Ngân hàng VPBank hay còn gọi là Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt nam được thành lập theo giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam cấp ngày 12/08/1993 với thời gian hoạt động là 99 năm
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế được coi là đòn bẩy quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế Hệ thống ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt, là kênh cơ bản cung ứng vốn cho nền kinh tế để thực hiện các chỉ tiêu
vĩ mô của nền kinh tế, là một công cụ để Nhà nước thực hiện các chính sách kinh tế nhằm
ổn định kinh tế Đồng thời là đòn bẩy để thúc đẩy các chủ thể kinh tế hình thành tri thức kinh doanh trong điều kiện mới: từ hiệu quả sử dụng nguồn vốn, lao động, nguyên vật liệu, đến tìm kiếm thị trường và đổi mới công nghệ
Hoạt động của Ngân hàng nói chung và của Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài Quốc doanh Việt nam nói riêng là rất cần thiết và quan trọng đối với nền kinh
tế nước ta.Với hoạt động đi vay để cho vay,các ngân hàng đã huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức, đơn vị hoạt động kinh doanh để cho các đơn vị, tổ chức cần vốn vay tiến hành các hoạt động của mình
Tuy nhiên, hoạt động trong ngành ngân hàng có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn.Vì vậy cần phải có những biện pháp tốt để giải quyết những rủi ro đó.Một trong các biện pháp đó là nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, em đã quyết định chọn đề tài
‘ Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư ngành cơ khí tại ngân hàng VPBANK’.
Đề tài được chia làm 2 phần ;
Phần 1 ; Thực trạng về công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Phần 2 ; Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng Vpbank.
Trong quá trình phân tích, do còn nhiều hạn chế nên chuyên đề thực tập của em còn nhiều sai sót.Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô để Chuyên đề của em được hoàn thiện hơn
Em rất cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong bộ môn, đặc biệt là TS Nguyễn Hồng Minh đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Trang 3CHƯƠNG I THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÁC DOANH NGHIỆP
NGOÀI QUỐC DOANH 1.1.Khái quát chung về ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Vpbank.
1.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển.
Ngân hàng VPBank hay còn gọi là Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt nam được thành lập theo giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam cấp ngày 12/08/1993 với thời gian hoạt động là 99 năm.Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 04/09/1993 theo giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UBB ngày 4 tháng 9
Là một ngân hàng thương mại đô thị đa năng, hoạt động với phương châm: lợi ích của khách hàng là trên hết; lợi ích của người lao động được quan tâm; lợi ích của cổ đông được chú trọng; đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của cộng đồng
Ngành nghề kinh doanh :
Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kì hạn, không kì hạn, tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn ; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá ; hùn vốn và liên doanh theo luật định
Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng
Thực hiện kinh doanh ngoài tệ, vàng bạc và thoanh toán quốc tế, huy động các loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoài khi được NHNN cho phép
Hoạt động bao thanh toán
Trang 4 Vốn điều lệ :
Khi mới thành lập vốn điều lệ của VPBank là 20 tỷ VND.Do nhu cầu phát triển theo thời gian,Vpbank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ Đến tháng 8/2006, vốn điều lệ của VPBank đạt 500 tỷ đồng Tháng 9/2006, VPBank nhận được chấp thuận của NHNN cho phép bán 10% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược nước ngoài là Ngân hàng OCBC - một Ngân hàng lớn nhất Singapore, theo đó vốn điều lệ sẽ được nâng lên trên 750 tỷ đồng Tiếp theo, đến cuối năm 2006, vốn điều lệ của VPBank
sẽ tăng lên trên 1.000 tỷ đồng Đến cuối năm 2007 vốn điều lệ của VPBank đạt 2.000 tỷ đồng
Bảng 1.1 Vốn điều lệ của VPBank qua các năm.
Trang 5trực thuộc và 128 điểm giao dịch ngân hàng bao gồm : Hội sở, 34 chi nhánh và 93 phòng giao dịch.Tính riêng năm 2007 ,VPBank đã mở mới 12 chi nhánh và 67 phòng giao dịch tại các tỉnh, thành trên toàn quốc Đến hết tháng 7 thì toàn ngân hàng có trên 135 điểm giao dịch trên toàn quốc.
Số lượng nhân viên của VPBank trên toàn hệ thống tính đến nay có trên 2.600 người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình độ đại học và trên đại học (chiếm 87%) Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên chính là sức mạnh của ngân hàng, giúp VPBank sẵn sàng đương đầu được với cạnh tranh, nhất là trong giai đoạn đầy thử thách sắp tới khi Việt Nam bước vào hội nhập kinh tế quốc tế Chính vì vậy, những năm vừa qua VPBank luôn quan tâm nâng cao chất lượng công tác quản trị nhân sự nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2010 trở thành ngân hàng hàng đầu khu vực phía Bắc,Ngân hàng trong top 5 ngân hàng bán lẻ hàng đầuc, một Ngân hàng có tầm cỡ của khu vực Đông Nam Á về chất lượng ,hiệu quả, độ tin cậy
Để thực hiện mục tiêu trên, trong thời gian tới VPBank phát triển theo hướng mở rộng điểm giao dịch, phát triển hệ thống thẻ, kết hợp phát triển dịch vụ phải hoà nhập với văn hoá tiêu dùng với các sản phẩm cho vay tiêu dùng như; mua nhà, mua ôtô,…VPBank muốn đi vào cuộc sống người dân đúng với sologan đặt ra ‘ VPBank
- Cuộc sống mới ‘
1.1.2.Sơ đồ tổ chức, cơ cấu chức năng các phòng ban.
Trang 6Trong đó:
Đại hội cổ đông giống như một công ty cổ phần, Đại hội cổ đông bao gồm
tất cả các cổ đông biểu quyết, là cơ quan có quyết định cao nhất trong ngân hàng Đại hội cổ đông có quyền và nhiệm vụ : quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần, bầu miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát xem xét và xử lý vi của Hội đồng quản trị và ban kiểm soát gây thiệt hại cho ngân hàng và cổ đông của ngân hàng, quyết định tổ chức lại và giải thể ngân hàng, quyết
ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
Hội đồng quản trị
Ban TGĐ
Ban kiểm soát
Hội đồng TD Hội đồng
ALCO
Các chi nhánh cấp I
Các chi nhánh cấp II
Phòng giao dịch HỘI SỞ
Các phòng ban
Trang 7định sửa đổi bổ sung điều lệ ngân hàng, trừ trường hợp điều chỉnh vốn do bán thêm
cổ phần mới trong phạm vi số lượng cổ phần được quyền chào bán tại Điều lệ ngân hàng, thông qua báo cáo tài chính hàng năm, thông qua định hướng phát triển của ngân hàng
Ban kiểm soát do đại hội đồng cổ đông bầu ra gồm 3 thành viên chuyên
trách có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ sách kế toán và báo cáo tài chính , thẩm định các báo cáo tài chính hàng năm của ngân hàng, báo cáo với hội đồng quản trị về kết quả hoạt động, tham khảo ký kiến của hội đồng quản trị trước khi trình các báo cáo, quyết định và kiến nghị lên Đại hội cổ động
Hội đồng quản trị là cơ quản lý ngân hàng, có quyền nhân danh ngân hàng
quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên trong đó có 3 uỷ viên thường trực gồm Chủ tịch, phó chủ tịch thứ nhất và một uỷ
Trang 8viên thường trực kiêm tổng giám đốc.Hội đồng quản trị có nhiệm vụ thay mặt đại hội đồng cổ đông quyết định các vấn đề lớn như quyết định chiến lược phát triển của ngân hàng, bổ nhiệm, cách chức tổng giám đốc, phó giám đốc, quyết định cơ cấu tổ chức,quy chế quản lý nội bộ; quyết định thành lập chi nhánh,văn phòng đại diện; quyết định giá chào bán cổ phần…
Hội đồng tín dụng là tổ do HĐQT lập ra, ngoài ra HĐQT còn lập ra các
Ban tín dụng tại tất cả các chi nhánh cấpI.Hội đồng tín dụng và ban tín dụng đều có nhiệm vụ phê duyệt các quyết định cấp tín dụng cho khách hàng nhưng với các giới
hạn tín dụng khác nhau
Chi nhánh c ấp I là đơn vị trực thuộc của VPbank, hoạch toán kinh tế phụ thuộc, có con dấu riêng theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước.Chi nhánh chịu sự chịu chỉ đạo , quản lý trực tiếp của Tổng giám đốc.Các bộ phận nghiệp vụ của Chi nhánh chịu
sự chỉ đạo hang dạo và hướng dẫn nghiệp vụ của các phòng,ban tại Hội sở Mỗi chi nhánh trực thuộc là một trung tâm lợi nhuận của VPbank, thuộc mạng lưới thực hiện các sản phẩm dịch vụ của VPbank tại địa phương, chủ động hoạch định kế hoạch kinh doanh và phát triển khách hang, tạo lợi nhuận choVPbank
Các phòng giao dịch có chức năng : huy động tiền gửi của các tổ chức và cá
nhân, thu hút tiền gửi trong dân cư, thực hiện cho vay và thực hiện một số các nghiệp vụ như; chuyển tiền nhanh, mua ngoại tệ kinh doanh, chiết khấu công trái, thanh toán Vía và séc du lịch
1 1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong một số năm gần đây.
