TBMMN thường gây liệt nửa người đối bên... Giảm vận động chân tay, chân tay giơ lên khó khăn ngượng ngịu.. Ngón tay ngón chân tê tê như kiến cắn hoặc đau như kim châm...
Trang 1HOẠT ĐỘNG TRỊ LIỆU TAI BIẾN MẠCH MÁU
NÃO
Mục tiêu: Trình bày được:
1: Nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng tắc mạch máu não và vỡ mạch máu não
2: Tiến triển của tai biến mạch máu não
3: Chương trình hoạt động trị liệu đối với bệnh TBMMN
Nội dung:
I: TỔNG QUAN VỀ TBMMN
1: Định nghĩa
TBMMN là tổn thương não, màng não xảy ra đột ngột do vỡ mạch, tắc mạch của mạch máu não TBMMN thường gây liệt nửa người đối bên
2: Nguyên nhân
2.1: Tắc mạch
Do xơ vữa và co cứng động mạch là nguyên nhân quan trọng nhất thường gặp ở động mạch não giữa, động mạch cảnh trong, mảng xơ vữa bồi đắp lên thành động mạch làm động mạch hẹp lại gây liên kết tiểu cầu và hồng cầu tạo cục máu đông, dẫn đến tắc mạch hoặc do mảng xơ vữa di chuyển đến động mạch làm cho động mạch hẹp và gây tắc
Do cục huyết khối hoặc do bóng hơi xuất hiện khi tiêm truyền, các cục huyết khối gặp trong các bệnh về van tim như hẹp van hai lá, sùi van tim
2.1: Vỡ mạch máu ( xuất huyết não)
Mạch máu vỡ => máu tràn ra ngoài
Do cao huyết áp
Do xơ xữa động mạch
Bệnh ưa chảy máu cũng có thể gây xuất huyết não như bệnh bạch cầu cấp, bệnh hemoglobin, xuất huyết giảm bạch cầu, bệnh Scholein Henock
3: Triệu chứng lâm sàng
3.1: Tắc mạch máu não
Trang 23.1.1: Giai đoạn khởi phát
Triệu chứng xuất hiện từ từ qua nhiều năm
Chủ yếu bệnh nhân thấy nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, có thể có cảm giác dị cảm thoáng qua
Giảm vận động chân tay, chân tay giơ lên khó khăn ngượng ngịu Rối loạn cảm giác ở tay chân bên liệt Ngón tay ngón chân tê tê như kiến cắn hoặc đau như kim châm
Nói khó hoặc nói ngọng
3.1.2: Giai đoạn liệt mềm
* Đây là biểu hiện của liệt thần kinh trung ương giai đoạn sớm
Giai đoạn đầu liệt mềm sau đó chuyển sang liệt cứng
Biểu hiện liệt nửa người, chân tay không cử động tự chủ được
Tính chất liệt: Liệt đồng đều nhưng không hoàn toàn, mặt và chi trên liệt trội hơn
• Chi trên : Liệt chủ yếu nhóm cơ duỗi: cơ bàn tay, ngón tay
Rối loạn ý thức : có thể hôn mê nhẹ, hỏi gọi ú ớ
Rối loạn cảm giác: cấu véo không đau
Rối loạn phản xạ: Phản xạ gân xương tăng, trương lự cơ tăng
Rối loạn tinh thần: Tính tình thay đổi, nói cười vô duyên cớ
3.1.3: Giai đoạn lui bệnh
Triệu chứng lâm sàng giảm dần
Để lại di chứng liệt nửa người, rối loạn thần kinh, rối loạn tinh thần 3.2: Vỡ mạch máu não
Vỡ mạch máu não , xảy ra khi máu thoát khỏi động mạch chảy vào nhu mô não
Vỡ mạch máu não xảy ra đột ngột và nặng, bệnh nhân thường hôn mê ngay từ đầu
3.2.1: Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi
a) nguyên nhân
Tăng huyết áp
Dị dạng mạch máu não ( u mạch, phồng động mạch)
b) Yếu tố thuận lợi
Sinh hoạt cơ thể không điều độ
Sinh hoạt vật chất quá mức (ăn uống quá no say)
Trang 3Tinh thần căng thẳng.
