Trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có hệ thống thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác phục vụ cho việc điều hành, quản lý và ra các quyết định sản xuất kinh doanh.
Trang 1Trờng đại học kinh tế quốc dân
-o0o -Lấ VIỆT HÙNG
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TẠI CễNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG GIAO THễNG I THÁI NGUYấN
CHUYấN NGÀNH: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
Luận văn thạc sĩ kinh tế
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.PHẠM THỊ GÁI
Trang 2
HÀ NỘI - 2010
Trờng đại học kinh tế quốc dân
-o0o -Lấ VIỆT HÙNG
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TẠI CễNG TY CỔ PHẨN XÂY DỰNG GIAO THễNG I THÁI NGUYấN
CHUYấN NGÀNH: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
Luận văn thạc sĩ kinh tế
TóM TắT LUậN VĂN THạC Sỹ
Trang 3
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤCDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị chi phí 5
1.2.Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 8
1.2.2.Các phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ 19
1.2.4.Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí 281.2.5.Phân tích mối quan hệ giữa Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận 341.2.6.Mô hình tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 36
1.3.Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị của một số nước phát triển
trên thế giới và bài học kinh nghiệm vận dụng vào các doanh nghiệp
Việt Nam
38
1.3.1.Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị của một số nước phát triển
1.3.2.Bài học kinh nghiệm vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam 41
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG
2.1.Tổng quan về Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên 43
Trang 42.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty CPXD giao thông I
2.1.2.Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh 45
2.2.Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao thông I
2.2.5.Ứng dụng phân tích mối quan hệ giữa Chi phí - Khối lượng - Lợi
nhuận cho quá trình ra quyết định
80
2.3.Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao
thông I Thái Nguyên
81
2.3.2.Một số tồn tại và những nguyên nhân chủ yếu 82
CHƯƠNG 3.HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG GIAO THÔNG I THÁI NGUYÊN
87
3.1.Sự cần thiết và yêu cầu hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công
ty CPXD giao thông I Thái Nguyên
87
3.1.1.Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty
3.1.2.Yêu cầu của việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty
3.2.Nội dung hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao
thông I Thái Nguyên
3.2.6.Xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị để thu nhận và xử lý
thông tin
111
Trang 53.3.1.Về phía Nhà nước và ngành chủ quản 1153.3.2.Về phía các tổ chức đào tạo, tư vấn về kế toán, tài chính và quản lý
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay,các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có hệ thống thông tin đầy đủ, kịp thời,chính xác phục vụ cho việc điều hành, quản lý và ra các quyết định sản xuất kinhdoanh
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính củamột đơn vị, một tổ chức ngày càng giữ vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành vàkiểm soát các hoạt động kinh tế của các đơn vị và có ý nghĩa quan trọng cho mọi đốitượng có nhu cầu sử dụng thông tin tuỳ theo mục đích khác nhau
Xuất phát từ yêu cầu và tính chất của thông tin cung cấp, thông tin kế toán đượcchia thành thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị Thông tin kế toántài chính chủ yếu cung cấp cho các đối tượng bên ngoài đơn vị sử dụng để ra các quyếtđịnh hữu ích tuỳ từng đối tượng, còn thông tin kế toán quản trị chỉ cung cấp cho cácnhà quản trị nội bộ đơn vị để ra quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
Kế toán quản trị mới được phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đã thực sự trởthành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị trong công tác quản lý, điều hành hoạtđộng kinh doanh của đơn vị
Ở Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ, các doanh nghiệp mới chỉ có hệthống kế toán tài chính hoàn chỉnh, còn hệ thống kế toán quản trị phục vụ cho công tácquản lý và ra quyết định hầu như chưa có Đồng thời, việc triển khai ứng dụng kế toánquản trị trong các doanh nghiệp vào hoạt động quản lý chưa được quan tâm đúng mức.Hơn nữa, về mặt luật pháp, Nhà nước ta mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy,chế độ hướng dẫn về hệ thống kế toán tài chính áp dụng bắt buộc cho các doanhnghiệp, còn kế toán quản trị mới chỉ được đề cập và vận dụng không bắt buộc đối vớicác doanh nghiệp trong thời gian gần đây
Trang 7Mặc dù vậy, kế toán quản trị vẫn được coi là một hoạt động thiết yếu trong một
tổ chức để giúp lãnh đạo xem xét, đánh giá các hoạt động của tổ chức nhằm đưa ra cácquyết định đúng đắn và hiệu quả nhất
Hơn nữa, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh việc quản lý tốt chi phíluôn được doanh nghiệp quan tâm và đặt lên hàng đầu Kiểm soát và quản lý tốt chi phí
là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý, hiệu quả nhằm mụctiêu tối đa hoá lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Chính
vì vậy, việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí là rất cần thiết đối với bất kỳ một doanhnghiệp nào muốn đứng vững trên thương trường
Ngành xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọngtrong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Việc triển khai và ứng dụng kế toán quản trị vàocông tác quản lý tại các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng chưađược quan tâm đúng mức Qua quá trình nghiên cứu thực tế tổ chức công tác kế toántại Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên cũng không nằm ngoài xu thế đó và côngtác kế toán quản trị cũng còn bộc lộ những mặt hạn chế nhất định cần phải hoàn thiện.Việc hoàn thiện công tác kế toán quản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí nói riêngtại Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên là cần thiết, điều đó sẽ hỗ trợ đắc lực chocông tác quản lý, điều hành của công ty nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăngcường khả năng hội nhập và canh tranh trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kế toán quản trị nóichung, kế toán quản trị chi phí nói riêng cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, tác
giả đã chọn nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần xây dựng giao thông I Thái Nguyên " nhằm góp phần vào việc nâng cao năng
lực, hiệu quả quản lý của Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên và các doanhnghiệp xây lắp nói chung
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chiphí tại doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng
Trang 8- Đề tài vận dụng những lý luận và phương pháp phân tích khoa học để nghiêncứu thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao thông I TháiNguyên, từ đó đánh giá thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí tại công ty về ưunhược điểm và đưa ra nguyên nhân khách quan và chủ quan.