Trang 9 Về hoạt động huy động vốn.
Năm 2008 là một năm cực kỳ khó khăn đối với hoạt động tín dụng, và huy động vốn do các ngân hàng thương mại đua nhau nâng mức lãi suất huy động làm cho vốn huy động của các ngân hàng thường xuyên biến động.Năm 2007 thị trường vốn cũng có sự cạnh tranh gay gắt, nhiều ngân hàng mới thành lập, mạng lưới các chi nhánh củ các NHTM liên tục được mở rộng, tuy nhiên bằng các biện pháp hữu hiệu như : thường xuyên theo dõi và điều chỉnh kịp thời lãi suất huy động để đảm bảo tính cạnh tranh, thực hiện các chương trình khuyến mại với các phần quà và giải thưởng hấp dẫn dành cho khách hàng gửi tiền…VPBank đã duy trì được tốc độ tăng trưởng nguồn vốn cao
Tính đến 31/12/2008, tổng số dư huy động vốn của VPBank là 15.853 tỷ đồng, tăng 498 tỷ đồng so với cuối năm 2007 (tương đương tăng 3%), và chỉ đạt 66% so với kế hoạch Năm 2007, tổng số dư huy động vốn của Vpbank là 15.448 tỷ đồng đạt 113% kế hoạch cả năm 2007 và tăng 6.393 tỷ đồng so với năm 2006 ( tương đương tăng 70%).Trong đó nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư ( thị trường I) đạt 12.764 tỷ đồng, tăng 128% so với cuối năm 2006.Nguồn vốn liên ngân hàng ( thị trương II) cuối năm 2007 là 2.439 tỷ đồng, giảm 947 tỷ đồng so với cuối năm 2006
Bảng1.2 Tình hình huy động vốn năm 2006-2008 của Vpbank.
Trang 10Biểu đồ 1: huy động vốn Vpbank 2006-2008
( Nguồn :Báo cáo thường niên ngân hàng)
Có thể thấy được tổng nguồn vốn huy động tăng nhanh trong năm 2007 và
2006 nhưng lại có sự chững lại trong năm 2008 cả về giá trị tuyệt đối và tương đối.Tổng nguồn vốn huy động năm 2008 là 15.853 tỷ đồng, tăng 498 tỷ đồng so với
Trang 11cuối năm 2007 (tương đương tăng 3%), năm 2007 tăng 6.393 tỷ đồng ( tăng 70.6%).Nguồn vốn huy động từ 2 thị trường I và II cũng thay đổi qua các năm.Tỷ trọng nguồn vốn huy động trên thì trường I so với tổng nguồn vốn có xu hướng tăng qua các năm tương ứng ; năm 2006 là 62.6%, năm 2007 là 82.6%, năm 2008 là 90.8%.Nhìn chung đây là xu hướng tích cực bởi vì nguồn vốn huy động trên thị trường I có chi phí thấp hơn làm giảm chi phí vốn bình quân.
Nguyên nhân chủ yếu là do trong năm 2008 thị trường tài chình trong nước và trên thể giới có những biến động mạnh do cuộc khủng hoảng tài chính,lãi suất huy động vào cuối năm 2008 giảm xuống nhanh chóng làm cho nhu cầu về gửi tiền của người dân giảm sút.Năm 2007 ngân hàng mở rộng mạng lưới chi nhánh hoạt động
và tăng lãi suất huy động tiền gửi nên mức huy động tiền gửi có sự tăng trưởng mạnh mẽ.Bên cạnh đó ngân hàng đã không ngừng chú trọng các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ nhằm nâng cao uy tín với khách hàng, duy trì mối quan hệ tốt trên thì trường liên ngân hàng , nghiên cứu phát triển các sản phẩm, dịch vụ bán lẻ đáp ứng nhu cầu càng đa dạng của khách hàng…
2007 đạt 13.323 tỷ đồng, tăng 8.317 tỷ so với năm 2006 và vượt 53% so với kế hoạch cả năm 2007, trong đó dư nợ cho vay bằng VND đạt 12.726 tỷ đồng chiếm 95% tổng dư nợ.Dư nợ ngắn hạn đạt 6.959 tỷ đồng, chiếm 52% tổng dư nợ.Hầu hết
Trang 12các chi nhánh trên toàn hệ thống đều thực hiện đạt và vượt kế hoạch đề ra về dư nợ tín dụng.
Bảng 1.3.Cơ cấu dư nợ tín dụng 2006-2008
( Nguồn : Báo cáo thường niên ngân hàng )
Cơ cấu dư nợ của ngân hàng luôn đảm bảo được sự ổn định trong các năm.Trong năm 2006 tỷ lệ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ là 49.7%, năm 2007 là 52.2987%.Đây là một tỷ lệ hợp lý nhằm hạn chế về rủi ro lãi suất trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là trong thời gian qua khi có sự biến động rất lớn của lãi suất huy động các ngân hàng
Biểu đồ 2 : Dư nợ tín dụng VPBank giai đoạn 2006-2008
( Nguồn : Báo cáo thường niên )
Trang 13Về chất lượng tín dụng : Do ảnh hưởng chung từ cuộc khủng hoảng cũng như
những biến động của nền kinh tế, các khách hàng của VPBank cũng gặp nhiều khó khăn nên tỷ lệ nợ xấu tăng cao Nợ xấu tăng từ mức 0.49% năm 2007 lên 3.41% vào cuối năm 2008 ( tỷ lệ nợ xấu trung bình của ngành là 3.5%) Đây là một tỷ lệ khá cao, tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục giảm tốc độ tăng trưởng và thị trường bất động sản chưa tan băng thì điều này là không thể tránh khỏi
1.2.Khái quát công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
1.2.1 Đặc điểm các dự án thẩm định và yêu cầu của thẩm định dự án tại Ngân hàng VPBank.
Với mục tiêu xây dựng Ngân hàng trở thành một ngân hàng bán lẻ hàng đầu ở
khu vực phía Bắc và tiến tới là ngân hàng thuộc nhóm dẫn đầu trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần trong cả nước theo định hướng chiến lược đã đặt ra nên đối tượng tập trung chủ yếu của ngân hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ gia đình và các cá nhân Hoạt động cho vay của ngân hàng liên quan đến một số lượng rất động các khách hàng.Mỗi khách hàng thường vay một số tiền nhỏ.Vì vậy muốn có được một mức dư nợ lớn thì ngân hàng phải thực hiện một
số lượng lớn các hợp đồng cho vay
Với đặc điểm khách hàng vay vốn như trên thì hầu hết các dự án vay vốn được thẩm định chủ yếu là các dự án nhỏ có mức vốn vay không lớn Các dự án được lập
Trang 14thường không chi tiết và không theo một chuẩn mực nhất định do các doanh nghiệp này thường không có các chuyên gia về lĩnh vực lập dư án.Bên cạnh đó các dự án này có độ rủi ro cao bởi vì thường các doanh nghiệp có dự án vay vốn thường là các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường chưa có nhiều kinh nghiệm kinh doanh.Vì vậy trước khi cho vay vốn ngân hàng thường yêu cầu phải có vốn tự có đầu tư tham gia vào dự án.Cụ thể :
- Đối với các dự án cải tiến mở rộng sản xuất, hợp lý hoá sản xuất phải có vốn tự
có tối thiểu tham gia dự án bằng 10% tổng mức vốn đầu tư của dự án mở rộng
- Đối với dự án đầu tư mới, khách hàng phải có vốn tham gia tôi thiểu bằng 30% tổng mức vốn đầu tư cho dự án mới
Khi mà số lượng dự án vay vốn lớn thì yêu cầu về một cơ chế kiểm soát an toàn và hiệu quả đối với việc ra quyết định cho vay là hết sức cần thiết.Trong trường hợp này yêu cầu ngân hàng phải tiến hành thẩm định một cách chính xác và nhanh nhạy để ra quyết định tín dụng.Yêu cầu cán bộ thẩm định phải nhạy bén trong phân tích để việc thẩm định được chính xác, hợp lệ, kịp thời và khách quan
1.2.2.Đặc điểm dự án ngành cơ khí và yêu cầu thẩm định.
