Nhằm để hạn chế rủi ro trong sản xuất nông nghiệp góp phần đảm bảo an sinh xã hội nông thôn và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ngày 01 tháng 03 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Qu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHAN THỊ ÁNH NGUYỆT
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM CÂY LÚA CỦA NÔNG HỘ TRỒNG LÚA TẠI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHAN THỊ ÁNH NGUYỆT MSSV: 4105138
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM CÂY LÚA CỦA NÔNG HỘ TRỒNG LÚA TẠI
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Qua thời gian học ở trường, được sự giảng dạy nhiệt tình của Quý thầy
cô trường Đại học Cần Thơ, em đã được học những kiến thức thật sự hữu ích cho chuyên ngành của mình
Em xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy của Quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là thầy cô Khoa Kinh Tế & Quản trị kinh doanh Em xin chân thành cảm ơn thầy Phan Đình Khôi, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều để em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, em chân thành cảm ơn thầy!
Xin gửi lòng biết ơn đến các Sở Ban ngành tỉnh Đồng Tháp cùng các hộ nông dân trồng lúa của tỉnh Đồng Tháp, cùng bạn bè đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình điều tra thực tế, nhờ đó em đã có những thông tin đầy đủ và chính xác phục vụ cho đề tài tốt nghiệp của mình
Cuối cùng, em xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong công việc
Em xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Phan Thị Ánh Nguyệt
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất
cứ đề tài khoa học nào
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Phan Thị Ánh Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Không gian nghiên cứu 3
1.4.2 Thời gian nghiên cứu 3
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ KINH TẾ HỘ VÀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP 4
2.1.1 Khái niệm nông hộ 4
2.1.2 Kinh tế nông hộ 4
2.1.3 Bảo hiểm nông nghiệp 4
2.1.4 Một số khái niệm khác 8
2.2 LƯỢC KHẢO MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 8
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 10
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 10
2.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH 11
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU .15
3.1 GIỚI THIỆU VỀ TỈNH ĐỒNG THÁP 15
Trang 63.1.1 Điều kiện tự nhiên 15
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 16
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội và dân số 18
3.2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP 24
3.3 SƠ LƯỢC VỀ NHỮNG HUYỆN ĐƯỢC CHỌN THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP 30
3.2.1 Huyện Tân Hồng 30
3.2.2 Huyện Tháp Mười 31
3.4 MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 32
3.4.1 Thông tin chung về chủ hộ 32
3.4.2 Lý do tham gia bảo hiểm cây lúa 36
3.4.3 Lý do không tham gia bảo hiểm cây lúa 37
CHƯƠNG 4 : PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM CÂY LÚA CỦA NÔNG HỘ TỈNH ĐỒNG THÁP 40
4.1 SO SÁNH KẾT QUẢ SẢN XUẤT LÚA CỦA HỘ KHÔNG THAM GIA BẢO HIỂM CÂY LÚA VÀ CÓ THAM GIA BẢO HIỂM CÂY LÚA 40
4.1.1 Các khoản mục chi phí của hộ trồng lúa có tham gia bảo hiểm cây lúa và không tham gia bảo hiểm cây lúa 40
4.1.2 Phân tích thu nhập của hộ trồng lúa của hộ tham gia bảo hiểm cây lúa và không tham gia bảo hiểm cây lúa 45
4.1.3 Những khó khăn của nông hộ sản xuất lúa 49
4.2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM CÂY LÚA 50
4.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP BẢO HIỂM CÂY LÚA CHO NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 53
4.3.1 Khó khăn tồn tại 53
4.3.2 Giải pháp 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 KẾT LUẬN 59
Trang 75.2 KIẾN NGHỊ 60
5.2.1 Đối với cơ quan Nhà nước 60
5.2.2 Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp 61
5.2.3 Đối với Công ty Bảo Việt Đồng Tháp 61
5.2.4 Đối với các công ty liên kết 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC .64
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Số lượng mẫu phỏng vấn 11
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp các biến với dấu kỳ vọng được xem xét trong mô hình nghiên cứu 14
Bảng 3.1: Các loại đất cảu tỉnh Đồng Tháp 16
Bảng 3.2: Kết quả thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại tỉnh Đồng Tháp năm 2012 25
Bảng 3.3: Kết quả thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại tỉnh Đồng Tháp vụ Đông xuân và Hè giai đoạn 2012-2013 27
Bảng 3.4: Giới tính của chủ hộ 32
Bảng 3.5: Phân bố tuổi của chủ hộ 33
Bảng 3.6 : Trình độ học vấn của hộ trồng lúa phân theo cấp học 34
Bảng 3.7: Số năm kinh nghiệm của chủ hộ 34
Bảng 3.8: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nông hộ 35
Bảng 3.9: Tham gia tập huấn của chủ hộ 36
Bảng 3.10: Nguyên nhân tham gia bảo hiểm nông cây lúa của nông hộ 36
Bảng 3.11: Nguyên nhân không tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ 38
Bảng 4.1: Chi phí sản xuất bình quân trên 1 vụ của hộ trồng lúa năm 2013 40
Bảng 4.2: Thống kê năng suất, giá bán, doanh thu thu nhập của hộ từ trồng lúa 46
Bảng 4.3: Những khó khăn trong quá trình sản xuất lúa của nông hộ 49
Bảng 4.4: Kết quả phân tích hồi quy bằng mô hình Probit 50
Bảng 4.5: Bảng phân loại phần tăm dự báo đúng 51
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp 15 Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện chi phí sản xuất của những hộ có tham gia bảo hiểm cây lúa năm 2013 43 Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện chi phí sản xuất của những hộ có không tham gia bảo hiểm cây lúa năm 2013 43
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp từ lâu đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
nước ta Kinh tế nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, thúc đẩy công nghiệp phát triển và mở rộng xuất khẩu thu ngoại
tệ mà còn giải quyết việc làm cho hàng triệu người lao động Việt Nam Theo Nguyễn Anh Tuấn (2010) kinh tế nông nghiệp sẽ vẫn giữ vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển công nghiệp hóa-hiện đại hóa bền vững trong tương lai
Tuy nhiên nông nghiệp luôn là lĩnh vực phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề do thiên tai gây ra, làm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế Sản xuất nông nghiệp phải đối mặt với nhiều rủi ro như: rủi ro từ thời tiết, dịch bệnh chi phí đầu vào, biến động của thị trường giá cả, Năm 2010 cả nước có 30.000ha lúa và hoa màu bị mất trắng, tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra ước tính là 11.700 tỷ đồng (Tổng cục thống kê, 2010) Sản xuất nông nghiệp
là một lĩnh vực rất nhiều rủi ro mang tính khách quan và gây thiệt hại có tính
hệ thống để lại hậu quả nghiêm trọng Để hạn chế rủi ro trong sản xuất, nông
hộ có thể đa dạng hóa cây trồng, cải tạo quy trình kỹ thuật, tham gia bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) Vì vậy bảo hiểm nông nghiệp là một yêu cầu cần thiết
và có một ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tê quốc dân Nhằm để hạn chế rủi ro trong sản xuất nông nghiệp góp phần đảm bảo an sinh xã hội nông thôn và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ngày 01 tháng 03 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại 21 tỉnh trong giai đoạn 2011-2013, đối tượng được bảo hiểm gồm: cây lúa, vật nuôi và tôm cá
