1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang

129 406 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những khía cạnh vấn đề thực tiễn trên, việc phát triển du lịch tín ngưỡng - tâm linh một cách bền vững, làm rõ mức độ khác nhau về sự thỏa mãn của hai đối tượng từ đó đi đến việc làm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐOÀN THỊ NGỌC LINH

SO SÁNH MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH THAM QUAN VÀ KHÁCH DU LỊCH KHI DU LỊCH Ở CHÂU ĐỐC – AN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐOÀN THỊ NGỌC LINH MSSV: 4105209

SO SÁNH MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH THAM QUAN VÀ KHÁCH DU LỊCH KHI DU LỊCH Ở CHÂU ĐỐC – AN

08 - 2013

Trang 4

LỜI CẢM TẠ



Lời đầu tiên bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến cô Đinh Thị Lệ Trinh đã hướng dẫn trực tiếp, giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Em chân thành cảm ơn quý thành cô trong khoa kinh tế và quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ, thư viện khoa, trung tâm học liệu đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cám ơn các anh chị cán bộ ở Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang và Ủy Ban Nhân Dân thành phố Châu đốc, đặc biệt là chị Xuân Hương và anh Trần Anh Vũ chuyên viên du lịch đã cung cấp cho em những

số liệu thứ cấp cần thiết trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, em xin cám ơn những du khách đến tham quan du lịch tại Châu Đốc đã dành thời gian quý báu cho em phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi, để lấy được thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu đề tài này

Cần Thơ, ngày……, tháng……, năm………

Sinh viên thực hiện

Đoàn Thị Ngọc Linh

Trang 5

TRANG CAM KẾT



Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày … tháng … năm …

Sinh viên thực hiện

Đoàn Thị Ngọc Linh

Trang 6

MỤC LỤC

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH viii

CHƯƠNG 1 1

PHẦN GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÁC GIẢ THUYẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

1.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu 3

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Không gian 3

1.4.2 Thời gian 4

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 4

CHƯƠNG 2 5

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

2.1.1 Khái niệm cơ bản về du lịch 5

2.1.1.1 Các khái niệm chung về du lịch 5

2.1.1.2 Du lịch tín ngưỡng - tâm linh 7

2.1.1.3 Du khách (tourist) 9

2.1.1.4 Sản phẩm du lịch 10

2.1.2 Xác định mô hình nghiên cứu của đề tài 11

2.1.2.1 Các khái niệm có liên quan 11

2.1.2.2 Các mô hình nghiên cứu về sự hài lòng và mô hình xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách 12

Trang 7

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu 20

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 21

2.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 21

2.2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 21

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 22

2.2.3.1 Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu 22

2.2.3.2 Cụ thể các phương pháp phân tích 22

2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TỔNG THỂ CỦA ĐỀ TÀI 26

CHƯƠNG 3 27

TÌNH HÌNH DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC AN GIANG GIAI ĐOẠN 2010 – 2012 VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2013 27

3.1 TỔNG QUAN VỀ CHÂU ĐỐC AN GIANG 27

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình 27

3.1.1.2 Khí hậu 29

3.1.1.3 Tài nguyên du lịch ở Châu Đốc 29

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36

3.1.2.1 Tình hình kinh tế 36

3.1.2.2 Cơ sở hạ tầng 37

3.2 TÌNH HÌNH DU LỊCH CỦA THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC GIAI ĐOẠN 2010 - 2012 39

3.2.1 Số lượng khách viếng thăm 39

3.2.2 Doanh thu 40

3.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 41

3.2.4 Các dự án đầu tư 43

3.2.5 Một số tour du lịch đến Châu Đốc 45

CHƯƠNG 4 47

SO SÁNH MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH THAM QUAN VÀ KHÁCH DU LỊCH KHI DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG 47 4.1THÔNG TIN CHUNG VỀ MẪU NGHIÊN CỨU 47

4.1.1 Đặc tính xã hội 47

Trang 8

4.1.1.1 Giới tính 47

4.1.1.2 Quê quán 48

4.1.1.3 Nghề nghiệp 48

4.1.1.4 Thu nhập và số lần đi du lịch ở Châu Đốc 49

4.1.1.5 Độ tuổi 50

4.1.1.6 Mục đích đi du lịch 50

4.1.1.7 Hành vi của người đi du lịch 51

4.1.2 Nhu cầu của khách viếng thăm đến Châu Đốc An Giang 53

4.2 SO SÁNH MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH THAM QUAN VÀ KHÁCH DU LỊCH 55

4.2.1 Khách tham quan 55

4.3.2 Khách du lịch 66

4.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA LOẠI DU KHÁCH (KHÁCH THAM QUAN VÀ KHÁCH DU LỊCH) VỚI HÀNH VI CỦA DU KHÁCH VÀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG (CHI – SQUARE) 76

4.4 SO SÁNH MỨC ĐỘ HÀI LÒNG TRUNG BÌNH GIỮA HAI ĐỐI TƯỢNG KHÁCH DU LỊCH VÀ KHÁCH THAM QUAN (KẾT QUẢ T-TEST) 79 CHƯƠNG 5 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

5.1 KẾT LUẬN 80

5.2 KIẾN NGHỊ 81

5.2.1 Ủy Ban Nhân Dân thành phố 81

5.2.2 Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch 82

5.2.3 Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 1 88

PHỤ LỤC 2 114

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Số lượng du khách đến An Giang và Châu Đốc 2010 – 2012 39

Bảng 3.2: Doanh thu du lịch thành phố Châu Đốc 2010 – 2012 41

Bảng 3.3: Số cơ sở và lao động trong lĩnh vực du lịch của Châu Đốc 2010 – 2012 41