Trong mấy năm gần đây, ngành cơ khí Việt Nam có mức tăng trưởng cao, bình quân 40.7%/năm.Trong những năm tới dự báo ngành cơ khí sẽ tiếp tục giữ vững mức tăng trưởng vì đang có điều kiện và cơ hội mở ra.Ngành cơ khí đến năm 2010
có thể đáp ứng tối thiểu 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí trong nước và xuất khẩu 30% giá trị sản lượng, doanh số ngành cơ khí có thể đạt bình quân 3.5-4 tỷ USD/năm Chương trình cơ khí trọng điểm tập trung vào các chuyên ngành cơ khí lớn như máy động lực, máy kéo và máy nông nghiệp, máy công cụ, thiết bị toàn bộ,
cơ khí xây dựng, cơ khí tàu thuỷ, cơ khí ôtô và cơ khí giao thông vận tải, thiết bị điện…
Thực tế hiện nay ngành cơ khí đang có sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế, trong đó nhiều doanh nghiệp tư nhân nổi lên trở thành các nhân tố tích cực Nhiều doanh nghiệp đang quan tâm đầu tư các dự án sản xuất các thiết bị cơ khí tiêu dùng nhằm đáp ứng được nhu cầu cơ bản về các sản phẩm cơ khí
Trang 15Đặc điểm dễ thấy của các dự án cơ khí là có độ phức tạp cao hay sản phẩm siêu trường, siêu trọng, đòi hỏi phải đầu tư dây chuyền thiết bị và công nghệ hiện đại, vốn đầu tư lớn,dự án có thời gian thu hồi vốn dài, tỷ suất lợi nhuận không cao nên cần có các chính sách hỗ trợ đặc biệt.Một thực tế hiện tại là ngành cơ khí chưa
có dự án đầu tư then chốt, nhiều dự án chưa khả thi; các dự án phát triển cụ thể từng chuyên ngành và từng nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm còn chậm, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành trong việc đề xuất cơ chế, chính sách đủ mạnh nhằm hỗ trợ phát triển sản phẩm cơ khí trọng điểm
Với những đặc điểm trên thì yêu cầu công tác thẩm định dự án tại ngân hàng đối với những dự án ngành cơ khí cũng có những đặc thù riêng
- Phải có những cán bộ thẩm định kỹ thuật chuyên sâu để đánh giá tính khả thi về phương diện kỹ thuật của dự án
- Đây là một lĩnh vực mới, độ rủi ro của các dự án là tương đối cao.Vì vậy khi đi sâu vào thẩm định, cán bộ thầm định phải dự tính được các rủi ro trong tương lai để có biện pháp phòng ngừa và hạn chế
- Chi phí cho chuyển giao công nghệ, chi phí đào tạo cho các dự án lớn vì vậy khi thẩm định cán bộ tín dụng phải ước lượng chính xác khoản chi phí này
- Các dự án này thường có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài vì vậy độ rủi
ro rất cao.Do đó cần phải dự tính được các yếu tố rủi ro tác động đối vơi dự án
- Tỷ suất lợi nhuận của các dự án này là không cao.Vì vậy vấn đề xác định tỷ suất chiết khấu chính xác là hết sức quan trọng, nếu không có thể ngân hàng sẽ
bỏ qua dự án tốt
1.2.3 Quy trình thẩm định dự án.
Quy trình thẩm định dự án là phần cơ bản trong quy trình nghiệp vụ tín dụng được ban hành riêng trong ngân hàng,trong đó xác định rõ từng bước cụ thể trong trình tự tiến hành thẩm định dự án.Việc tiến hành thẩm định có vai trò cực kỳ quan trọng, một mặt nó cung cấp thông tin cho ngân hàng có thể quyết định cho vay hay
từ chối cho vay.Mặt khác nó giúp ngân hàng phân tích, tiên lượng và quản lý rủi ro tín dụng sau khi cho vay
Trang 16Cụ thể các bước của quy trình thẩm định một dự án tại NH VPBank như sau :
* Quy trình thẩm định dự án :
*Bước 1 : Tiếp xúc với khách hàng và hướng dẫn lập hồ sơ.
Khách hàng khi có nhu cầu vay vốn để tài trợ cho dự án sẽ nộp vào ngân hàng
dự án đầu tư và các giấy tờ cần thiết khác quy định trong hồ sơ vay vốn.Cán bộ tín
dụng sẽ tiếp xúc với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn và hướng dẫn khách hàng lập
hồ sơ vay vốn.Nhân viên tín dụng chỉ hướng dẫn khách hàng chứ không được làm
hồ sơ thay khách hàng, đặc biệt nghiêm cấm việc tư vấn hoặc phối hợp với khách
hàng nguỵ tạo số liệu nhằm có đủ điều kiện vay vốn
* Bước 2 : Tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ.
Cán bộ tín dụng sẽ tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra toàn bộ hồ sơ vay vốn, nếu hồ
sơ chưa đầy đủ về số lượng, tính hợp lệ hoặc không đúng yêu cầu của ngân hàng về
nội dung cần phải yêu cầu khách hàng bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ.Hồ sơ thẩm
định( đề nghị thẩm định ) báo cáo tiền khả thi và báo cáo khả thi được coi là hợp lý
khi được chủ đầu tư thụ lý theo yêu cầu thông tư số 06/1999/TT-BKH-ĐT hướng
dẫn về nội dung, tổng mức đầu tư, hồ sơ thẩm định dự án đầu tư, báo cáo đầu tư
hồ sơ
Kiểm tra tính hợp lệ
và đầy
đủ của
hồ sơ
Tiến hành thẩm định
Lập báo cáo kết quả thẩm định
Hội đồng tín dụng hoặc ban tín dụng ra quyết định cho vay
Trang 17từ đồng nghiệp và các nguồn khác để đảm bảo kết quả thẩm định có độ tin cậy cao Phòng thẩm định tài sản đảm bảo có trách nhiệm thực hiện và đánh giá tài sản thế chấp cầm cố bao gồm đánh giá tính pháp lý ,quyền sở hữu, đánh giá hiện trạng của tài sản và đánh giá giá trị của tài sản.Sau đó lập biên bản định giá tài sản thế chấp, cầm cố.
*Bước 4 :Tập hợp hồ sơ thẩm định và trình người có thẩm quyền.
Cán bộ tín dụng sẽ tập hợp toàn bộ các tờ trình và hồ sơ thẩm định của các bộ phận liên quan để gửi cho Ban tín dụng hoặc Hội đồng tín dụng thông qua.Ban tín dụng hoặc hội đồng tín dụng sẽ xem xét lại hồ sơ, ý kiến của cán bộ thẩm định từ
đó quyết định có cho dự án vay vốn hay không.Sau khi Ban tín dụng, Hội đòng tín dụng đã có quyết định, nhân viên tín dụng sẽ soạn thông báo gửi đến khách hàng.Nội dung thông báo cần nêu rõ ; nếu từ chối cho vay thì cần kèm theo lý do, nếu đồng ý cho vay thì cần nêu rõ số tiền cho vay, loại tiền cho vay, thời hạn vay, thời gian ân hạn( nếu có), lịch trả gốc và lãi, các điều kiện bổ xung(nếu có), các công việc cần hoàn tất trước khi giải ngân
1.2.4 Nội dung thẩm định dự án tại ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Trang 181.2.4.1.Thẩm định hồ sơ vay vốn.