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đồng Tháp và An Giang dược chọn tham gia thí điểm BHNN vì là 2 tỉnh có diện tích lúa nhiều nhất ở ĐBSCL và do là 2 tỉnh đầu nguồn, thường bị ngập úng khi có lũ về Là một trong hai tỉnh được chọn thực hiện thí điểm Bảo hiểm đối với cây lúa, Đồng Tháp đã triển khai thực hiện chương trình thực hiện thí điểm BHNN bước đầu tương đối thuận lợi: triển khai Thí điểm bảo hiểm nông nghiệp được triển khai đồng bộ trên tất cả các xã của 3 huyện Đồng thời, lồng ghép triển khai với các công ty, doanh nghiệp bao tiểu sản phẩn, đến nay đã vận động được 03 Công ty tham gia: Công ty TNHH MTV Lương thực Tân Hồng, Công
ty DASCO, Công ty TNHH Thanh Tùng
Trang 12Bên cạnh những thuận lợi đó vẫn còn tồn tại những hạn chế như là: việc triển khai bảo hiểm giảm cả về diện tích và số hộ tham gia, tỷ lệ tham gia của các hộ không thuộc diện nghèo và cận nghèo còn thấp, công tác tuyên truyền chưa thật sự đi vào chiều sâu vẫn còn nhiều người chưa biết đến BHNN, nhiều người chưa thật sự tin tưởng việc bồi thường thiệt hại sau rủi ro của các công
ty bảo hiểm, chi phí chi cho bảo hiểm khá cao ảnh hưởng nhiều đến thu nhập
của người dân Đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ trồng lúa tại tỉnh Đồng Tháp”
được thực hiện nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ, qua đó giúp cho người dân hiểu biết nhiều hơn về bảo hiểm cây lúa Từ đó đề tài đề xuất một số định hướng giúp đưa bảo hiểm vào hoạt động sản xuất
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ trồng lúa tại tỉnh Đồng Tháp, từ đó đề ra một số giải pháp phù hợp nhằm cải thiện và nâng cao khả năng tiếp cận bảo hiểm cây lúa của nông
hộ
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung nói trên, nội dung đề tài sẽ lần lượt giải
quyết các mục tiêu cụ thể sau:
- Phân tích thực trạng tham gia bảo hiểm cây lúa tại tỉnh Đồng Tháp
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ trồng lúa tại tỉnh Đồng Tháp
- Đề xuất và kiến nghị một số giải pháp phù hợp nhằm cải thiện và nâng cao khả năng tiếp cận bảo hiểm cây lúa cho nông hộ
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ tại tỉnh Đồng Tháp
Trang 131.4.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại 2 huyện: Tháp Mười, Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp
1.4.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu là năm 2011-2013
Đề tài được thực hiện từ tháng 9/2013 đến tháng 12/2013
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu ở đây là các hộ trồng lúa tại 2 huyện: Tháp Mười, Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp
1.5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Đề tài được xây dựng bao gồm 5 chương:
Chương 1: Phần giới thiệu: bao gồm sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của luận văn Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Gồm có các khái niệm, giới thiệu chương trình thí điểm BHNN, phương pháp thu hập số liệu, phương pháp phân tích số liệu và một số nghiên cứu có liên quan
Chương 3: Giới thiệu tổng quan về địa bàng nghiên cứu Ở chương này tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp năm 2011-2012, giới thiệu
sơ lược những huyện được chọn thí điểm bảo hiểm cây lúa và thực trạng triển khai chương trình thí điểm BHNN của tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2013
Mô tả mẫu điều tra
Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ Chương này so sánh kết quả sản xuất lúa của những
hộ có tham gia bảo hiểm cây lúa và không tham gia, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa Qua đó, tìm ra những khó khăn và đề xuất một số giải pháp
Chương 5: Kết luận – Kiến nghị: Phần cuối cùng này nhằm tóm tắt lại toàn bộ những vấn đề đã nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị đối với các đơn
vị có liên quan
Trang 14CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ KINH TẾ HỘ VÀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP
2.1.1 Khái niệm nông hộ
Lâm Quang Huyên (2004) định nghĩa nông hộ (hộ nông dân) là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông, lâm, ngư nghiệp, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết tộc sống chung một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập, tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiêp với mục đích chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các thành viên trong hộ
2.1.2 Kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích chính của loại hình kinh tế này nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình Tuy nhiên, các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức
độ hạn chế
2.1.3 Bảo hiểm nông nghiệp
Bảo hiểm nông nghệp: là một nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có đối tượng bảo hiểm là các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn, bao gồm những rủi ro gắn liền với: cây trồng, vật nuôi, vật tư, hàng hóa, nguyên vật liệu nhà xưởng
Nguyễn Mậu Dũng (2011, trang 14) làm rõ khái niệm bảo hiểm nông nghiêp là hình thức chuyển giao rủi ro tiềm năng từ người mua bảo hiểm (hộ nông dân) sang người bán bảo hiểm (công ty bảo hiểm) thông qua việc trao đổi mua bán bảo hiểm, trong đó người mua bảo hiểm phải trả một phí nhất định cho người bán và được hưởng mức bồi thường theo thỏa thuận trong trường hợp có rủi ro xảy ra
Vai trò của bảo hiểm nông nghiệp
Rủi ro là một nhân tố không thể tránh khỏi nhưng là một yếu tố có thể quản lý được trong sản xuất nông nghiệp, những biến đổi đột ngột của các yếu
tố như: thời tiết, sâu bênh, giá nông sản biến động đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người dân, điều này có thể sẽ tác động nghiêm trọng làm cho người dân không có điều kiện đầu tư cho các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả, đặc biệt khi những biến động này tác động tới toàn bộ nền nông nghiệp Những tổn thất nặng nề này có thể làm cho người nông dân thiệt hại về tài
Trang 15chính không có khả năng mở rộng sản xuất, đa dạng hóa và hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp
Chính vì vậy BHNN có vai trò vô cùng quan trọng, hỗ trợ cho người nông dân giảm bớt những thiệt hại mà họ gặp phải khi đối mặt với những rủi
ro Đem lại lợi ích cho xã hội, hỗ trợ làm giảm những rủi ro liên quan đến sản xuất mà thu nhập của người nông dân được đảm bảo ổn định Sản xuất nông nghiệp chủ yếu ở các vùng nông thôn có thu nhập thấp nên mức thu nhập ổn định sẽ giúp đảm bảo ổn định xã hội từ đó tác động tích cực đến nền kinh tế đặc biệt ở các nước nông nghiệp, đảm bảo ổn định xã hội ở khu vực nông thôn, nhờ có bảo hiểm nông dân yên tâm duy trì sản xuất mà không phải lo về nợ vay ngày càng tăng
Các phương pháp bảo hiểm nông nghiêp
Hazell, P B R., C.Pomareda, and A Valdes (1986) chia BHNN làm 2 hình thức chính gồm bảo hiểm bồi thường (bảo hiểm truyền thống) và bảo hiểm theo chỉ số:
- Bảo hiểm nông nghiệp truyền thống (bảo hiểm bồi thường): là loại bảo hiểm tính trên giá trị cây trồng, vật nuôi, thiệt hại bao nhiêu thì công ty bảo hiểm sẽ chi tră cho nông dân bấy nhiêu
- Bảo hiểm theo chỉ số: là loại hình bảo hiểm chi trả số tiền bảo hiểm dựa vào một chỉ số dựa vào chỉ số về một số yếu tố khách quan có thể gây rủi
ro đến sản lượng và năng suất cây trồng vật nuôi, như lượng mưa, lũ lụt, hạn hán Chỉ số về lượng mưa, hạn hán hay nhiệt độ được tính toán dựa vào các số
liệu thu thập từ nhiều năm trước của các cơ quan chức năng của Nhà nước 2.1.3.1 Bảo hiểm cây lúa
Cây lúa: trong phạm vi quy tắc này cây lúa được hiểu là cây lúa nước Người được bảo hiểm: Là các hộ nông dân/tổ chức trồng lúa tại địa bàng
xã đã đăng ký tham gia bảo hiểm và quyền lợi hợp pháp đối với cây lúa trên diện tích lúa dược bảo hiểm
Chủ hợp đồng bảo hiểm: Là người được bảo hiểm và/hoặc là đại diện do người dược bảo hiểm ủy quyền dược sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân xã Đại diện cho người được bảo hiểm có thể là cán bộ chính quyền xã, người đứng đầu các tổ chức xã hội, nghề nghiệp trong xã
Rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến phát triển sản xuất nông ngiệp
Trang 16Đơn vị được bảo hiểm: Là các xã thuộc cac tỉnh thực hiện thí điểm bảo
hiểm nông nghiệp theo quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011
Diện tích lúa được bảo hiểm: là diện tích trồng lúa thực tế của người
được bảo hiểm đơn vị tính là ha theo từng vụ
Năng suất bình quân xã: Là năng suất bình quân 3 vụ tương ứng trong 3
năm trước đó tại xã được tính bảo hiểm theo số kiệu thống kê của cơ quan
chức năng có thẩm quyền Đơn vị tính là tạ/ha
Đơn giá lúa: Là giá trị bằng tiền (Đồng Việt Nam) của một kilogram (kg)
lúa tính cho từng vụ trên địa bàn được bảo hiểm Đơn giá lúa được xác định
theo nguyên tác lấy giá lúa vụ gần nhất do Cục thống kê tỉnh công bố và được
ghi trong hợp đồng bảo hiểm/giấy chứng nhận bảo hiểm
Năng suất được bảo hiểm: Được tính bằng 90% năng suất bình quân xã
hoặc của dơn vị bảo hiểm Bồi thường bảo hiểm chỉ được chi trả trong trường
hợp năng suất thực tế thấp hơn năng suất được bảo hiểm tại đơn vị được bảo
hiểm Đơn vị tính là tạ/ha
Số tiền bảo hểm: Là giá trị bằng tiền được bảo hiểm theo từng vụ và
được tính theo công thức sau:
Số tiền bảo hiểm = Diện tích lúa đươch bảo hiểm x Năng suất bình
quân xã x Đơn giá lúa Năng suất thực tế xã: Là năng suất đạt được của từng vụ, tính chung cho
cả xã, theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng có thẩm quyền Đơn vị tính
là tạ/ha
Mức sụt giảm năng suất: Là mức chênh lệch giữa năng suất thực tế xã và
năng suất được bảo hiểm trong trường hợp năng suất thực tế thấp hơn năng
suất được bảo hiểm
Phí bảo hiểm: Là khoản mà doanh nghiệp bảo hiểm thu được từ người
được bảo hiểm và/hoặc kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước Phí bảo hiểm
được tính theo từng vụ
Tỷ lệ phí bảo hiểm: Tỷ lệ phí bảo hiểm áp dụng cho tất cả các vụ trong
tỉnh, được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên số tiền bảo hiểm Tỷ lệ phí bảo hiểm
tỉnh Đồng Tháp là 2,19%
Tổng phí bảo hiểm = Số tiền bảo hiểm x Tỷ lệ phí bảo hiểm
Trang 172.1.3.2 Chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa
Theo quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2011 và quyết định
số 358/QĐ-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011- 2013 và các quyết
định sửa đổi bổ sung với một số nội dung chính sau:
a) Mục đích
Thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp nhằm hỗ trợ cho người sản xuất lúa chủ động khắc phục rủi ro và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần đảm bảo an sinh xã hội nông thôn, an ninh lương thực và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp
b)Mức hỗ trợ của Nhà nước và đối tượng được hỗ trợ
Hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm BHNN
Hỗ trợ 90% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm BHNN
Hỗ trợ 60% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân không thuộc diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm BHNN
Hỗ trợ 20% phí bảo hiểm cho tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm BHNN
c) Đối tượng và phạm vi áp dụng
Thực hiện bảo hiểm đối với cây lúa nước tại Nam Định, Thái Bình, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp
Thực hiện bảo hiểm đối với chăn nuôi: Lợn (thịt, nái, đực giống) tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai; Gà (thịt, đẻ) tại Bắc Ninh, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Đồng Nai; Vịt (thịt, đẻ) tại Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai; Bò (thịt, cày kéo, sinh sản) tại Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai; Bò sữa tại Hà Nội, Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai; Trâu (thịt, cày kéo, sinh sản) tại Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An
Thực hiện bảo hiểm đối với thủy sản nuôi: Cá tra tại Bến Tre, Trà Vinh; Tôm sú, Tôm thẻ chân trắng tại Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng
Trang 18d) Rủi ro được bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm
Thiên tai: Bao gồm các sự kiện bão, lũ, lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại, sương giá, sóng thần, giông, lốc xoáy, xâm nhập mặn theo công bố của cơ quan chức năng
Dịch bệnh: Bao gồm các rủi ro bệnh sau: bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, lùn sọc đen, cháy lá đạo ôn, bạc lá; dịch rầy nâu, sâu đục thân Các loại dịch bệnh trên được công bố dịch bệnh hoặc xác nhận dịch bệnh của cơ quan chức năng
có thẩm quyền
Thực hiện bồi thường bảo hiểm theo quy định hiện hành hoặc bồi thường dựa trên chỉ số thời tiết, dịch bệnh, sản lượng có liên quan với thiệt hại
2.1.4 Một số khái niệm khác
Tổng chi phí: là tất cả những hao phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh với mong muốn mang lại một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất của nông hộ nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận Đối với những hộ tham gia bảo hiểm thì có thêm phí tham gia bảo hiểm
TCP = Chi phí lao động + Chi phí vật chất + Phí bảo hiểm + Chi phí khác
Doanh thu: là giá trị của sản phẩm hay toàn bộ số tiền thu được do tiêu
thụ sản phẩm là tất cả số tiền mà nông hộ nhận được sau khi bán sản phẩm Hay nói cách khác doanh thu bằng sản lượng lúa bán ra nhân với giá tại thời điểm bán lúa
Doanh thu = Sản lượng * Đơn giá
Lợi nhuận: là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra
Lợi nhuận = Doanh thu – Tổng chi phí
Thu nhập từ bảo hiểm: là giá trị được bồi thường khi xảy ra thiệt, phần
giá trị bồi thường còn gọi là năng suất sụt giảm
NS sụt giảm = NSBH – NS thu hoạch * Đơn giá BH
Thu nhập: là khoảng chênh lệch giữa doang thu và khoản chi phí bỏ ra,
bao gồm khoản thu nhập từ bảo hiểm cây lúa không bao gồm công lao động gia đình
Thu nhập = Lợi nhuận + Thu nhập bảo hiểm + Công LĐGĐ
Trang 192.2 LƯỢC KHẢO MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Nông nghiệp là ngành sản xuất chứa đựng nhiều rủi ro do điều kiện thời tiết không ổn định, thấy ược những khó đó chương trình Bảo hiểm nông nghiệp được ban hành để giúp người dân khắc phục rủi ro Những năm gần đây Bảo hiểm nông nghiệp nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước Hiện nay Nghiên cứu về bảo hiểm nông nghiệp được nhiều tác giả trên thế giới thực hiện
Nguyễn Tuấn Sơn (2008) nghiên cứu vận dụng phương pháp chỉ số trong bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng những thành công và thất bại của bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam Sử dụng phương pháp đối chiếu để phân tích so sánh những ưu điểm của các phương pháp bảo hiểm từ đó đề xuất phương hướng ứng dụng sảo hiểm theo chỉ số vào bảo hiểm nông nghiệp nước ta Qua việc so sánh giữa hai loại hình bảo hiểm là: Bảo hiểm nông nghiệp truyền thống (bảo hiểm bồi thường)
và bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số thì thấy bảo hiểm nông nghiệp truyền thống khó xác định mức độ thiệt hại, không phát huy được tính cộng đồng và phát sinh rủi ro đạo đức dễ dẫn đến tình trạng trục lợi bảo hiểm, khi phân tích bảo hiểm theo chỉ số đã thấy được nhiều ưu như: chi phí bảo hiểm thấp, dể hiểu, dể xác định mức độ bồi thường cho người tham gia bảo hiểm mang lại hiểu quả cao cho nông dân và cả công ty bảo hiểm
Tình hình thực tế hiện nay cho thấy có nhiều người vẫn chưa quan tâm nhiều đến BHNN, Phạm Thị Định (2013) cho thấy số hộ tham gia và diện tích tham gia bảo hiểm còn rất ít, các doanh nghiệp chưa mặn mà với việc triển khai bảo hiểm, người dân đã quen với truyền thống sản xuất nên nhận thức về các rủi ro còn rất thấp, thu nhập của người dân tương đối thấp nhưng chi phí bảo hiểm lại cao nên nhiều người còn e ngại khi tham gai bảo hiểm Một số nghiên cứu xem xét nguyên nhân khiến cho nhiều người dân không mặn mà với BHNN, Nguyễn Mậu Dũng (2011) cho thấy quá trình tiến hành xác định mức độ thiệt hại của từng cá nhân do rủi ro được bảo hiểm gây ra và không được bảo hiểm gây ra là rất phức tạp, tốn nhiều thời gian và kinh phí Không