Bảng 3.4: Số lượng và xếp hạng khách sạn thuộc địa bàn thành phố Châu Đốc và tỉnh An Giang tháng 6 – 2012 42

Bảng 3.5: Các dự án kêu gọi đầu tư thành phố Châu Đốc năm 2012 45

Bảng 4.1: Giới tính du khách đến du lịch Châu Đốc 47

Bảng 4.2: Quê quán du khách đến du lịch Châu Đốc 48

Bảng 4.4: Thu nhập và số lần đi du lịch của du khách khi du lịch ở Châu Đốc 49

Bảng 4.5: Độ tuổi du khách đến du lịch Châu Đốc 50

Bảng 4.6: Mục đích đi du lịch của du khách khi du lịch Châu Đốc 50

Bảng 4.7: Hành vi của người đi du lịch khi du lịch Châu Đốc 51

Bảng 4.8: Nhu cầu của khách viếng thăm đến Châu Đốc An Giang 53

Bảng 4.9: Mức độ hài lòng chung của khách tham quan về chất lượng dịch vụ tại Châu Đốc 56

Bảng 4.10: Kết quả Cronbach’s Alpha khách tham quan 57

Bảng 4.11: Bảng tổng hợp số lượng nhân tố cho khách tham quan 59

Bảng 4.12: Ma trận nhân tố đã xoay cho khách tham quan 60

Bảng 4.13: Bảng tính điểm hệ số các nhân tố cho khách tham quan 62

Bảng 4.14: Kết quả kiểm tra đa công tuyến của khách tham quan 63

Bảng 4.15: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính của khách tham quan 64

Bảng 4.16: Mức độ hài lòng chung của khách du lịch về chất lượng dịch vụ tại Châu Đốc 65

Bảng 4.17: Kết quả Cronbach’s Alpha khách du lịch 66

Bảng 4.18:Bảng tổng hợp số lượng nhân tố cho khách du lịch 68

Bảng 4.19: Ma trận nhân tố đã xoay cho khách du lịch 69

Bảng 4.20: Bảng tính điểm hệ số các nhân tố cho khách du lịch 71

Trang 10

Bảng 4.21 Kết quả kiểm tra đa công tuyếnkhách du lịch 72 Bảng 4.22 : Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính khách du lịch 73 Bảng 4.23: Mối quan hệ giữa loại du khách với phương tiện di chuyển khi đi

du lịch (Crosstabulation) 76 Bảng 4.24 : Kết quả kiểm định T – Test 77

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ 13

Hình 2.2 Mô hình phân tích mức độ quan trọng và thực hiện dịch vụ 14

Hình 2.3 Mô hình servqual 15

Hình 2.4 Mô hình servperf 17

Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của đề tài 20

Hình 2.6 Mô hình tổng thể của đề tài 26

Hình 3.1 Bản đồ địa lý hành chính thành phố Châu Đốc 27

Hình 3.2: Chùa Tây An Châu Đốc An Giang 29

Hình 3.3: Lăng Thoại Ngọc Hầu Châu Đốc An Giang 31

Hình 3.4: Miếu Bà Chúa Sứ Núi Sam 32

Hình 3.5: Kinh Vĩnh Tế Châu Đốc An Giang 35

Trang 12

CHƯƠNG 1 PHẦN GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Lý do chọn đề tài

Vai trò của du lịch ngày càng quan trọng trong sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, hơn thế nữa việc đầu tư đẩy mạnh du lịch cũng tạo điều kiện phát triển các ngành có liên quan Nhận thấy được những đóng góp tích cực của ngành du lịch nên có nhiều địa điểm được khai thác để trở thành những nơi tham quan du lịch kỳ thú Tuy nhiên, theo các chuyên gia trong ngành du lịch như trung tướng Lưu Phước Lượng (Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ), ông Huỳnh Vĩnh Ái (Thứ trưởng Bộ VHTTDL) khi được báo chí phỏng vấn đều cho rằng du lịch tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trùng lắp, sao chép sản phẩm du lịch của nhau nên thiếu tính đa dạng và mất đi cảm giác mới

mẻ vốn cần có của ngành du lịch Do vậy, ngành du lịch cần làm mới mình, phát triển một cách hợp lý, tránh lãnh phí, cần tạo ra sự độc đáo theo hướng riêng của từng nơi để khai thác có hiệu quả hơn

Đối với tỉnh An Giang thì từ lâu đã được biết đến với thất sơn hùng vĩ đầy bí ẩn với nhiều chùa chiền, đền miếu, Từng địa danh có những điểm nổi bật riêng, là do thiên phú hay do con người tạo ra thì đều có một giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật được nhiều người biết đến và được giới kinh doanh trong ngành du lịch đánh giá cao, thể hiện qua việc ngày càng có nhiều dự án đầu tư phát triển nhằm đẩy du lịch trở thành ngành chủ lực của tỉnh Trong đó, ở thành phố Châu Đốc có Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, là lễ hội tâm linh dân gian kéo dài nhất trong cả nước, hàng năm thu hút khá nhiều lượng du khách tham quan, hành hương, đã được chính thức công nhận là lễ hội cấp quốc gia vào năm 2002 Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, chùa Hang cũng là những điểm đến được đông đảo khách lựa chọn khi đến Châu Đốc Đến đây, du khách không chỉ thỏa mãn nhu cầu nhìn ngắm, mà còn thỏa mãn đức tin về sự may mắn trong cuộc sống Đây là điểm khác biệt và thu hút của nơi này so với các địa điểm du lịch khác Du lịch tín ngưỡng - tâm linh khai thác yếu tố tôn giáo hoặc lịch sử dân tộc, tâm linh dân gian Nếu loại bỏ yếu tố mê tín dị đoan thì đây là ngành hoạt động hướng con người đến điều tốt lành Tuy đây không phải là một loại hình du lịch mới mẻ trên thế giới, nhưng đem so với các loại hình du lịch ở Việt Nam hiện nay thì Châu Đốc là một trong ít nơi tập trung khai thác phát triển khá tốt loại hình này

