1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long

86 568 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long” được chọn nghiên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

-    -

NGUYỄN THỊ ĐẸP

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

SỰ CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU SẢN XUẤT LÚA

TỪ SẢN XUẤT NHỎ LẺ SANG MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN Ở HUYỆN TRÀ ÔN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

-    -

NGUYỄN THỊ ĐẸP MSSV: 4105115

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

SỰ CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU SẢN XUẤT LÚA

TỪ SẢN XUẤT NHỎ LẺ SANG MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN Ở HUYỆN TRÀ ÔN

Trang 3

ơn các bạn cùng nhóm trong việc thu thập số liệu và trao đổi kinh nghiệm Sau cùng, em xin gởi lời cảm ơn đến gia đình đã khuyến khích, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và sự

hỗ trợ, giúp đỡ của các bạn Lớp Kinh Tế Nông Nghiệp khóa 36 trong học tập cũng nhƣ lúc em thực hiện Luận văn tốt nghiệp

Kính chúc sức khỏe Quý thầy cô, gia đình và các bạn!

Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2013 Sinh viên thực hiện

NGUYỄN THỊ ĐẸP

Trang 4

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất

cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày 09 tháng 12 năm 2013 Sinh viên thực hiện

NGUYỄN THỊ ĐẸP

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP

Ngày….tháng….năm 2013

Thủ trưởng đơn vị

(Ký tên và đóng dấu)

Trang 6

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1.1 Sự cần thiết của đề tài 1

1.1.2 Căn cứ khoa học thực tiễn 2

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

1.4.1 Phạm vi không gian 4

1.4.2 Phạm vi thời gian 4

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 4

CHƯƠNG 2 5

PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5

2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5

2.1.2 Cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp 8

2.1.3 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn 8

2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 9

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.3.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 13

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 13

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 14

CHƯƠNG 3 19

TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 19

3.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH LONG 19

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 19

Trang 7

3.1.2 Giao thông 21

3.1.3 Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch 21

3.2 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TRÀ ÔN 22

3.2.1 Đặc điểm tự nhiên 22

3.2.2 Đơn vị hành chính 23

3.2.3 Tình hình kinh tế - xã hội 24

3.2.4 Dân số, lao động 27

3.2.5 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Trà Ôn 28

3.3 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRÀ ÔN 31

3.3.1 Thực trạng sản xuất lúa ở huyện Trà Ôn 31

3.3.2 Thông tin về kết quả thực hiện mô hình cánh đồng mẫu lớn 32

CHƯƠNG 4 36

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU SẢN XUẤT LÚA TỪ SẢN XUẤT NHỎ LẺ SANG MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN TẠI HUYỆN TRÀ ÔN 36

4.1 MÔ TẢ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU ĐIỀU TRA VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ Ở HUYỆN TRÀ ÔN - VĨNH LONG 36 4.1.1 Đặc điểm về tuổi và giới tính của chủ hộ và nguồn nhân lực của các nông hộ trồng lúa 36

4.1.2 Trình độ học vấn 38

4.1.3 Nguồn lực đất đai 39

4.1.4 Nguồn vốn 41

4.1.5 Chính sách hỗ trợ của Nhà nước nói chung và Chính quyền địa phương nói riêng đối với các nông hộ trồng lúa 42

4.1.6 Tình hình tập huấn và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất của các nông hộ 43

4.1.7 Quy mô cánh đồng và hệ thống đê bao thủy lợi 46

4.1.8 Thông tin về thị trường đầu vào và thị trường đầu ra 48

4.1.9 Thông tin về tình hình sản xuất lúa của các nông hộ 49

Trang 8

4.2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU SẢN XUẤT LÚA TỪ NHỎ LẺ SANG MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG

MẪU LỚN 51

4.2.1 Kết quả xử lí mô hình hồi quy Probit 51

4.2.2 So sánh với các nghiên cứu trước đây 54

CHƯƠNG 5 56

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU SẢN XUẤT LÚA TỪ NHỎ LẺ SANG MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN 56

5.1 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NÔNG HỘ TRỒNG LÚA Ở HUYỆN TRÀ ÔN 56

5.1.1 Thuận lợi 56

5.1.2 Khó Khăn 56

5.2 NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ NHỮNG MẶT HẠN CHẾ CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI TỪ SẢN XUẤT NHỎ LẺ SANG MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN 58

5.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 58

CHƯƠNG 6 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

6.1 KẾT LUẬN 61

6.2 KIẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 65

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Phân phối số hộ điều tra tại các xã trên địa bàn huyện Trà Ôn……… 13 Bảng 2.2: Diễn giải các biến độc lập được đưa vào mô hình 16 Bảng 3.1: Các đơn vị hành chính của huyện Trà Ôn 23 Bảng 3.2 Dân số trung bình phân theo giới tính và theo khu vực 2009-2012…… ……….27 Bảng 3.3: Kết quả sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn vụ Đông xuân ở xã Xuân Hiệp năm 2012 32 Bảng 3.4: Kết quả sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn vụ Hè Thu ở

xã Xuân Hiệp năm 2012 33 Bảng 3.5: Kết quả sản xuất lúa theo mô hình cánh dồng mẫu lớn vụ Thu Đông

ở xã Xuân Hiệp năm 2012 33 Bảng 3.6: Kết quả sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn vụ Thu Đông

ở xã Hòa Bình năm 2012 34 Bảng 3.7: Kết quả sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn vụ Thu Đông

ở xã Trà Côn năm 2012 35 Bảng 4.1: Đặc điểm về giới tính của các chủ hộ điều tra 36 Bảng 4.2: Đặc điểm về tuổi và nguồn lực lao động gia đình của các nông hộ……… ……….37 Bảng 4.3: Trình độ học vấn của các đối tượng điều tra 38 Bảng 4.4: Tổng diện tích đất và tổng diện tích đất trồng lúa của các nông hộ……… 39 Bảng 4.5: Tình hình nguồn vốn vay của nông hộ tham gia và không tham gia trồng lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn 41 Bảng 4.6 Tình hình tham gia tập huấn của các nông hộ 44 Bảng 4.7: Tình hình xảy ra dịch bệnh của các nông hộ trồng lúa 45 Bảng 4.8: Tình hình về quy mô cánh đồng nơi các nông hộ sản xuất lúa………… 46 Bảng 4.9: Tình hình đê bao của cánh đồng nơi các nông hộ tham gia trồng lúa……… 47 Bảng 4.10: Tình hình sản xuất của các nông hộ tham gia cánh đồng mẫu lớn……… 50 Bảng 4.11: Năng suất lúa trước và sau quá trình chuyển đổi sang mô hình CĐML của nông hộ 51 Bảng 4.12: Kết quả mô hình hồi quy Probit 52

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Diện tích đất trồng lúa của các nông hộ tham gia cánh đồng mẫu lớn……… 40 Hình 4.2 Diện tích đất trồng lúa của các nông hộ không tham gia cánh đồng mẫu lớn… 40 Hình 4.3 Tình hình tham gia tập huấn của các nông hộ tham gia cánh đồng mẫu lớn… 45 Hình 4.4 Tình hình tham gia tập huấn của các nông hộ không tham gia cánh đồng mẫu lớn 45

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

CĐML : Cánh đồng mẫu lớn

BVTV : Bảo vệ thực vật

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Cây CNNN : Cây Công nghiệp ngắn ngày

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Sự cần thiết của đề tài

Từ xưa đến nay nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

là một trong bảy vùng kinh tế trọng điểm của cả nước và đây cũng là vùng có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp Được tạo thành bởi sự bồi đắp phù sa của chín nhánh sông – dòng sông Mêkông, là nơi có tiềm năng, thế mạnh về sản xuất nông nghiệp Đặc biệt ĐBSCL được xem là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam Vùng ĐBSCL gồm 13 tỉnh và tỉnh Vĩnh Long là tỉnh nằm ở trung tâm của vùng, nhờ sự ưu ái của thiên nhiên - nằm giữa hai con sông lớn nhất ĐBSCL (sông Tiền và sông Hậu); hằng năm nơi đây được nhận một lượng lớn phù sa nên đất có chất lượng cao và màu mỡ bậc nhất so với các tỉnh trong vùng, vì thế nền nông nghiệp nơi đây có thể nói là nơi quy tụ các yếu tố “thiên thời – địa lợi – nhân hòa”

Vốn là một trong những tỉnh thuần nông của ĐBSCL, cây lúa được xem

là nguồn thu nhập chính cho bà con nông dân nên mô hình độc canh cây lúa được xem là mô hình chủ lực ở nơi đây Người dân ĐBSCL nói chung và người dân ở tỉnh Vĩnh Long nói riêng có truyền thống thâm canh lúa nước từ rất nhiều năm Nhưng hoạt động sản xuất còn mang tính chất kinh tế hộ; nhỏ

lẻ, manh mún; không gắn kết theo chuỗi giá trị nên giá lúa bán ra thường thấp

do bị thương lái ép giá Mặt khác do thâm canh lâu dài trên đất sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học mà không có biện pháp cải tạo phù hợp nên chất lượng đất ngày càng thấp, sâu bệnh hại phát triển mạnh làm cho năng suất không cao Vấn đề đặt ra đối với vùng là không thể kéo dài mô hình kinh tế hộ, nhỏ lẻ mà phải đi lên theo hướng sản xuất lớn; phải đổi mới tư duy, phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng; phải có liên kết chặt chẽ trong sản xuất Dưới sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp & PTNT, tỉnh Vĩnh Long thực hiện chuyển dịch, phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, trước hết là quan tâm xây dựng, nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn, chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, phát triển các vùng nguyên liệu tập trung gắn với xây dựng thương hiệu; có sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Huyện Trà Ôn là 1 trong 8 huyện của Vĩnh Long thực hiện thí điểm mô hình cánh đồng mẫu lớn trên cây lúa và bước đầu mang lại nhiều hiệu quả thiết thực Các hộ nông dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tại cánh đồng mẫu thể hiện thành công trên các lĩnh vực: sử

Trang 13

dụng giống xác nhận, áp dụng quy trình 3 giảm 3 tăng, áp dụng đúng lịch thời

vụ, áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất, từ đó giúp tăng năng suất, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả và thu nhập cho người dân Vì vậy từ khi có chủ chương vận động tham gia sản xuất tập trung hơn theo mô hình