- Trên cơ sở lý luận và thực trạng đã nghiên cứu để đề xuất những giải phápnhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyêngóp phần phục vụ công tác quản lý công ty hiệu quả hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với mục đích đã xác định, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận chung về kế toánquản trị chi phí trong doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu thực trạng tổ chức kế toánquản trị chi phí tại Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên Đề tài chủ yếu khảo sát
và sử dụng tài liệu của Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên trong năm 2009 đểminh hoạ cho bài viết
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, trong đó đặc biệt chú trọng quan điểm lịch sử cụ thể, phươngpháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp hạch toán kếtoán và các phương pháp khác để làm rõ đối tượng nghiên cứu
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Trang 9Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần xây dựnggiao thông I Thái Nguyên
Chương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại công ty Cổ phần xây dựnggiao thông I Thái Nguyên
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị chi phí
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Kế toán ra đời là tất yếu khách quan của nền sản xuất xã hội để phục vụ quản lýkinh tế Khi nền sản xuất xã hội phát triển với trình độ ngày càng cao cùng với nhữngtiến bộ của khoa học kỹ thuật thì kế toán không ngừng phát triển và hoàn thiện về nộidung, phương pháp cũng như hình thức tổ chức để đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càngcao của nền sản xuất xã hội Kế toán thực sự trở thành môn khoa học trong hệ thốngkhoa học quản lý Kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin vềtài sản và sự vận động của tài sản trong các đơn vị nhằm kiểm tra giám sát toàn bộ hoạtđộng kinh tế tài chính của đơn vị đó
Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính củamột đơn vị, một tổ chức cho các đối tượng sử dụng thông tin nhằm cung cấp các báocáo tài chính, hoạch định các kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của đơn vị, kiểmsoát kết quả các hoạt động của đơn vị
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, đối tượng sử dụng thông tinngày càng mở rộng, nhu cầu thông tin càng tăng với các mục đích cụ thể khác nhau.Điều đó đã thúc đẩy kế toán phát triển và hình thành các loại kế toán khác nhau Xéttheo phạm vi cung cấp thông tin và đối tượng sử dụng thông tin, kế toán được chiathành kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán tài chính cung cấp thông tin chocác đối tượng bên ngoài là chủ yếu để đưa ra quyết định hữu ích cho từng đối tượng, kếtoán quản trị chỉ cung cấp cho các cấp quản trị trong nội bộ đơn vị để đưa ra các quyếtđịnh điều hành các hoạt động kinh doanh
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để đạt được mục tiêu cuối cùng là thuđược lợi nhuận tối đa trên mỗi sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp cần phải nắm rõ sản
Trang 11xuất, kinh doanh mặt hàng nào, sản phẩm nào có lãi, mặt hàng nào, sản phẩm nào sẽ bị
lỗ bằng cách tính toán, phân tích, tổng hợp từng yếu tố chi phí để so sánh với doanh thucủa từng nhóm sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh Điềunày đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải được cung cấp những thông tin đặc biệtkhác nhau từ kế toán quản trị
Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu vềquá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất; nhằm đề racác quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theotừng hoạt động Cho đến nay, khi bàn về bản chất của kế toán quản trị có nhiều quanđiểm khác nhau, chẳng hạn như:
Theo Ronald W Hilton, Giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): "Kế toán quản trị là một
bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó
để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức" [21, tr.9]
Theo Ray H Garrison: "Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài liệucho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trongviệc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó" [21, tr.9]
Theo các Giáo sư đại học South Florida là Jack L Smith, Robert M Keith vàWilliam L Stephens: "Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhàquản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát" [21, tr.9]
Theo quan điểm của Giáo trình Kế toán quản trị - Trường Đại học kinh tế quốcdân xuất bản năm 2002: "Kế toán quản trị là qui trình định dạng, đo lường, tổng hợp,phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính choban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm
vi nội bộ một doanh nghiệp và để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các tài sản vàquản lý chặt chẽ các tài sản này" [16, tr 7]
Theo Điều 4 Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: "Kế toán quản trị là việc thuthập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị vàquyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán" [2, tr 15]
Trang 12Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm chung về kế toán quản trị nhưsau: Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin địnhlượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể, giúp các nhà quảntrị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện,kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị.
Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp tồn tại và hoạt động phải chinhiều khoản chi phí khác nhau trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh và chi phí cóảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, vấn đề được đặt ra là làmsao có thể kiểm soát được tất cả các khoản chi phí Kế toán quản trị chi phí là công cụhữu hiệu đáp ứng nhu cầu thông tin chi phí cho các nhà quản trị để đưa ra các quyếtđịnh kinh doanh, cơ sở cho kiểm soát, sử dụng chi phí của đơn vị một cách có hiệu quả
Như vậy, kế toán quản trị chi phí là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấpcác thông tin về chi phí của doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệpthực hiện tốt các chức năng quản trị chi phí trong quá trình kinh doanh
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Trước khi nghiên cứu bản chất của kế toán quản trị chi phí, ta xem xét bản chấtcủa kế toán quản trị nói chung:
- Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung của doanhnghiệp, đồng thời là công cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản trị nội
bộ doanh nghiệp Kế toán quản trị được coi như một hệ thống nhằm trợ giúp cho cácnhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanhnghiệp
- Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chínhtrong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp Những thông tin đó chỉ có
ý nghĩa đối với những người, những bộ phận và những nhà điều hành, quản lý doanhnghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài
Trang 13- Thông tin kế toán quản trị chủ yếu cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp
để đưa ra các quyết định điều hành sản xuất kinh doanh
- Thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính định lượng vì nó gắnvới các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp
- Mục đích sử dụng thông tin kế toán quản trị là để hoạch định và kiểm soát hoạtđộng của doanh nghiệp, nó được cụ thể hoá thành các chức năng cơ bản của nhà quảntrị: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, phân tích đánh giá và ra quyết định
Theo thông tư số 53/2006/TT- BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ tài chính:
"Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp,như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phântích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lýtài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng vàlợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn;Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh; nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra
và ra quyết định kinh tế"
Xét từ phương diện kế toán, thông tin chủ yếu nhất mà kế toán quản trị xử lý vàcung cấp cho các nhà quản trị là thông tin về chi phí Trong quá trình kinh doanh củacác doanh nghiệp, chi phí thường xuyên phát sinh, gắn liền với mọi hoạt động và cóảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được Hơn nữa, trên giác độ quản lý, chi phíphần lớn phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ quan của nhà quảntrị, do vậy, kiểm soát và quản lý tốt chi phí là mối quan tâm hàng đầu của họ Mặtkhác, kế toán quản trị chi phí với nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp thông tin toàn diện vàđầy đủ về chi phí cho các nhà quản trị trong quá trình thực hiện các chức năng quản trị
Như vậy, bản chất của kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quảntrị chuyên thực hiện việc xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin về chi phí nhằmphục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chứcthực hiện, kiểm tra và ra quyết định
1.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Trang 141.2.1 Phân loại chi phí
1.2.2.1 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Cách “ứng xử” của chi phí là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phí tươngứng với các mức độ hoạt động đạt được Trong doanh nghiệp sản xuất, các chỉ tiêu thểhiện mức độ hoạt động như: khối lượng công việc đã thực hiện, khối lượng sản phẩmsản xuất, số giờ máy hoạt động, Xét theo cách ứng xử, chi phí của doanh nghiệpđược chia thành 3 loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
Biến phí (Chi phí khả biến/chi phí biến đổi)
Biến phí là những chi phí xét về mặt tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với mức độhoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi hoạt động Mức độ hoạt động có thể là sốlượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy hoạt động, doanh thubán hàng thực hiện
Trong doanh nghiệp sản xuất, biến phí tồn tại khá phổ biến như: Chi phínguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí năng lượng Trongdoanh nghiệp thương mại, biến phí thường bao gồm: Giá vốn hàng bán, hoa hồng chongười bán
Biến phí thường có các đặc điểm sau:
- Biến phí đơn vị thường không thay đổi Dựa vào đặc điểm này các nhà quản trịxây dựng định mức biến phí góp phần kiểm soát các khoản chi phí
- Xét về tổng số biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động
- Trong trường hợp doanh nghiệp không hoạt động thì biến phí không phát sinh
- Biến phí của doanh nghiệp gồm nhiều loại khác nhau, xét theo cách ứng xửcủa chi phí có thể chia biến phí thành 2 loại cơ bản: biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc
Biến phí tỷ lệ là các biến phí hoàn toàn tỉ lệ thuận với mức độ hoạt động Ví dụ:Vật liệu chính trong doanh nghiệp sản xuất sản phẩm; xi măng, sắt, thép trong cácdoanh nghiệp xây lắp
Biến phí cấp bậc là các biến phí chỉ thay đổi khi thay đổi quy mô của phạm vihoạt động Các chi phí này chỉ biến đổi khi các hoạt động đã có sự biến đổi đạt đến một
Trang 15mức độ cụ thể nào đó Ví dụ: Chi phí bảo dưỡng máy móc, chi phí tiền lương của bộphận công nhân phụ
Sơ đồ 1.1 Đồ thị minh hoạ biến phí
Định phí (Chi phí bất biến/chi phí cố định)
Định phí là những chi phí xét về mặt tổng số không thay đổi theo mức độ hoạtđộng trong phạm vi của quy mô hoạt động Trong các doanh nghiệp sản xuất, các loạichi phí bất biến thường gặp là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viênquản lý, chi phí quảng cáo,
Định phí thường có đặc điểm sau:
- Trong giới hạn của quy mô hoạt động, xét về tổng chi phí thì định phí thườngkhông thay đổi Nếu xét định phí trên một đơn vị mức độ hoạt động thì thay đổi tỷ lệnghịch với mức độ hoạt động Doanh nghiệp có hoạt động hay không thì định phí vẫntồn tại Do vậy, các nhà quản trị muốn cho cho định phí đơn vị sản phẩm thấp cần khaithác tối đa công suất của các tài sản đã tạo ra các định phí đó
- Định phí trong doanh nghiệp cũng đa dạng và phong phú Xét ở khía cạnhquản lý chi phí, định phí được chia thành 2 loại: định phí bắt buộc và định phí khôngbắt buộc
Biến phí cấp bậc
Mức độ hoạt động
Chi phíChi phí
Mức độ hoạt độngBiến phí tỷ lệ
Trang 16Định phí bắt buộc là những định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng,chúng thường liên quản đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Thể hiện rõ nhất là chi phí khấu hao TSCĐ hay tiền lương nhân viênquản lý ở các phòng ban chức năng Các định phí bắt buộc gắn liền với các mục tiêudài hạn của doanh nghiệp, chúng biểu hiện tính chất cố định khá vững chắc và ít chịu
sự tác động của các quyết định trong quản lý ngắn hạn, không thể cắt giảm hết trongthời gian ngắn Để quản lý loại chi phí này cần tập trung vào việc nâng cao hiệu suất sửdụng các yếu tố vật chất và nhân lực cơ bản của doanh nghiệp
Định phí không bắt buộc là các định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằngcác quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp Chúng thường được kiểm soát theo các
kế hoạch ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý hàng năm của các nhàquản trị, có thể cắt giảm khi cần thiết Do vậy, loại chi phí này còn được gọi là chi phíbất biến tuỳ ý hay chi phí bất biến quản trị Thuộc loại chi phí này gồm chi phí quảngcáo, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí đào tạo nhân viên,
Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bao gồm cả các yếu tố của định phí và biếnphí Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chiphí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặcđiểm của chi phí khả biến Hiểu theo một cách khác, phần bất biến trong chi phí hỗnhợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, cònphần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỉ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm.Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trongcác loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,
Trong thực tế các nhà quản trị muốn kiểm soát các khoản chi phí hỗn hợp cầnphải xác định quy mô hoạt động của doanh nghiệp và sử dụng các phương pháp phântích chi phí hỗn hợp thành 2 bộ phận biến phí và định phí Việc phân tích này đượcthực hiện bằng một trong các phương pháp: phương pháp cực đại, cực tiểu; phươngpháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất và các phương pháp khác
Trang 17- Phương pháp cực đại - cực tiểu: Căn cứ vào chi phí phát sinh mà mức độ hoạtđộng qua các thời kỳ, kế toán xác định mức chênh lệch chi phí ở mức độ hoạt động caonhất và thấp nhất, mức độ hoạt động ở 2 điểm cao nhất và thấp nhất, từ đó tính ra biếnphí đơn vị theo công thức:
Biến phí đơn vị (b) =
Chênh lệch chi phí ở mức độ hoạt động
cao nhất và thấp nhất
(1.1)Chênh lệch mức độ hoạt động cao nhất và
thấp nhấtXác định tổng biến phí và định phí:
Định phí
Chi phí hỗn hợp ở mức hoạtđộng cao nhất (thấp nhất) -
Tổng biến phí ở mức hoạtđộng cao nhất (thấp nhất) (1.3)
Từ đó xây dựng được phương trình chi phí hỗn hợp có dạng:
- Phương pháp đồ thị phân tán : Với phương pháp này, trước hết chúng ta sửdụng đồ thị để biểu diễn tất cả các số liệu thống kê được để xác định mối quan hệ giữachi phí hỗn hợp với mức độ hoạt động tương ứng Sau đó, quan sát và kẽ đường thẳngqua tập hợp các điểm vừa biểu diễn trên đồ thị sao cho đường thẳng đó là gần với cácđiểm nhất và phân chia các điểm thành hai phần bằng nhau về số lượng các điểm.Đường thẳng kẽ được sẽ là đường đại diện cho tất cả các điểm và được gọi là đường
Trang 18hồi qui Điểm cắt giữa đường biểu diễn với trục tung phản ánh chi phí cố định Độ dốccủa đường biểu diễn phản ánh tỉ lệ biến phí (biến phí đơn vị)
Sơ đồ 1.2 Phương pháp đồ thị phân tán
X: là qui mô hoạt động (còn gọi là sản lượng)
Từ phương trình này, tập hợp n phần tử quan sát, ta có hệ phương trình sau:
Định phí
Trang 19Giải hệ thống phương trình này ta sẽ xác định được các yếu tố a, b và lập đượcphương trình hồi quy thích hợp.