Trang 13

Mặc khác Châu Đốc cũng còn gặp nhiều vấn đề khó khăn, gây bức xúc cho du khách khi đến đây Các tệ nạn đang nổi cộm hiện nay là lừa gạt, móc túi, lợi dụng lòng tin của khách hành hương để xem bói, bán chim phóng sinh,… Nó không những ảnh hưởng đến bộ mặt của một khu du lịch mà còn gây mất trật tự an ninh xã hội, cần được xử lý triệt để Ban quản lý cũng lộ rõ nhiều chỗ thiếu sót cần cải thiện để mang lại đúng giá trị thật sự của một nơi

du lịch xanh, sạch, đẹp, là chỗ dựa tâm linh cho du khách phương xa Nhìn chung, các thông kê, nghiên cứu, chính sách phát triển du lịch thường chỉ chú trọng đến khách du lịch mà bỏ sót đối tượng khách tham quan Tuy không lưu trú nhưng khách tham quan cũng đóng góp phần không nhỏ trong doanh thu cũng như sức ảnh hưởng đến sự quảng bá du lịch của tỉnh Khách tham quan

và khách du lịch có những nhu cầu riêng nên việc đánh giá chất lượng dịch vụ của nhà cung ứng cũng với mức độ khác nhau Do vậy, cần điều tra sự hài lòng của họ cũng để đề ra những chính sách hài hòa giữa các đối tượng khách viếng thăm nhằm phát triển du lịch Châu Đốc An Giang bền vững hơn

Từ những khía cạnh vấn đề thực tiễn trên, việc phát triển du lịch tín ngưỡng - tâm linh một cách bền vững, làm rõ mức độ khác nhau về sự thỏa mãn của hai đối tượng từ đó đi đến việc làm thỏa mãn nhu cầu của du khách khi du lịch các địa điểm của Châu Đốc An Giang thì cần có nhiều nghiên cứu hơn để cung cấp thêm thông tin, hướng giải quyết và những đề xuất khả thi

Do vậy, đề tài “so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du

lịch khi du lịch ở thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang” được quyết định

Trang 14

- Mục tiêu 3: so sánh sự thỏa mãn của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở Châu Đốc An Giang

- Mục tiêu 4: đưa ra kiến nghị để đáp ứng nhu cầu cũng như thu hút du khách đến viếng thăm Châu Đốc An Giang trong thời gian tới

1.3 CÁC GIẢ THUYẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết 1: Mục đích của phần lớn khách đến viếng thăm các địa điểm du lịch ở Châu Đốc An Giang là để hành hương, cúng viếng

- Giả thuyết 2: Nhu cầu của khách tham quan và khách du lịch khác nhau

- Giả thuyết 3: Tất cả các nhân tố đưa ra đều có ý nghĩa quan trọng đối với mức độ hài lòng của du khách

- Giả thuyết 4: Lĩnh vực du lịch của Châu Đốc An Giang đang phát triển tích cực giai đoạn 2010 – 2012

- Giả thuyết 5: Đa số du khách đều hài lòng khi đến thăm viếng các địa điểm du lịch ở Châu Đốc An Giang

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Câu hỏi 1: Du lịch đóng góp như thế nào đến kinh tế - xã hội của Châu Đốc An Giang?

- Câu hỏi 2: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách khi đến viếng thăm các địa điểm du lịch của Châu Đốc An Giang? Yếu

Trang 15

Châu Đốc, tỉnh An Giang như: Lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Hang, miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, Chùa Tây An Bởi vì, đây đều là những hạng mục nằm trong Khu di tích lịch sử - văn hóa đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là di tích cấp Quốc gia Khi đến với thành phố Châu Đốc, du khách thường ưu tiên lựa chọn và chỉ tập trung tham quan những địa điểm trên

1.4.2 Thời gian

Đề tài được thực hiện từ tháng 8 / 2013 đến tháng 12 / 2013 Các số liệu

sơ cấp sẽ được tiến hành thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 9 / 2013 đến tháng 10 / 2013 Đề tài sẽ phân tích số liệu thứ cấp trong 3 năm 2010 đến

2012

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu

Khách tham quan và khách du lịch nội địa chiếm phần lớn trong cơ cấu khách đến viếng thăm các địa điểm được lựa chọn nghiên của Châu Đốc tỉnh

An Giang nên được chọn làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài

Trang 16

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Khái niệm cơ bản về du lịch

2.1.1.1 Các khái niệm chung về du lịch

a/ Du lịch

Du lịch ngày nay là một đề tài hấp dẫn và đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư để đánh giá chất lượng cuộc sống Du lịch là loại hình giải trí được nhiều người ưa thích,