Hồ sơ vay vốn của khách hàng phải đảm bảo tính đầy đủ và hợp lệ theo quy định của ngân hàng bao gồm :
* Hồ sơ chứng minh tư cách pháp lý của khách hàng:
Đối với khách hàng là doanh nghiệp trong nước :
- Quyết định hoặc giấy phép thành lập
- Các Tổng Cty 91 phải có quyết định thành lập của Thủ tướng chính phủ ký
- Các Tổng Cty 90 phải có quyết định thành lập do Bộ trưởng quản lý ngành ký
- Các doanh nghịêp thuộc tỉnh – thành phố trực thuộc TW do UBND tỉnh- thành phố trực thuộc TW ký quyết định thành lập
- Hợp tác xã phải có biên bản hội nghị thành lập HTX
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở kế hoạch đầu tư nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính cấp, đối với HTX thì đăng ký kinh doanh do UBND quận huyện cấp, trừ trường hợp kinh doanh trong các ngành nghề theo quy định riêng của Chính phủ thì do UBND tỉnh- thành phố trực thuộc
TW cấp
- Điều lệ : Điều lệ của doanh nghiệp phải được cấp có thẩm quyền quyết định thành lập xác nhận, đối với điều lệ HTX phải được UBND quận huyện xác nhận
- Quyết định bổ nhiệm giám đốc (tổng giám đốc), kế toán trưởng
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài :
- Hợp đồng liên doanh được ký đúng quy định của pháp luật
- Điều lệ : đã được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư
- Giấy phép đầu tư
- Danh sách HĐQT và Tổng giám đốc có xác nhận của của Bộ hoặc Sở KHĐT
Trang 19- Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các bên liên doanh
và của nhà đầu tư nước ngoài
Khi tiến hành thẩm định tư cách pháp lý của khách hàng thì cán bộ thẩm định cần phải chú ý đối với giấy tờ có thời hạn thì cần phải kiểm tra đối chiếu với thời điểm hiện tại và thời gian tín dụng xem có phù hợp với thời hạn còn lại của giấy tờ
đó hay không.Nếu là khách hàng cũ cần kiểm tra các yếu tố có thể thay đổi như : ngành nghề hoạt động, vốn điều lệ, người đại diện…và yêu cầu bổ xung các hồ sơ hợp pháp về các thay đổi đó
* Hồ sơ về việc sử dụng vốn vay
- Giấy đề nghị vay vốn theo mẫu của ngân hàng
- Dự án đầu tư hay luận chứng kinh tế kỹ thuật có liên quan đến việc sử dụng vốn vay
- Các hợp đồng kinh tế chứng minh việc mua bán nguyên vật liệu, hàng hoá máy móc thiết bị…hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá hoặc các hợp đồng khác nhằm thực hiện dự án đầu tư đó
- Các tài liệu thẩm định về kinh tế, kỹ thuật của dự án
- Đối với việc vay vốn thực hiện dự án đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước cần có các quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền
- Đối với khách hàng là công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty liên doanh cần
có văn bản của hội đồng quản trị hoặc những sáng lập viên về việc chấp thuận vay vốn ngân hàng để thực hiện dự án đầu tư
* Tài liệu về tình hình kinh doanh và khả năng tài chính :
Năng lực tài chính thể hiện khả năng nguồn vốn tự có, điều kiện thế chấp khi vay vốn…Đây là nội dung đầu tiên được xem xét khi thẩm định dự án.Nếu coi nhẹ hoặc bỏ qua nội dung này sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện dự án.Dự án có thể phải ngừng hoạt động do chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính và năng lực kinh doanh
Thông thường khi tiến hành thẩm định tình hình kinh doanh và khả năng tài chính của doanh nghiệp thì cán bộ tín dụng tại ngân hàng cần phải dựa vào các báo
Trang 20cáo tài chính do khách hàng cung cấp và kết hợp với các thông tin từ hệ thống CIC
và từ các nguồn thông tin khác.Cán bộ thẩm định phải tiến hành kiểm tra tính hợp
lệ, hợp pháp của hồ sơ tài chính.Các số liệu trong bảng cân đối kế toán phải bảo đảm tính cân bằng và phù hợp trong quan hệ với các báo cáo tài chính khác Thông thường khách hàng phải nộp báo cáo tài chính trong 2 năm gần đây nhất và các quý của năm xin vay gồm : bảng tổng kết tài sản, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính và các báo cáo chi tiết về tình hình công nợ…Trên cơ sở báo cáo tài chính thì cán bộ tín dụng có thể đánh giá khái quát về tình hình tài chính của khách hàng trên các nội dung : nguồn vốn chủ
sở hữu, kết quả sản xuất kinh doanh các năm trước, quý trước, nhận xét nguyên nhân lỗ, lãi ; tình hình công nợ, tình hình thanh toán với người mua, người bán…
* Hồ sơ đảm bảo tín dụng
Hồ sơ về tài sản đảm bảo tín dụng bao gồm giấy tờ của chủ sở hữu/sử dụng tài sản và giấy tờ của tài sản.Các tài sản đảm bảo tiền vay gồm các loại tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp của khách hàng, hoặc bên thứ ba đồng ý bảo lãnh cho khách hàng vay vốn tại VPBank
Cụ thể :
- Nếu khách hàng có đảm bảo tín dụng bằng tài sản cầm cố, cần phải có các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của bên vay hoặc bên bảo lãnh với tài sản
- Nếu khách hàng có đảm bảo tín dụng bằng giá trị các khoản đầu tư xây dựng các công trình thuộc vốn nhà nước hoặc vốn đầu tư nước ngoài chưa thanh toán phải có quy định cụ thể trong hợp đồng giao thầu giữa bên thi công và bên thanh toán vốn tại điều khoản thanh toán, xác định tiền thanh toán được chuyển vào tài khoản của bên thi công- bên vay tại Vpbank
- Trường hợp bên thế chấp cầm cố tài sản là công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty liên doanh phải có văn bản chấp thuận của hội đồng quản trị hoặc các sáng lập viên nhất trí cho giám đốc ( hoặc người đại diện hợp pháp) của doanh nghiệp được mang tài sản để cầm cố, thế chấp tại ngân hàng
Trang 21* Các hồ sơ tài liệu khác nếu cán bộ tín dụng thấy cần thiết và liên quan.
Một số tài liệu khác có thể liên quan đến việc giải quyết cho vay của ngân hàng như : hợp đồng thuê kho, thuê văn phòng, hợp đồng tín với các ngân hàng khác ( nếu có)…Các tài liệu này giúp cho ngân hàng thêm căn cứ để ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng, đồng thời cũng giúp cho ngân hàng dễ dàng trong việc kiểm tra giám sát khách hàng trong quá trình cho vay
* Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
- Xuất xứ hình thành doanh nghịêp
- Các bước ngoặt lớn đã trải qua : thay đổi quy mô, công nghệ, loại sản phẩm, bộ máy điều hành…
- Những khó khăn, thuận lợi, lợi thế, bất lợi của doanh nghiệp
- Uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
* Tư cách của chủ sở hữu và lãnh đạo doanh nghiệp.
- Thẩm định về lịch sử bản thân, hoàn cảnh gia đình
- Trình độ học vấn, chuyên môn, quản lý và hiểu biết pháp luật
- Những kinh nghiệm công tác đã trải qua, những thành công, thất bại trên thương trường
- Uy tín trên thương trường với các bạn hàng đối tác
- Nhận thức và trách nhiệm của người vay vốn, tính hợp tác với nhân viên tín dụng
để hoàn thiện các thủ tục vay vốn để đảm bảo điều kiện vay theo quy định của NHNN và VPBank
Trang 22Khi tiến hành thẩm định tư cách của chủ sở hữu cán bộ thẩm định cần lưu ý : Đối với các DNNN, việc thẩm định các yếu tố trên dựa trên cơ sở nguồn thông tin
có thể thu thập được ở mức độ cố gắng nhất Đối với các doanh nghiệp thuộc khối ngoài quốc doanh, các yếu tố cần thẩm định nêu trên đối với chủ doanh nghiệp( giám đốc, chủ tịch HĐQT, chủ thực sự của doanh nghiệp) là bắt buộc, nhân viên thẩm định phải bằng mọi cách thu thập thông tin để thể hiện trong tờ trình nhất
là trong trường hợp khách hàng quan hệ thường xuyên hoặc áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức
* Thẩm định uy tín của khách hàng trên thị trường
Để thực hiện được điều này thì cán bộ thẩm định phải làm rõ được các vấn đề: Khách hàng của doanh nghiệp là công ty nào? Nước nào? Mối quan hệ làm ăn có bền vững không? Mặt hàng của doanh nghiệp chiếm thị phần được bao nhiêu so với các doanh nghiệp cùng ngành nghề? Việc sản xuất kinh doanh có ổn định không?
* Thẩm định về thực lực tài chính của khách hàng.
Để tiến hành thẩm định khả năng tài chính của khách hàng thì nhân viên thẩm định cần phải dựa vào báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp và kết hợp với các thông tin từ các nguồn khác Nội dung thẩm định bao gồm:
- Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ tài chính :.Các số liệu trong bảng cân đối kế toán phải đảm bảo tính cân bằng và phù hợp trong quan hệ với các báo cáo tài chính khác
- Phân tích thực lực tài chính : trong phần này cán bộ thẩm định có thể dùng một số phương pháp để phân tích thực lực tài chính của khách hàng như; phương pháp so sánh tương đối và tuyệt đối để đánh giá từng phần và toàn diện về khả năng tài chính của khách hàng
- Đánh giá khái quát tình hình tài chính và phân tích các hệ số tài chính :trong phần này phải đi sâu phân tích một số nội dung; nguồn vốn chủ sở hữu, kết quả sản xuất kinh doanh các năm trước,quý trước, những khoản phải thu từ người mua, phải trả đối với người bán để xác định phần đi chiếm dụng và bị chiếm dụng, khả năng giải quyết để đánh giá về thực lực tài chính của khách
Trang 23hàng Tình hình công nợ và tình hình thanh toán với người mua người bán, với ngân sách, chú ý đến thuế thu nhập doanh nghiệp.Sau đó đi phân tích các hệ số tài chính của khách hàng và so sánh với các định mức tiêu chuẩn.Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng kinh doanh, tính hợp lý của nhu cầu vay vốn và khả năng hoàn trả của khách hàng.