Phương pháp này có ưu điểm là kết quả chính xác hơn vì sử dụng phân tíchthống kê để xác định đường hồi quy cho các điểm nhưng lại có nhược điểm là quá trình
tính toán phức tạp hơn
1.2.2.2 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo từng hoạt động cóchức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chiathành hai loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
* Chi phí sản xuất
Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm bằngsức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị Chi phí sảnxuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân côngtrực tiếp và chi phí sản xuất chung
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là giá trị của những nguyên vật liệu cấu thànhthực thể của sản phẩm và có thể xác định được một cách tách biệt, rõ ràng, cụ thể chotừng sản phẩm Đặc điểm của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể tập hợp thẳng chocác đồi tượng chịu chi phí, thường mang tính chất biến phí, nó cấu thành nên thực thểcủa sản phẩm, chiếm tỷ trọng khá cao trong chỉ tiêu giá thành sản phẩm Thông thườngchi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể định mức cho một đơn vị sản phẩm vừa cơ sởxây dựng dự toán, vừa là cơ sở kiểm soát chi phí
Chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp là chi phí về tiền lương, phụ cấp, các khoản tríchtheo lương, tiền ăn ca của những lao động trực tiếp chế tạo sản phẩm Chi phí nhâncông trực tiếp có thể tập hợp thẳng cho đối tượng chịu chi phí Khoản mục chi phí nàythường mang tính chất biến phí, thường xây dựng định mức cho một đơn vị sản phẩmnhằm góp phần kiểm soát chi phí, xây dựng hệ thống dự toán chi phí
Trang 20Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng đểphục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm Chi phí sản xuất chung bao gồm cácyếu tố sau:
- Chi phí nhân viên phân xưởng, đội sản xuất: Là tiền lương, phụ cấp, các khoảntrích theo lương và các khoản khác phải trả cho nhân viên phân xưởng, đội sản xuấtnhư: Quản đốc, phó quản đốc phân xưởng, đội trưởng, đội phó các đội sản xuất, nhânviên kinh tế
- Chi phí vật liệu phục vụ cho phân xưởng, đội sản xuất như: văn phòng phẩm,các vật liệu khác cần thiết khi sửa chữa, bảo dưỡng phân xưởng
- Chi phí công cụ, dụng cụ phục vụ cho phân xưởng, đội sản xuất như: quần áobảo hộ lao động của công nhân, các dụng cụ phục vụ công nhân sản xuất như búa, cưa,que hàn
- Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quá trình sản xuất như nhàxưởng, máy móc, thiết bị Mỗi tài sản cố định có những đặc điểm khác nhau do vậyviệc vận dụng phương pháp khấu hao cho các tài sản cũng khác nhau nhằm thu hồi vốnđầu tư
- Chi phí dịch vụ mua ngoài như tiền điện thoại, tiền điện, tiền nước phục vụcho quá trình sản xuất
- Chi phí khác bằng tiền như: Tiền tiếp khách ở phân xưởng, thiệt hại trong quátrình sản xuất
Chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều yếu tố chi phí, có yếu tố mang tính chấtđịnh phí, có yếu tố mang tính chất biến phí, có yếu tố hỗn hợp mang cả tính chất địnhphí và biến phí Do vậy, các nhà quản trị muốn kiểm soát được các yếu tố trong khoảnmục chi phí này cần phải tách các yếu tố thành hai bộ phận định phí và biến phí
Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phí sản xuất ngoài 3 khoản mục trên còn cókhoản mục chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công:
Trang 21Chi phí sử dụng máy thi công là các khoản chi phí phục vụ cho đội máy thi cônghoặc mua ngoài để thi công cho các công trình và hạng mục công trình Chi phí sửdụng máy thi công bao gồm: Tiền lương phải trả cho công nhân điều khiển máy thicông, chi phí nguyên vật liệu sử dụng cho máy thi công, chi phí dụng cụ sản xuất, chiphí khấu hao, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền phục vụ cho máy thicông Đặc điểm của chi phí sử dụng máy thi công là chi phí hỗn hợp mang cả tính chấtđịnh phí và biến phí.
Chi phí sản xuất chung và chi phí sử dụng máy thi công theo mối quan hệ củachi phí với đối tượng chịu chi phí thường là chi phí gián tiếp Do vậy, cuối mỗi kỳ hoạtđộng cần phải phân bổ các khoản mục chi phí này theo tiêu thức phù hợp tuỳ theo tínhchất của chi phí và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp để phục vụ cho việc tính giáthành sản phẩm, dịch vụ
* Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sảnphẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chungtoàn doanh nghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: Chi phí bánhàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng:
Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụsản phẩm Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm giaocho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển, tiền lương nhânviên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo,
Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho công tác
tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàn doanhnghiệp Khoản mục này bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương và cáckhoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác,
Trang 22Chi phí ngoài sản xuất bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố cũng thường bao gồm
cả định phí và biến phí Do vậy, muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cần tách thành 2 bộphận định phí và biến phí Chi phí ngoài sản xuất được coi là chi phí gián tiếp nếu xéttheo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu chi phí Do vậy, để xác định chínhxác kết quả tiêu thụ, kết quả kinh doanh của các bộ phận cần phải có các tiêu thức phân
Khi sản phẩm hàng hoá chưa được bán thì chi phí sản phẩm là giá trị hàng tồnkho và đươc kế toán ghi nhận ở chỉ tiêu hàng tồn kho trong Bảng cân đối kế toán Khisản phẩm, hàng hoá đã được bán, chi phí sản phẩm là giá vốn hàng bán và được ghinhận ở chỉ tiêu "Giá vốn hàng bán" trong báo cáo kết quả kinh doanh
* Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ là các chi phí cho hoạt động kinh doanh, không tạo nên giá trịhàng tồn kho Chi phí thời kỳ bao gồm: Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
Trang 23nghiệp Các chi phí này được ghi nhận ở chi tiêu "Chi phí bán hàng" và "chi phí quản
lý doanh nghiệp" trên báo cáo kết quả kinh doanh
1.2.1.4 Các tiêu thức phân loại chi phí khác
Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí, chi phí chiathành: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: là các khoản chi phí mà kế toán có thể tập hợp thẳng chotừng đối chịu chi phí Ví dụ: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trựctiếp
- Chi phí gián tiếp: là các khoản chi phí mà kế toán không thể tập hợp thẳng chotừng đối tượng chịu chi phí mà phải phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêuthức phân bổ phù hợp Ví dụ: Tiền lương của nhân viên phân xưởng Độ chính xáccủa chi phí gián tiếp cần phân bổ còn phụ thuộc vào tiêu thức phân bổ Tiêu thức phân
bổ phải lựa chọn phù hợp và thường dựa vào những căn cứ khoa học như: Có tính đạidiện cao cho chi phí gián tiếp cần phân bổ, thuận tiện cho việc tính toán, thống nhất cả
án kinh doanh
Trang 24- Chi phí chênh lệch là những chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có mộtphần hoặc không có ở phương án khác Đây là một khái niệm rộng về chi phí dùng đểnhận thức, so sánh chi phí lựa chọn các phương án kinh doanh.