“Cánh đồng mẫu lớn” phần lớn nông dân hưởng ứng khá tích cực nhưng bên cạnh đó có một số nông dân không muốn hoặc không có điều kiện tham gia

sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn Do đó, đề tài: “Phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long” được

chọn nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân những hộ nông dân tiến hành chuyển đổi và những lợi ích mà họ đạt được từ việc chuyển đổi đó Từ đó, đề tài đề ra những giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực khắc phục những mặt hạn chế trong quá trình chuyển đổi, để có sự chuyển đổi mang lại hiệu quả sản xuất bền vững góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống của người nông dân

1.1.2 Căn cứ khoa học thực tiễn

* Căn cứ khoa học:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên kiến thức của các môn học:

- Nguyên lí thống kê kinh tế: Dựa trên nội dung môn học giúp ta biết được cách chọn vùng, chọn mẫu nghiên cứu, cách lấy thông tin từ nông hộ

- Kinh tế nông nghiệp: Nghiên cứu các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp như năng suất, lợi nhuận, chi phí Bên cạnh

đó cũng xem xét đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm hiểu rõ hơn tình hình sản xuất nông nghiệp ở nước ta nói chung cũng như địa bàn nghiên cứu nói riêng

- Kinh tế lượng: Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp qua mô hình đơn vị xác suất Probit

* Căn cứ thực tiễn:

- Ngoài những kiến thức và các thông tin từ các báo, tạp chí, trang web, em còn tiếp thu tham khảo ý kiến của các cô chú nhân viên Phòng Nông nghiệp huyện Trà Ôn

- Cũng như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Long được thiên nhiên

ưu đãi với điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Lượng đất phù sa màu mỡ thuộc loại bậc nhất so với các tỉnh khác trong khu vực, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt cung cấp nguồn nước tưới phục vụ cho trồng trọt cũng như nuôi trồng và khai thác thủy sản Vĩnh Long có Quốc lộ

Trang 14

1A chạy qua tỉnh, có cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, Quốc lộ 53, 54, 80 cùng với giao thông đường thủy khá thuận lợi đã nối liền tỉnh với các vùng trong cả nước tạo cho Vĩnh Long có vị thế rất quan trọng trong chiến lược phát triển và hợp tác kinh tế với cả vùng

Qua các năm thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nền nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng, nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả đã được áp dụng thành công góp phần cải thiện một bộ phận đời sống người dân Cụ thể như mô hình cánh đồng mẫu lớn tại huyện Trà Ôn Đồng thời người dân Vĩnh Long nói chung và người dân huyện Trà Ôn nói riêng rất cần cù, chăm chỉ ham học hỏi đây là lực lượng lao động dồi dào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cùng với sự chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ của các cấp, ban, ngành huyện đã góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn và cho thấy những thành công bước đầu

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu của nhiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất tập trung hơn như tham gia sản xuất theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu tập trung phân tích một số nội dung chính:

- Mục tiêu 1: Mô tả tình hình sản xuất nông nghiệp và tìm hiểu thực trạng cơ cấu sản xuất nông nghiệp nói chung và sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn trên địa bàn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long

- Mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long

- Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp phát huy những mặt tích cực và khắc phục những mặt hạn chế trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn nhằm phát triển mô hình cánh đồng mẫu lớn theo hướng tích cực để giúp các hộ nông dân sản xuất có hiệu quả hơn và góp phần nâng cao giá trị hạt lúa và đề ra các biện pháp để có được

sự chuyển dịch mang lại hiệu quả bền vững

Trang 15

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Tình hình sản xuất nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nói chung cũng như cơ cấu sản xuất lúa nói riêng trên địa bàn huyện Trà Ôn trong giai đoạn 2010-2013 như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa

từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn?

- Những giải pháp nào để phát huy những mặt tích cực và khắc phục những hạn chế trong quá trình chuyển đổi sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

a) Cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là những tổng thể các bộ phận hợp thành kinh tế nông nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau về chất lượng và hợp thành hệ thống kinh tế nông nghiệp

- Theo nghĩa rộng: kinh tế nông nghiệp là tổng thể kinh tế bao gồm các ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp

- Theo nghĩa hẹp: kinh tế nông nghiệp là tổng thể kinh tế bao gồm kinh

tế ngành trồng trọt và chăn nuôi

b) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

Là sự thay đổi quan hệ tỉ lệ về mặt lượng giữa các thành phần, các yếu tố

và các bộ phận hợp thành nền kinh tế nông nghiệp theo xu hướng nhất định Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng có thể diễn ra theo hai cách: tự phát và tự giác

- Chuyển dịch tự phát: là quá trình kinh tế nông nghiệp chuyển dịch không theo một xu hướng mục tiêu định trước mà là chuyển dịch phụ thuộc vào tác động của quy luật và điều kiện kinh tế khách quan

- Chuyển dịch tự giác: là sự chuyển dịch theo một xu hướng, mục tiêu sẵn có cả về lượng và chất, là sự chuyển dịch có sự can thiệp, tác động của con người nhằm thúc đẩy, định hướng cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo xu hướng

có lợi và hiệu quả hơn

2.1.1.2 Kinh tế nông thôn

Kinh tế nông thôn là một bộ phận hợp thành kinh tế quốc dân, là tổng thể các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

về chất lượng và theo tỉ lệ nhất định về số lượng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là một quá trình biến đổi thành phần và quan hệ tỉ lệ các ngành kinh

tế nông nghiệp và dịch vụ từ trạng thái này sang trạng thái khác theo những xu

Trang 17

hướng nhất định Cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn diễn ra theo hai cách: tự phát và tự giác

2.1.1.3 Nông nghiệp

- Nông nghiệp: theo nghĩa rộng là tổng hợp các ngành sản xuất gắn liền với các quá trình sinh học (đối tượng sản xuất là những cơ thể sống) gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp

- Nông nghiệp: theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi Ngành trồng trọt và chăn nuôi lại được phân ra thành những ngành nhỏ hơn, các ngành đó có mối quan hệ mật thiết với nhau và cùng hợp thành ngành sản xuất nông nghiệp

2.1.1.4 Nông nghiệp bền vững

Năm 1991, FAO đưa ra định nghĩa như sau: “phát triển bền vững là quá trình quản lí và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức đảm bảo đạt được sự thỏa mãn một cách liên tục các nhu cầu con người ở thế hệ hiện tại cũng như thế hệ tương lai Sự phát triển như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) chính là sự bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn gen động thực vật, không làm suy thoái môi trường, hợp lí về kĩ thuật, dễ thấy về lợi ích kinh tế và chấp nhận về mặt xã hội” 4 tiêu chí cho nông nghiệp bền vững là: + Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai

+ Đối với những người trực tiếp làm nông nghiệp thì phải đảm bảo việc làm, đủ thu nhập và điều kiện sống đảm bảo lâu dài

+ Duy trì và tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa xã hội của cộng đồng sống ở nông thôn + Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp

2.1.1.5 Nông hộ và nguồn lực nông hộ

- Nông hộ: là những hộ nông dân làm nông – lâm – ngư nghiệp và dịch vụ,… hoặc kết hợp nhiều ngành nghề, sử dụng lao động, vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh

- Nguồn lực nông hộ: Các tài nguyên trong nông hộ rất đa dạng bao gồm đất đai, lao động, kỹ thuật, tài chính, con người,… chúng có mối quan hệ hỗ

trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất của nông hộ Nếu biết tận dụng mối liên

Trang 18

hệ này sẽ giúp nông hộ tận dụng hợp lí các nguồn tài nguyên sẵn có, giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất

Chuyên canh là hiện tượng nông dân chỉ trồng một loại hoặc ít nhất một loại cây trên một khu đất nhằm thu càng nhiều lợi nhuận càng tốt

2.1.1.7 Tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún

Tình trạng manh mún về ruộng đất xảy ra phổ biến ở nhiều nước trên thế giới ít nhất là từ thế kỷ 17, không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả ở những nước phát triển Từ góc độ cá nhân, tình trạng manh mún về ruộng đất gây ra nhiều hạn chế như: chi phí sản xuấttăng, sử dụng nhiều lao động, đi lại khó khăn, lãng phí đất cho bờ vùng bờ thửa, khó áp dụng công nghệ và máy móc vào sản xuất, khó tổ chức hệ thống thủy lợi, tăng chi phí thu mua sản phẩm Từ góc độ xã hội, ruộng đất manh mún làm tăng chi phí giao dịch, khó chuyển dịch lao động nông nghiệp sang ngành khác, cơ giới hóa chậm chạp, khó áp dụng công nghệ mới, khó quy hoạch vùng sản xuất thương mại và quy hoạch sử dụng đất

2.1.1.8 Thông tin về mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”

Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” là mô hình liên kết 4 nhà thâm canh lúa hiệu quả, bền vững theo hướng GAP, tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu lúa hàng hóa xuất khẩu chất lượng cao, được xây dựng theo chủ trương của Bộ Nông nghiệp và PTNT tại hầu hết các tỉnh thành Nam bộ từ tháng 3 năm 2011 với hơn 7800 ha đất canh tác, 6400 hộ nông dân tham gia; nhưng thực chất nó

đã được xây dựng thí điểm tại rất nhiều điểm trình diễn, với quy mô từ vài ha đến vài chục ha ở các tỉnh: Long An, Tây Ninh, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang,…từ vụ Hè Thu 2008-2009

Hình thức liên kết rất đa dạng, theo điều kiện thực tế và sáng tạo của từng địa phương; nhưng cơ bản đã đạt được các bước: cung ứng lúa giống xác nhận (một đến hai loại); cung ứng phân bón, thuốc BVTV (từ doanh nghiệp đến thẳng người nông dân, không qua trung gian); hợp tác với doanh nghiệp thu mua lúa hoặc doanh nghiệp đứng ra tổ chức khép kín các khâu, từ cung

Trang 19

ứng đầu vào đến bao tiêu đầu ra cho nông dân (Công ty CP BVTV An Giang); tập hợp nông dân tham gia mô hình theo hình thức phân chia các nhóm sản xuất, có người phụ trách, cứ 2 nhóm sản xuất có một cán bộ kỹ thuật của tỉnh (hoặc huyện) trực tiếp hướng dẫn, nhắc nhở Có tỉnh tổ chức HTX, hoặc tổ hợp tác sản xuất Nhà nước hỗ trợ nông dân tiền chênh lệch khi mua giống lúa xác nhận (so với lúa thường), định kỳ tập huấn kỹ thuật cho nông dân (3-4 lần/vụ), hỗ trợ 30 đến 50% tiền đầu tư máy móc, công cụ sạ hàng, lò sấy, thùng pha thuốc BVTV (tỉnh Long An) Công ty CP phân bón Bình Điền bán phân theo giá gốc, hỗ trợ chi phí vận chuyển và cho nông dân trả chậm sau 4 tháng (tức bán phân đầu vụ nhưng khi nông dân thu hoạch lúa xong mới thu tiền)