Nội dung khi thẩm định dự án bao gồm :
- Thẩm định khía cạnh thị trường của dự án
- Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án
- Thẩm định khía cạnh tổ chức quản lý,thực hiện dự án
- Thẩm định khía cạnh tài chính dự án
- Thẩm định về các chỉ tiêu kinh tế- xã hội dự án
- Thẩm định khía cạnh rủi ro của dự án
- Thẩm định các biện pháp bảo đảm tiền vay
1.2.4.3.1 Thẩm định khía cạnh thị trường của dự án
Thị trường có vai trò hết sức quan trọng và ý nghĩa, quyết định sự thành bại của một dự án.Do vậy thẩm định khía cạnh thị trường là một nội dung không thể
Trang 24thiếu để đánh giá tính khả thi của một dự án.Tuỳ thuộc vào lượng thông tin và mức
độ chính xác của thông tin thu thập được mà cán bộ thẩm định tiến hành đánh giá
về thị trường của sản phẩm trên một số nội dung sau:
Xem xét tính đầy đủ, chính xác trong từng nội dung phân tích cung cầu
thị trường về sản phẩm của dự án.
Trong nội dung này cán bộ thẩm định phải khái quát được về mức độ thoả
mãn cung cầu thị trường tổng thể về sản phẩm của dự án, kiểm tra tính hợp lý trong
việc xác định thị trường mục tiêu của dự án, đánh giá sản phẩm của dự án, xem xét
khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường về sản phẩm của dự án, đánh giá các
phương án tiếp thị, quảng bá sản phẩm, phương thức tiêu thụ sản phẩm và mạng
lưới phân phối sản phẩm…
Để có thể khái quát được về mức độ thoả mãn cung cầu về sản phẩm của dự
án thì trước tiên cán bộ thẩm định phải phân tích được tình hình cung- cầu hiện tại
Để xác định được mức tiêu thụ của thị trường tổng thể thì cán bộ thẩm định phải
nắm bắt được những dữ liệu sau : tổng sản phẩm sản xuất trong nước tính theo công
suất thực tế các nhà máy hiện đang hoạt động, tổng lượng nhập khẩu, tổng lượng
xuất khẩu, lượng tồn kho từng kỳ hoặc từng năm Các thông tin này có thể tìm thấy
được từ Bộ thương mại, tổng cục thống kê, các phương tiện thông tin đại chúng, các
cơ quan chuyên ngành…Trên cơ sở đó có thể định lượng được mức độ tiêu thụ của
thị trường tổng thể thông qua công thức sau:
Tổng
mức
tiêu thụ
Tổng lượng tồn kho đầu kỳ
Tổng sản phẩm
SX trong kỳ
Tổng lượng nhập khẩu
Tổng lượng xuất khẩu
Tổng lượng tồn kho cuối kỳ
Trang 25Bên cạnh việc nghiên cứu lượng cầu hiện tại, cần phải xác định tổng khối lượng cung ứng hiện tại và số lượng sản phẩm cung ứng từ các nguồn.Vì việc nghiên cứu tổng khối lượng cung ứng hiện tại và số lượng sản phẩm từ các nguồn cung ứng cho biết hiện tại cầu đã được đáp ứng như thế nào, bên cạnh đó còn tìm ra các khoảng trống thị trường và để làm căn cứ, cơ sở cho việc nghiên cứu, dự báo tổng khối lượng và nguồn cung ứng các sản phẩm của dự án trong tương lai Để làm được điều này thì cán bộ thẩm định phải đánh giá được hiện có bao nhiêu cơ sở đã
và đang sản xuất loại sản phẩm của dự án với công suất và sản lượng thực tế là bao nhiêu?, khả năng mở rộng sản xuất của các cơ sở hiện tại và các cơ sở khác, các dự
án sản xuất sản phẩm cùng loại/ sản phẩm thay thế đang và sẽ được triển khai, nguồn nhập khẩu dự kiến hàng năm…
Khi đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án cần lưu ý: Sản phẩm của
dự án sản xuất có ưu thế nào về giá cả, chất lượng, quy cách, điều kiện lưu thông và tiêu thụ.Kinh nghiệm và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ thị trường về sản phẩm.Bên cạnh đó cán bộ cũng cần đánh giá thị trường mục tiêu của dự án nhằm để chiếm lĩnh thị trường nội địa, thay thế hàng nhập khẩu hay xuất khẩu ra thị trường quốc tế
Đối với sản phẩm xuất khẩu cần phải phân tích thêm :
- Sản phẩm có khả năng đạt được các yêu cầu về tiêu chuẩn xuất khẩu hay không
- Phải đánh giá đúng tương quan giữa hàng xuất khẩu và hàng ngoại về chất lượng, hình thức bao bì
- Xem xét thị trường dự kiến xuất khẩu có bị hạn chế bởi hạn ngạch không
- Đánh giá tiềm năng xuất khẩu sản phẩm của dự án
- Cán bộ thẩm định cần phải hết sức tránh so sánh đơn giản, thiếu cơ sở dẫn đến quá lạc quan về ưu thế sản phẩm xuất khẩu
- Đối với sản phẩm thay thế nhập khẩu, ngoài việc so sánh giá (giá trong nước phải nhỏ hơn giá CIF của sản phẩm nhập khẩu cộng thuế nhập khẩu) còn phải tính đến tâm lý người tiêu dùng
Trang 26Nội dung của phần thẩm định khía cạnh thị trường đóng vai trò quyết định đến tính hiệu quả của dự án đầu tư, chỉ khi đảm bảo khả thi về mục tiêu dự án mới thẩm định tiếp các nội dung thẩm định khác.
1.2.4.3.2 Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án
Thẩm định phương diện kỹ thuật là công việc phức tạp đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có những kiến thức nhất định về khía cạnh kỹ thuật của dự án Đây là nội dung hết sức quan trọng vì thông qua việc thẩm định kỹ thuật có thể giúp cán bộ thẩm định kiểm tra được tính xác thực của các chi phí, chất lượng, tính khả thi của
dự án.Nội dung thẩm định trong phần này gồm :
Đánh giá công suất của dự án, mức độ phù hợp của công nghệ, thiết bị mà
dự án lựa chọn.
- Nhân viên thẩm định phải xem xét các yếu tố cơ bản để lựa chọn công suất thiết kế và mức sản xuất dự kiến hàng năm của dự án, đánh giá mức độ chính xác của công suất lựa chọn.Việc thẩm định phải làm rõ được ưu điểm và những hạn chế của công nghệ lựa chọn.Cần chú ý đến nguồn gốc, mức độ hiện đại, sự phù hợp của công nghệ với sản phẩm của dự án cũng như những đặc điểm của nước ta.Xem xét phương án chuyển giao kỹ thuật công nghệ, chuyên gia hướng dẫn vận hành, huấn luyện viên và chế độ bảo hành, bảo trì thiết bị
- Kiểm tra tính đồng bộ với công suất của các thiết bị, các công đoạn sản xuất với nhau, mức độ tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, tuổi thọ, yêu cầu sửa chữa, bảo dưỡng…Kiểm tra tính hợp lý của giá cả và phương thức thanh toán, thời gian giao hàng và lắp đặt có phù hợp với tiến độ thực hiện dự án không, uy tín của các nhà cung cấp Đối với các loại thiết bị nhập khẩu, ngoài việc kiểm tra theo các nội dung trên cần phải kiểm tra thêm về các mặt như : các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu có đúng với luật và thông lệ ngoại thương hay không? Tính pháp lý về trách nhiệm của các bên như thế nào?
Thẩm định về nguồn cung cấp đầu vào.
Trang 27- Xem xét nguồn cung cấp nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho dự án: xem xét khối lượng khai thác có thoả mãn công xuất dự án hay không.Chú ý đến tính thời vụ của nguyên liệu cung cấp, chính sách nhập khẩu nguyên vật liệu.