- Chi phí chìm: là loại chi phí mà doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu, bất kể đã lựachọn phương án hoặc hành động nào Chi phí chìm được xem như là khoản chi phíkhông thể tránh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương
án nào Vì vậy, chi phí chìm là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyếtđịnh của người quản lý
1.2.2 Các phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ
Xác định chi phí là quá trình tổng hợp chi phí có liên quan đến sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm, nhằm tính được chi phí đơn vị cần thiết giúp nhà quản trị điềuhành hoạt động sản xuất kinh doanh, như: định giá bán cho sản phẩm sản xuất ra vàtiêu thụ, xác định giá trị hàng tồn kho, xác định kết quả kinh doanh…
Như vậy, mục đích xác định chi phí nhằm cung cấp thông tin về giá thành sảnphẩm, dịch vụ cần thiết cho nhà quản trị để điều hành các hoạt động sản xuất kinhdoanh Các doanh nghiệp khác nhau có đặc điểm sản xuất kinh doanh khác nhau, dovậy nhiều khoản chi phí phát sinh khác nhau, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm cũng khác nhau Trong thực tế các doanh nghiệp thường sửdụng một trong hai phương pháp xác định chi phí: Phương pháp xác định chi phí theocông việc (hay gọi là đơn đặt hàng) và phương pháp xác định chi phí theo quá trình sảnxuất
1.2.2.1 Phương pháp xác định chi phí theo công việc
- Đối tượng áp dụng:
Phương pháp xác định chi phí theo công việc thường được áp dụng tại cácdoanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất hàng loạt nhỏ, côngviệc sản xuất thường được tiến hành theo đơn đặt hàng Đơn đặt hàng có thể là một sảnphẩm riêng biệt hoặc một số sản phẩm cùng loại Để áp dụng phương pháp này thì sảnphẩm thường có các đặc điểm dưới đây:
Trang 25Sản phẩm thường mang tính đơn chiếc do sản xuất theo đơn đặt hàng của kháchhàng như: công trình xây dựng, bưu thiếp
Sản phẩm thường có giá trị cao như tàu thuỷ, máy bay, kim loại quý,
Giá bán sản phẩm được xác định trước khi sản xuất theo hợp đồng đã ký kết.Sản phẩm thường có kích thước lớn, gắn liền với các yêu cầu kỹ thuật, tính thẩm
mỹ và thường thông qua bản thiết kế kỹ thuật, dự toán chi phí như: công trình xâydựng, đồ gỗ làm theo đơn đặt hàng của khách
- Đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng, còn đối tượng tính giá thành
có thể cũng là đơn đặt hàng hoặc từng loại sản phẩm của đơn đặt hàng Do độ dài thờigian cho sản xuất của từng đơn hàng có thể xác định riêng và không như nhau nên kỳtính giá thành là khi đơn đặt hàng hoàn thành Vì thế, vào cuối kỳ kế toán, nếu đơnchưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí lũy kế cho công việc (đơn đặt hàng) đó được xem
là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
- Nội dung và quá trình tập hợp chi phí sản xuất theo công việc:
Sơ đồ 1.3 Quy trình vận động của chứng từ
Phiếu xuất kho
vật liệu Phiếu theo dõi lao động phí sản xuất chungMức phân bổ chi
Đơn đặt hàng
Phiếu chi phí công việcLênh sản xuất
Trang 26Căn cứ vào đơn đặt hàng của khách, phòng kế hoạch công bố Lệnh sản xuấttrong đó chỉ định các công việc phải làm và chi phí được tính thông qua các loạichứng từ như: Phiếu xuất kho nguyên liệu, Phiếu theo dõi lao động, Phiếu phân bổchi phí sản xuất chung… Các khoản chi phí sản xuất khác nhau đều được tập hợpvào phiếu chi phí công việc Phiếu này là căn cứ để xác định: Tổng số chi phí sảnxuất, giá thành đơn vị, tổng giá thành sản phẩm, chi phí hàng tồn kho và giá vốn hàngbán
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xác định căn cứ vào Phiếu xuất khonguyên liệu, các chứng từ mua nguyên vật liệu khi đưa ngay nguyên vật liệu vào sảnxuất không qua kho
Chi phí nhân công trực tiếp được xác định dựa trên Phiếu theo dõi lao động Chi phí sản xuất chung được xác định theo mức phân bổ ước tính Chi phí sảnxuất chung thường liên quan đến hoạt động sản xuất của nhiều đơn hàng, không thểtập hợp ngay khi phát sinh chi phí nên sẽ tập hợp trên một thẻ chi phí riêng Đến cuốitháng, toàn bộ chi phí sẽ được tổng hợp và phân bổ cho từng đơn hàng theo tiêu thứcthích hợp Số được phân bổ sau đó sẽ được ghi vào phiếu chi phí công việc cho đơnđặt hàng đó
Vì chi phí sản xuất chung phát sinh thực tế thì đến cuối kỳ mới tổng hợp được
mà nhu cầu sử dụng thông tin về chi phí đơn vị lại cần có ngay từ đầu kỳ, chẳng hạnkhi doanh nghiệp phải chào giá đấu thầu hay quyết định nhanh về chấp nhận các đơnchào hàng từ khách hàng, nên các doanh nghiệp thường ước tính chi phí sản xuấtchung từ đầu kỳ Dựa trên tổng chi phí sản xuất chung ước tính và tổng mức hoạt độngchung ước tính, doanh nghiệp tính mức chi phí sản xuất chung cho từng công việc, đơnđặt hàng theo công thức:
Hệ số phân bổ chi phí
sản xuất chung =
Tổng chi phí sản xuất chung ước tính
(1.7)Tổng mức hoạt động chung ước tính
Trang 27Mức phân bổ chi phí
sản xuất chung ước tính
cho từng công việc
= Hệ số phân bổ chi phí
sản xuất chung x
Mức hoạt độngước tính củatừng công việc
(1.8)
Như vậy, phiếu chi phí công việc là một chứng từ chi tiết dùng để tập hợp cácchi phí sản xuất trong phương pháp xác định chi phí theo công việc Phiếu chi phícông việc chỉ được lập khi phòng kế toán nhận được thông báo và Lệnh sản xuất đãđược phát ra cho công việc đó Lệnh sản xuất chỉ được phát ra sau khi có đơn đặt hàngcủa khách - có ghi rõ số lượng, giá cả và ngày giao hàng Mỗi đơn đặt hàng của kháchcần lập một Phiếu chi phí công việc riêng biệt - không phân biệt quy mô đơn đặt hàng
đó là to hay nhỏ, số lượng sản phẩm nhiều hay ít Tất cả các Phiếu chi phí công việcđược lưu giữ lại khi sản phẩm đang sản xuất - chúng có tác dụng như một báo cáo sảnphẩm sản xuất dở dang, có vai trò như một sổ phụ của tất cả chi phí sản xuất đã phátsinh trong quá trình sản xuất Khi sản phẩm hoàn thành được bàn giao cho khách hàngthì phiếu chi phí công việc được chuyển từ khâu sản xuất sang khâu thành phẩm
- Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo công việc:
Tài khoản kế toán sử dụng:
Cùng với việc phản ánh chi phí sản xuất phát sinh vào chứng từ gốc và tập hợpvào phiếu chi phí công việc, kế toán còn phản ánh chi phí sản xuất vào các tài khoản
có liên quan: Tài khoản 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”, tài khoản 622 “Chi phínhân công trực tiếp”, tài khoản 627 “Chi phí sản xuất chung”, tài khoản 154 “Chi phísản xuất kinh doanh dở dang” (hoặc tài khoản 631 “Giá thành sản xuất”), tài khoản 155
“Thành phẩm”, tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”
Trình tự hạch toán chi phí:
Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Căn cứ vào phiếu xuất kho nguyên vật
liệu, kế toán phản ánh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng vào sản xuất sản phẩm
Nợ TK 621 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Có TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu
Trang 28Cuối kỳ, kết chuyển sang tài khoản 154 để tính giá thành công việc:
Nợ TK 154 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Có TK 621 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Đối với chi phí nhân công trực tiếp: Căn cứ vào bảng chấm công hoặc phiếu
giao nhận sản phẩm, bảng thanh toán tiền lương kế toán phản ánh chi phí nhân côngtrực tiếp
Nợ TK 622 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Có TK 334 - Phải trả người lao động
Có TK 338 - Phải trả phải nộp khácCuối kỳ, kết chuyển sang tài khoản 154 để tính giá thành công việc:
Nợ TK 154 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Có TK 622 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Đối với chi phí sản xuất chung:
Căn cứ vào các chứng từ có liên quan, tập hợp chi phí sản xuất chung thực tếphát sinh trong kỳ vào bên Nợ tài khoản 627 Bên Có tài khoản này phản ánh số phân
bổ chi phí sản xuất chung ước tính đầu kỳ Cho nên bên Nợ và bên Có TK 627 thường
có chênh lệch vào cuối kỳ
Nếu bên Nợ bằng bên Có thì nghĩa là số phát sinh thực tế đã phân bổ hết
Nếu có sự chênh lệch và mức chênh lệch là nhỏ thì phân bổ cả mức chênh lệch
đó vào tài khoản 632 "Giá vốn hàng bán" trong kỳ
Nếu có sự chênh lệch và mức chênh lệch là lớn thì phân bổ mức chênh lệch vàotài khoản 632 'Giá vốn hàng bán", tài khoản 155 "Thành phẩm", tài khoản 154 "Chi phísản xuất kinh doanh dở dang" theo tỷ lệ số dư của các tài khoản này
Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế:
Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Có TK liên quan (TK 111, TK 112, TK152, TK153,…)Phân bổ chi phí sản xuất chung ước tính cho từng đơn đặt hàng:
Nợ TK 154 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Trang 29Có TK 627 - Chi phí sản xuất chungCuối kỳ, đơn đặt hàng hoàn thành nhập kho thành phẩm hoặc chuyển giao chokhách hàng.