đã xuất hiện khá lâu trong lịch sử loài người từ thời kỳ cổ đại Tuy đó chỉ là hoạt động mang tính tự phát như những cuộc hành hương về các thánh địa, đền chùa, các nhà thờ Kitô giáo, các cuộc du ngoạn của các vua chúa và quý tộc,…Trải qua thời gian dài, khái niệm du lịch và liên quan đến du lịch được khá nhiều tác giả trình bày khác nhau nhưng nội dung cốt lõi vẫn giống nhau Sau đây là một vài khái niệm phổ biến được nhiều người sử dụng trong lĩnh vực du lịch Định nghĩa du lịch lần đầu tiên xuất hiện ở Anh 1811: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của cuộc hành trình với mục đích giải trí” (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, 2004) Theo hai vị Giáo sư, Tiến sĩ Hunziker và Krapf (1942) được coi là những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc cư trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” Thêm một tác giả nữa nghiên cứu về du lịch là Giáo sư, Tiến sĩ Berneker chuyên gia hàng đầu về

du lịch trên thế giới đã nhận định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” Ông lý giải rằng bởi vì việc định nghĩa du lịch gặp phải nhiều vấn đề không thể đồng nhất như: phải dựa trên góc độ tiếp cận của mỗi đối tượng (doanh nghiệp, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư, người đi du lịch), những tác giả ở các đất nước khác nhau

có ngôn ngữ và cách hiểu khác nhau (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, 2004)

Theo World Conservation Union (1996): “Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn

Trang 17

hóa kèm theo, có thể là trong quá khứ và hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương”

Theo Liên hợp quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union

of Official Travel Oragnization) thì du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống

Ở Việt Nam, Điều 10 trong Pháp lệnh du lịch năm 1999, khái niệm du lịch được nêu lên như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” Để hiểu thêm về du lịch cũng như dễ theo dõi bài nghiên cứu, tác giả xin trích thêm khái niệm tài nguyên du lịch và khu du lịch “Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch” Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường

b/ Các loại hình du lịch

Ngày nay các việc phân loại các loại các loại hình du lịch trên thế giới vẫn chưa thống nhất một cách rõ ràng Bởi vì du lịch ngày càng phát triển, người tham gia du lịch ngày càng đông, nhu cầu du lịch cũng trở nên đa dạng hơn.Các loại hình du lịch mới xuất hiện Tùy theo mỗi người căn cứ vào các khía cạnh khác nhau mà du lịch được chia làm nhiều loại:

- Căn cứ vào nhu cầu du lịch: du lịch nghỉ phép, du lịch thương mại,

du lịch điều trị dưỡng bệnh, du lịch du học, du lịch hội nghị, du lịch thể thao,

du lịch thăm người thân, du lịch tôn giáo tín ngưỡng, du lịch nghiên cứu và các du lịch khác

- Căn cứ vào phạm vi khu vực: du lịch quốc tế và du lịch trong nước

- Căn cứ vào đối tượng du lich: du lịch thanh thiếu niên, du lịch cho những người cao tuổi, du lịch phụ nữ, du lịch gia đình

- Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi: du lịch theo đoàn, du lịch cá nhân Trong hai loại hình thức này lại chia ra làm hai phương thức là có thông qua tổ chức du lịch và không thông qua tổ chức du lịch

Trang 18

- Căn cứ vào phương tiện giao thông thì được phân thành: du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng xe máy, du lịch bằng xe ô tô, du lịch bằng tàu hỏa,

du lịch bằng tàu thủy, du lịch bằng máy bay

- Căn cứ vào phương tiện lưu trú: du lịch ở khách sạn (hotel), du lịch khách sạn ở ven đường (motel), du lịch ở lều trại (camping), du lịch ở làng du lịch (tourism village)

- Căn cứ vào thời gian đi du lịch: du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày

- Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đi du lịch: du lịch nghỉ núi, du lịch nghỉ biển sông hồ, du lịch thành phố, du lịch đồng quê

Do nhu cầu đi du lịch của một người trong chuyến đi có thể nảy sinh khác nhau nên ta thường thấy có sự kết hợp của vài loại hình du lịch với nhau cùng một lúc (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, 2004)

2.1.1.2 Du lịch tín ngưỡng - tâm linh

Thành phố Châu Đốc An Giang lấy du lịch làm lĩnh vực phát triển kinh

tế chủ đạo, mặc khác trong lĩnh vực này Châu Đốc không phải chỉ phát triển một loại hình du lịch tín ngưỡng tâm linh nhưng do điều kiện tự nhiên ưu đãi

và bề dày lịch sử, văn hóa đặc sắc nên tập trung phát triển chủ yếu loại hình du lịch này là chính Do đó, bài nghiên cứu sẽ làm rõ khái niệm cũng như vai trò của loại hình du lịch tín ngưỡng tâm linh

Tín ngưỡng tâm linh là niềm tin sâu sắc của con người vào một sự vật hiện tượng nào đó (có thực hoặc không có thực) chi phối nhận thức, hành vi và cách ứng xử của họ Đặc điểm của tín ngưỡng tâm linh chính là niềm tin vào những điều hư ảo không có thực; thể hiện tính ổn định, giá trị qua các nghi lễ, ứng xử gắn chặt với đời sống tâm linh, lối sống cộng đồng; hành vi tín ngưỡng của các tín đồ mang tính chủ quan không theo một trật tự logic nào

Theo Thượng tọa Thích Đạt Đạo (2008): “Du lịch tín ngưỡng - tâm linh

là loại hình du lịch nhằm tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền thống Thăm viếng bằng tâm trí, trái tim Nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết hướng về cái thiện, hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại, chúng sinh Nâng cao được giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về tâm linh, về Phật giáo”

Theo Tiến sĩ APJ Abdul Kalam (2006), tổng thống Ấn Độ, lý luận rằng:

“Du lịch tín ngưỡng - tâm linh hoàn toàn khác với việc tham quan các đại danh và ngắm nhìn các chiều kích vật lý Du lịch tín ngưỡng - tâm linh nghĩa

là thăm viếng trái tim và tâm trí của các bậc hiền triết tại nhiều địa điểm khác nhau và nhất là những nơi có môi trường văn minh phong phú”

