêu cầu thế chấp, cầm cố tài sản,… khi cần vốn trong thời gian ngắn thì không đáp ứng kịp thời Chính vì thế nông hộ không chọn phương thức vay ngân hàng để làm vốn canh tác
4.1.1.3 Nguồn lực đất đai
Theo kết quả điều tra, diện tích trung bình của nông hộ là 4.670 m2, diện tích lớn nhất lên đến 11.000 m2
và bé nhất chỉ có 2.000 m2 Phần lớn diện tích đất thuộc quyền sở hữu của nông hộ, rất ít nông hộ thuê đất ở cũng như thuê đất phục vụ canh tác Người dân sử dụng đất vào 2 mục tiêu chính là dùng làm đất thổ cư và dùng đất để sản xuất Trong diện tích đất sản xuất, nông hộ phân
bổ 1 phần để trồng một số loại cây lâu năm, một phần đất để sản xuất cây màu các loại trong đó có củ sắn Dưới đây là bảng 4.7 thể hiện tổng diện tích đất và tổng diện tích đất trồng sắn của nông hộ trên địa bàn nghiên cứu:
Bảng 4.7: Tổng diện tích đất và diện tích đất trồng sắn của nông hộ
Đvt: 1.000 m 2
Nguồn: số liệu điều tra thực tế xã Lục Sĩ Thành năm 2013
Từ bảng 4.7 ta thấy: diện tích đất nông hộ sử dụng để trồng củ sắn lớn nhất là 4.500 m2, ít nhất là 1.000 m2, diện tích đất trung bình được đưa vào trồng sắn trong 60 nông hộ là 2.410 m2 Tuy diện tích trồng củ sắn không quá lớn nhưng cũng chiếm hơn 50% tổng diện tích đất nông hộ Cụ thể theo số liệu điều tra tổng diện tích đất 60 hộ là 280.000 m2
có đến 144.500 m2 (chiếm 51,61% tổng diện tích đất) nông hộ sử dụng trồng củ sắn
4.1.2 Lý do trồng củ sắn
Xã Lục Sĩ Thành là nơi có truyền thống trồng rau màu từ rất lâu, nhưng việc quyết định lựa chọn loại cây trồng thì ngoài những yếu tố khách quan như thổ nhưỡng, điều kiện thời tiết,… những yếu tố chủ quan cũng không kém
Trang 37phần quan trọng khiến người nông dân lựa chọn củ sắn làm nông sản để sản xuất Bảng 4.8 thống kê những lý do nông dân lựa chọn trồng củ sắn:
Nguồn: số liệu điều tra thực tế xã Lục Sĩ Thành năm 2013
Số liệu từ bảng 4.8 cho thấy: 43/60 hộ (chiếm 71,17%) được khảo sát quyết định trồng củ sắn vì lý do đất phù hợp Có thể nhận thấy yếu tố đất đai
là một trong những yếu tố quyết định lớn đến năng suất của sản phẩm nông nghiệp Chính vì ưu thế về đất cát giồng phì nhiêu từ những cồn cát hình thành
từ bồi tụ của sông Hậu mà xã Lục Sĩ Thành là nơi lý tưởng cho những rau màu đặc biệt là cây có củ như củ sắn Người nông dân nơi đây tận dụng lợi thế đất đai nên chọn củ sắn là nông sản canh tác, độ phì nhiêu của đất giúp nông dân tiết kiệm một phần chi phí dinh dưỡng cũng như giảm công chăm sóc trong quá trình sản xuất củ sắn Mặc khác đất cát giồng giúp củ dễ hấp thu khoáng chất cũng như tiện lợi rất nhiều trong quá trình thu hoạch
Với trên 50% số hộ trong 60 nông hộ được khảo sát chọn trồng củ sắn vì
lý do theo truyền thống, có thể nhận thấy củ sắn là nông sản được trồng lâu từ thế hệ này sang thế hệ khác nên yếu tố truyền thống được người nông dân duy trì và giữ vững
Một lý do khác không kém phần quan trọng khiến củ sắn được nông dân
xã Lục Sĩ Thành lựa chọn chính là lợi nhuận mà củ sắn mang lại cho nông dân 30/60 hộ được phỏng vấn cho biết năng suất củ sắn thường rất cao và giá bán qua các năm cũng không biến động lớn nên lợi nhuận thu về từ củ sắn sẽ đảm bảo cho cuộc sống người dân tốt hơn
Theo 29/60 nông hộ nhận xét củ sắn là nông sản dễ trồng, ít dịch bệnh tấn công, kỹ thuật sản xuất cũng không cần quá khác biệt so với những vụ sắn năm trước Do có quá trình sản xuất củ sắn lâu dài nên người dân dễ dàng nắm vững quy trình canh tác cũng như bón phân, phun thuốc, … bỏ công chăm sóc nhiều thì chất lượng nông sản sẽ tốt hơn
Dễ tiêu thụ cũng là một trong những lý do khiến nông dân xã chọn trồng
củ sắn với 27/60 hộ, chiếm tỷ trọng 45% tổng số hộ được phỏng vấn Củ sắn được coi là một trong những nông sản đặc trưng của xã Lục Sĩ Thành nên
Trang 38thương lái thu mua đều biết và thường xuyên trao đổi, mua bán với nông dân khi đến vụ thu hoạch Phần lớn việc tiêu thụ sắn là do thương lái thu mua, ít khi người nông dân phải chủ động tìm và tích trữ chờ bán
- Trong quá trình sản xuất củ sắn cần một lượng giống lớn để phù hợp với diện tích cũng như mật độ trồng, tuy nhiên để có đủ lượng giống cung cấp cho quá trình gieo sạ, nông dân ở xã phải mất phần lớn diện tích để trồng sắn tạo hạt giống cho mùa sau
- Thời gian bỏ ra để tạo sắn giống rất lớn trong khi người dân chủ yếu trồng cây ngắn ngày để tạo thu nhập, khi đó người dân chọn sản xuất hoa màu khác chứ không để đất chỉ để có được giống Thông thường sắn làm giống cần thời gian 6-7 tháng mới cho trái, cần 1 hoặc 2 tuần để thu hoạch, phơi sấy mới tạo ra được số lượng giống cần thiết cho gieo sạ Theo nông hộ, bỏ qua khâu trồng sắn giống, người nông dân có thể canh tác 2 hay nhiều vụ màu khác và tạo thu nhập ổn định
- Chi phí cho quá trình sản xuất củ sắn giống khá cao, cần nhiều công lao động cũng như chi phí phân, thuốc nông dược, thu hoạch, nhưng lợi nhuận cũng như thu nhập thì không đủ bù đắp Trong khi chi phí mua giống ở cơ sở sản xuất không quá lớn so với tự sản xuất
- Diện tích trồng sắn giống phải rất lớn để có thể cung cấp đủ nhu cầu gieo sạ cho mùa vụ sau, mặc khác diện tích đất trồng màu của nông hộ không nhiều nên bị hạn chế khả năng sản xuất giống
4.1.3.2 Mật độ trồng củ sắn
Mật độ trồng có sự ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất đạt được của nông
hộ Với củ sắn, mật độ trồng là một trong những yếu tố quyết định thời gian thu hoạch ngắn hay dài, cũng như lượng phân bón Đặc tính củ sắn là nông sản