thể tránh được sự xuất hiện những rủi ro đạo đức Nguyễn Quốc Nghi (2011)
cho thấy, nhiều doanh nghiệp cũng đã thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghệp nhưng do chi phí quá cao nên công tac thực hiện không thể triển khai tiếp tục, nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của bảo hiểm nông nghiệp là rủi ro về trục lợi khi thực hiện bảo hiểm
Theo Gudbrand Lien et al (2003) một trong những cách phòng ngừa rủi
ro có hiệu quả cho nông dân là bảo hiểm nông nghiệp Tuy nhiên, không phải
Trang 20người nông dân nào cũng nhận thức được điều đó và tự nguyện tham gia bảo hiểm Mức độ tham gia bảo hiểm phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó, theo
Goodwin et al (1993), hai yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến nhu cầu tham gia
bảo hiểm nông nghiệp của nông hộ là diện tích sản xuất và tổng chi phí.Để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm theo Ashok K and Goodwin, Barry K (2006) quyết định mua bảo hiểm phụ thuộc các nhân
tố như: tuổi, trình độ học vấn, quy mô hộ sản xuất, đặc điểm tài chính, đặc điểm của hoạt động sản xuất, công tác truyền thông có tác động đến quyết định mua BHNN của nông hộ Nguyễn Quốc Nghi (2012) cho thấy khi sử dụng mô hình hồi quy Probit để kiểm định đã xác định, các yếu tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm là trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích, chi phí đầu tư, tập huấn kỹ thuật và tổng số rủi ro
Bài viết này xem xét các yếu tố như giới tính, trình độ học vấn, quy mô
hộ, thời gian sống tại địa phương, năng suất trung bình, tập huấn kỹ thuật có thể sẽ ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Đồng Tháp có 3 huyện được chọn thí điểm, nhưng do hạn chế về thời gian nên chọn ra 2 huyện đại diện là Tháp Mười và Tân Hồng để lấy số quan sát điều tra
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài sử dụng nguồn số liệu thứ cấp và sơ cấp để phân tích
Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các đơn vị cung cấp dịch vụ bảo hiểm
ở tỉnh Đồng Tháp, số liệu từ các trang web, bài báo cáo chuyên ngành, báo, tạp chí, Số liệu tổng hợp của Sở Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, cục thống kê tỉnh Đồng Tháp
Số liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp từ
hộ trồng lúa bao gồm hộ có tham gia chương trình bảo hiểm cây lúa và những
hộ không tham gia chương trình bảo hiểm trong vùng Đề tài chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện với cỡ mẫu là 120 mẫu tại 2 huyện Tháp Mười và Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp
Trong 120 mẫu phỏng vấn trực tiếp có 60 hộ tham gia Bảo hiểm cây lúa
và 60 hộ không tham gia Bảo hiểm cây lúa (xem bảng 2.1)
Trang 21Ngoài ra, để xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình Probit
Mô hình Probit được ứng dụng trong trường hợp biến phụ thuộc là biến nhị phân dùng để ước lượng xác suất xảy ra của biến phụ thuộc
Mô hình Probit có dạng như sau:
Trong đó yi* chưa biết Nó thường được gọi là biến ẩn, chúng ta xem xét biến giả yi được khai báo như sau :
yi =
Trong đó :
- yi = 1 nông hộ có tham gia bảo hiểm cây lúa
- yi = 0 nông hộ không tham gia bảo hiểm cây lúa
1 nếu yi* > 0
0 nếu yi* ≤ 0
i ij j k
*
Trang 22- 0, j là hệ số trong mô hình
- ui là sai số ượng lượng
- x
ij là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm
cây lúa của nông hộ
Diễn giải các biến độc lập trong mô hình và giả thuyết kỳ vọng
Tuổi (X1): là biến số tuổi tính từ năm sinh của chủ hộ tham gia trồng lúa Khi tuổi càng cao thì khả năng tiếp cận bảo hiểm cây lúa sẽ không cao so với người trẻ tuổi Những chủ hộ càng lớn tuổi họ sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính nên sẽ không quan tâm nhiều đến bảo hiểm Yếu tố này được
kỳ vọng sẽ có tương quan nghịch với quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa Giới tính (X2): là giới tính của chủ hộ, được xem như là biến giả, có giá trị là 1 nếu chủ hộ là nam và giá trị 0 nếu chủ hộ là nữ Với đặc điểm kinh tế
xã hội ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng, thì người nam luôn là người trụ cột và đưa ra các quyết định quan trọng trong gia đình Thông thường khi chủ hộ là nam thì họ sẽ có nhiều kinh nghiệm trọng việc trồng lúa
vì đa phần chủ hộ trồng lúa đều là nam, hộ có thể dễ dàng gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm hơn nữ, khả năng biết đến bảo hiểm cây lúa cũng cao hơn, nên quyết định tham gia bảo hiểm cũng sẽ tăng
Tập huấn (X3): là tham gia các lớp tập huấn của chính quyền địa phương hoặc của công ty bảo hiểm về các hoạt động có liên quan đến sản xuất nông nghiệp cũng như việc ứng dụng KHKT vào sản xuất Biến này được kỳ vọng
sẽ có tương quan thuận với quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa
Quy mô hộ (X4): biến này thể hiện số thành viên trong gia đình một hộ, khi gia đình có nhiều người thì khẳ năng tiếp cận với thông tin về bảo hiểm cũng nhiều hơn, quyết định tham gia bảo hiểm cũng sẽ tăng
Diện tích trồng lúa (X5): Đây là biến thể hiện tổng diện tích đất tham gia trồng lúa của nông hộ, khi diện tích nhiều thì khả năng tham gia bảo hiểm sẽ cao vì để được lợi nhuận sau mỗi vụ cũng sẽ cao sẽ phải tốn nhiều chi phí đầu vào, khi sản xuất có xảy ra rủi ro họ bị thiệt hại ảnh hưởng nhiều đến năng suất Vì vậy, để có thể ổn định thu nhập họ sẽ tham gia bảo hiểm, biến này sẽ
có ảnh hưởng nhiều đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ Giá bán trung bình (X6): thể hiện mức giá trung bình chung trong năm Khi người nông dân là những giống lúa có tham gia bảo hiểm cây lúa được công ty bao tiêu sản phẩm sẽ bán được mức giá cao hơn những hộ không tham
Trang 23gia và ổn định được đầu ra Biến này được kỳ vọng sẽ có tương quan thuận với quyết định tham gia bảo hiểm của hộ trồng lúa
Năng suất trung bình (X7): đây là biến thể hiện mức năng suất trung bình trong năm của hộ Khi tham gia sản xuất ai cũng kỳ vọng sẽ đạt năng suất cao, nhưng điều kiện thời tiết diễn biến thất thường là một trong những nguyên nhân dẫn đến sụt giảm năng suất Để khắc phục vấn đề này những hộ có năng suất giảm sẽ có nhiều quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa cũng sẽ cao hơn
so với những hộ có năng suất cao
Chi phí sản xuất trung bình (X8) : là tổng chi phí đầu tư trong một vụ của nông hộ, kể cả chi phí lao động gia đình Khi bỏ ra nhiều chi phí ai cũng hy vọng sẽ thu lại mức lợi nhuận cao Các nông hộ trồng lúa phần lớn không có nhiều khoản thu nhập khác, vốn đầu tư cho các chi phí đầu vào không nhiều Nhiều hộ mua phân và thuốc BVTV phải đợi đến cuối vụ mới thanh toán Vì thế, họ sẽ quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa Biến này được kỳ vọng sẽ có tương quan thuận với quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp các biến với dấu kỳ vọng được xem xét trong mô
hình nghiên cứu
Giới tính (X2) Biến giả, bằng 1 là nam và bằng 0 là nữ +
Tập huấn (X3) Biến giả, bằng 1 là có tập huấn và bằng 0 là
Năng suất trung bình tính bằng kg/ha -
Chi phi sản xuất
Trang 24Nhận thấy, các biến gồm: giới tính chủ hộ, tập huân kỹ thuật, số thành viên trong gia đình, diện tích trồng lúa, chi phí sản xuất lúa và giá bán được kỳ vọng sẽ có tương quan thuận với quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ Qua kết quả khảo sát thực tế cho thấy, các hộ tham gia bảo hiểm ngoài việc để giảm rủi ro còn vì để giảm chi phí đầu vào và khi được phổ biến