Trang 19

Ngài Dalai Lama, vị thầy tu cao quý nhất trong danh hiệu “mũ vàng” của Tây Tạng, đạt giải Nobel 1989 đã từng có tâm sự: “Cơ hội tham quan các điểm hành hương của các truyền thống tôn giáo khác đã giúp tôi nhận chân rằng du lịch tín ngưỡng - tâm linh đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi lớn

sự hiểu biết và thiết lập sự hoà hợp liên tôn Thông qua đó, chúng ta cùng nỗ lực giảm thiểu tối đa các xung đột dưới danh nghĩa tôn giáo”

Những năm gần đây có sự tách biệt giữa du lịch tâm linh và du lịch tín ngưỡng Du lịch tín ngưỡng là hình thức du lịch phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, du khách thường tìm đến các chùa, đình, miếu, các thắng cảnh tôn giáo để vãn cảnh, cúng bái, cầu nguyện,…du khách sẽ hòa vào các dòng tín đồ để cảm nhận vẻ yên bình, thanh thản ở những thắng tích tôn giáo nổi tiếng Trong du lịch tín ngưỡng có thể chia ra: tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo Còn du lịch tâm linh đặc biệt phát triển ở các quốc gia Châu

Á, đặc biệt những quốc gia theo đạo Phật Du khách trong loại hình du lịch tâm linh không chỉ đơn giản là vãn cảnh, hay tìm hiểu một nền văn hóa khác Với họ, các thánh tích, Phật tích là những nơi giác ngộ, nơi có thể trao tặng cho họ các thông điệp tuyệt vời, chứa đựng minh triết giác ngộ, sự hòa hợp giữa con người với thế giới

Đối với loại hình du lịch tín ngưỡng tâm linh Nhà nước ta cũng rất chú trọng phát triển trong thời gian tới thể hiện qua nội dung của Quyết định số 2468/QĐ-BVHTTDL về việc phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ để tuyển chọn thực hiện năm 2011 của Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch ra ngày 19/7/2010 đã nêu rõ nội dung danh mục “ Nghiên cứu và phát triển loại hình du lịch tín ngưỡng – tâm linh”, có thể được trích dẫn như sau:

- Tín ngưỡng - tâm linh là yếu tố hấp dẫn đối với du lịch

- Cách tiếp cận, khai thác của các doanh nghiệp trong việc du lịch tâm linh là khác nhau dẫn đến các sai lệch trong việc tổ chức hoạt động du lịch tín ngưỡng vì vậy cần làm rõ các khái niệm, phân loại các loại hình về du lịch tín ngưỡng Từ đó để các doanh nghiệp có cơ sỏ để tổ chức các loại hình du lịch tín ngưỡng - tâm linh phù hợp

- Đánh giá nhu cầu và đưa ra giải pháp để phát triển lành mạnh, ổn định loại hình du lịch tín ngưỡng

- Có sự phân biệt rõ giữa tín ngưỡng và mê tín di đoan, không để du lịch tín ngưỡng trở thành mê tín dị đoan

Vào ngày 21 – 22/11/2013, Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững được phối hợp với Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên

Trang 20

Hiệp Quốc (UNWTO) sẽ được tổ chức tại Ninh Bình, với khoảng 300 đại biểu đến dự, trong đó có hơn 100 đại biểu quốc tế Hội nghị này đã được Tổng cục

Du lịch Việt Nam lập kế hoạch chuẩn bị tổ chức từ tháng 6 năm 2012, từ đó có thể tầm quan trọng của du lịch tín ngưỡng tâm linh trong việc phát triển kinh

tế của đất nước, hơn nữa còn được thế giới đặc biệt quan tâm Nội dung thảo luận của cuộc Hội nghị là: tiềm năng phát triển du lịch dựa trên các sản phẩm văn hóa tâm linh, xu hướng đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn với tâm linh, vấn đề bảo vệ môi trường văn hóa, xã hội đối với phát du lịch gắn với tâm linh; thách thức, khó khăn khi phát triển sản phẩm du lịch gắn với tâm linh và quảng bá loại hình du lịch này, hợp tác giữa các nước trong phát triển du lịch tâm linh, vai trò của UNWTO trong phát triển du lịch tâm linh Tổng thư ký UNWTO, ông Taleb Rifai và một số quan chức của UNWTO cũng đã nhận lời tới tham dự hội nghị Đây là cơ hội để tăng cường hợp tác trong lĩnh vực du lịch giữa Việt Nam và UNWTO, đồng thời giới thiệu quảng bá tiềm năng du lịch của Việt Nam

2.1.1.3 Du khách (tourist)

Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2004) trong sách Kinh tế du lịch có chỉ rõ về các loại du khách Khách du lịch là khách thăm viếng (visitor): lưu trú tại một quốc gia hay một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ lại qua đêm tại đó với mục đích như tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, tham dự hội nghị, tôn giáo, công tác, thể thao, học tập,….Khách

du lịch bao gồm:

- Khách du lịch quốc tế (international tourist): Pháp lệnh du lịch Việt Nam theo điều 20 chương V, những người được thống kê là khách du lịch quốc tế phải có những đặc điểm cơ bản sau:

+ Là người nước ngoài, người Việt Nam cư trú ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch

+ Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

+ Mục đích chuyến du lịch của họ là tham quan, thăm thân nhân, tham

dự hội nghị, đi công tác, khảo sát thị trường, thể thao, chữa bệnh, hành hương, nghỉ ngơi,…