Phản ánh chi phí sản xuất chung phân bổ thiếu vào tài khoản liên quan:
Nợ TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Nợ TK 155 - Thành phẩm
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 627 - Chi phí sản xuất chungPhản ánh chi phí sản xuất chung phân bổ thừa vào tài khoản liên quan:
Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Có TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 155 - Thành phẩm
Có TK 632 - Giá vốn hàng bán1.2.2.2 Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất
- Đối tượng áp dụng: Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuấtthường được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm theo quy trình côngnghệ sản xuất liên tục qua nhiều giai đoạn chế biến Bán thành phẩm của giai đoạn
Trang 30trước là đối tượng chế biến của giai đoạn sau Sản phẩm được tập hợp chi phí theo quátrình sản xuất thường có đặc điểm sau:
Sản phẩm thường đồng nhất do sản xuất đại trà với khối lượng lớn nên tất cả sảnphẩm có cùng hình thái, kích thước như: doanh nghiệp may, giầy dép, xi măng
Sản phẩm thường có giá trị không cao như: đường, sữa, vở học sinh
Giá bán sản phẩm được xác định sau khi sản xuất, do sản phẩm được doanhnghiệp tự nghiên cứu, sản xuất và đưa ra tiêu thụ trên thị trường
- Trong phương pháp này, đối tượng tập hợp chi phí là từng công đoạn hay từngphân xưởng sản xuất khác nhau của doanh nghiệp Đối tượng tính giá thành là bánthành phẩm hoàn thành ở từng giai đoạn công nghệ và thành phẩm ở giai đoạn côngnghệ cuối cùng Do hoạt động sản xuất diễn ra liên tục trong điều kiện sản xuất số lớnnên kỳ tính giá thành thường là cuối kỳ kế toán (tháng, quí, năm)
- Nội dung và quá trình tập hợp chi phí sản xuất theo quá trình sản xuất:
Trình tự tập hợp chi phí sản xuất theo quá trình sản xuất có thể biểu diễn qua Sơ
đồ 1.4
Sơ đồ 1.4 Trình tự tập hợp chi phí theo quá trình sản xuất
Chi phí của phân xưởng đầu tiên bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chiphí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Chi phí chế biến bước n
Giá thành thành phẩm
+
Giá thành BTP bước 1
Chi phí chế biến bước 2
Giá thành bán thành phẩm bước
2+
Trang 31Chi phí ở các phân xưởng sau bao gồm: Chi phí sản xuất bán thành phẩm củaphân xưởng trước chuyển sang và chi phí chế biến phát sinh ở phân xưởng đó.
Ở phân xưởng cuối cùng, chi phí của phân xưởng kề trước chuyển sang sẽ đượccộng với chi phí chế biến phát sinh ở phân xưởng này - để hình thành trị giá của thànhphẩm nhập kho
Tài khoản kế toán sử dụng: TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”, TK 622
“Chi phí nhân công trực tiếp”, TK 627 “ Chi phí sản xuất chung”, TK 154 “ Chi phísản xuất kinh doanh dở dang” hoặc tài khoản 631 “Giá thành sản xuất”, TK 155
“Thành phẩm”, TK 632 “Giá vốn hàng bán”
Trình tự hạch toán chi phí:
1 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng trong kỳ
2 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sử dụng trong kỳ
3 Kết chuyển chi phí sản xuất chung sử dụng trong kỳ của từng phân xưởng sảnxuất
Nếu khối lượng sản phẩm sản xuất của phân xưởng ổn định và chi phí sản xuấtchung phát sinh đều đặn, thì toàn bộ chi phí sản xuất chung phát sinh thực tế ở phânxưởng sẽ được kết chuyển hết vào TK 154 “Chi phí sản xuất dở dang” của phân xưởng
Nếu khối lượng sản phẩm sản xuất của phân xưởng không ổn định và chi phísản xuất chung phát sinh không đều, thì có thể phân bổ chi phí sản xuất chung Kế toánphải xác định hệ số phân bổ để tính được mức chi phí sản xuất chung thực tế phân bổcho các phân xưởng
4 Sản phẩm hoàn thành của phân xưởng này được chuyển sang phân xưởng sảnxuất tiếp theo Quá trình vận động sản phẩm giữa các phân xưởng cứ thế tiếp tục chođến phân xưởng cuối cùng
5 Sản phẩm hoàn thành ở phân xưởng cuối cùng được nhập kho thành phẩm
6 Thành phẩm được xuất kho tiêu thụ
Theo phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất: Việc tập hợp chiphí và tính giá thành đơn vị đều được thực hiện trên một chứng từ kế toán đó là “Báo
Trang 32cáo sản xuất” Báo cáo sản xuất có vai trò như một phiếu tính giá thành, có ý nghĩaquan trọng trong việc kiểm soát chi phí và đánh giá kết quả hoạt động của từng phânxưởng Báo cáo sản xuất có thể lập theo một trong 2 phương pháp: Phương pháp trungbình trọng (bình quân), phương pháp nhập trước - xuất trước.