rõ thì sẽ tham gia nhiều Các biến còn lại gồm: tuổi và năng suất được kỳ vọng
sẽ có tương quan nghịch với quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa
Như vậy, ở chương này tác giả trình bày tổng quát cơ sở lý luận về kinh
tế nông hộ và bảo hiểm nông nghiệp, phân loại bảo hiểm nông nghiệp, giới thiệu sơ lược về chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-
2013, lược khảo một số nghiên cứu có liên quan về bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam và trên thế giới Ngoài ra, phần phương pháp nghiên cứu đưa ra cách thức thu thập số liệu và phương pháp phân tích số liệu bằng mô hình hồi quy nhằm phục vụ cho nghiên cứu
Trang 25CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 GIỚI THIỆU VỀ TỈNH ĐỒNG THÁP
Đồng Tháp là một tỉnh nằm ở miền Tây Nam Bộ, có diện tích tự nhiên là 3.283km2, có nền nông nghiệp phát triển, là vựa lúa thứ 3 của Việt Nam Trong những năm gần đây, tỉnh Đồng Tháp đã đạt được những thành quả kinh
tế rất đáng phấn khởi, có chỉ số tăng trưởng GDP cao và chỉ số về cạnh tranh kinh tế đứng thứ 2 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Sở Nông Nghiệp và PTNT tỉnh Đồng Tháp, 2013)
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp Đồng Tháp là một trong 13 tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở đầu nguồn sông Tiền, lãnh thổ của tỉnh Đồng Tháp nằm trong giới hạn tọa độ 10°07’ - 10°58’ vĩ độ Bắc và 105°12’ - 105°56’ kinh độ Đông Phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia, phía Nam giáp Vĩnh Long và Cần Thơ, phía Tây giáp An Giang, phía Đông giáp Tiền Giang và Long An Tỉnh Đồng Tháp
có đường biên giới quốc gia giáp với Campuchia với chiều dài khoảng 50 km
từ Hồng Ngự đến Tân Hồng, với 4 cửa khẩu là Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân
và Thường Phước Hệ thống, đường quốc lộ 30 80, 54 cùng với quốc lộ
Trang 26N1, N2 gắn kết Đồng Tháp với Tp.Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực Là tỉnh duy nhất trong cả nước có 2 đô thị loại 3: tp Cao Lãnh, TX Sa Đéc Trung tâm tỉnh lỵ đặt tại thành phố Cao Lãnh
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình Đồng Tháp tương đối bằng phẳng với độ cao phổ biến 1-2m
so với mặt biển Dòng sông tiền chảy qua 32km chia Đồng Tháp thành 2 vùng:
- Vùng phía Bắc sông Tiền có diện tích tự nhiên 250.731 ha, thuộc khu vực Đồng Tháp Mười, địa hình tương đối bằng phẳng, hướng dốc Tây Bắc- Đông Nam
- Vùng phía Nam sông Tiền có diện tích tự nhiên 73.074 ha, nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, địa hình có dạng lòng máng, hướng dốc từ hai bên sông và giữa
triển nông nghiệp
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
3.1.2.1 Tài nguyên đất
Đồng Tháp có thể chia thành 4 nhóm đất chính: nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn, nhóm đất xám, nhóm đất cát (xem bảng 3.1)
(Nguồn: Tổng cục thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2012)
Bảng 3.1 cho thấy nhóm đất phù sa (có diện tích 191.769 ha) chiếm 59,06% điện tích đất tự nhiên Đây là nhóm đất trải qua lịch sử canh tác lâu dài, phân bố khắp 11 huyện thị (trừ huyện Tân Đồng), nhóm đất phèn có diện
Trang 27tích (84.342 ha), chiếm 29,99% phân bố khắp 11 huyện thị (trừ thành phố Cao Lãnh), đất xám (có diện tích 28.150 ha), chiếm 8,67% diện tích tự nhiên, phân
bố chủ yếu trên địa hình cao của huyện Tân Hồng và Hồng Ngự, nhóm đất cát (có diện tích 120 ha), chiếm 0,04% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở Đông Cát và Gò Tháp, huyện Tháp Mười
Đất đai của Đồng Tháp có kết cấu mặt bằng kém bền vững lại tương đối thấp, nên khi làm mặt bằng xây dựng đồi hỏi kinh phí cao, nhưng lại rất phù hợp cho sản xuất lương thực
3.1.2.2 Tài nguyên rừng
Trước đây đa số các diện tích ẩm, lầng thấp ở Đồng tháp Mười được bao phủ bởi rừng rậm, cây tràm được coi là đặc thù của tỉnh Đồng Tháp Ngày nay do khai thác không hợp lý đã làm giảm đến mức báo động gây nên mất cân bằng sinh thái, diện tích rừng tràm còn dưới 10.000 ha Có nhiều khu rừng đặc dụng có diện tích trên 2800 ha như Vườn Quốc Gia Tràm Chim, Khu Di Tích Xẻo Quýt, Khu Di Tích Gò Tháp, có giả trị bảo tồn về lịch sử, văn hóa và cho nghiên cứu khoa học Hệ sinh thái và động vật phong phú có nhiều loài cây dược liệu, là nơi sinh trưởng của nhiều loại động vật quý hiếm như: rắn, rùa, sếu đầu đỏ,…
3.1.2.3 Tài nguyên khóng sản
Đồng Tháp là tỉnh khá nghèo về tài ngguyên khoáng sản, chủ yếu có nhiều cát xây dựng các sét loại, phân bố ở ven sông, cồn hoặc cù lao, là mặt hàng chiến lược của tỉnh trong xây dựng sét gạch ngói có trong phù sa cổ, trầm tích sông, trẩm tích đồng lồng, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh với trữ lượng lớn:sét Cao Lãnh có nguồn trấm tích sông, phân bố ở các huyện phía Bắc tỉnh; than bùn có nguồn gốc trầm tích tứ thế kỷ thứ IV, phân bố ở huyện Tam Nông, Tháp Mười với trữ lượng khoảng 2 triệu m3
3.1.2.4 Tài nguyên nước
Nước mặt: Đồng tháp Mười ở đầu nguồn sông Cửu Long, có nguồn nước mặt khá dồi dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn Ngoài ra cón có hai nhánh sông Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ ra sông Tiền ở Hồng Ngự phỉa Nam còn có sông Cái Tàu Hạ, Cái tàu Thượng, sông Sa Đéc,…hệ thống kênh rạch chằng chịt
Nước ngầm: Đồng Tháp có nhiều mạch nước ngầm ở các độ sâu khác nhau, nguồn này hết sức đồi dào, mới chỉ cá khai thác phục vụ cho sinh hoạt ở
đô thị và nông thôn, chưa đưa vào cho công nghiệp
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội và dân số
Trang 283.1.2.1 Tình hình kinh tế
a Tình hình chung
Theo cục thống kê tỉnh Đồng Tháp (2012) tăng trưởng kinh tế năm 2012
thấp hơn so với mức tăng trưởng 2011 và không đạt kết quả đề ra Tốc độ tăng
trưởng GDP (tính theo giá 1994) : ước tính tốc độ tăng trưởng GDP khu vực Nông - Lâm - Thủy sản tăng 3.6% ( năm 2011 tăng 5,72%); Khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng 11,19% (năm 2011 tăng 21,94% ) Khu vực dịch vụ tăng 15,2% ( năm 2011 tăng 16,48%) Như vậy, ước tính tăng trưởng của năm
2012 thấp hơn nhiều( thấp hơn 3,84%) so với kế hoạch đề ra; Đối với khu vực Nông- Lâm - Thủy sản có tốc độ tăng trưởng thấp hơn 1,6% so với mục tiêu tăng trưởng cả năm 2012 ( kế hoạch cả năm 5,20%); Khu vực Công nghiệp - Xây dựng tốc độ tăng trưởng đặt ra cho cả năm 2012 là 9,81% ( kế hoạch cả năm 21,0%); Khu vực Thương mại - dịch vụ có tốc độ tăng trưởng thấp hơn
kế hoạch kế hoạch 1,3% ( kế hoạch cả năm 16,5%)
Cơ cấu kinh tế ( tính theo giá thực tế): Cơ cấu kinh tế tính theo giá thực
tế do sự sụt giảm giá hàng Nông- Thủy sản trong năm 2012 nên ở khu vực 1
có chuyển dịch mạnh theo hướng giảm xuống Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế như sau:
- Khu vực Nông- Lâm- Thủy sản chiếm tỉ trọng 48,99%, giảm 1,27% so với 2011
- Khu vực Công nghiệp – Xây dựng chiếm 23,4% tăng 0,28% so với năm
GDP bình quân đầu người năm 2012 ước tính 24,8 triệu đồng tăng 14,6% so với năm 2011 (theo giá thực tế) tương đương 1.180 USD (tỉ giá hối đoái tạm bình quân năm 2011 là 20962 đồng / USD), tăng 14,9% so với năm
2011 Nếu tính theo giá cố định 1994 GDP bình quân đầu người ước tính 10,68 triệu đồng tăng 9,44% so với năm 2011, tương đương 967 USD
Trang 29b) Sản xuất Nông- Lâm – Thủy Sản
Tuy gặp nhiều khó khăn như giá cá giống, thức ăn chăn nuôi tăng cao, nguy cơ bùng phát dịch bệnh, nhưng sản xuất nông – lâm - thủy sản của tỉnh tiếp tục phát triển, ước tính trong năm 2012 giá trị sản xuất toàn khu vực đạt 40.439 tỷ đồng theo giá thực tế ( tăng 10,38% so với năm 2011) và 12.479 tỷ đồng giá cố định 1994 (tăng 3,43% so với năm 2011)
Trồng trọt