- Khách du lịch nội địa (domestic tourist): bất kỳ người nào ngụ tại quốc gia nào, bất kể quốc tịch gì khi du lịch đến một nơi khác với chỗ thường trú của mình trong phạm vi quốc gia trong 24 giờ hay một đêm và vì bất kỳ lý

do nào khác hơn là hoạt động trả công tại nơi đến thăm

Trang 21

Khách tham quan (ecursionist): còn gọi là khách thăm viếng một ngày (day visitor), là khách thăm viếng, lưu lại tại một nơi nào đó dưới 24 giờ và không nghỉ lại qua đêm Khách tham quan bao gồm:

- Khách tham quan quốc tế (international ecursionist): một người được đáp ứng tiêu chuẩn trên của khách du lịch quốc tế nhưng không ở qua đêm được gọi là khách tham quan quốc tế

- Khách tham quan nội địa (domestic ecursionist): một người được đáp ứng các tiêu chuẩn của khách du lịch nội địa nhưng không ở qua đêm, được gọi là khách tham quan nội địa

Trong bài nghiên cứu này để chỉ chung khách du lịch và khách tham quan tác giả xin dùng thuật ngữ “du khách” hoặc “khách viếng thăm”

2.1.1.4 Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và

vô hình, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch

Theo Michael M Colman (1998), sản phẩm du lịch có thể là món hàng

cụ thể như thức ăn, hoặc có thể là món hàng không cụ thể như chất lượng phục

vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát

- Cơ cấu của sản phẩm du lịch:

+ Những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách): gồm nhóm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn

+ Cơ sở du lịch (điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch): gồm cơ

sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

+ Dịch vụ du lịch: là kết quả mang lại nhờ hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng dịch vụ du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch

Theo Tiến sĩ Thu Trang Công Thị Nghĩa, tiến sĩ học, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp: “Sản phẩm du lịch là loại sản phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu của du khách, nó bao gồm di chuyển, ăn ở và giải trí”

Trang 22

2.1.2 Xác định mô hình nghiên cứu của đề tài

2.1.2.1 Các khái niệm có liên quan

Mức độ hài lòng: là trạng thái tình cảm thích thú hay thất vọng thông

qua việc so sánh chất lượng dịch vụ với mong đợi của khách hàng

Theo Philip Kotler (2003) thì sự thỏa mãn (hài lòng) của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt đầu từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ với những kỳ vọng của khách hàng Kỳ vọng của khách hàng được hình thành từ kinh nghiệm mua sắm, từ bạn bè, đồng nghiệp, thông tin từ người bán hàng và đối thủ cạnh tranh

Theo Oliver (1980) thì sự hài lòng của khách hàng là một hàm số của chất lượng sản phẩm, dịch vụ theo cảm nhận của khách hàng và sự mong đợi của chính khách hàng Nếu mong đợi của khách hàng lớn hơn sự hài lòng thì khách hàng sẽ cảm thấy thất vọng về sản phẩm, dịch vụ của nhà cung cấp và ngược lại

Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp trực tiếp xác định mức độ hài lòng với thang đo Liker 5 cấp độ (1: rất không ảnh hưởng - 5: rất ảnh hưởng) với giá trị trung bình như sau:

Giá trị khoản cách = (Maximum-Minimum)/n = (5 – 1)/5= 0.8

Giá trị trung bình Ý nghĩa

1,00-1,08 Rất không hài lòng/ Rất không đồng ý/ Rất không quan trọng

1,81-2,60 Không hài lòng/ Không đồng ý/ Không quan trọng 2,61-3,40 Không ý kiến/ Trung bình

3,41-4,20 Hài lòng/ Đồng ý /Quan trọng

4,21-5,00 Rất hài lòng/ Rất đồng ý/ Rất quan trọng

Chất lượng dịch vụ: có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng

dịch vụ, nhưng nhìn chung các nghiên cứu của nhiều chuyên gia đều cho rằng chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được

Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh là quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ Gronroos (1984) cũng đề nghị hai lĩnh vực của chất lượng dịch vụ, đó là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng, nói lên chúng được phục

vụ như thế nào

Trang 23

Parasuraman và cộng sự (1988, trang 17) định nghĩa chất lượng dịch vụ

là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”

Theo Juran (1988) thì “chất lượng là sự phù hợp đối với nhu cầu”, còn theo Feigenbaum (1991) thì “chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng, những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”

Russell (1999) cho rằng “chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa

và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu

và làm hài lòng khách hàng”

Mối quan hệ chất lượng dịch vụ và sự hài lòng: chất lượng dịch vụ là

khái niệm khách quan, mang tính lượng giá và nhận thức, trong khi đó sự hài lòng là sự kết hợp của các thành phần chủ quan, dựa vào cảm giác và cảm xúc Một số nhà nghiên cứu như Parasuraman, Zeithaml, Berry, Bitner, Bolton ủng

hộ quan điểm sự hài lòng của khách hàng dẫn đến chất lượng dịch vụ Họ cho rằng chất lượng dịch vụ là sự đánh giá tổng thể dài hạn trong khi sự hài lòng khách hàng chỉ đánh giá một giao dịch cụ thể Các nhà nghiên cứu khác như Cronin, Taylor, Spreng, Mackoy và Oliver lại cho rằng chất lượng dịch vụ là tiền tố cho sự hài lòng khách hàng Quan điểm nào đúng hiện tại vẫn chưa khẳng định vì cả hai quan điểm đều có cơ sở lý luận cũng như kết quả nghiên cứu chứng minh (Thongsamak, 2001)

2.1.2.2 Các mô hình nghiên cứu về sự hài lòng và mô hình xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách

a./Các mô hình nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng

 Mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng ( SCI model)