- Giá cả, quy luật biến động của giá cả nguyên vật liệu, yêu cầu và khả năng đáp ứng về chất lượng nguyên vật liệu, yêu cầu về dự trữ nguyên vật liệu…
- Nguồn cung cấp điện nước, nhiên liệu : xem xét nhu cầu sử dụng điện, nước, nhiên liệu của dự án.Các giải pháp về nguồn cung cấp điện, nước, nhiên liệu
để đảm bảo cho sự hoạt động của dự án với công suất đã định
Đánh giá địa điểm và mặt bằng xây dựng dự án và các giải pháp xây dựng
Các dự án đầu tư mới, mở rộng quy mô sản xuất lớn cần phải có các phương
án về địa điểm để xem xét lựa chọn.Căn cứ vào yêu cầu công nghệ, các định mức, tiêu chuẩn xây dựng của loại dự án, nhu cầu xây dựng các hạng mục công trình chính, phụ trợ, hạ tầng kỹ thuật được xác định để đánh giá các giải pháp xây dựng
- Đánh giá sự phù hợp về quy hoạch của địa điểm: địa điểm xây dựng phải tuân thủ các quy định về quy hoạch xây dựng và kiến trúc của địa phương và các quy quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về phòng cháy, chữa cháy, quản lý di tích lịch sử
- Tính kinh tế của địa điểm : Tận dụng được các cơ sở kỹ thuật hạ tầng sẵn có trong vùng, gần nguồn cung cấp nguyên vật liệu chủ yếu, nơi tiêu thụ sản phẩm
- Phân tích đánh giá các giải pháp về mặt bằng, giải pháp kiến trúc,giải pháp kết cấu, giải pháp về công nghệ và tổ chức xây dựng
Nói chung việc xem xét địa điểm và đánh giá các giải pháp xây dựng của các loại dự án có nhiều nội dung khác nhau.Tuỳ theo tính chất, quy mô của dự án các vấn đề nêu trên cần được chọn lọc để đi xâu xem xét
1.2.4.3.3.Thẩm định khía cạnh tài chính
Trong nội dung này cán bộ thẩm định sẽ tiến hành rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án.Trên cơ sở đó giúp cho ngân hàng có những thông tin cần thiết để đưa ra quyết định cho vay.Dự án chỉ có
Trang 28khả năng tài trả nợ khi nó phải được đánh giá là khả thi về mặt tài chính.Tức là dự
án đó phải đạt được hiệu quả tài chính và có độ an toàn cao về mặt tài chính.Thẩm định tài chính dự án bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt chẽ với nhau.Những nội dung chủ yếu được ngân hàng chú trọng:
- Xác định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ của dự án
- Xác định chi phí và lợi ích của dự án
- Dự tính lãi suất triết khấu
- Xác định các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính dự án
- Đánh giá rủi ro trong dự án
Thẩm định tổng mức vốn đầu tư và các nguồn tài trợ của dự án.
Vốn đầu tư là tổng số tiền được chi tiêu để hình thành nên các tài sản cố định
và tài sản lưu động cần thiết.Những tài sản này sẽ được sử dụng trong việc tạo ra doanh thu, chi phí, thu nhập suốt vòng đời hữu ích của dự án.Trong nội dung này cán bộ thẩm định sẽ tiến hành thẩm định mức độ hợp lý của tổng vốn đầu tư và các phần cấu thành nên tổng vốn đầu tư:
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản : trên cơ sở kinh nghiệm từ các dự án tương tự
đã triển khai cán bộ thẩm định sẽ tiến hành kiểm tra nhu cầu vốn xây dựng các hạng mục công trình, mức độ hợp lý của đơn giá xây dựng
- Vốn đầu tư thiết bị : tiến hành kiểm tra giá mua, chi phí vận chuyển, bảo quản, lắp đặt, chi phí chuyển giao công nghệ nếu có
- Xem xét nhu cầu vốn lưu động ban đầu(đối với dự án đầu tư mới ) hoặc nhu cầu vốn lưu động bổ xung (đối với dự án mở rộng bổ xung thiết bị) để dự án sau khi hoàn thành có thể hoạt động bình thường
- Chi phí quản lý, chi phí lãi vay và các khoản chi phí khác : đối với các khoản mục chi phí này cần chú ý kiểm tra tính đầy đủ của các khoản mục, xem xét chi phí trả lãi vay ngân hàng trong thời gian thi công
Trong quá trình thẩm định nếu cán bộ thẩm định thấy có sự khác biệt quá lớn ở từng nội dung thì cần tiến hành tập trung phân tích, tìm hiêu nguyên nhân và đưa ra
Trang 29nhận xét.Từ đó đưa ra cơ cấu vốn hợp lý mà vẫn đảm bảo mục tiêu dự kiến ban đầu của dự án để xác định mức tối đa mà ngân hàng nên tham gia tài trợ dự án.
Việc xác định đúng đắn vốn đầu tư của dự án là rất cẩn thiết, tránh 2 khuynh hướng là tính quá cao hoặc quá thấp.Sau khi thẩm định tổng mức vốn đầu tư, cần xem xét việc phân bổ vốn đầu tư theo tiến độ thực hiện dự án đầu tư.Việc này rất cần thiết đối với các công trình có thời gian xây dựng dài
Bên cạnh đó thì cán bộ tín dụng cần phải thẩm tra các phương thức tài trợ dự án.Các phương thức tài trợ cho dự án thông thường bao gồm : tài trợ bằng vốn chủ
sở hữu, tài trợ bằng nợ, tài trợ bằng leasing và tài trợ kết hợp.Mỗi phương thức tài trợ đều có những đặc trưng riêng cũng như lợi thế và bất lợi cho các chủ đầu tư.Hơn nữa, quá trình xác định ròng tiền của và lựa chọn lãi suất chiết khấu không thể được tiến hành một cách biệt lập với phân tích bản chất của phương thức tài trợ.Hay nói cách khác, phương thức tài trợ sẽ chi phối việc xác định dòng tiền phù hợp cũng như lựa chọn lãi suất chiết khấu hợp lý để xác định NPV
Nội dung thẩm định nguồn vốn huy động cho dự án:
- Vốn tự có : Xem xét khả năng chủ đầu tư góp vốn, phương thức góp vốn và tiến độ góp vốn
- Vốn tài trợ bằng nợ : bao gồm tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vay thông qua phát hành trái phiếu
- Tài trợ bằng leasing : đây là một hình thức tài trợ dự án thông qua cho thuê các loại tài sản
- Tài trợ kết hợp : là việc kết hợp theo một tỷ lệ nào đó giữa tài trợ bằng vốn
tự có và tài trợ bằng vốn vay để hình thành vốn cho dự án
Mỗi nguồn vốn cấu thành đều có chi phí riêng của nó.Chi phí này được xác định dựa trên phân tích mối quan hệ giữa rủi ro kỳ vọng và lợi ích của tài sản tài chính.Cơ cấu vốn tài trợ cho dự án ảnh hưởng đáng kể tới việc xác định dòng tiền, lựa chọn lãi suất chiết khấu của dự án.Vì vậy cần phải xây dựng được một cơ cấu vốn tối ưu để tối đa hoá giá trị dự án của doanh nghiệp
Thẩm định chi phí, lợi ích của dự án và xác định dòng tiền
Trang 30Trên cơ sở những phân tích kỹ thuật và khía cạnh thị trường của dự án, báo cáo tài chính do khách hàng gửi đến…Cán bộ thẩm định sẽ tiến hành kiểm tra doanh thu
và chi phí của dự án thông qua việc kiểm tra các nội dung sau :
- Chi phí tiêu hao nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng…Cần xem xét tính hợp lý của các định mức sản xuất tiêu hao…Khi tiến hành xem xét đánh giá cán bộ thẩm định cần phải so sánh với các định mức và các kinh nghiệm từ các dự án đang hoạt động
- Kiểm tra chi phí nhân công : tiến hành xem xét nhu cầu lao động, số lượng lao động, chất lượng lao động, đào tạo, thu nhập lao động so với các địa phương khách
- Kiểm tra phương pháp xác định khấu hao và mức khấu hao, chi phí về lãi vay ngân hàng( lãi dài hạn và ngắn hạn) và các khoản thuế của dự án
- Kiểm tra tính hợp lý của giá bán sản phẩm, doanh thu hàng năm của dự án.Trên cơ sở đó so sánh với giá thành sản phẩm của các loại sản phẩm tương tự trên thị trường Để tính giá thành sản phẩm được chính xác thì cần phải căn cứ vào tổng mức chi phí, mức chênh lệch giá, xác định hao hụt ngoài dự kiến để tiến hành phân bổ cho số lượng thành phẩm một cách hợp lý
Sau khi tính toán các chi phí đầu vào và ước tính mức sản lượng tiêu thụ, giá bán sản phẩm.Cán bộ tín thẩm định sẽ lập bảng dự trù doanh thu, chi phí :
1 Sản lượng
2.Tổng doanh thu chưa có Vat
3 Tổng chi phí
- Chi phí nguyên, nhiên vật liệu
- Chi phí nhân công
- Chi phí quản lý và bán hàng
- Chi phí khấu hao
- Chi phí lãi vay
Trang 31- Chi phí khác
4 Thu nhập trước thuế
5 Thuế TNDN
6 Thu nhập sau thuế
Khi lấy toàn bộ khoản tiền thu được trừ đi khoản tiền chi ra thì sẽ xác định được dòng tiền của dự án tại các mốc thời gian khác nhau.Dòng tiền chính là các khoản thu và chi được kỳ vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án Đối với một dự án, việc ước lượng chính xác các dòng tiền ròng mỗi năm và lựa chọn lãi suất chiết khấu đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chính xác các chỉ tiêu tài chính phục vụ cho quá trình ra quyết định đầu tư cũng như tài trợ vốn cho dự án.Tuy nhiên dòng tiền của dự án lại chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như : cơ cấu vốn tài trợ của dự án, lợi thế của việc sử dụng nợ, rủi ro, những ưu đãi đầu tư, lãi suất được lựa chọn, phương pháp tính khấu hao…Vì vậy cán bộ thẩm định cần phải hết sức để ý tới các yếu tố này khi tiến hành thẩm định
Kiểm tra sự phù hợp của lãi suất chiết khấu
Lãi suất triết khấu được hiểu là tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền của dự án được quy về hiện tại để xác định NPV.Cơ sở để lựa chọn lãi suất chiết khấu là phân tích rủi ro và khả năng sinh lời của dự án.Hơn nữa cơ cấu vốn cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn lãi suất chiết khấu.Về bản chất lãi suất chiết khấu của một dự án chính là chi phí vốn của dự án đó.Rõ ràng nếu thực hiện dự án, nhà đầu tư sẽ bỏ qua lợi tức kỳ vọng của các dự án khác hay các tài sản tài chính khác có cùng mức rủi ro.Chính vì bỏ qua các hình thức đầu tư khác để tập trung theo đuổi một dự án, nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một mức lãi suất chiết khấu - tỷ lệ sinh lời cần thiết đối với dự án đó
Để dự tính chính xác lãi suất chiết khấu phục vụ cho việc chiết khấu các dòng tiền của dự án thì cán bộ thẩm định cần phải chú ý đến một số nguyên tắc như : mối quan hệ giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng, mối quan hệ giữa cơ cấu vốn đầu tư tài trợ cho dự án xem xét và cơ cấu vốn của doanh nghiệp, dự án đang xem xét phải đặt
Trang 32trong tương quan với các tài sản tài chính và dự án khác…Khi xác định lãi xuất chiết khấu cần phải căn cứ cơ cấu vốn đầu tư.