2.1.2 Cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Cơ cấu nông nghiệp nông thôn của tỉnh Vĩnh Long là cơ cấu nông – lâm – ngư, trong đó nông nghiệp chiếm tỉ trọng tương đối lớn Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh trong điều kiện ngày nay thực chất là chuyển từ nông thôn thuần nông sang nông thôn đa dạng hóa ngành nghề Trong nông nghiệp xây dựng nhiều mô hình sản xuất đa dạng về cây trồng, vật nuôi Đặc biệt trong lĩnh vực ngư nghiệp việc nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển nhanh nhất đặc biệt là trong lĩnh vực nuôi công nghiệp, đây là mũi đột phá của ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Đồng thời phát triển theo hướng bền vững, công nghiệp hóa - hiện đại hóa Trong giai đoạn gần đây đối với lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu thì sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi khá rõ nét: người nông dân có xu hướng chuyển đổi từ sản xuất lúa sang các loại cây trồng khác như cam, bưởi, khoai lang, bắp,…Đặc biệt trong sản xuất lúa người nông dân cũng có xu hướng chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn

2.1.3 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn

Một cách tổng quát, cơ cấu nông nghiệp truyền thống bao gồm các ngành sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản Từ xã hội nông nghiệp bước sang xã hội công nghiệp, nhờ tác động công nghiệp, nông nghiệp được công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngoài các ngành truyền thống như trên còn có thêm các ngành như: chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến thủy sản, dịch vụ nông nghiệp, mang tính chuyên môn hóa Và khi bước sang xã hội hậu công nghiệp, lại phát sinh thêm những ngành mới như: công nghệ sinh học, tin học nông nghiệp, để có ngành nông nghiệp hoàn chỉnh trong tương lai Sản xuất nông nghiệp tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu của con

Trang 20

người do đó sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng chịu sự tác động mạnh mẽ của nhu cầu thị trường, thị hiếu, sức mua dân cư, chẳng những chịu sự tác động trực tiếp của thị trường trong nước mà còn chịu ảnh hưởng cạnh tranh của sản phẩm ngoại nhập Cùng tốc độ của tăng trưởng kinh tế, thu nhập và sức mua của tầng lớp dân cư cũng tăng tương ứng, mức sống được nâng lên, mặt tích cực là đã tác động kích thích các ngành sản xuất nông nghiệp phải tăng trưởng nhanh để không chỉ đáp ứng về mặt số lượng và chất lượng do nhu cầu tiêu dùng đã tăng rất cao và nhu cầu của thị trường xuất khẩu Chính những đòi hỏi này về mặt hàng nông sản đặt ra yêu cầu bức xúc phải điều chỉnh chuyển dịch

cơ cấu ngành sản xuất nông nghiệp để có thể sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Nguyễn Mạnh Hải và Trần Toàn Thắng (2009) “Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” Trong đề tài nghiên cứu này nhóm hai tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy Probit để phân tích các yếu tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rõ quyết định chuyển dịch lao động nông nghiệp, nông thôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố: Trình

độ học vấn của người lao động nông nghiệp, tuổi của lao động, sự có mặt của các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và sự phát triển của

cơ sở hạ tầng nông thôn, tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp trên tổng thu nhập, tỷ

lệ chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ phi nông nghiệp của hộ trên tổng thu nhập và yếu tố vùng Như vậy mô hình hồi quy Probit là mô hình khá đơn giản nhưng là mô hình phân tích có hiệu quả khi biến phụ thuộc là biến nhị nguyên Verburg và ctg (2004) “Determinants of land use change patterns in the

Netherlands” Bài viết này nghiên cứu về các yếu tố quyết định mô hình thay

đổi sử dụng đất ở Hà Lan Trong bài nghiên cứu này tác giả đã sử dụng mô hình logit nhị nguyên để phân tích các yếu tố tác động đến sự thay đổi sử dụng đất ở Hà Lan Kết quả nghiên cứu cho thấy: lịch sử thay đổi sử dụng đất cũng như những thay đổi sử dụng đất từ năm 1989 đến năm 1996 đã được nghiên cứu và cho thấy rằng lịch sử thay đổi sử dụng đất có liên quan chủ yếu đến sự thay đổi trong môi trường sinh học Mức độ giải thích là khá thấp vì không có khả năng để giải quyết sự biến đổi theo thời gian trong các yếu tố vị trí Đối với những thay đổi từ năm 1989 đến 1996 đã giải thích kết quả thu được trong

sử dụng đất ở mức độ cao Những thay đổi quan trọng nhất trong giai đoạn này là mở rộng các khu dân cư, công nghiệp, thương mại và giải trí Đặc điểm của những thay đổi này có thể được giải thích bởi một sự kết hợp các biện pháp tiếp cận, chính sách không gian, và các tương tác khu vực Dựa trên cơ

Trang 21

sở những kết quả này có thể xác định những chủ đề ưu tiên để phân tích chuyên sâu cho quá trình thay đổi sử dụng đất và đề xuất các yếu tố, các mối quan hệ, và các quá trình cần phải được bao gồm trong mô hình thay đổi hướng sử dụng đất và cần đưa ra chính sách hỗ trợ lập kế hoạch sử dụng đất hợp lý

Ebanyat và ctg (2010) “Drivers of land use change and household

determinants of sustainability in smallholder farming systems of Eastern Uganda” Bài viết này nghiên cứu về động cơ của sự thay đổi sử dụng đất và

các yếu tố gia đình của phát triển bền vững trong hệ thống canh tác nông hộ nhỏ ở Đông Uganda Hệ thống canh tác quy mô nhỏ ở châu Phi cận Sahara đã trải qua thay đổi trong sử dụng đất, năng suất và tính bền vững Sự hiểu biết về các động cơ đã dẫn đến những thay đổi trong sử dụng đất trong các hệ thống

và các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống phát triển bền vững là hữu ích để hướng dẫn mục tiêu phù hợp của chiến lược can thiệp để cải thiện Tác giả đã nghiên cứu hệ thống canh tác Teso đầu vào thấp ở miền đông Uganda 1960-2001 dựa trên kết hợp với một so sánh phân tích hệ thống đầu vào tương tự thấp ở miền nam Mali Nghiên cứu này cho thấy, chính sách thể chế yếu tố bên cạnh sự tăng trưởng dân số đã thúc đẩy những thay đổi sử dụng đất trong các hệ thống Teso, và cân đối các chất dinh dưỡng của các hộ nông dân có ít các chỉ số để xác định tính bền vững của họ Trong thời gian phân tích của nghiên cứu này, các phần đất trồng tăng 46-78%, và đồng cỏ xã gần như hoàn toàn biến mất

Sự đa dạng theo thời gian, sắn đã vượt qua bông và kê trong tầm quan trọng,

và lúa nổi lên như là một loại cây trồng thay thế Tác động của bất ổn chính trị, chẳng hạn như sự sụp đổ của thị trường bông và tổ chức quản lý đất, sắp xếp lao động và tăng lên nhiều loại gia súc có liên quan đến các thay đổi Năng suất cây trồng trong các hệ thống canh tác kém và cân bằng các chất dinh dưỡng khác nhau giữa các loại hình trang trại Cân đối N, P và K tất cả đều tích cực cho các trang trại lớn hơn (LF) mà đã có gia súc hơn và thu được một tỷ lệ thu nhập lớn hơn từ các hoạt động phi nông nghiệp, trong khi đó trên các trang trại trung bình (MF), trang trại nhỏ với gia súc (SF1) và không có gia súc (SF2) cân đối chủ yếu là tiêu cực Tính bền vững của hệ thống canh tác được thúc đẩy bởi chăn nuôi, trồng trọt, lao động và tiếp cận với thu nhập phi nông nghiệp Xây dựng quan hệ đối tác tổ chức xung quanh cây trồng theo hướng thị trường có thể là một điểm khởi đầu để khuyến khích đầu tư trong sử dụng nguyên liệu đầu vào chất dinh dưỡng bên ngoài để tăng năng suất trong

hệ thống canh tác như châu Phi Hệ thống đầu vào thấp của các nông hộ ở địa bàn nghiên cứu bước đầu sẽ cần sự trợ cấp để cung cấp đủ đầu vào có thể thúc đẩy việc tăng năng suất trước khi nông dân tìm thấy những lựa chọn kinh tế

Trang 22

thích hợp hơn Tuy nhiên, chiến lược can thiệp nên nhận ra sự đa dạng và tính không đồng nhất giữa các trang trại để đảm bảo sử dụng hiệu quả các đầu vào bên ngoài

Rowcroft (2008) “Frontiers of Change: The Reasons Behind Land-use

Change in the Mekong Basin” Nghiên cứu này đề cập đến vấn đề biên giới

của sự thay đổi: Các lý do đằng sau thay đổi sử dụng đất trong lưu vực sông Cửu Long Trước tiên, dựa trên kết quả của những nghiên cứu trước tác giả đề cập đến việc tăng dân số, du canh, và xây dựng đường sá là ba trong những nguyên nhân phổ biến nhất được trích dẫn của nạn phá rừng ở lưu vực sông Cửu Long và do đó được sử dụng như điểm khởi đầu cho các cuộc thảo luận sau đó trong bài nghiên cứu của tác giả Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra nhận định về tác động hai mặt của tăng trưởng dân số: một mặt tăng trưởng dân số sẽ làm gia tăng nạn phá rừng vì khi dân số tăng nhu cầu về nhà ở, việc làm và thực phẩm cũng sẽ tăng theo kéo theo đó nạn phá rừng để làm nhà ở, nương rẫy sẽ tăng cao; mặt khác tăng trưởng dân số cũng có thể tạo ra công nghệ tiến bộ và thể chế thay đổi góp phần giảm áp lực vào rừng, tăng trưởng dân số làm tăng số lao động có sẵn trong nông nghiệp và do đó giảm tiền lương nông thôn, lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp có thể tăng, trong khi