Trong quá trình nghiên cứu người ta sẽ xác định mức độ hài lòng tại thời điểm nghiên cứu của khách hàng, sau đó so sánh đánh giá của khách hàng trên từng tiêu chí với đối thủ cạnh tranh hay với chính mình trong quá khứ, dựa trên cơ sở này nhà nghiên cứu có thể lượng hóa mối liên hệ giữa mức độ hài lòng với các đại lượng tiếp thị khác (lòng trung thành, phần của khách hàng); so sánh cấu trúc sự hài lòng, mức độ hài lòng và tác động của sự hài lòng giữa các nhóm khách hàng khác nhau của công ty Từ đó, các doanh

Trang 24

nghiệp có thể biết được vị thế, sự đánh giá của khách hàng đối với doanh

nghiệp để hoạch định các mục tiêu và chiến lược kinh doanh

Hình 2.1 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ

(American Customer Satisfaction Index – ACSI)

Trong mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ (ACSI), giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách hàng Khi đó, sự

mong đợi của khách hàng có tác động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận Trên

thực tế, khi mong đợi càng cao, có thể tiêu chuẩn về chất lượng cảm nhận của

khách hàng đối với sản phẩm càng cao hoặc ngược lại Do vậy, yêu cầu về

chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng cần phải đảm bảo và

được thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ Sự hài lòng của khách hàng được

tạo thành trên cơ sở chất lượng cảm nhận, sự mong đợi và giá trị cảm nhận,

nếu chất lượng và giá trị cảm nhận cao hơn sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung

thành đối với khách hàng, trường hợp ngược lại, đấy là sự phàn nàn hay sự

than phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng

Hạn chế của mô hình đối với bài nghiên cứu này: dựa vào lý thuyết về

mô hình SCI thì mô hình này được dùng phổ biến trong các nghiên cứu với

qui mô lớn như trong ngành, nội bộ ngành có thể thực hiện trên phương diện

quốc gia, so sánh giữa các thời điểm khác nhau

 Mô hình IPA (Important-Perferformance Analysis) Kết quả từ sự phân tích mức độ quan trọng và mức độ thực hiện được thể hiện lên sơ đồ IPA với trục tung (Y) thể hiện mức độ quan trọng và trục hoành

(X) thể hiện mức độ thực hiện:

Giá trị cảm nhận

(Perceived value)

Sự hài lòng của khách

Trang 25

Hình 2.2 Mô hình phân tích mức độ quan trọng và thực hiện dịch vụ (Importance – Performance Analysis – IPA) (Martilla và James, 1977)

Phần tư thứ 1 (Tập trung phát triển): Những thuộc tính nằm ở phần tư

này được xem là rất quan trọng đối với khách hàng, nhưng mức độ thực hiện của nhà cung ứng dịch vụ rất kém  chú ý đến những thuộc tính này, tập trung phát triển mức độ cung ứng dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Phần tư thứ 2 (Tiếp tục duy trì): Những thuộc tính nằm ở phần tư này

được xem là rất quan trọng đối với khách hàng và nhà cung ứng dịch vụ cũng

đã có mức độ thể hiện rất tốt  tiếp tục duy trì và phát huy thế mạnh này

Phần tư thứ 3 (Hạn chế phát triển): Những thuộc tính nằm ở phần tư

này được xem là có mức độ thể hiện thấp và không quan trọng đối với khách hàng  Nhà quản trị cung ứng dịch vụ nên hạn chế nguồn lực phát triển những thuộc tính này

Phần tư thứ 4 (Giảm sự đầu tư): Những thuộc tính nằm ở phần tư này

được xem là không quan trọng đối với khách hàng, nhưng mức độ thể hiện của nhà cung ứng rất tốt  đầu tư quá mức như hiện tại là vô ích, nên sử dụng nguồn lực này tập trung phát triển những thuộc tính khác

PHẦN I

Mức độ quan trọng cao Mức độ thực hiện thấp

“Tập trung phát triển”

PHẦN II

Mức độ quan trọng cao Mức độ thực hiện cao

“ Tiếp tục duy trì”

PHẦN III

Mức độ quan trọng thấp Mức độ thực hiện thấp

“ Hạn chế phát triển”

PHẦN IV

Mức độ quan trọng thấp Mức độ thực hiện cao

“ Giảm sự đầu tư”

Trang 26

Hạn chế của mô hình đối với bài nghiên cứu này: Đây là mô hình đơn

giản nhất trong các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ Việc xây dựng bảng câu hỏi rất dài, bởi vì ngoài việc đưa ra các chỉ tiêu mà nhà cung ứng dịch vụ cung cấp còn phải xem xét các chỉ tiêu mà khách hàng đánh giá, dễ nhằm lẫn trong quá trình xử lý bảng câu hỏi Trong mô hình khó có thể biết được mức

độ quan trọng giữa các thuộc tính với nhau, từ đó cũng gây không ít khó khăn khi đưa ra chiến lược để giải quyết vấn đề

 Mô hình SERVQUAL (Service Quality)

Hình 2.3 Mô hình servqual (Parasuraman, 1988)