- Vốn đầu tư là nợ : Đối với dự án mới, nếu vốn tài trợ cho dự án hoàn toàn là
nợ thì lãi suất chiết khấu được sử dụng để chiết khấu dòng tiền của dự án có thể là chi phí nợ sau thuế = (1-T) x Kd với T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, Kd là chi phí nợ trước thuế
- Vốn đầu tư là vốn chủ sở hữu : Cán bộ thẩm định có thể vận dụng mô hình CAMP để xác định :
- Khi vốn đầu tư gồm nợ và vốn chủ sở hữu :Nếu doanh nghiệp sử dụng cả nợ
và vốn chủ sở hữu thì chi phí vốn của dự án là chi phí bình quân gia quyền
Thẩm định các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính dự án
Hầu hết các chỉ tiêu tài chính đều được tính toán dựa trên cơ sở đã xác định được dòng tiền phát sinh trong từng năm thực hiện dự án và dự tính lãi suất chiết khấu sử dụng mỗi năm.Cho dù sử dụng chỉ tiêu nào để thẩm định tài chính dự án thì nguyên tắc giá trị thời gian của tiền phải được áp dụng Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong thẩm định dự án.Trong nội dung này thì chất lượng thẩm định là yếu tố quan trọng đến việc ngân hàng quyết định tài trợ cho dự
án mà sau này khi đi vào thực hiện mang lại hiệu quả tài chính cũng như trả được
nợ ngân hàng như dự kiến.Do đó ngân hàng đạt được mục tiêu kinh doanh của mình Để đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của dự án đầu tư, ngân hàng thường
sử dụng một số chỉ tiêu sau :
- Chỉ tiêu giá trị lợi nhuận ròng của đời dự án (NPV)
Là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hoá ở mốc 0.NPV có thể mang giá trị dương, am hoặc bằng 0 Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong thẩm tài chính dự án
Cách xác định :
Trang 33NPV= n ( ) ( ) i
i
n i
r Bi
Trong đó : NPV là giá trị hiện tại ròng của cả đời dự án
Bi : là thu nhập năm thứ i
Ci : là chi phí năm thứ i
r : là tỷ lệ chiết khấu được lựa chọn
n : thời gian hoạt động của dự án
Dự án chỉ được chấp nhận nếu NPV >= 0
- Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)
IRR là mức lãi suất mà nếu sử dụng nó để quy đổi các khoản thu chi của dự án
về mặt bằng hiện tại thì các khoản thu bằng các khoản chi, hay nói cách khác thu nhập ròng của dự án bằng 0 IRR là 1 chỉ tiêu cơ bản trong phân tích tài chính, nó phản ứng mức lãi suất mà dự án có thể đạt được
NPV1
IRR = r1 + - x ( r2 – r1 )
NPV1 - NPV2
Dự án chỉ được chấp nhân khi IRR > igh ( thường là lãi suất vay ngân hàng)
- Thời gian hoàn vốn
Là thời gian cần thiết mà dự án cần hoạt động để thu hồi đủ số vốn đầu tư ban đầu.Nó chính là khoảng thời gian để hoàn trả số vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận thuần hoặc tổng lợi nhuận thuần và khấu hao thu hồi hàng năm
Số vốn đầu tư còn lại cần thu hồi
T = n +
Dòng tiền ngay sau mốc hoàn vốn
Trong đó n là năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư
Trang 34Dự án chỉ được chấp nhận chỉ khi thời gian hoàn vốn của dự án <= số năm hoạt động của dự án.
- Xác định điểm hoà vốn
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ bù đắp các khoản chi phí của dự án.Chỉ tiêu này cho biết khối lượng sản phẩm hoặc mức doanh thu thấp nhất cần phải đạt được của dự án để đảm bảo bù đắp được chi phí bỏ ra Điểm hoà vốn
có thể được biểu hiện bằng sản lượng hoà vốn hoặc doanh thu hoà vốn
+ Điểm hoà vốn sản lượng (X):
Tổng doanh thu cả đời dự án
Chỉ tiêu NI lớn hơn hoặc bằng 30% thì dự án mới được lựa chọn
Trang 35- Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư ( ROI)
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá khả năng sinh lời của 1 đồng vốn đầu tư, chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư
Lợi nhuận sau thuế
7 Thu nhập sau thuế
8 Dòng tiền hàng năm (CFi)
- An toàn về nguồn vốn
- An toàn vể khả năng thanh toán nghĩa vụ tài chính ngắn hạn và khả năng trả nợ
- An toàn cho các chỉ tiêu hiệu quả tính toán
1.2.4.3.4.Thẩm định các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của dự án
Trang 36Thẩm định kinh tế nhằm rà soát lại mục tiêu của dự án, tác động của dự án tới môi trường và tới các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội, tính hợp lý và tối ưu của dự án, mức độ ảnh hưởng ngân sách của dự án.Trong phần này cán bộ thẩm định sẽ đánh giá lợi ích xã hội mà dự án mang lại thông qua qua việc xem xét các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội mà dự án mang lại.Các chỉ tiêu này cần được kiểm tra và đánh giá cụ thể để thấy được các tác động của dự án đối với nền kinh tế xã hội.Các chỉ tiêu thường được cán bộ thẩm định xem xét bao gồm : số lao động có việc làm từ dự án, số lao động có việc làm tính trên một đơn vị vốn đầu tư, mức tiết kiệm ngoại tệ, mức đóng góp cho ngân sách,…
Tuy nhiên trong phân tích cũng như trong thẩm định kinh tế của dự án theo các tiêu chuẩn hiệu quả, đặc trưng quan trọng là phải xác định được lợi ích và chi phí kinh tế cũng như chi phí cơ hội kinh tế
Nhìn chung, thẩm định kinh tế dự án là một công việc khó khăn và phức tạp nhưng nó rất cần được tiến hành cùng với thẩm định tài chính dự án trước khi quyết định tài trợ cho dự án
1.2.4.3.5.Thẩm định khía cạnh rủi ro của dự án
Rủi ro của dự án được hiểu một cách chung nhất là khả năng mà một sự kiện không có lợi nào đó xuất hiện.Cán bộ thẩm định cần đánh giá những khó khăn, rủi
ro có khả năng xảy ra với dự án, từ đó đề xuất các biện pháp phòng ngừa hạn chế tác động của các rủi ro đó.Các rủi ro thông thường hay xảy ra đối với một dự án:
- Rủi ro do khó, không tiêu thụ được sản phẩm theo kế hoạch dự kiến
- Rủi ro do mức độ cạnh tranh gay gắt hơn dự kiến
- Rủi ro do tác động của các yếu tố tự nhiên, xã hội
- Rủi ro do thay đổi các chính sách của Nhà nước
- Rủi ro do thay đổi công nghệ
- Rủi ro do thay đổi về bộ máy quản lý
Sau khi tiến xem xét đánh giá các yếu tố rủi ro có thể xảy ra đối với dự án, cán
bộ thẩm định tiến hành đánh giá rủi ro dự án bằng các phương pháp thông dụng :
Trang 37- Phương pháp phân tích độ nhạy : phương pháp này giúp cán bộ thẩm định biết được yếu tố nào gây nên sự thay đổi nhiều nhất của chỉ tiêu hiệu quả tài chính, từ đó có biện pháp xử lý Để phân tích độ nhạy được nhanh chóng, trong quá trình lập bảng tính Excel thì tất cả các phép tính có liên quan đến biến số phân tích đều phải liên kết với ô chứa biến số đó bằng công thức, sao cho khi thay đổi giá trị của biến số thì tất cả các kết quả tính toán phải thay đổi theo.