đó khu vực thành thị có khả năng thu hút lao động dư thừa ở vùng nông thôn Tiếp theo, tác giả đã nhận định rằng du canh và nghèo đói không phải là những nguyên nhân thật sự dẫn đến việc thay đổi sử dụng đất ở lưu vực sông Cửu Long Bên cạnh đó, việc xây dựng đường sá cũng là một yếu tố có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến nạn phá rừng Như vậy, tăng trưởng dân số, đói nghèo, và cơ sở hạ tầng (xây dựng đường sá) không thể cung cấp một sự hiểu biết đầy đủ về nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự thay đổi sử dụng đất Thay vào đó, câu trả lời là thể chế kinh tế, qua trung gian của các yếu tố thể chế và ngày càng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố toàn cầu, thường xuyên nhất mà điều khiển thay đổi sử dụng đất Theo đó, thay đổi sử dụng đất không mong muốn

có thể là do thất bại thị trường, hoặc kinh tế sai lầm Ngay cả khi thất bại thị trường có thể không phải là nguyên nhân cơ bản chính của suy giảm rừng trong mọi trường hợp Mặc dù, nghiên cứu này có thể không cung cấp các giải pháp hoàn chỉnh cho vấn đề của sự thay đổi sử dụng đất không mong muốn nhưng nó cũng sẽ làm rõ ràng một phần trong việc hỗ trợ quản lý đất đai tốt hơn và bảo tồn Trong khi những nguyên nhân chính của sự thay đổi sử dụng đất vẫn còn đang được tranh chấp, thì bài viết này cho thấy các yếu tố sự thay đổi sử dụng đất là một hiện tượng cực kỳ phức tạp mà không thể được giải thích bằng một số nguyên nhân đơn giản mà chúng có mối quan hệ với nhau Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi không phải là cùng độc quyền nhưng

Trang 23

thường hỗ trợ lẫn nhau, làm cho nó khó khăn để dự đoán chính xác câu trả lời người sử dụng đất đối với một chính sách khác nhau và chương trình can thiệp Đây không phải là để nói rằng những nỗ lực tốt hơn để hiểu rõ nguyên nhân thay đổi sử dụng đất trong sông Cửu Long là vô ích Để có hiệu quả, can thiệp để giải quyết thay đổi sử dụng đất không mong muốn cần phải được thực hiện ở mức độ thích hợp

Chakir và Parent (2009) “Determinants of land use changes: A spatial

multinomial probit approach” Bài báo này nghiên cứu về các yếu tố quyết định thay đổi sử dụng đất: Một không gian đa thức với cách tiếp cận probit Nhóm tác giả đề xuất một mô hình probit đa thức không gian để kiểm tra các yếu tố quyết định của thay đổi sử dụng đất, ở cấp lô, tại khoa Pháp du Rhones 1992-2003 Bài nghiên cứu này dựa trên một mô hình kinh tế giả định rằng các chủ đất có thể lựa chọn giữa bốn loại sử dụng đất cho một mảnh đất được đưa ra tại một ngày nhất định: (1) nông nghiệp, (2) rừng, (3) đô thị, và (4) không sử dụng Tác giả ước tính một mô hình cho phép cho cả hai biến số và

sự phụ thuộc không gian, và tác giả sử dụng các tính năng để khám phá tầm quan trọng tương đối của các yếu tố quyết định chủ đất để lựa chọn một cách

cụ thể sử dụng loại đất Mô hình của tác giả tăng cường sự hiểu biết về sử dụng đất theo ba cách Đầu tiên, thay vì dựa vào số liệu tổng hợp như trong hầu hết các nghiên cứu trước đây, tác giả sử dụng dữ liệu cấp mảnh đất là quy

mô tương ứng tốt nhất để quyết định kinh tế được xem xét Thứ hai, hầu hết các nghiên cứu hoặc cho rằng chủ đất chỉ có một sự lựa chọn giữa hai sử dụng đất, để tránh những ước lượng của một mô hình đa thức, hoặc họ chiếm nhiều

sự lựa chọn và ước lượng mô hình logit đa trong đó giả định giả thuyết IIA Kết quả của tác giả cho thấy rằng lựa chọn thay thế sử dụng đất phụ thuộc; do

đó giả định IIA không giữ Thứ ba, trong khi hầu hết các nghiên cứu trong các tài liệu dựa trên không gian dữ liệu rõ ràng sử dụng lấy mẫu thường xuyên không gian để xây dựng một mẫu không gần nhất hàng xóm và do đó thanh lọc dữ liệu tương quan không gian, tác giả đưa vào tài khoản phụ thuộc không gian trong một mô hình probit đa thức đó, kiến thức của tác giả vẫn chưa được thực hiện trong đất sử dụng các nghiên cứu Kết quả cho thấy sức mạnh của sự phụ thuộc không gian là rất tích cực và có ý nghĩa Điều này khẳng định rằng yếu tố bên ngoài không gian (như quy hoạch) có thể ảnh hưởng đến sử dụng đất Hơn nữa, ước tính tác động ngẫu nhiên có cấu trúc không gian cũng cho thấy rằng những thay đổi sử dụng đất là mạnh mẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố

không quan sát được trong mảnh đất ở khu vực (ví dụ, do quy định chế độ,

quy hoạch chung) Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải giải thích cho sự

Trang 24

tương tác không gian giữa các quan sát để xác định chính xác các yếu tố quyết định thay đổi sử dụng đất

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu của đề tài là hai xã: Xuân Hiệp và Hòa Bình của huyện Trà Ôn – tỉnh Vĩnh Long Huyện Trà Ôn là một trong tám huyện của tỉnh Vĩnh Long đang thực hiện thí điểm và nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn Trong huyện có 2 xã điển hình thực hiện mô hình cánh đồng mẫu lớn là

xã Xuân Hiệp với khoảng 96,5 ha và có 176 hộ tham gia và xã Hòa Bình với khoảng 50ha và có 79 hộ tham gia Vì vậy đề tài chọn hai xã này để nghiên cứu sẽ mang tính đại diện cho tổng thể cao

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện thông qua việc lập phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp 127 hộ ở hai xã Xuân Hiệp và Hòa Bình đang tham gia sản xuất lúa nhỏ lẻ và sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn Lấy ý kiến từ các hộ nông dân để thu thập thông tin chung về vùng nghiên cứu Nội dung phiếu điều tra gồm: Thông tin khái quát về nông hộ, giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, lao động tham gia sản xuất lúa, diện tích đất sản xuất, vốn sản xuất Thông tin về chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương và của nhà nước Các thông tin về thuận lợi, khó khăn về đầu vào và đầu ra trong sản xuất, để đưa ra kiến nghị đối với mô hình Tình hình phân phối số hộ điều tra, phỏng vấn trực tiếp ở 2 xã Xuân Hiệp và Hòa Bình được thể hiện cụ thể qua bảng sau:

Bảng 2.1: Phân phối số hộ điều tra tại các xã trên địa bàn huyện Trà Ôn

Nguồn: Số liệu điều tra thực tế, 2013

2.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu được thu thập từ Niên giám thống kê của Cục Thống Kê Vĩnh Long, báo cáo tổng hợp của phòng nông nghiệp thị trấn Trà Ôn, các tài liệu

Trang 25

nghiên cứu cũng như những nhận định, đánh giá của các nhà chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và tham khảo tài liệu, thông tin có liên quan từ sách, báo, tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành và mạng internet để mô tả tình hình kinh tế xã hội, thực trạng sản xuất nông nghiệp nói chung và tình hình sản xuất lúa nói riêng ở địa bàn nghiên cứu

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu

Để giải quyết các mục tiêu đề tài đã đưa ra, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp phân tích cụ thể như sau:

- Đối với mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh để phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp ở huyện Trà Ôn

- Đối với mục tiêu 2 và 3: Sử dụng mô hình lựa chọn Probit để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ

lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn và từ kết quả đó tiến hành phân tích và đề

ra các giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và khắc phục những mặt hạn chế trong quá trình chuyển đổi Từ kết quả phân tích và các thông tin thu thập được từ các nguồn có liên quan, tác giả đề xuất một số giải pháp để phát triển mô hình Cánh đồng mẫu lớn theo hướng bền vững

2.3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong đề tài nhằm mô tả thực trạng chung của nông hộ sản xuất lúa ở hai xã Xuân Hiệp và Hòa Bình, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Cụ thể như: độ tuổi, trình độ học vấn, số nhân khẩu trong gia đình, số lao động gia đình, diện tích đất sản xuất nông nghiệp nói chung và diện tích đất trồng lúa nói riêng, nguồn vốn sản xuất, lợi nhuận, tình hình tham gia tập huấn, tham gia các tổ chức đoàn thể của nông hộ

2.3.2.2 Mô hình Probit

Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa

từ nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn tại địa bàn nghiên cứu đề tài sử dụng mô hình Probit Phương pháp này cũng giống như phương pháp hồi quy tuyến tính nhưng phương pháp này được sử dụng phổ biến hơn trong trường hợp biến được dự báo là một biến nhị nguyên nhận giá trị 1 và 0

Giả thuyết của mô hình xác suất nhị nguyên là có một phương trình phản ứng dưới dạng Y i* X iu ivới Xilà biến có thể quan sát được nhưng

Trang 26

chúng ta quan sát được trong thực tế là Y i mang giá trị 1 nếu *

i

Y > 0 và bằng 0 nếu các giá trị khác Do đó chúng ta có:

X F

1 ) (

L

Yi Yi

Với  kí hiệu tích số của các số hạng Ước lượng thông số  và  bằng cách cực đại biểu thức này, mà nó rõ ràng không tuyến tính giữa các thông số

và không thể ước lượng bằng những chương trình hồi quy thông thường

Mô hình đơn vị xác suất Probit được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn, cụ thể như sau:

P r (Y=1/X) = F(β 1 + β 2 tuoi + β 3 gioitinh + β 4 hocvan +

β 5 dientichdattronglua + β 6 nguonnhanluc + β7vayvon + β 8 dichbenh +

β 9 loinhuan + β 10 debaokienco + β 11 thamgiadoanthe + β 12 taphuankythuat + u i )

Trong đó:

 Y = 1: Hộ nông dân chuyển sang sản xuất theo cánh đồng mẫu lớn

 Y = 0: Hộ nông dân không chuyển sang sản xuất theo cánh đồng mẫu lớn

Các biến độc lập ảnh hưởng đến xác suất xảy ra câu trả lời là có tham gia sản xuất tập trung theo mô hình CĐML được giải thích đưa vào mô hình và có

kỳ vọng như trong bảng sau:

Trang 27

Bảng 2.2: Diễn giải các biến độc lập được đưa vào mô hình

2 Giới tính của chủ hộ (0=nam, 1=nữ) - Hocvan X3 Trình độ học vấn của chủ hộ, chưa tốt

nghiệp THPT=0, đã tốt nghiệp THPT=1

+

Dientichdattronglua X4 Tổng diện tích đất trồng lúa của nông

hộ (công)