Theo tổng cục thống kê tỉnh Đồng Tháp (2012) toàn tỉnh với diện tích gieo trồng 515.706 ha năm 2012 so với năm 2011 ( giảm 16.780 ha) Trong đó, diện tích gieo trồng lúa đạt được 487.624 ha, giảm 2,69% ( giảm 13.474 ha), ước tính sản lượng lúa đạt 3.051.763 tấn giảm 1,56% (giảm 48.424 tấn) Sản lượng lúa của tỉnh năm 2012 so với năm 2011 giảm với nguyên nhân chính là diện tích lúa vụ Thu Đông giảm nhiều, trong khi diện tích lúa vụ Đông Xuân
và vụ Hè Thu tăng ít Cụ thể, vụ Đông Xuân tăng 22.745 tấn, vụ Hè Thu tăng 9.742 tấn, vụ Thu Đông giảm tới 80.911 tấn Ước tính năm 2012 các cây trồng hằng năm khác ngoài cây bắp có sản lượng tăng, các loại cây trồng khác đều
có sản lượng giảm so với năm 2011 Cụ thể: sản lượng bắp đạt 33.440 tấn tăng 1.804 tấn; mía sản lượng đạt 7.624 tấn giảm 820 tấn; bố sản lượng đạt 18 tấn, giảm 25 tấn Rau đậu các loại sản lượng đạt 209.286 tấn giảm 10.979 tấn Đậu phộng sản lượng đạt 668 tấn giảm 240 tấn Nguyên nhân giảm sản lượng các loại hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày khác là do giá tiêu thụ sản phẩm không ổn định vì vậy người nông dân chủ yếu gieo trồng các loại cây này theo nhu cầu của thị trường
Diện tích cây lâu năm toàn tỉnh hiện có là 23.900 ha chỉ bằng 99,72% so với năm 2011 (giảm 66ha) Diện tích cây ăn quả hiện có là 23.506 ha chiếm 98,35% so với diện tích cây lâu năm hiện có, bằng 99,69% so với năm 2011 (giảm 74ha) Diện tích cây lâu năm cho sản phẩm toàn tỉnh chiếm 89,5% diện tích hiện có, tăng 0,41% so với năm 2011 (tăng 85ha) Diện tích cây lâu năm trồng mới năm 2012 là 318 ha chỉ bằng 65,98% so với năm 2011 (giảm 164 ha) Sản lượng cây lâu năm năm 2012 ước đạt trên 217 nghìn tấn, tăng gần 1%
so với năm 2011 (tăng gần 1,5 nghìn tấn) Trong đó, quýt tăng trên 404 tấn, xoài giảm 846 tấn, nhãn giảm 149 tấn
Chăn nuôi
Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong tỉnh ổn định, các ngành chức
năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát giết mổ mua bán gia súc, gia
cầm nên tình hình dịch bệnh được khống chế, người chăn nuôi có lãi
Trang 30Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 01/10/2012 sản lượng gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: trâu 2.366 con (tăng 232 con), bò 19.000 con (tăng
844 con), heo 274.510 con (tăng 398 con), gia cầm 3.860.201 con Đối với đàn gia cầm sản lượng thịt gia cầm ước tính năm 2012 ước tính 10.217 tấn (tăng 1.446 tấn) so với thời điểm 01/01/2011
Lâm nghiệp
Trong năm 2012 đã trồng mới 150ha rừng tập trung thuộc thàh phần
kinh tế Nhà nước là: trại Đồng Cát trồng 70ha, rừng sản xuất và Ủy ban quản
lý rừng phòng hộ Bắc Tháp Mười trồng 80ha trên diện tích rừng dã khai thác trong năm Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước tính đạt 7,86 triệu cây (tăng
77 nghìn cây) Tỏng số gỗ khai thác 113.240 m3 (tăng 872 m3) Song song với công tác trồng và chăm sóc rừng ngành lâm nghiệp đã triển khai tập huấn phòng cháy, chữa cháy riêng cho lực lượng kiểm lâm và đầu tư thiết bị ở những nơi trọng điểm, tuyên truyền vận động người dân ở gần những nơi có rừng tập trung có ý thức phòng cháy rừng, nhờ vậy trong năm 2012 không có
vụ cháy rừng xảy ra
Thủy sản
Vào những tháng đầu năm 2012 diện tích nuôi trồng thủy sản giảm
mạnh do giá bán thấp, giá thức ăn tăng, các chi phí khác đều tăng Nhưng dần
về cuối năm tình hình kinh tế hồi phục đã kéo theo sự phục hồi các ngành thủy sản Diện tích nuôi trồng thủy sản trong những năm 2012 đạt 5.915ha tăng
423ha so với năm 2011, nhưng chỉ bằng 66,64% kế hoạch
Sản lượng thủy sản nuôi trồng nước ngọt đạt 436.700 tấn (tăng 59.882 tấn), chủ yếu là sản lượng cá tra, cá basa nuôi đạt 386.910 tấn (tăng 57.626 tấn), tôm đạt 1,960 tấn (tăng 71 tấn) Sản lượng thủy sản khai thác nước ngọt đạt 15.746 tấn (tăng 490 tấn)
Giá cá tra thương phẩm từ đầu năm cho đến cuối năm 2012 dao động ở mức 20000 – 23500 đồng/ Kg (trọng lượng bình quân 0,7- 0,9 Kg/con Giá cả
ổn định tuy nhiên chi phí nuôi trồng tăng lên (chi phí giống, thức ăn, chi phí vốn…), do vậy lợi nhuận từ con cá cũng đạt thấp Mặt khác ngành nuôi trông thủy sản còn tiềm ẩn nhiều bất ổn cho người nuôi và liên kết giữa người nuôi
và nhà chế chưa chặt chẽ Mặt khác điệp khúc sản lượng tăng thì giá lại rớt như trước đây vẫn có thể xảy ra Giá cá tăng và khan hiếm nguồn cung tuy trước mắt có lợi cho người nuôi trồng nhưng cũng gây nhiều khó khăn cho các nhà máy chế biến, nhất là các nhà máy đã kí hợp đồng tiêu thụ trong khi không có đủ nguồn nguyên liệu để sản xuất và do đó phải buộc giảm sản lượng sản xuất trong các chu kỳ sản xuất tới
Trang 31c) Sản xuất công nghiệp và hoạt động thương nghiệp – dịch vụ
Công nghiệp
Ngay từ đầu năm do khủng hoảng kinh tế thế giới chưa chấm dứt, khủng hoảng nợ công ở các nước châu Âu diễn biến phức tạp làm cho thị trường tiêu thụ cá phi lê gặp nhiều khó khăn, ở các tháng cuối năm do hàng tồn kho nhiều các doanh nghiệp sản xuất gặp nhiều khó khăn về vốn, mặt dù giá cả nguyên liệu không cao nhưng phải tạm nhưng hoạt động hoặc sản xuất cầm chừng, một số doanh nghiệp mua thành phẩm của doanh nghiệp khác để thực hiên
hợp đồng xuất hàng với đối tác
Với những chính sách giải pháp linh hoạt từ phía chính phủ như giảm thuế cùng với sự chỉ đạo, can thiệp kịp thời của tỉnh đã tháo gỡ phần nào những khó khăn cho ngành nuôi trồng thủy san và ngành công nghiệp chế biến
thủy sản
Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2012 ước tính 14.001 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994), tăng 7,81% so với năm 2011 (năm 2011 tăng 25,99% so với năm 2010); Trong đó 2 loại sản phẩm có giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giá trị sản xuất toàn ngành, ước tính sản lượng tăng trưởng thấp so với 2011 là: Thủy sản đông lạnh đạt 183.815 tấn, tăng 7,46% Thức ăn thủy sản đạt 1.259.790 tấn, tăng 6,58%
Nguyên nhân chính làm cho tăng trưởng sản xuất Công nghiệp của tỉnh vẫn đạt thấp so với năm 2011 là do hàng tồn kho nhiều, nhiều doanh nghiệp sản xuất cầm chừng hoặc tạm ngừng hoạt động
Thương nghiệp - Dịch vụ
Hoạt động Thương mại – Dịch vụ tiếp tục hát triển ổn định, tuy thị trường xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế khu vực Châu Âu, kim ngạch xuất khẩu sụt giảm so với năm 2011, kim ngạch
nhập khẩu tăng ít so với năm 2011
Xuất khẩu: Xuất khẩu là kênh tiêu thụ quan trọng cho hàng hóa của tỉnh, càng quan trọng hơn đối với các sản phẩm còn nguồn gốc từ sản xuất nông nghiệp, đồng thời xuất khẩu cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng sản xuất nội địa Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2012 ước tính 836.469 ngàn USD, bằng 95,4% so với năm 2011 Mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là gạo và
thủy sản chế biến
Nhập khẩu: Nhập khẩu của tỉnh đóng vai trò cung cấp nguyên nhiên liệu cho các ngành sản xuất nội địa như sản xuất nông nghiệp, sản xuất dược phẩm, may mặc với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là xăng dầu, phân bón và
Trang 32nguyên liệu sản xuất tân dược Tổng kim ngạch nhập khẩu ước tính 648.211 ngàn USD tăng 2,3% so với năm 2011 và ước đạt 92,6% kế hoạch Trong đó, xăng dầu là mặt hàng chủ lực có sản lượng nhập ước tính 552.984 tấn (tăng 2,92% so với năm 2011) với giá trị 588,960 ngàn USD tăng 0,2% so với năm
án phát triển kinh tế - xã hội, công tác vận động giới thiệu tư vấn việc làm cho người lao động đã góp phần giải quyết việc làm cho 36.481 người, trong đó xuất khẩu lao động 48 người
Thực hiện trợ cấp thất nghiệp trong năm đã tiếp nhận quyết định cho 5.139 người hưởng được trợ cấp thất nghiệp Triển khai thực hiện tốt điều tra,
rà soát cung cầu lao động, thu thập thông tin về
Nhu cầu học nghề làm việc ở 30 xã nông thôn mới chuẩn bị triển khai nắm bắt nhu cầu của người lao động trên toàn tỉnh; kịp thời giải quyết khó khăn về vấn đề lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm các loại, nhằm hạn chế không đẻ xảy ra đình công trên địa bàng tỉnh