1.2.3 Dự toán chi phí trong doanh nghiệp
Dự toán là những dự kiến chi tiết về tình hình huy động và sử dụng các nguồnlực dựa trên mục tiêu kế hoạch xác định trong từng thời gian cụ thể và được biểu diễnmột cách có hệ thống thông qua các biểu mẫu và thước đo khác nhau
Dự toán có ý nghĩa quan trọng trong bất kỳ tổ chức hoạt động nào bởi vì nócung cấp thông tin có hệ thống về toàn bộ kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp trong kỳ tới; Dự đoán trước những khó khăn khi chúng chưa xảy ra để cóphương án đối phó kịp thời và đúng đắn; Là cơ sở quan trọng để phân tích, so sánh vớikết quả thực hiện, qua đó phát hiện ra nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt giữa dự toán
và thực tế để có các biện pháp điểu chỉnh kịp thời và qua đó đánh giá định mức, dựtoán xây dựng phù hợp thực tế chưa để có cơ sở xây dựng định mức mới hoàn chỉnh;
Nó kết hợp toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp bằng kế hoạch của từng bộ phận khácnhau, nhờ vậy đảm bảo cho kế hoạch của từng bộ phận phù hợp với mục tiêu chungcủa doanh nghiệp Như vậy, dự toán chính là cơ sở để đưa ra các quyết định tác nghiệpcủa nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp
Dự toán chi phí thường được lập từ cấp cơ sở trở lên trong các doanh nghiệp và
do các chuyên gia kỹ thuật, kế toán quản trị tại các phân xưởng, đội sản xuất kết hợp đểxây dựng Sau khi dự toán được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học sẽ được chuyển cho
bộ phận chức năng như các phòng, ban kỹ thuật thẩm định, phân tích tính khả thi của
dự toán, sau đó bổ sung những mặt hạn chế để cho dự toán hoàn thiện hơn Dự toánđược chuyển cho cấp quản trị cao phê duyệt và cuối cùng chuyển tới các bộ phận cơ sởthực hiện
Dự toán chi phí trong doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêngbao gồm các dự toán sau:
Trang 33- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
- Dự toán chi phí sử dụng máy thi công
- Dự toán chi phí sản xuất chung
- Dự toán chi phí bán hàng
- Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Khi xây dựng dự toán chi phí để đảm bảo có tính khả thi cao phải xây dựng trên
cơ sở khoa học, muốn vậy phải dựa vào chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, điềukiện thực tiễn của quá trình sản xuất kinh doanh cụ thể của từng doanh nghiệp và quantrọng là phải xây dựng được định mức chi phí tiêu chuẩn khoa học, sát thực tế có tínhđến sự thay đổi của môi trường kinh doanh (như biến động giá cả, lạm phát…)
1.2.4 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí
Báo cáo kế toán quản trị chi phí là loại báo cáo kế toán phản ánh một cách chitiết, cụ thể tình hình chi phí của doanh nghiệp theo yêu cầu quản lý của các cấp quản trịkhác nhau trong doanh nghiệp để ra các quyết định quản lý kinh doanh
Báo cáo kế toán quản trị chi phí được lập theo yêu cầu quản lý cụ thể của nhàquản trị trong từng doanh nghiệp, nhà nước không quy định bắt buộc nhưng báo cáo kếtoán quản trị có tác dụng rất quan trọng đối với nhà quản trị các cấp trong nội bộ doanhnghiệp như sau:
- Cung cấp thông tin kinh tế tài chính cần thiết giúp nhà quản trị doanh nghiệpkiểm tra một cách toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
- Cung cấp thông tin cần thiết giúp nhà quản trị doanh nghiệp phân tích mọihoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đánh giá khách quan toàn diệnquá trình sản xuất kinh doanh, xác định chính xác kết quả cũng như hiệu quả mọi hoạtđộng kinh doanh
- Là căn cứ để phát hiện những khả năng tiềm tàng về kinh tế tài chính, dự đoántình hình sản xuất kinh doanh cũng như xu hướng vận động của doanh nghiệp
Trang 34- Cung cấp tài liệu, số liệu cần thiết giúp cho các cấp quản trị khác nhau trongnội bộ doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, lập dự toán sản xuấtkinh doanh của toàn doanh nghiệp.
Báo cáo kế toán quản trị là sản phẩm cuối cùng của quá trình kế toán quản trịnên việc tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị quyết định đến chất lượng, hiệu quảcủa thông tin do kế toán quản trị cung cấp Tuỳ theo sự phân cấp quản lý và yêu cầuquản lý từng chỉ tiêu có thể xác định nội dung, thiết kế mẫu biểu kế toán quản trị và lựachọn phương pháp lập báo cáo phù hợp Khi xây dựng báo cáo kế toán quản trị chi phíphải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:
- Hệ thống báo cáo kế toán quản trị cần được xây dựng phù hợp với yêu cầucung cấp thông tin phục vụ quản lý nội bộ của từng doanh nghiệp cụ thể
- Kết cấu của báo cáo cần đa dạng, linh hoạt tuỳ thuộc vào tiêu chuẩn đánh giáthông tin trong mỗi báo cáo phục vụ cho từng tình huống cụ thể
- Các thông tin trên báo cáo được phân chia thành các chỉ tiêu phù hợp với tiêuchuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống ra quyết định và giữa các chỉ tiêu phải
có quan hệ chặt chẽ lôgíc
- Nội dung và phương pháp tính các chỉ tiêu trên báo cáo kế toán quản trị phảiđược thiết kế phù hợp với các chỉ tiêu của kế hoạch, dự toán, báo cáo tài chính và phảinhất quán giữa các kỳ với nhau
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí của một doanh nghiệp thường baogồm các loại báo cáo sau:
- Báo cáo dự toán phục vụ cho chức năng lập kế hoạch: Báo cáo dự toán là rất
cần thiết cho tất cả các doanh nghiệp Báo cáo dự toán là một kế hoạch hành động, nólượng hoá các mục đích của tổ chức theo các mục tiêu về tài chính và hoạt động củadoanh nghiệp Cùng với chức năng hệ thống hoá việc lập kế hoạch, các thông tin trênbáo cáo dự toán cũng đưa ra những tiêu chuẩn cho việc đánh giá kết quả hoạt động,hoàn thiện sự truyền tải thông tin và sự hợp tác trong nội bộ tổ chức Các báo cáo dựtoán còn hữu dụng với các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định tài trợ và điều
Trang 35hành Loại báo cáo này thường bao gồm: Báo cáo dự toán chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, báo cáo dự toán chi phí nhân công trực tiếp, báo có dự toán chi phí sản xuấtchung, báo cáo dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp,
- Báo cáo phục vụ cho quá trình kiểm tra, đánh giá (báo cáo kiểm soát chi phí)
và ra quyết định: Các báo cáo này được lập nhằm kiểm tra tình hình thực hiện chi phí,
dự toán chi phí, đánh giá kết quả thực hiện của từng đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp.Báo cáo này có thể lập theo nhiều phương pháp khác nhau, cho nhiều đối tượng vàphạm vi khác nhau, tuỳ theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp mà xâydựng loại báo cáo này cho phù hợp Một số báo cáo chủ yếu:
+ Báo cáo sản xuất: Báo cáo sản xuất của doanh nghiệp có thể được lập theo
nhiều phương pháp khác nhau, cho nhiều đối tượng và phạm vi khác nhau Có thể lậpcho từng loại sản phẩm, từng công đoạn sản xuất, từng dây chuyền công nghệ, từngphân xưởng hay lập cho toàn doanh nghiệp Có thể lập theo phương pháp xác định chiphí theo công việc, hoặc có thể lập theo phương pháp xác định chi phí theo quá trìnhsản xuất Theo phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất báo cáo sản xuấtđược chia ra các trường hợp lập theo phương pháp bình quân hoặc theo phương phápnhập trước xuất trước
+ Báo cáo giá thành sản xuất sản phẩm: Báo cáo giá thành sản xuất sản phẩm
có thể được lập cho từng loại sản phẩm, công việc, dịch vụ hay cho từng bộ phận trongphân xưởng, cho từng phân xưởng sản xuất hoặc toàn bộ doanh nghiệp Tuỳ theo mụctiêu phân tích khác nhau, việc phân tích giá thành có thể được thiết kế theo các mẫubiểu khác nhau
Chẳng hạn báo cáo giá thành công trình A của đội thi công 1 của một doanhnghiệp xây lắp X (Biểu 1.1)
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Báo cáo kết quả kinh doanh có thể lập
theo chức năng hoạt động của chi phí hoặc theo cách ứng xử của chi phí Báo cáo kếtquả kinh doanh có thể lập cho từng loại sản phẩm, công việc, dịch vụ, từng công đoạn,dây chuyền hay phân xưởng sản xuất, từng bộ phận hay lập cho toàn doanh nghiệp
Trang 36Biểu 1.1 BÁO CÁO GIÁ THÀNH
Đơn vị: Doanh nghiệp X
1 Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp 2.176 2.152 -24
5 Giá thành công trình hoàn thành 2.550 2.460 -90
Ví dụ báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng X lập theo chức
Trang 37năng của chi phí và theo từng loại hoạt động xây lắp và thiết kế (Biểu 1.2).