- Phương pháp phân tích theo kịch bản : Khi mà dự án có các biến số tương quan với nhau thì cán bộ thẩm định thường sử dụng một tổ hợp các biến tương quan để tiến hành phân tích tình huống Gỉa sử có 1 dự án phát triển tàu điện- là đối thủ cạnh tranh của thị trường xe buýt chạy xăng dầu bình thường.Sự tương quan giữa các biến cố có thể là:
+ Nguy cơ chiến tranh vùng vịnh có khả năng làm giá dầu tăng 20% trong thời gian tới
+ Gía dầu tăng làm cho thị phần xe điện tăng ít nhất 10%.Đồng thời giá dầu tăng dẫn đến suy thoái kinh tế thê giới
+ Suy thoái kinh tế làm cho quy mô thị trường giảm 5% và giá cả các yếu tố đầu vào - đầu ra tăng 15%
Như vậy, với mỗi kịch bản cán bộ thẩm định cần xác định được 1 bộ biến
cố và xác định được hiệu quả của dự án với bộ biến số này để biết tương lai
dự án trong những tình huống khác nhau
- Phương pháp mô phỏng Monte Carlo : đây là phương pháp phân tích kết quả của dự án dưới tác động đồng thời của các yếu tố trong các tình huống khác nhau có tính tới phân bố xác suất và giá trị có thể của các biến số yếu tố đó Đây là phương pháp khá phức tạp đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện tốt với sự trợ giúp kỹ thuật của máy tính
1.2.4.3.6.Thẩm định các biện pháp bảo đảm tiền vay
Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.Mặc dù trước khi quyết định cho vay ngân hàng đã trải qua các khâu thu thập
Trang 38thông tin, xử lý,phân tích và thẩm định kỹ khả năng trả nợ của khách hàng nhưng vẫn chưa thể nào loại bỏ được rủi ro tín dụng.Do vậy, bảo đảm tiền vay
có thể sử dụng như là một trong những cách thức nhằm gia tăng khả năng thu hồi nợ và giảm thiểu rủi ro tín dụng.Bảo đảm tín dụng có thể thực hiện bằng nhiều cách bao gồm : bảo đảm bằng tài sản thế chấp, bảo đảm bằng tài sản cầm
cố, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay và bảo đảm bằng hình thức bảo lãnh cảu bên thứ ba
Tuy nhiên, để bảo đảm tiền vay thực sự có hiệu quả đòi hỏi :
- Gía trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
- Tài sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra được ngân lưu ( phải có thị trường tiêu thụ và có giá trị )
- Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền xử lý tài sản dùng làm bảo đảm tiền vay
Thông thường để đảm bảo cho khoản tiền vay ngân hàng thường yêu cầu khách hàng muốn vay vốn phải có tài sản đảm bảo.Nội dung thẩm định tài sản đảm bảo trong ngân hàng gồm :
- Đánh giá tính pháp lý của hồ sơ và phân loại tài sản đảm bảo
- Đánh giá quyền sở hữu của tài sản thế chấp, cầm cố
- Đánh giá hiện trạng của tài sản đảm bảo
- Đánh giá giá trị tài sản đảm bảo
- Xác định tính chuyển nhượng của tài sản đảm bảo
Trong nội dung này cán bộ thẩm định phải có kiến thức về nghiệp vụ, nắm vững các quy định của Nhà nước và Vpbank liên quan đến giá cả, cách tính giá trị tài sản, có khả năng đánh giá tổng hợp về tài sản như : giá cả , tính chuyển nhượng, sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan, khách quan đến tài sản
1.2.5 Các phương pháp thẩm định tại ngân hàng.
Với đặc điểm là số lượng khách hàng vay vốn lớn và sô tiền vay thường là nhỏ.Vì vậy yêu cầu về một cơ chế kiểm soát an toàn và hiệu quả đối với khoản vay là hết sức cần thiết.Trong trường hợp này ngân hàng thường sử dụng một
Trang 39trợ thủ rất đắc lực để ra quyết định tín dụng, đó là hệ thống điểm số.Trên cơ sở điểm số mà khách hàng đạt được, cán bộ thẩm định sẽ tiến hành xếp hạng tín dụng khách hàng bằng cách kết hợp chấm điểm rủi ro tín dụng và xếp hạng tài sản bảo đảm.Mỗi loại khách hàng có một đặc điểm riêng,VPBank thiết kế các mẫu bảng điểm chấm điểm xếp hạng rủi ro tương ứng với các đối tượng khách hàng khác nhau.Mục đích của việc xếp hạng tín dụng là để xác định mức độ rủi
ro của khách hàng làm căn cứ bổ xung trong việc ra quyết định tín dụng, xác định lãi suất cho vay phù hợp với mức độ rủi ro và có biện pháp giám sát vốn vay thích hợp đối với từng mức độ rủi ro
PHIẾU XẾP HẠNG TD DOANH NGHIỆP Chỉ tiêu Kết quả đánh giá
3.Kỳ thu tiền bình quân
4.Doanh thu trên tổng TS
5.Nợ trên tổng TS
6.TN trước thuế trên TS………
II.Yếu tố phi tài chính
1.Kinh nghiệm của BGĐ
2.Tính khả thi của PAKD
3.Trả nợ đúng hạn
4.Vị thế cạnh tranh………
Tổng điểm ( I + II )
Sau khi xếp hạng rủi ro doanh nghiệp và xếp hạng TSBĐ cán bộ tín dụng sẽ tiến
hành đánh giá Tín dụng kết hợp như sau ;
BẢNG ĐÁNH GIÁ TÍN DỤNG KẾT HỢP Xếp hạng rủi
Trang 40TSBĐ trung bình Tốt Trung bình
Khi đi vào một dự án cụ thể cán bộ thẩm định thường áp dụng một phương pháp thẩm định cụ thể phù hợp để có thể đánh giá được tất cả các khía cạnh của
dự án.Một trong những phương pháp thường được dùng ở ngân hàng;
Phương pháp so sánh trực tiếp
Khi tiến hành thẩm định theo phương pháp này cán bộ thẩm định sẽ tiến hành đối chiếu nội dung dự án với các chuẩn mực luật pháp quy định, các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật thích hợp, cũng như các kinh nghiệm thực tế, phân tích so sánh để lựa chọn dự án.Một số chỉ tiêu thường được tiến hành so sánh :
- Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, cấp công trình do nhà nước quy định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được
- Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư
- Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đòi hỏi
- Các chỉ tiêu tổng hợp về cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư
- Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiền lương…
- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư
Trong quá trình thẩm định của ngân hàng, cán bộ thẩm định có thể sử dụng những kinh nghiệm đúc kết trong quá trình thẩm định các dự án tương tự để so sánh, kiểm tra tính hợp lý, tính thực tế của dự án.Các chỉ tiêu dùng để tiến hành so sánh phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tránh khuynh hướng so sánh máy móc cứng nhắc
Phương pháp phân tích độ nhạy
Phương pháp này thường được dùng để cán bộ thẩm định kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chính của dự án đầu tư
Theo phương pháp này thì cán bộ thẩm định cần phải xác định được những yếu
tố gây ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án.Sau đó dự kiến một số tình huống bất trắc có thể xảy ra trong tương lai theo chiều hướng xấu đối