Công tác đào tạo nghề: tiếp tục thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đã tổ chức tuyển mới dạy nghề cho 20.391 người, trong đó tuyển mới đào tạo Cao đẳng nghề 1.108 người, trung cấp nghề 1.611 người và
sơ cấp nghề, dạy nghề thường xuyên 17.672 người; tỷ lệ lao động qua đào tạo tính đến cuối năm 2012 đạt 46,2% trong đó qua đào tạo nghề là 31,5%
Trang 33c) Giáo dục và đào tạo
Ngành giáo dục đã hoàn thành nhiệm vụ năm 2011-2012 với kết quả giảng dạy học tập được nâng cao Đồng thời triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2012-2013 theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Giáo Dục
và Ủy ban nhân dân tỉnh công tác phổ cập giáo dục năm 2012
Công tác phổ cập giáo dục tiểu học được trường quan tâm củng cố và duy trì với nhiều biện pháp linh hoạt Trong đó tiếp tục chỉ đạo tốt ngày toàn dân đưa trẻ đến trường, tích cực huy động trẻ em 6 tuổi vào lớp 1, đẩy mạnh huy động trẻ em thất học, bỏ học đến trường Hiện tại 100% số xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh tiếp tục đạt chuẩn phổ cập giáo dục đúng độ tuổi mức độ 1 theo quy định của thông tư số 39/2009/ BGDDT ngày 04/02/2009 của Bộ giáo dục và đào tạo
Công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở tiếp tục được thực hiện tuy nhiên kết quả đạt được còn hạn chế Hiện tại Sở Giáo dục và đào tạo đang tiến hành kiểm tra công tác duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS tại các địa phương
Về đội ngũ giáo viên: Sở giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp Tiếp tục giữ vững kết quả duy trì sản lượng giáo viên đạt chuẩn, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn và trên chuẩn nghiệp vụ chuyên môn Ngành giáo dục tỉnh lien kết các trường đại học, cao đẳng mở các lớp đào tạo kiến thức tin học, ngoại ngữ
Trong năm học 2011-2012, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 99,64%, trung học cơ sở đạt 98,23%, Trung học phổ thông đạt 99,72%, tỷ lệ học sinh đi học trong độ tuổi mẫu giáo 99,1%, tiểu học 99,9%, trung học cơ sở 87,34%, trung học phổ thông 50,58% Về tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia mầm non đạt 8,15%, tiểu học đạt 13,08%, trung học cơ sở đạt 17,6%, trung học phổ thông đạt 16,28
Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật trong trường học: Công tác xây dựng mạng lưới trường lớp, mua sắm thiết bị ước tính năm 2012 hoàn thành đưa vào
sử dụng 420 phòng học, phòng chức năng, sữa chữa 766 phòng học Đề án kiên cố hóa trường lớp giai đoạn 2008-2012 đã triển khai thực hiện 1.217 phòng đạt 75,49%, hoàn thành đưa vào sử dụng 997 phòng, đang thi công 220 phòng
Kết quả kỳ thi Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp năm 2012: Trước mỗi kỳ thi có đào tạo tư vấn hướng nghiệp cho các em Cụ thể năm
Trang 342012 toàn tỉnh có 4.512 học sinh đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp Trong dó Đại học 1.484 học sinh, Cao đẳng 2.886 học sinh, Trung cấp chuyên 142 học sinh
3.2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
Đồng Tháp là tỉnh có tiềm năng thế mạnh về cây lúa của khu vực ĐBSCL, nhưng thường xuyên bị dịch bệnh rình rập, đe dọa Cho nên sản xuất lúa luông gánh chịu nhiều rủi ro cao Chính vì vậy, triển khai BHNN là sự quan tâm thiết thực, là một mô hình mới, hình thức hỗ trợ mới của Đảng, Nhà nước cho nông dân đặc biệt là những đối tượng nghèo và cận nghèo
Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định 315/QĐ-TTg tại Công văn số 579/UBND-KTN ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp chỉ đạo thành lập Ban chỉ đạo Bảo hiểm nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp thường trực Ban chỉ đạo
là Sở Nông nghiệp và PTNT, Ban chỉ đạo huyện, các xã thành lập Ban vận động
Thí điểm bảo hiểm nông nghiệp được triển khai đồng bộ trên tất cả các
xã của 3 huyện Đồng thời, lồng ghép triển khai với các công ty, doanh nghiệp bao tiểu sản phẩn, đến nay đã vận động được 03 Công ty tham gia: Công ty TNHH MTV Lương thực Tân Hồng, Công ty DASCO, Công ty TNHH Thanh Tùng Công ty TNHH Thanh Tùng (hỗ trợ 20.000đ/1.000m2 phân Rồng Ngọc bán ra), Công ty DASCO (hỗ trợ 20.000đ/ 1lít DASVILA) và Công ty TNHH MTV Lương thực Tân Hồng đang tổ chức triển khai trong dân (với mức hỗ trợ
dự kiến là 7.000 đ/1.000m2)
Kết quả tham gia bảo hiểm giai đoạn 2011- 2012
Qua hơn 1 năm triển khai chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp diện tích và đối tượng tham gia bảo hiểm tăng lên theo từng vụ Kết quả tham gia bảo hiểm cây lúa trên toàn tỉnh Đồng Tháp được thể hiện qua bảng sau:
Trang 35Bảng 3.2: Kết quả thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại tỉnh Đồng
Đối tượng bảo hiểm nộp (đồng) I.Vụ Đông xuân 2011-2012
Trang 36điểm bảo hiểm trong huyện chậm hơn so vởi các huyện khác, đây là vụ đầu tiên nên chỉ có hộ nghèo được hỗ trợ 100% phí tham gia, đối với hộ cận nghèo
và không thuộc diện nghèo do chưa nắm rõ thông tin BHNN nên chưa đăng ký Hai huyện còn lại là Huyện Châu Thành, mặc dù số hộ tham gia nhiều nhưng nhìn chung thì diện tích vẫn còn rất thấp, ở vụ này huyện vẫn chưa có đối tượng không phải hộ nghèo tham gia Tại vụ đầu tiên thực hiện chương trình thí điểm chỉ có huyện Tham Mười có đối tượng không phải hộ nghèo tham gia
Vụ Hè Thu ở cả 3 huyện có số hộ tham gia tăng tương đối cao, huyện Châu Thành đối tượng tham gia chủ yếu là hộ nghèo và cận nghèo hộ không thuộc diện nghèo vẫn còn ít, do chương trình bảo hiểm mới bắt đầu thí điểm nên công tác tuyên truyền chưa thật sự sâu rộng, nên chưa có nhiều hộ không thuộc đối tượng cận nghèo tham Hai huyện Tháp Mười và Tân Hồng đã có nhiều đối tượng không thuộc diện nghèo tham gia nguyên nhân chủ yếu do vụ
Hè Thu rơi vào những tháng mưa bão nên sâu bệnh diễn biến phức tạp, nhiều người nghĩ rằng năm Thìn sẽ có lũ lớn nên tham gia bảo hiểm cây lúa để yên tâm sản xuất Vụ Thu Đông, Tân Hồng không tham gia bảo hiểm để điều chỉnh lịch thời vụ, tình hình tham gia bảo hiểm tại huyện Châu Thành không thay đổi nhiều do đây là huyện không thuộc vùng sâu nên nhiều người vẫn còn chủ quan không quan tâm nhiều đến bảo hiểm cây lúa, huyện Tháp Mười có
sự tăng lên rõ rệt cả về số hộ tham gia lẫn diện tích ngoài đối tượng là hộ nghèo và cận nghèo còn các hộ tham gia không thuộc đối tượng, các hộ tham gia tự nguyện đa phần là những hộ thuộc vùng sâu hệ thống đê bao không chắc chắn
Nhìn chung, số hộ tham gia và diện tích qua các vụ tăng nhưng tăng không nhiều, co huyện lại giảm số hộ tham gia Sự phối hợp trong thực hiện công việc cũng như giải quyết bồi thường chưa nhịp nhàng Còn lúng túng trong xử lý một số trường hợp phát sinh vấn đề về bảo hiểm Đặc biệt vào Vụ Thu Đông thì số hộ và diện tích tham gia tăng đáng kể Tháp Mười 1.482 hộ với diện tích 1.118,2 ha do người dân lo sợ lũ về sớm với suy nghĩ là năm Thìn bão lụt
Vụ Đông xuân 2011-2012 chưa phát sinh bồi thường bảo hiểm, tuy nhiên
từ vụ Hè thu năm 2012 đã phát sinh bồi thường bảo hiểm do bị ngập úng đầu
vụ và sụt giảm năng suất tại huyện Tháp Mười 16.892.120 đồng, với diện tích 29,4ha Tại Tân Hồng, Công ty Bảo Việt Đồng Tháp đã bồi thường thiệt hại diện tích 02 ha do ngập úng đầu vụ tại xã Tân Công Chí huyện Tân Hồng, số tiền bảo hiểm được hưởng là 5% số tiền bảo hiểm của diện tích lúa phải sạ lại là: 1,882 triệu đồng
Trang 37 Kết quả tham gia bảo hiểm giai đoạn 2012-2013
Chương trình thí điểm BHNN sau 2 năm đã có chiều hướng giảm rõ rệt, đối tượng tham gia không thuộc hộ nghèo và cận nghèo ngày càng giảm, chí