Biểu 1.2 BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH (theo chức năng của chi phí)
BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH (Theo chức năng của chi phí)
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu Tổng số Hoạt động xây lắp Hoạt động thiết kế
Báo cáo kết quả kinh doanh lập theo cách ứng xử của chi phí giúp nhà quản trịđưa ra các quyết định điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh bởi vì chi phí đượcchia thành biến phí và định phí giúp nhà quản trị hiểu đúng bản chất sự vận động củacác yếu tố chi phí, đồng thời phục vụ cho việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khốilượng và lợi nhuận Mặt khác, báo cáo kết quả kinh doanh lập theo cách ứng xử và theocác bộ phận giúp cho việc phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phậnnhằm ra các quyết định điều hành mọi hoạt động hàng ngày
Chẳng hạn báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng X lập theocách ứng xử của chi phí và theo từng loại hoạt động xây lắp, hoạt động thiết kế (Biểu1.3)
Căn cứ vào báo có kết quả kinh doanh của doanh nghiệp X lập theo cách ứng xửchi phí cho thấy hoạt hoạt động xây lắp đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp cao hơnhoạt động thiết kế, song hoạt động thiết kế có tỷ lệ số dư đảm phí lớn hơn hoạt động
Trang 38xây lắp (62%>45%) Vì vậy để góp phần tăng lợi nhuận, doanh nghiệp cần đầu tư tăngdoanh thu của hoạt động xây lắp.
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu quản lý, điều hành của từng doanh nghiệp có thểlập các báo cáo kế toán quản trị khác như: Báo cáo tiến độ sản xuất, Báo cáo sử dụnglao động, báo cáo tình hình biến động nguyên vật liệu,
Biểu 1.3 BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH (theo cách ứng xử của chi phí)
BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH (Theo cách ứng xử của chi phí)
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Tổng số Hoạt động xây lắp Hoạt động thiết kế
Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%)
- Báo cáo đánh giá trách nhiệm quản lý (Báo cáo bộ phận): Cung cấp thông tin
về tình hình kinh doanh theo các trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp để báo cáocác hoạt động và đánh giá trách nhiệm của nhà quản lý các cấp Hoạt động của mộttrung tâm trách nhiệm quy định phạm vi trách nhiệm của một nhà quản lý Các đơn vịhoặc bộ phận doanh nghiệp có thể phân loại thành một trong bốn loại trung tâm tráchnhiệm: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu
tư
Để đánh giá trách nhiệm của các bộ phận thường thông qua việc phân tích báo
Trang 39cáo bộ phận sau một kỳ hoạt động hoặc dự đoán các chỉ tiêu kinh tế cho kỳ tới Báocáo bộ phận nhằm phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động của từng bộ phận
và toàn doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho các nhà quản trị từng cấp để đưa ra quyếtđịnh phù hợp Báo cáo bộ phận thường lập theo cách ứng xử của chi phí và thường lập
ở nhiều mức độ, nhiều phạm vi khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng thông tin vàđặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của từng cấp
1.2.5 Phân tích mối quan hệ giữa Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận
Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận là một trong cáccông cụ phân tích cơ bản nhất của các nhà quản lý sử dụng trong việc lập kế hoạch vàcác tình huống ra quyết định Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng lợinhuận là xem xét mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố giá bán, sản lượng, chi phíbiến đổi, chi phí cố định và tác động của chúng đến lợi nhuận của doanh nghiệp
Nắm vững mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác khả năngtiềm tàng của doanh nghiệp, là cơ sơ cho việc ra các quyết định lựa chọn hay điềuchỉnh về sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp như: chọn dâychuyền sản phẩm sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược bán hàng
Để phân tích mối Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận, kế toán sử dụng một số chỉtiêu chủ yếu sau:
* Số dư đảm phí (còn gọi là lãi trên biến phí): Là số chênh lệch giữa doanh thu
với chi phí khả biến Số dư đảm phí sau khi đã bù đắp chi phí bất biến chính là lợinhuận Số dư đảm phí có thể tính cho tất cả loại sản phẩm, một loại sản phẩm và mộtđơn vị sản phẩm Thông qua khái niệm số dư đảm phí ta thấy được mối quan hệ giữasản lượng và lợi nhuận, đó là: Sau điểm hoà vốn, nếu sản lượng tăng lên thì lợi nhuậntăng một lượng bằng sản lượng tăng lên nhân số số dư đảm phí đơn vị
* Tỷ lệ số dư đảm phí: là lệ phần trăm giữa số dư đảm phí và doanh thu tiêu thụ
sản phẩm
Trang 40Tỷ lệ số dư đảm phí =
Số dư đảm phí
Doanh thu tiêu thụ
Tỷ lệ số dư đảm phí cho biết khi doanh thu tăng lên 100 đồng thì trong mức tăng
đó bao nhiêu đồng thuộc về số dư đảm phí Thông qua khái niệm về tỉ lệ số dư đảm phí
ta rút ra mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận, mối quan hệ đó là: Sau điểm hoàvốn nếu doanh thu tăng lên thì lợi nhuận tăng một lượng bằng doanh thu tăng lên nhân
tỉ lệ số dư đảm phí Với những doanh nghiệp có nhiều dây chuyền sản xuất, sản xuấtnhiều loại sản phẩm và các điều kiện sản xuất đều như nhau thì việc sử dụng tỷ lệ số dưđảm phí cho phép người quản lý xác định khả năng sinh lợi của từng loại sản phẩm
* Kết cấu chi phí: Là mối quan hệ tỷ trọng của từng loại chi phí khả biến và chi
phí bất biến trong tổng chi phí
Những doanh nghiệp có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng lớn thì khả biến chiếm tỉtrọng nhỏ, tỉ lệ số dư đảm phí lớn, nếu tăng giảm doanh thu thì lợi nhuận tăng giảmnhiều hơn Ngược lại, những doanh nghiệp có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng nhỏ, khảbiến chiếm tỉ trọng lớn, vì vậy tỉ lệ số dư đảm phí nhỏ, nếu tăng giảm doanh thu thì lợinhuận tăng giảm ít hơn
* Đòn bẩy kinh doanh: là chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng định phí
của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có cơ cấu chi phí với phần định phí cao hơn thì doanh nghiệp đó được gọi là có đòn bẩy kinh doanh lớn hơn và ngược lại.
Thông qua chỉ tiêu đòn bẩy kinh doanh cho ta thấy được mối quan hệ giữa tốc
độ tăng lợi nhuận và tốc độ tăng doanh thu hay sản lượng bán ra và tốc độ tăng lợinhuận bao giờ cũng lớn hơn tốc độ tăng doanh thu