+

Nguonnhanluc X5 Số nhân khẩu có trong hộ, nhận giá

trị tương ứng với số người trong hộ

-

Vayvon X6 Nông hộ có vay vốn sản xuất lúa hay

không (0= không, 1= có)

+

Dichbenh X7 Nông hộ trồng lúa có xảy ra dịch

bệnh gì hay không (0= không, 1=có)

Thamgiadoanthe X10 Chủ hộ có tham gia một trong các tổ

chức đoàn thể như: hội nông dân, hội phụ nữ, hợp tác xã, hội người cao tuổi, hội cựu chiến binh hay không (0= không, 1= có)

+

Taphuankythuat X11 Nông hộ có tham gia các buổi tập

huấn kỹ thuật trồng lúa hay không, (0= không, 1= có)

+

- Tuổi (X1): là tuổi của đáp viên Biến tuổi được kỳ vọng có ảnh hưởng ngược chiều đến xác suất chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất lúa theo

mô hình CĐML của các nông hộ ở địa bàn nghiên cứu Tuổi càng cao thì càng

có nhiều kinh nghiệm về trồng lúa và phần lớn họ nghĩ rằng những kỹ thuật trồng lúa hiện tại của họ đã tốt nên họ không chịu tiếp thu những kỹ thuật mới tiến bộ Đặc biệt, phần lớn những người có độ tuổi càng lớn thì họ rất sợ chế

độ bao cấp ngày xưa vì không hiểu rõ thông tin về CĐML nên họ ngạy không

Trang 28

tham gia CĐML vì họ nghĩ sẽ ảnh hưởng tới việc làm chủ đất ruộng hiện tại của họ (họ sợ bị mất đất) Những người trẻ thì họ có hiểu biết nhiều về những biến động của giá lúa và thông tin thị trường, nắm bắt và hiểu rõ nhiều thông tin về việc triển khai thực hiện và hiệu quả của mô hình CĐML

- Giới tính (X2): là giới tính của đáp viên (là chủ hộ trong gia đình) mang giá trị 0 là nam và 1 là nữ Ở nông thôn nam giới thường là người trực tiếp tham gia trồng lúa và thích được cập nhật, tiếp thu, chia sẻ những thông tin về

kỹ thuật trồng lúa cũng như họ thích tham gia các mô hình sản xuất có thể mang lại hiệu quả cao Vì vậy, xác suất tham gia CĐML của nam được kỳ vọng nhiều hơn nữ

- Học vấn (X3): là trình độ học vấn của đáp viên (0= chưa tốt nghiệp THPT, 1= đã tốt nghiệp THPT) Trình độ học vấn càng cao thì khả năng nhận thức về tầm quan trọng của việc sản xuất tập trung để có thể tiếp thu những kỹ thuật mới tiến bộ và chia sẻ những kinh nghiệm với bà con nông dân càng cao

Do đó, biến trình độ học vấn được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến xác suất tham gia CĐML

- Tổng diện tích đất trồng lúa (X4): là tổng diện tích đất trồng lúa của nông hộ bao gồm ruộng nhà và ruộng thuê mướn để trồng lúa Những hộ có nhiều đất trồng lúa thì họ gắn bó mật thiết với cây lúa và quan tâm đến việc sản xuất lúa sao cho mang lại hiệu quả cao nhất như: học tập tiếp thu những kỹ thuật mới tiến bộ, chia sẻ kinh nghiệm, đặc biệt họ mong muốn tìm kiếm giống chất lượng, tìm kiếm thị trường đầu ra ổn định Mặt khác, những hộ có nhiều ruộng thì sự hỗ trợ về giống và phân bón mang lại lợi ích cho họ nhiều hơn so với những hộ có ít ruộng Vì thế, biến diện tích đất trồng lúa được kỳ vọng là có ảnh hưởng cùng chiều với xác suất tham gia CĐML

- Nguồn nhân lực (X5): là số nhân khẩu có trong gia đình Khi tham gia sản xuất lúa theo mô hình CĐML sẽ có thể giảm thiểu số lượng lao động gia đình tham gia vào việc trồng lúa do thực hiện cơ giới hóa, sạ hàng ít dặm hơn

là sạ lang, số lần bón phân, xịt thuốc giảm Vì vậy, biến này có kỳ vọng ảnh hưởng ngược chiều với xác suất tham gia CĐML

- Vay vốn (X6): Tình hình vay vốn để trồng lúa của nông hộ mang giá trị

là 1 nếu có vay vốn, mang giá trị là 0 nếu không vay vốn Phần lớn các hộ dân trồng lúa nhỏ lẻ vay vốn với hình thức là mua chịu cửa hàng vật tư gần nhà, đối với những hộ tham gia CĐML thì phần lớn họ cũng vay vốn với hình thức mua chịu các đại lý của những công ty liên kết với ban quản lý dự án CĐML như: đại lý của công ty phân bón Hợp Trí, Bình Điền, BVTV An Giang Vì

Trang 29

vây, biến giả này được kỳ vọng là có ảnh hưởng cùng chiều với xác suất tham gia CĐML của các nông hộ ở địa bàn nghiên cứu

- Dịch bệnh (X7): là dịch bệnh xảy ra trong quá trình sản xuất lúa nhận giá trị là 1 nếu có dịch bệnh xảy ra, không xảy ra dịch bệnh thì mang giá trị 0 Thông thường các hộ trồng lúa nhỏ lẻ, manh mún dễ xảy ra dịch bệnh do phần lớn họ không thống nhất với nhau về thời gian xịt thuốc, người xịt trước người xịt sau nên không tiêu diệt triệt để mầm móng của những loại sâu, bệnh hại lúa Khi tham gia CĐML với tinh thần làm việc tập thể: gieo sạ đồng loạt; bón phân, xịt thuốc đồng loạt có thể hạn chế được dịch bệnh Vì vậy, biến này có

kỳ vọng ảnh hưởng cùng chiều với xác suất tham gia CĐML

- Lợi nhuận (X8): là lợi nhuận của vụ Hè Thu của nông hộ sản xuất lúa nhỏ lẻ lấy ở năm 2013, nông hộ có chuyển đổi sang mô hình CĐML thì lấy ở năm trước khi họ chuyển đổi Vụ Hè Thu là vụ có lợi nhuận bấp bênh và thấp nhất trong năm Khi lợi nhuận vụ này càng thấp thì nông dân càng muốn chuyển đổi hình thức sản xuất lúa để có thể sản xuất hiệu quả hơn đem lại lợi nhuận nhiều hơn Vì thế, biến này có kỳ vọng ảnh hưởng ngược chiều với xác suất tham gia CĐML

- Đê bao kiên cố (X9): là tình trạng về hệ thống đê bao của cánh đồng nơi nông hộ tham gia trồng lúa Ban quản lý dự án CĐML chỉ chọn những nơi có

hệ thống đê bao kiên cố để triển khai thực hiện dự án CĐML Mặt khác, những hộ ở vùng đê bao không kiên cố thì phần lớn họ không muốn tham gia CĐML do phải sử dụng giống lúa dài xác nhận với thời gian thu hoạch khoảng

từ 100 đến 110 ngày lâu hơn giống lúa thường từ 10 đến 15 ngày nên vào vụ Thu Đông (tháng 7,8,9 âm lịch) dễ bị ảnh hưởng của lũ tràn về làm cho sản lượng và chất lượng hạt lúa thu hoạch giảm đáng kể Do đó, biến này được kỳ vọng là có ảnh hưởng cùng chiều với xác suất tham gia CĐML

- Tham gia các tổ chức đoàn thể (X10): là tình hình tham gia các tổ chức đoàn thể của các nông hộ ở địa bàn nghiên cứu như: hợp tác xã, hội nông dân, hội phụ nữ, hội người cao tuổi, hội cựu chiến binh Nếu có tham gia các tổ chức đoàn thể thì bà con rất dễ nắm bắt những thông tin về việc triển khai thực hiện và hiệu quả của việc sản xuất theo CĐML Do đó, biến này có kỳ vọng ảnh hưởng cùng chiều với xác suất tham gia CĐML

- Tham gia tập huấn kỹ thuật (X11): là tình hình tham gia tập huấn kỹ thuật của các nông hộ ở địa bàn nghiên cứu Tham gia tập huấn nhiều sẽ giúp

bà con nông dân tiếp thu được những tiến bộ khoa học kỹ thuật và nắm bắt những thông tin về hiệu quả của việc tham gia sản xuất lúa theo CĐML Vì thế, biến này có kỳ vọng ảnh hưởng cùng chiều với xác suất tham gia CĐML

Trang 30

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 3.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH LONG

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Cũng như các tỉnh ĐBSCL, Vĩnh Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, đặc biệt là TPHCM và Cần Thơ Vị trí đó vừa là thuận lợi, nhưng cũng là thách thức nhất là trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và thu hút đầu tư lao động chất lượng cao Mặt khác, Vĩnh Long là nơi tập trung đầu mối giao thông thủy và bộ mà không tỉnh nào ở ĐBSCL có được, vị trí đó giúp Vĩnh Long mở rộng giao thương thuận lợi với các vùng trong khu vực và cả nước Do đó, phát huy đúng mức lợi thế về vị trí địa lí này

sẽ giúp Vĩnh Long chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế

3.1.1.2 Đất đai

Đất đai của tỉnh Vĩnh Long được hình thành do kết quả trầm tích biển lùi Holocene (cách nay khoảng 5.000-11.200 năm) dưới tác động của sông Mekong Theo kết quả điều tra khảo sát thổ nhưỡng của Chương trình Đất tỉnh Vĩnh Long năm 1990-1994, Vĩnh Long có 4 nhóm đất chính: đất phèn 90.779,06 ha (chiếm 68,94% diện tích), đất phù sa 40.577,06 ha (chiếm 30,81% diện tích), đất cát giồng 212,73 ha (chiếm 0,16% diện tích), đất xáng thổi 116,14 ha (chiếm 0,09% diện tích)

Theo số liệu thống kê, tính đến ngày 1/1/2010, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh có 147.912,7 ha được chia ra 5 loại đất sử dụng như sau (tỉnh không

có đất lâm nghiệp): Đất nông nghiệp 116.180,6 ha, chiếm 78,6%; Đất chuyên dùng 9.163,9 ha, chiếm 6,2%; Đất ở nông thôn 5.502,3 ha, chiếm 3,7%; Đất ở

đô thị 656,8 ha, chiếm 0,44%; Đất chưa sử dụng, 105,3 ha, chiếm 0,07% Theo Nghị quyết số 32/2006/NQ- CP ngày 17 tháng 11 năm 2006 của Chỉnh phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng

đất 2006-2010 tỉnh Vĩnh Long thì đất sản xuất nông nghiệp có 106.738 ha,

Trang 31

trong đó đất trồng cây hàng năm có 51.722 ha, đất trồng cây lâu năm là 55.016

ha (cây ăn trái, cây công nghiệp và các loại cây lâu năm khác) Thực tế sử dụng đất đến 1/1/2010 cho thấy đất sản xuất nông nghiệp, cũng như đất trồng cây hàng năm đều đạt mức lớn hơn mục tiêu quy hoạch, chủ yếu theo hướng tăng diện tích màu và cây ăn trái Tổng kết 5 năm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, lãnh đạo tỉnh, ngành nông nghiệp cũng như các huyện thị đều thống nhất tăng diện tích cây ăn trái, giảm diện tích chuyên lúa (giảm lúa vụ 3,

bỏ diện tích 2 vụ lúa) tăng diện tích luân canh lúa và hoa màu

đề cho sự phát triển nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, tăng vụ

- Độ ẩm không khí bình quân 80-83%, tháng cao nhất (tháng 9) là 88%

và tháng thấp nhất là 77% (tháng 3)

- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của tỉnh khá lớn, khoảng 1.500 mm/năm, trong đó lượng bốc hơi bình quân theo tháng vào mùa khô là 116-179 mm

1.400 Lượng mưa trung bình đạt 1.450 1.400 1.504 mm/năm Số ngày mưa bình quân 100 - 115 ngày/năm Về thời gian mưa có 90% lượng mưa năm phân bố tập trung vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch)

Độ ẩm cũng như lượng mưa là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Tuy không bị ảnh hưởng bởi các dạng khí hậu cực đoan nhưng những hiện tượng lốc xoáy, các trận lũ nhiều hơn, có thể là những tác động ban đầu của biến đổi khí hậu toàn cầu cần phải được quan tâm khi bố trí không gian lãnh thổ và kinh tế-xã hội nói chung

3.1.1.4 Sông ngòi

Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa 2 con sông lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long, nên có nguồn nước ngọt quanh năm, đó là tài nguyên vô giá mà thiên nhiên ban tặng Vĩnh Long có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, hình thành hệ thống phân phối nước tự nhiên khá hoàn chỉnh, lượng mưa hàng năm trên địa bàn tỉnh lớn Ngoài ra, Vĩnh Long còn có tiềm năng nguồn nước khoáng chất

Trang 32

lượng cao, có khả năng phát triển công nghiệp sản xuất nước giải khát và nước tinh khiết phục vụ ngành y tế Đặc biệt, Vĩnh Long có nguồn thuỷ sản khá phong phú gồm nước ngọt và nước lợ Tại Vĩnh Long có các loại hình dòng chảy chính và vùng ngập lũ thượng lưu: hồ, ao, đầm kênh, mương, ruộng lúa Diện tích có khả năng nuôi trồng và khai thác thuỷ sản là 34.480 ha

3.1.2 Giao thông

Vĩnh Long có vị trí địa lý đặc biệt so với các tỉnh khác nằm ở hạ nguồn lưu vực sông Mêkông, giữa hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang, nối liền hai dòng sông lớn theo hướng Bắc Nam là sông Măng Thít, cùng với mạng lưới sông ngòi chằng chịt, phân bố tương đối đồng đều đã làm cho Vĩnh Long trở thành đầu mối giao thông nối liền giữa các vùng trong khu vực và lưu thông quốc tế thông qua các cửa biển Tiểu, Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên, Định An Lợi thế này đã tạo cho Vĩnh Long có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển vùng ĐBSCL và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hơn thế nữa, Vĩnh Long lại nằm giữa hai trung tâm kinh tế lớn của cả vùng Nam Bộ là thành phố lớn TP Hồ Chí Minh và TP Cần Thơ, cách sân bay quốc tế Trà Nóc khoảng 30 km Cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ đã hoàn thành và đưa vào sử dụng và sắp tới đây đường cao tốc TP Hồ Chí Minh - Cần Thơ được hoàn thành và đưa vào khai thác Vĩnh Long sẽ đóng vai trò một nhịp cầu lớn của con đường phát triển kinh tế của vùng ĐBSCL và cả nước, tạo bước đột phá

về đầu tư sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước

3.1.3 Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

- Tiềm năng phát triển kinh tế: Là tỉnh ở giữa ĐBSCL, Vĩnh Long có đất đai màu mỡ do được sông Tiền và sông Hậu bồi đắp phù sa hàng năm Trồng trọt là một thế mạnh của tỉnh Bên cạnh cây lúa (90% diện tích đất trồng lúa), hàng năm người dân Vĩnh Long còn thu hoạch hàng trăm ngàn tấn trái cây như cam, nhãn, quýt, bưởi…và chăn nuôi gia súc, gia cầm Nguồn tài nguyên không nhiều nhưng đa dạng, nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến: đất sét, cát tạo điều kiện để phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng và gốm sứ Nhiều ngành, nghề truyền thống là cơ sở để phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và tham gia xuất khẩu

- Du lịch: Giống như các tỉnh khác nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Long có tài nguyên du lịch mang đặc thù của sông nước, kênh rạch, miệt vườn Các thế mạnh để phát triển du lịch thể hiện ở những danh lam thắng cảnh, những di tích văn hoá cùng những di tích lịch sử nổi tiếng ở Vĩnh Long, tỷ lệ người Khmer thấp nhưng vẫn mang đậm nét truyền

thống văn hoá riêng như: lễ vào năm mới, lễ cúng ông bà, lễ hội cúng trăng, lễ

Trang 33

dâng bông, lễ dâng phước của người Khmer luôn là thời điểm hấp dẫn du khách thăm quan, nhất là những khách du lịch muốn tìm hiểu về văn hoá, tín ngưỡng Ngoài ra, Vĩnh Long còn có nhiều đình, chùa như đình Long Thanh, tịnh xá Ngọc Viên, chùa Phước Hậu, chùa Tiên Châu…

3.2 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TRÀ ÔN

3.2.1 Đặc điểm tự nhiên

Trà Ôn là 1 Huyện của Tỉnh Vĩnh Long, nằm về hướng Đông, cách Thị

xã Vĩnh Long khoảng 40km Diện tích tự nhiên là 265,3km2 Đông giáp Huyện Vũng Liêm, Tây giáp Huyện Bình Minh, Nam giáp Huyện Cầu Kè và Tỉnh Sóc Trăng, Bắc giáp Huyện Tam Bình Trà Ôn nằm cặp sông Hậu, cách Cần Thơ 17km, trải dài sông Măng Thít (sông Măng Thít nối liền sông Tiền

và sông Hậu) nằm trên thủy lộ quốc gia huyết mạch giữa đồng bằng nối với TPHCM và miền Đông nam bộ Huyện Trà Ôn có 1 thị trấn và 13 xã, đó là các xã: Thiện Mỹ, Tân Mỹ, Vĩnh Xuân, Tích Thiện, Thuận Thới, Hựu Thành, Thới Hòa, Trà Côn, Hòa Bình, Nhơn Bình, Xuân Hiệp và 2 xã cù lao Lục Sỹ Thành, Phú Thành Trà Ôn có hệ thống giao đường bộ và đường thủy khá thuận lợi, Quốc lộ 54, tỉnh lộ 901, 904, 906 và 907 đi ngang qua huyện, đường

ô tô về đến trung tâm hầu hết các xã Mạng lưới đường bộ khi được đầu tư hoàn chỉnh sẽ tạo cho Trà Ôn trở thành một huyện có điều kiện thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa, giao lưu dễ dàng với các huyện trong tỉnh và các tỉnh, thành phố trong cả nước để tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật

và dịch vụ tiên tiến

Giao thông đường thủy đóng vai trò không nhỏ trong đời sống kinh tế và

xã hội ở huyện trong quá khứ và cả trong tương lai

- Sông Hậu nằm cặp bờ Tây của huyện, giàu tiềm năng thủy sản và là con đường huyết mạch nối Thành phố Cần Thơ, các tỉnh miền Tây ra biển Đông

- Sông Trà Ôn - Mang Thít nằm ở bờ Tây Bắc của huyện, là thủy lộ quốc gia nối các tỉnh miền Tây với Thành phố Hồ Chí Minh

- Sông Trà Ngoa dẫn nước ngọt và phù sa từ sông Trà Ôn - Mang Thít xuyên ngang qua giữa huyện đến tỉnh Trà Vinh

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Huyện khá thuận lợi trong việc khai thác tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, phát triển toàn diện các ngành sản xuất và dịch vụ, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả và bền vững Trong tương lai, khi kênh Quan Bố Chánh thông ra biển Đông được đầu

Trang 34

tư thì lợi thế về phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ tại các vùng giáp ranh với tỉnh Trà Vinh và vùng ven sông Hậu là rất lớn Tuy nhiên, huyện Trà Ôn cũng như nhiều huyện khác thuộc tỉnh Vĩnh Long có nền địa chất yếu, không thuận lợi cho đầu tư xây dựng các công trình có kết cấu nặng, suất đầu tư cao,

hệ thống kết cấu hạ tầng mau xuống cấp, chi phí duy tu bảo dưỡng rất lớn Huyện Trà Ôn có tổng diện tích tự nhiên 26.714,20 ha Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 21.739,83 ha; trong đó đất trồng cây hàng năm 11.709,95 ha, đất trồng cây lâu năm 10.029,88 ha Riêng đất trồng lúa 11.191,76 ha, chiếm 40,35% diện tích đất sản xuất nông nghiệp, canh tác liên tiếp 03 vụ lúa/năm

Diện tích

tự nhiên (Km2)

Dân số (Người)

Mật độ dân số (Người/Km2)

Trang 35

Huyện Trà Ôn có tổng diện tích là 259,05 km2 với tổng dân số là 134.906 người, mật độ dân số là 521 người/km2 Trong huyện có 1 thị trấn và 13 xã, trong đó xã Hòa Bình là xã có diện tích lớn nhất là 26,601 km2, xã Thuận Thới

có diện tích nhỏ nhất là 13,928 km2

3.2.3 Tình hình kinh tế - xã hội

Trong những năm qua, kinh tế huyện Trà Ôn tiếp tục ổn định và phát triển, nhiều chỉ tiêu chủ yếu đạt mức tăng bình quân hàng năm tương đương so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng Bộ Huyện lần thứ IX đã đề ra Những công trình kết cấu hạ tầng quan trọng đã và đang thực hiện đầu tư xây dựng, tạo động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới

Tổng giá trị gia tăng (VA) của Huyện tăng từ 519,4 tỷ đồng năm 2005 lên 829 tỷ đồng năm 2010 (theo giá so sánh năm 1994), tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006- 2010 đạt 9,8%

Tổng giá trị gia tăng chia theo các nhóm ngành như sau:

- Nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng từ 351 tỷ đồng năm 2005 lên

485 tỷ đồng năm 2010, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2010 đạt 6,7%

- Nhóm ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 45,3 tỷ đồng năm 2005 lên 97 tỷ đồng năm 2010, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006 -

2010 đạt 16,4%

- Nhóm ngành dịch vụ tăng từ 123,1 tỷ đồng năm 2005 lên 247 tỷ đồng năm 2010, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2010 đạt 15,0% Tổng giá trị gia tăng của Huyện (theo giá thực tế) tăng từ 875 tỷ đồng năm 2005 lên 1.989 tỷ đồng năm 2010

Giá trị gia tăng bình quân đầu người tăng từ 6.278.000 đồng năm 2005 lên 14.643.000 đồng năm 2010 (theo giá thực tế)

Thu ngân sách trên địa bàn huyện năm 2010 đạt 65 tỷ đồng (chiếm 3,27% so tổng giá trị gia tăng năm 2010) Tốc độ tăng thu ngân sách bình quân hàng năm khá cao, nhưng tỷ lệ so với tổng giá trị gia tăng còn thấp Trong những năm trước mắt, kinh tế huyện Trà Ôn chủ yếu là nông nghiệp nên tỷ lệ thu ngân sách so tổng giá trị gia tăng vẫn ở mức thấp

- Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2010 đạt 690 tỷ đồng, chiếm 34,7% so tổng giá trị gia tăng (theo giá thực tế)

Trang 36

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 16,91% năm 2005 xuống còn 6,97% năm 2010 (theo chuẩn cũ) Kết quả điều tra hộ nghèo theo chuẩn mới là 400.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với thành thị, tỷ lệ hộ nghèo của huyện Trà Ôn là 16,2% (số hộ nghèo là 5.880 hộ/36.317 hộ điều tra) Số hộ cận nghèo là 2.314 hộ, chiếm 6,37%

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 21,8% năm 2005 xuống còn 17,24% năm 2010

- Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới Quốc gia tăng từ 89% năm 2005 lên 99,27% năm 2010

- Năm 2010, tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch từ các nhà máy cấp nước tập trung và nước hợp vệ sinh từ các phương tiện cấp nước khác là 71,3% Trong đó, tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung là 23%

* Kinh tế tập thể

Tính đến tháng 6 năm 2013: toàn huyện có 16 Hợp tác xã, trong đó có

10 Hợp tác xã nông nghiệp, 2 Hợp tác xã phi nông nghiệp, 4 Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp với 293 xã viên, vốn hoạt động 3,3 tỷ đồng và 197 Tổ hợp tác với 2.733 hộ tổ viên, 5664 lao động, trong đó có 192 Tổ hợp tác sản xuất, diện tích sản xuất 1.744,545 ha Qua kiểm tra đánh giá có 2 Hợp tác xã đạt loại khá,

10 Hợp tác xã đạt loại trung bình và 4 Hợp tác xã xếp loại yếu; 6 Tổ hợp tác đạt loại xuất sắc, 114 Tổ hợp tác đạt loại khá, 51 Tổ hợp tác đạt loại trung bình

và 2 Tổ hợp tác xếp loại yếu, còn lại 6 Tổ hợp tác mới thành lập

* Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp đạt 65,479 tỷ đồng,

đạt 66,17% so với kế hoạch, tăng 11,51% so với cùng kỳ năm 2012 Ngành công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp của huyện chủ yếu là gia công sản phẩm

cơ khí từ sắt, nhôm, bánh tráng, sản xuất đồ mộc dân dụng

Hỗ trợ kéo điện kế chính cho 142 gia đình chính sách, hộ nghèo với số tiền 452 triệu đồng, trong đó dân đối ứng 154 triệu đồng, nâng tổng số hộ dân

có điện sử dụng là 36.454 hộ, đạt 99,67%, đạt 100% nghị quyết, trong đó số

hộ có điện kế chính là 33.444 hộ, đạt 91,74%, đạt 98,65% nghị quyết

* Thương mại – Dịch vụ

Trong 6 tháng đầu năm 2013 tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu

dùng xã hội đạt 1.464,360 tỷ đồng, đạt 50,45% so với nghị quyết, tăng 16,7%

so với cùng kỳ năm ngoái Tổ chức kiểm tra 101 cơ sở sản xuất, kinh doanh,

Trang 37

kết quả nhắc nhở 50 trường hợp vi phạm Phối hợp tổ chức Hội chợ Thương mại-Công nghiệp và Nông nghiệp nông thôn tại xã Hựu Thành với trên 150 gian hàng gắn với chương trình đưa hàng Việt về nông thôn

* Công tác thủy lợi

Trong 6 tháng năm 2013 huyện Trà Ôn đã đầu tư 11.618,10 triệu đồng

để thi công 12 công trình với tổng chiều dài 38.250 m, khối lượng 203.000 m3, năng lực phục vụ 2.020 ha, và 06 bọng các loại và hỗ trợ 2 công trình Đến nay đã khép kín chủ động tưới tiêu phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp chiếm trên 95% diện tích canh tác lúa và trên 80% diện tích cây ăn trái

* Hoạt động văn hóa thông tin

Tổ chức tuyên truyền lấy ý kiến nhân dân về sữa đổi Hiến pháp năm

1992 được 304 cuộc, có 49.539 người tham dự với 16.730 ý kiến đóng góp và lấy ý kiến nhân dân về Luật đất đai sữa đổi được 246 cuộc, có 12.543 người tham dự với 970 lượt ý kiến đóng góp sữa đổi, bổ sung

Phòng thể thao quần chúng có bước phát triển với 90 câu lạc bộ, số người tập thể dục thể thao thường xuyên 30.351 người, đạt 22,3% tăng 1,1%

so với cùng kỳ năm 2012 Tiếp tục đẩy mạnh Phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, nếp sống văn minh nơi công cộng, đến nay đã có 7/14 xã (Thị trấn, Phú Thành, Thới Hòa, Thiện Mỹ, Hựu Thành, Hòa Bình, Xuân Hiệp) đạt chuẩn văn hóa; có 202/205 cơ quan đạt chuẩn văn hóa, chiếm 98,53%; có 31.638/36.572 hộ gia đình văn hóa (chiếm 85,5%); có 115/125 ấp, khu đạt văn hóa (chiếm 92%); có 22/125 ấp, khu kiểu mẫu (chiếm 17,6%)

* Giáo dục

Mạng lưới trường lớp được đầu tư xây dựng đáp ứng nhu cầu cho công

tác giảng dạy và học tập; toàn huyện có 14 trường đạt chuẩn quốc gia (Mầm non 3 trường, tiểu học 9 trường, THCS 1 trường, THPT 1 trường), đạt 87% nghị quyết

Huy động trẻ ra lớp mẫu giáo đạt 84,39%, riêng trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 100%; duy trì, giữ vũng học sinh bậc mầm non, tiểu học Chất lượng giáo dục học sinh các bậc học có tiến bộ, chất lượng về học tập văn hóa đạt tương đối cao ở bậc mầm non và tiểu học

Tổ chức thành công Hội khỏe Phù Đổng cấp huyện, có 700 vận động viên tham gia thi đấu ở 21 đơn vị, kết quả trường THCS Vĩnh Xuân đạt nhất khối THCS, Trường tiểu học Xuân Hiệp A đạt hạng nhất khối tiểu học

Trang 38

3.2.4 Dân số, lao động

* Cơ cấu dân số

Trong những năm qua, công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình của huyện Trà Ôn đã được các ngành, các cấp quán triệt và chỉ đạo thực hiện tốt,

tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm nhanh từ 1,14% năm 2005 xuống còn 0,89% năm 2010 Mức giảm dân số cơ học của huyện khá cao, bình quân hàng năm là 1,2 - 1,4%, tỷ lệ giảm dân số cơ học bình quân hàng năm cao hơn tỷ lệ tăng tự nhiên (chủ yếu do chuyển đi lao động tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và nhiều trung tâm kinh tế khác) Năm 2012 tổng dân số của huyện là 135.411 người, mật độ dân số là 521 người/km2 Tình hình dân số trung bình phân theo giới tính và khu vực qua các năm được thể hiện cụ thể ở bảng sau:

Bảng 3.2 Dân số trung bình phân theo giới tính và theo khu vực 2009-2012

Đvt: Người Năm Tổng số Phân theo giới tính Phân theo TT - NT

Nam Nữ Thành thị Nông thôn

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Trà Ôn, 2012)

Dân số trung bình của huyện có xu hướng tăng đều qua các năm nhưng tốc độ tăng chậm không đáng kể cụ thể như sau: từ năm 2009 đến năm 2010 dân số trung bình tăng 0,01%, từ năm 2010 đến năm 2011 dân số trung bình tăng 0,07%, từ năm 2011 đến năm 2012 tốc độ tăng nhanh hơn khoảng 0,34% Nhìn chung, sự phân bổ dân số theo giới tính (tỷ lệ nam nữ) tương đương nhau nhưng lại có sự chênh lệch đáng kể giữa dân thành thị và dân nông thôn Năm

2012 tổng số dân của toàn huyện là 135.411 người trong đó chỉ có 9.863 người sống ở thành thị (chiếm 7,28% dân số toàn huyện), có 125.548 người sống ở

nông thôn (chiếm 92,72% dân số toàn huyện)

* Cơ cấu lao động

Toàn huyện có 125 ấp khóm, 36.750 hộ với 134.951 người trong đó có khoảng 84.819 người trong độ tuổi lao động (Niên giám thống kê huyện Trà

Ôn, 2012) Lực lượng lao động dồi dào, chủ yếu tập trung ở khu vực nông

Trang 39

thôn với tinh thần cần cù, chịu khó, ham học hỏi, thích tiếp thu cái mới, cái tiến bộ đã góp phần nâng cao cả sản lượng và chất lượng các sản phẩm nông nghiệp tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của vùng

3.2.5 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Trà Ôn

Năm 2012, tiếp tục thực hiện Nghị quyết của huyện Đảng bộ chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn một cách toàn diện, hiệu quả và bền vững Tập trung chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng vật nuôi, phát triển vườn cây ăn trái, kết hợp luâncanh màu xuống ruộng, cải tạo đàn gia súc theo hướng nạc hoá Mở rộng nhân điển hình các mô hình có hiệu quả kinh tế, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật góp phần nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích

Tình hình sản xuất nông nghiệp gặp thuận lợi như giá vật tư nông nghiệp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật ổn định, một số mặt hàng nông sản tăng như lúa, cam sành Tuy nhiên do giá của một số mặt hàng sản phẩm nông nghiệp còn thiếu ổn định, dịch bệnh còn diễn biến phức tạp như bệnh vàng lá trên cam sành, bệnh chổi rồng trên nhản làm ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp của huyện Nhưng được sự chỉ đạo tập trung của huyện Uỷ và UBND huyện, ngành nông nghiệp kết hợp với UBND các xã thực hiện chỉ đạo sản xuất và công tác chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trên địa bàn huyện trên từng lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản và công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật đạt được nhiều kết quả khả quan

3.2.5.1 Trồng trọt

* Về cây lúa:

Tình hình sản xuất lúa gặp nhiều thuận lợi do hệ thống thuỷ lợi được kép kín, người dân chủ động trong sản xuất và gieo sạ theo lịch thời vụ xuống giống tập trung né rầy, thực hiện tốt công tác dự báo phòng trừ sâu bệnh hại kịp thời, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa như sử dụng giống xác nhận, ứng dụng 3 giảm 3 tăng, đưa cơ giới vào sản xuất từ khâu làm đất đến thu hoạch nên kết quả sản xuất năm 2012 đạt nhiều thắng lợi, cụ thể :

Diện tích xuống giống cả năm: 33.831,5 ha đạt 104,74% so năm 2011, tăng 329,5 ha so với năm 2011

Năng suất bình quân: 6,25 tấn/ha đạt 107,20% so năm 2011, tăng 0,22 tấn/ha so với năm 2011

Sản lượng: 211.678,6 tấn đạt 111,73% so năm 2011, tăng 8957,6 tấn so với năm 2011

Trang 40

Về cơ cấu giống và sử dụng giống xác nhận, người dân đã ý thức hiệu quả của việc sử dụng giống xác nhận vào sản xuất nên có trên 95% diện tích

sử dụng giống xác nhận, và có 78% diện tích sử dụng giống lúa chất lượng cao Tuy nhiên còn khoảng 22% sử dụng giống IR50404 vì ưu điểm giống này cho năng suất cao và ổn định nên nông dân còn sử dụng

Tình hình cơ giới hoá trong khâu thu hoạch lúa đạt 95 % diện tích sản xuất lúa, từ đó góp phần đáng kể giảm thất thoát sau thu hoạch, giải quyết tình trạng thiếu lao động khi vào vụ thu hoạch tập trung, góp phần nâng cao giá trị sản xuất lúa tăng thu nhập cho bà con nông dân

Lợi nhuận sản xuất lúa bình quân từ 46.000.000 đồng -50.000.000 đồng/ha/năm; trong đó vụ Đông Xuân từ 22-24 triệu đồng/ha; vụ Hè Thu từ 12-14 triệu đồng/ha; vụ Thu Đông từ 10-12 triệu đồng/ha

* Về rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày (CNNN):

Việc sản xuất cây rau màu và cây CNNN có chiều hướng giảm là do năng suất lúa và giá bán ổn định nên cho lợi nhuận cao vì vậy diện tích màu xuống ruộng cũng giảm so với năm 2011 Bên cạnh đó, người dân tận dụng diện tích đất vườn cam để trồng xen màu đem lại lợi nhuận cũng khá cao (trung bình từ 2-3 triệu đồng/công)

Diện tích 1.867,56 ha đạt 103,7% so năm 2011, giảm 100,67 ha so năm

2011, trong đó cây rau màu 1.309,96 ha (màu xuống ruộng 126,4 ha), cây công nghiệp ngắn ngày 557,6 ha

Rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày diện tích xuống giống chủ yếu vùng chuyên màu Lục Sỹ Thành, Phú Thành và một số diện tích trồng xen, diện tích xuống ruộng thấp, nông dân tiêu thụ thuận lợi và có lợi nhuận cao gấp 2-3 lần canh tác lúa Nổi bật mô hình có hiệu quả kinh tế cao như mô hình trồng củ sắn, năng suất bình quân 100 tấn/ha, giá bán 2.500 đồng/kg, tổng thu

250 triệu đồng/ha, tổng chi 110 triệu đồng/ha, lợi nhuận 140 triệu đồng/ha; mô hình dưa hấu năng suất bình quân 25 tấn/ha, giá bán 4.500 đồng/kg, lợi nhuận bình quân 75.000.000 đồng/ha

* Về cây ăn trái:

Diện tích vườn cây ăn trái 9240,2 ha đạt 92,40% so năm 2011 giảm 06

ha so cùng kỳ (do vườn cây ăn trái không hiệu quả đốn bỏ vườn ban xuống làm ruộng là 19 ha (Tích Thiện 4 ha, Vĩnh Xuân 15 ha), diện tích vườn đốn bỏ trồng màu 12 ha (Thiện Mỹ 12 ha); diện tích ruộng lên vườn 25 ha (Thuận thới 24ha, Vĩnh Xuân 1 ha) Bao gồm: 2.433 ha cam sành, 1.032 ha bưởi, 38,44 ha cam sòan, 361,3 ha xoài, 292,3 ha sầu riêng, 758,3 ha nhãn, 276 ha

Ngày đăng: 16/09/2015, 08:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Ôn, 2011. Báo cáo tình hình thực hiện năm 2011 và kế hoạch năm 2012 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện năm 2011 và kế hoạch năm 2012 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Ôn
Năm: 2011
3. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Ôn, 2012. Báo cáo tình hình thực hiện năm 2012 và kế hoạch năm 2013 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện năm 2012 và kế hoạch năm 2013 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Ôn
Năm: 2012
6. Nguyễn Mạnh Hải và Trần Toàn Thắng, 2009. Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hải, Trần Toàn Thắng
Nhà XB: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng
Năm: 2009
7. Phạm Lê Thông, 2010. Bài giảng Kinh tế lượng. Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kinh tế lượng
Tác giả: Phạm Lê Thông
Nhà XB: Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2010
8. Võ Thị Thanh Lộc, 2010. Bài giảng phương pháp nghiên cứu khoa học và viết đề cương nghiên cứu. Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp nghiên cứu khoa học và viết đề cương nghiên cứu
Tác giả: Võ Thị Thanh Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ
Năm: 2010
9. Trần Thụy Ái Đông, 2008. Bài giảng Kinh tế sản xuất. Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, trường Đại học Cần Thơ.* Danh mục tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kinh tế sản xuất
Tác giả: Trần Thụy Ái Đông
Nhà XB: Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2008
1. Verburg, et al., 2004. Determinants of land use change patterns in the Netherlands. Environment and Planning B: Planning and Design 2004, volume 31, pages 125 – 150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of land use change patterns in the Netherlands
2. Ebanyat, et al., 2010. Drivers of land use change and household determinants of sustainability in smallholder farming systems of Eastern Uganda. Popul Environ 31:474–506 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drivers of land use change and household determinants of sustainability in smallholder farming systems of Eastern Uganda
Tác giả: Ebanyat, et al
Nhà XB: Popul Environ
Năm: 2010
3. Rowcroft, 2008. Frontiers of Change: The Reasons Behind Land-use Change in the Mekong Basin. A Journal of the Human Environment, 37(3):213-218. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frontiers of Change: The Reasons Behind Land-use Change in the Mekong Basin
4. Chakir and Parent, 2009. Determinants of land use changes: A spatial multinomial probit approach. Papers in Regional Science. Papers in Regional Science, Volume 88 Number 2 June 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of land use changes: A spatial multinomial probit approach
Tác giả: Chakir, Parent
Nhà XB: Papers in Regional Science
Năm: 2009
4. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Ôn, 2013. Báo cáo tình hình sản xuất nông nghiệp 9 tháng đầu năm và kế hoạch sản xuất nông nghiệp 3 tháng cuối năm 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Các đơn vị hành chính của huyện Trà Ôn - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
Bảng 3.1 Các đơn vị hành chính của huyện Trà Ôn (Trang 34)
Bảng 3.2 Dân số trung bình phân theo giới tính và theo khu vực 2009-2012 - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
Bảng 3.2 Dân số trung bình phân theo giới tính và theo khu vực 2009-2012 (Trang 38)
Bảng  3.3:  Kết  quả  sản  xuất  lúa  theo  mô  hình  cánh  đồng  mẫu  lớn  vụ  Đông  xuân ở xã Xuân Hiệp năm 2012 - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
ng 3.3: Kết quả sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn vụ Đông xuân ở xã Xuân Hiệp năm 2012 (Trang 43)
Bảng 4.2: Đặc điểm về tuổi và nguồn lực lao động gia đình của các nông hộ - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
Bảng 4.2 Đặc điểm về tuổi và nguồn lực lao động gia đình của các nông hộ (Trang 48)
Hình  4.1  Diện  tích  đất  trồng  lúa - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
nh 4.1 Diện tích đất trồng lúa (Trang 51)
Bảng 4.5: Tình hình nguồn vốn vay của nông hộ tham gia và không tham gia  trồng lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
Bảng 4.5 Tình hình nguồn vốn vay của nông hộ tham gia và không tham gia trồng lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn (Trang 52)
Bảng 4.7: Tình hình xảy ra dịch bệnh của các nông hộ trồng lúa - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
Bảng 4.7 Tình hình xảy ra dịch bệnh của các nông hộ trồng lúa (Trang 56)
Bảng 4.8: Tình hình về quy mô cánh đồng nơi các nông hộ sản xuất lúa - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
Bảng 4.8 Tình hình về quy mô cánh đồng nơi các nông hộ sản xuất lúa (Trang 57)
Bảng 4.10: Tình hình sản xuất của các nông hộ tham gia cánh đồng mẫu lớn - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
Bảng 4.10 Tình hình sản xuất của các nông hộ tham gia cánh đồng mẫu lớn (Trang 61)
Bảng  4.11:  Năng  suất  lúa  trước  và  sau  quá  trình  chuyển  đổi  sang  mô  hình  CĐML của nông hộ - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
ng 4.11: Năng suất lúa trước và sau quá trình chuyển đổi sang mô hình CĐML của nông hộ (Trang 62)
Bảng 4.12: Kết quả mô hình hồi quy Probit - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long
Bảng 4.12 Kết quả mô hình hồi quy Probit (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w