3.2.2: Vị trí vỡ mạch
Vỡ mạch vùng bao trong, nhân xám trung ương thuỳ não, não giữa, tiểu não
3.2.3: Triệu chứng
Sau gắng sức đột ngột bệnh nhân thấy hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu dữ dội vùng trán, gáy và hai bên thái dương kèm theo nôn mửa, mặt tái, sau vài phút có thể đi vào hôn mê
+ Bệnh nhân không đáp ứng với kích thích, ý thức mất, hỏi gọi không trả lời, cấu véo không đau
+ Có rối loạn thần kinh: Liệt nửa người, không vận động tự chủ tay chân được, bàn chân xoay ngoài
+ Rối loạn cơ tròn: đái ỉa không tự chủ
+ Rối loạn phản xạ: Phản xạ gân xương mất, phản xạ Babinski dương tính, toàn thân mềm nhũn
+ Rối loạn thần kinh thực vật: Mạch chậm, huyết áp tăng, mặt tím tái, nhiệt độ giảm
+ Rối loạn nhịp thở: có kiểu thở Kussman, Cheyne Stokes
+ Rối loạn tim mạch
+ Có biểu hện co giật chân tay
+ Liệt thần kinh
+ Nếu bệnh giảm sẽ để lại di chứng nặng nề: liệt nửa người, rối loạn vận mạch, rối loạn cảm giác, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn tinh thần, hành vi tác phong
4: Tiến triển : Sau tai biến thường có hai giai đoạn :
4.1: Giai đoạn liệt mềm
4.2: Giai đoạn liệt cứng
5: Điều trị
5.1: Điều trị nguyên nhân
5.2: Điều tri triệu chứng
Trang 4II: HOẠT ĐỘNG TRỊ LIỆU
1 Những vấn đề của bệnh nhân
Đối với bệnh nhân liệt nửa người, triệu chứng liệt thường kèm theo triệu chứng tê, nghĩa là mất cảm giác nông hay sâu hay cả hai Bệnh nhân cũng có thể có biến đổi về hành vi hay cá tính, suy giảm về trí nhớ, rối loạn ngôn ngữ và cảm xúc Do đó những vấn đề đặt ra cho KTV bao gồm:
+ Mất năng lực cử động tay hay chân, thay đổi vị trí trên giường hay trên ghế, hoặc thăng bằng khi ngồi
+ Mất ý thức về cử động của các khớp chi liệt hay về tương quan giữa các phần chi liệt với toàn thân
+ Mất khả năng hiểu lời nói hay chữ viết
+ Mất sáng kiến, trầm cảm, cảm xúc bất ổn định
+ Mất năng lực diễn tả tư tưởng hay phát ngôn
+ Ý thức về mất năng lực thể chất và mất phẩm giá
2 Chương trình hoạt động trị liệu
2.1 Sinh hoạt hàng ngày
Những hoạt động này liên quan tới tính di động của cơ thể, năng lực sử dụng và sự tập trung Đây là vấn đề phức tạp và đòi hỏi người bệnh cố gắng cả về thể chất và tâm trí KTV phải biết phân tích mỗi hoạt động ra các thành phần và lập kế hoạch từng bước một để tránh thất bại trong buổi đầu tiên ở những bước khó khăn Tất cả cử động hàng ngày cần tránh những phản ứng liên hợp, những cử động bình thường và vì thế đáng cần được hướng dẫn đầy đủ và lặp lại đến khi bệnh nhân tự tiến hành đúng Mỗi người bệnh sẽ có những mong muốn khác nhau trong đời sống của họ, vài hoạt động có chọn lựa và có thể ứng dụng cho cá nhân theo yêu cầu cũng như điều kiện công việc của họ
Các bài tập không bao giờ bắt đầu sớm so với cử động phục hồi của người bệnh, KTV cần hướng dẫn cho người bệnh thực hiện tốt, tránh làm thất vọng hay thất bại Khuyến khích người bệnh tự chải đầu, tự đánh răng hàng ngày Người bệnh có thể gắn thêm một que dài vào lược, bàn chải để sử dụng dễ dàng hơn Với người bệnh có khả năng di chuyển, khuyến khích họ dùng nhà vệ sinh khi có nhu cầu, nhưng cần hướng dẫn họ có một chỗ
Trang 5Tóm lại khuyến khích người bệnh sử dụng những chức năng còn lại và tập luyện càng sớm càng tốt trước khi có tình trạng quá lo lắng của người nhà và sự ỷ lại của người bệnh
2.2 Tập luyện chức năng bàn tay
Bàn tay chỉ có thể hoạt động hữu hiệu nếu vai, khuỷu và cẳng tay được kiểm soát Mặt khác cần có cảm giác tư thế tốt và sự kiểm soát cơ thể hữu hiệu Đó là điều khó với số đông bệnh nhân liệt nửa người Vì đôi khi phục hồi chỉ chú trọng cố gắng dạy người bệnh đi và độc lập trong công việc, cánh tay và bàn tay không được chú ý đến càng ngày càng thành vấn đề đối với người bệnh trong việc dùng một tay làm việc và kéo theo bàn tay không bao giờ phát triển đầy đủ Nếu cánh tay xuất hiện phản ứng liên hợp, kéo mạnh một phần gập sẽ gây cản trở phản ứng thăng bằng và gây trở ngại trong sinh hoạt hàng ngày Do vậy từ khi mới bắt đầu bị bệnh người bệnh phải cần duy trì tầm vận động các khớp vai, khuỷu, cổ tay, bàn tay, ngón tay Khi cử động ngón tay phục hồi sớm, chương trình tập gồm:
- Tập buông và nắm
- Tập điều hợp của hai tay
- Khuyến khích sử dụng tay không thuận để giúp tay thuận, ví dụ: cầm nắm hay để chặt đồ vật cố định
Hoạt động trị liệu bàn tay
nhằm tăng cường sự tinh tế của bàn tay
2.3 Tập luyện di chuyển
Tập làm những công việc thường ngày
Trang 6Sự an toàn khi di chuyển phụ thuộc vào cảm giác tư thế cũng như sự điều khiển cử động và sức mạnh cơ Nếu mất cảm giác tư thế, người bệnh cần tập trung mắt để kiểm soát tư thế Đứng lên từ vị thế ngồi và ngồi xuống từ vị thế đứng là vấn đề đầu tiên trong tập luyện di chuyển, tiếp theo là tập thăng bằng và tập đi Lực cơ và điều hợp chân sẽ tốt hơn nếu cho người bệnh đạp xe ( chân yếu buộc vào bàn đạp) Khi người bệnh vững hơn có thể dạy lên xuống xe hay lên xuống thang
Bệnh nhân tập với xe đạp