có những huyện có các công ty liên kết hỗ trợ phí cho người dân họ mới tham gia Kết quả tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ được thể hiện cụ thể qua bảng 2.2 sau:
Bảng 3.3: Kết quả thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại tỉnh Đồng
Tháp vụ Đông xuân và Hè giai đoạn 2012-2013
Diện tích (ha)
Tổng phí bảo hiểm Ngân sách hỗ
trợ
Đối tượng bảo hiểm nộp I.Vụ Đông xuân 2012-2013
H Tháp Mười 1.100 506,53 575.034.910 59.454.852
H Châu Thành 938 336,62 312.109.051 10.095.024
H Tân Hồng 1.063 1.810,72 1.109.880.830 591.294.111 Cộng 3.101 2.653,87 1.997.024.791 660.843.987
Trang 38xuất lúa trong vùng nguyên liệu của nhà máy Đến vụ Hè Thu số hộ tham gia
đã gảm đáng kể huyện Tân Hồng giảm nhiều nhất , nguyên nhân do chế độ chi trả bồi thường thiệt hại chậm trễ khiến nông dân mất lòng tin vào công ty bảo hiểm, khi tham gia bảo hiểm cây lúa phải tuân theo quy trình canh tác của tỉnh ban hành nên khó thực hiện Công ty TNHH MTV lương thực Tân Hồng đã ngưng hỗ trợ nông dân tham gia BHNN nên kết quả thực hiện chương trình bị sụt giảm Trong thời gian gần đây tình hình lũ lụt tương đối ổn định do các huyện đã có những hệ thống đê bao rất vững chắc, dịch bệnh cũng không gây ảnh hưởng nhiều đến sản xuất làm cho nhu cầu tham gia bảo hiểm của người dân cũng giảm xuống
Kết quả bồi thường bảo hiểm: Để đảm bảo lợi ít cho các hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, Công ty Bảo Việt Đồng Tháp đã xét và bồi thường bổ sung tại huyện Tân Hồng cho 14 hộ dân, với số tiền 25.864.589 đồng bị ngập úng đầu vụ Đông xuân 2012-2013
Nhìn chung, chính sách thí điểm bảo hiểm nông nghiệp bước đầu đã được người dân quan tâm, thấy được lợi ích khi tham gia bảo hiểm, chi sẽ rủi
ro khi thiên tai dịch bệnh xảy ra Công ty Dasco, Công ty THNN Thanh Tùng, Công ty THNN MTV lương thực Tân Hồng đã tham gia bảo hiểm cây lúa Đến vụ Hè Thu năm 2013, Công ty TNHH MTV lương thực Tân Hồng đã ngưng hỗ trợ nông dân tham gia BHNN nên kết quả thực hiện chương trình bị sụt giảm Điều này cho thấy, nông dân còn chủ quan và ỷ lại trông chờ vào sự
hỗ trợ của nhà nước nên chưa mạnh dạn tham gia bảo hiểm Mặt khác, công tác tuyên truyền vận động chă đủ sức thuyết phục để người dân tình nguyện tham gia, quy trình bồi thường còn khá phức tạp, trể đã làm ảnh hưởng đến lòng tin của người dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp
Thuận lợi:
Các cơ chế chính sách đã ban hành khá đầy đủ, đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh và doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức triển khai thực hiện Một số chính sách chưa phù hợp đã được các cơ quan Trung ương sẳ đổi
bổ sung như: Quyết định 358/QĐ-TTg ngày 27/02/2013 sủa đổi bổ sung Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ; Thông
tư 43/2012/TT-BNNPTNT ngày 23/8/2012 sửa đổi Thông tư BNNPTNT ngày 29/6/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT; Quyết định số 2114/QĐ-BTC ngày 24/8/2012 sửa đổi bổ sung Quyết định số 3035/QĐ-BTC ngày 16/12/2011 của Bộ Tài chính tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện
Trang 3947/2011/TT-Được chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho các sở ngành liên quan trong việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại
03 huyện Tân Hồng, Tháp Mười, Châu Thành
Ban chỉ đạo bảo hiểm nông nghiệp các huyện tăng cường công tác chỉ đạo thực hiện, tích cực tuyên truyền vận động các đối tượng tham gia Đồng thời phối hợp Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Tài chính, Công ty Bảo Việt Đồng Tháp và các đơn vị có liên quan trong công tác triển khai các văn bản mới liên quan chế độ, chính sách về bảo hiểm nông nghiệp Cũng như công tác kiểm tra, giám sát việc ký kết hợp đồng và cấp giấy chứng nhận bảo hiểm Tổ công tác Ban chỉ đạo phối hợp với Công ty Bảo Việt đã tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Công ty TNHH MTV Lương thực Tân Hồng để tăng cường công tác tuyên truyền và vận động các hộ nông dân trong vùng nguyên liệu của Công ty Công ty đã hỗ trợ được hai chuỗi là cung cấp đầu vào và thu mua lúa gạo, như thực hiện hỗ trợ 962 đồng/kg lúa cho nông dân bằng tiền mặt
Mô hình “Doanh nghiệp kinh doanh vật tư nông nghiệp tham gia thực hiện chương trình thí điểm bảo hiểm” đã phát huy hiệu quả Cụ thể Công ty TNHH MTV Lương thực Tân Hồng đã tham gia tuyên truyền vận động các hộ dân trong vùng nguyên liệu trong vụ Đông xuân 2012-2013 tại huyện Tân Hồng, có 521 hộ tham gia, với diện tích 1.409 ha (chiếm 39,52% kết quả vụ Đông xuân 2012-2013)
Công tác bồi thường cho các hộ bị thiệt hại được thực hiện khá tốt Vụ Đông xuân 2011-2012 chưa phát sinh bồi thường bảo hiểm, tuy nhiên từ vụ
Hè thu năm 2012 đã phát sinh bồi thường bảo hiểm do bị ngập úng đầu vụ và sụt giảm năng suất tại huyện Tháp Mười 16.892.120 đồng, với diện tích 29,4ha.Công ty Bảo Việt Đồng Tháp đã tổ chức bồi thường thiệt hại cho nông dân vụ Hè thu năm 2012 ở huyện Tháp Mười, đồng thời đang hoàn chỉnh thủ tục bồi thường thiệt hại ngập úng đầu vụ Đông xuân 2012-2013 cho các hộ ở huyện Tân Hồng
Những tồn tại, hạn chế:
Việc triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trong vụ Hè thu năm
2013 giảm cả về diện tích và số hộ tham gia Đồng thời, tỷ lệ tham gia của các
hộ không thuộc diện nghèo, cận nghèo đạt thấp (có 33 hộ, với 13ha) Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:
Vụ Hè thu năm 2013 Công ty TNHH MTV Lương Thực Tân Hồng không có chính sách hỗ trợ người nông dân trong vùng nguyên liệu tham gia
Trang 40thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đã ảnh hướng đến kết quả thực hiện làm giảm
số hộ và diện tích tham gia
Công tác giải quyết bồi thường trong vụ Đông xuân năm 2012-2013 chưa dứt điểm làm ảnh hưởng đến lòng tin của các hộ tham gia bảo hiểm đã gây ảnh hưởng đến kết quả vụ Hè thu năm 2013 vừa qua
Công tác tuyên truyền chưa thật sự đi vào chiều sâu, nên tỷ lệ hộ bình thường tham gia bảo hiểm rất thấp, chỉ thực hiện chủ yếu các đối tượng hộ nghèo và cận nghèo tham gia
Tình hình thời tiết, lũ lụt, dịch bệnh trên cây lúa trong những năm qua không gây ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng, do đó, nông dân còn chủ quan trong sản xuất nên còn e ngại khi tham gia bảo hiểm nông nghiệp
3.3 SƠ LƯỢC VỀ NHỮNG HUYỆN ĐƯỢC CHỌN THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP
3.2.1 Huyện Tân Hồng
Tân Hồng là huyện ở phía bắc tỉnh Đồng Tháp Dân số theo thống kê phòng NN&PTNT huyện Tân Hồng năm 2003 là 79.300 người, gồm các dân tộc: Kinh, Khơ Me Diện tích toàn huyện là 291,5 km2 Địa hình huyện chủ yếu là đồng bằng phù sa cổ, thềm tích tụ-xâm thực, có đường biên giới với Campuchia
Kinh tế chủ yếu của huyện là Nông Nghiệp và nuôi trồng thủy sản Thương mại dịch vụ: thương mại dịch vụ của huyện còn khá khiêm tốn Lãnh đạo huyện và lãnh đạo của tỉnh Đồng Tháp, đang kêu gọi các nhà đầu tư, đầu
tư vào Khu kinh tế cửa khẩu Quốc Tế Dinh Bà của huyện Ngoài ra huyện cũng đang hình thành khu công nghiệp Tân Thành B, ưu tiên cho sản xuất thức ăn gia súc và sản xuất công nghiệp
Trong nhưng những năm gần đây điều kiện khí hậu diễn biến khá phức tạp, mưa bão bất thường, mực nước lũ đặc biệt lớn đã gây thiệt hại đáng kể đến sản xuất, cơ sở hạ tầng, tài sản của nhà nước và nhân dân
Thực hiện quyết định của Ban chỉ đạo BHNN tỉnh về việc chọn địa bàng huyện Tân Hồng tổ chức thí điểm BHNN trên cây lúa giai đoạn 2011-2013 Ngày 07/11/2011 Công ty bảo hiểm Bảo Việt Đồng Tháp đã phối hợp với Ủy ban Nhân Dân huyện tổ chức tập huấn quy trình bảo hiểm cho lực lượng cán
bộ và các xã, đồng thời tập huấn cho tổng số 34 đại lý tham dự/09 xã, thị trấn Các ngành huyện, đơn vị bảo hiểm và ban vận động các xã, thị trấn đã phối hợp với các công ty, nhà máy chế biến gạo trên địa bàng huyện Tân Hồng,