Thang đo SERVQUAL do Parasuraman và cộng sự đề suất và dùng

trong nghiên cứu năm 1994, dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ Trong thời các tác giả liên tục kiểm định thang đo và xem xét các lý thuyết khác nhau, và

cho rằng SERVQUAL là thang đo đạt độ tin cậy và giá trị Thang

đo SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận bởi chính

các khách hàng sử dụng dịch vụ Nghiên cứu của Parasuraman cho rằng Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà họ đang sử dụng với cảm nhận thực tế về dịch vụ mà họ hưởng thụ Từ đó làm cơ

sở cho việc đề ra các biện pháp khắc phục tình trạng kém chất lượng trong dịch vụ Mô hình gồm 10 thành phần, đó là:

truyền miệng nhu cầu cá

nhân

trải nghiệm thông tin kèm

theo

dịch vụ mong đợi

dịch vụ cảm nhận

đánh giá chất lượng dịch vụ

Trang 27

1 Tin cậy (reliability): nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp

và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên

2 Đáp ứng (Responsiveness): nói lên sự mong muốn và sẵn sàng

của nhân viên phục vụ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng

3 Năng lực phục vụ (Competence): Nói lên trình độ chuyên môn

để thực hiện dịch vụ Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng

4 Tiếp cận (access): liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng

cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng

5 Lịch sự (Courtesy): nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng

và thân thiện với khách hàng của nhân viên

6 Thông tin (Communication): liên quan đến việc giao tiếp, thông

đạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ (khách hàng) hiểu biết dễ dàng và lắng nghe về những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc

7 Tin nhiệm (Credibility): nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách

hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào công ty Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và tiếng tăm của công ty, nhân cách của nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng

8 An toàn (Security): liên quan đến khả năng bảo đảm sự an toàn

cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật thông tin

9 Hiểu biết khách hàng (Understanding customer): thể hiện qua

khả năng hiểu biết và nắm bắt nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng thường xuyên

10 Phương tiện hữu hình (Tangibles): thể hiện qua ngoại hình,

trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị hỗ trợ cho dịch vụ

Hạn chế của mô hình đối với bài nghiên cứu này: Mô hình SERVQUAL

là mô hình phổ biến nhưng vẫn có nhiều nhược điểm và cứng nhắc nếu áp dụng để đo lường chất lượng dịch vụ trong một số trường hợp không thích hợp cần có sự thay đổi trong quá trình nghiên cứu Cũng chính Parasuraman và cộng sự (1988) đã cho rằng một trong những khiếm khuyết của SERVQUAL

Trang 28

là do mong muốn tìm được một mô hình có thể đại diện cho tất các loại hình chất lượng dịch vụ nên các nhà nghiên cứu này chỉ giữ lại những thành phần nào phổ biến và phù hợp với tất cả các loại hình dịch vụ Vì vậy một số nhân

tố là cần thiết, và phù hợp với một số loại hình dịch vụ nhưng do không phù hợp với đại đa số nên đã bị loại bỏ

 Mô hình SERVPERF (Service Performance)

Mô hình SERPERF của Cronin và Taylor năm 1992 phù hợp với nội dung và mục tiêu mà đề tài hướng tới Mô hình này là mô hình biến thể từ mô hình SERVQUAL (Parasuraman & ctg, 1988), đã khắc phục những khó khăn khi sử dụng, giảm được thời gian khi phỏng vấn Bởi vì, mô hình SERVPERF

đo lường cảm nhận của khách hàng thay vì đo lường cả chất lượng cảm nhận lẫn kỳ vọng, từ đó xác định chất lượng dịch vụ

Mô hình Servqual: sự hài lòng = sự cảm nhận – sự kỳ vọng

Mô hình Servperf: sự hài lòng = sự cảm nhận

Do mô hình Servperf là mô hình biến thể từ mô hình Servqual nhưng chỉ khác nhau ở cách đánh giá mức độ hài lòng một cách đơn giản hơn do vậy các chỉ tiêu để đánh giá thì vẫn được giữ nguyên như mô hình cũ Nhưng trong những bài nghiên cứu gần đây thì mô hình chỉ gom gọn lại 5 thành phần

Hình 2.4 Mô hình servperf (Cronin và Taylor, 1992)

Nghiên cứu này sử dụng mô hình SERVPERF vì những lý do sau đây:

phương tiện hữu hình

( tangibles )

tin cậy ( reliability )

đáp ứng (responsiveness )

An toàn ( asssurance )

Sự hài lòng ( satisfaction )

cảm động ( Empathy )

Trang 29

- Phần mong đợi của khách hàng trong mô hình SERVQUAL không bổ sung thêm thông tin gì từ phần cảm nhận của khách hàng (Babakus và Boller, 1992)

- Bằng chứng từ thực nghiệm của Cronin và Taylor khi thực hiện các nghiên cứu so sánh trong bốn lĩnh vực ngân hàng, kiểm soát sâu bệnh, làm khô

và thức ăn nhanh; và các nghiên cứu của Parasuraman cũng cho thấy SERVPERF đều tốt hơn SERVQUAL

- Sử dụng mô hình SERVPERF sẽ cho kết quả tốt hơn mô hình SERVQUAL và bảng câu hỏi theo mô hình SERVPERF ngắn gọn hơn phân nửa so với SERVQUAL, không gây nhàm chán và mất thời gian cho người trả lời Khái niệm sự kỳ vọng cũng khá mơ hồ đối với người trả lời (Phong và Thúy, 2007)

- Đo lường kì vọng của khách hàng là rất khó khăn

b./Các nhân tố được lựa chọn trong nghiên cứu này và các bài viết có liên quan

 Nhân tố độ tin cậy:

Li-Chun Huang, National Taiwan University, Taiwan trong nghiên cứu

“Yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ cho sự hài lòng và trung thành khách

du lịch trong Wine Tourism chỉ ra rằng các biến về độ tin cậy là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến cả sự hài lòng và lòng trung thành của khách du lịch Trong nghiên cứu về đánh giá mức độ hài lòng của du khách về khu nghỉ dưỡng thiên nhiên Đông Nam Virginia, Hoa Kỳ của tác giả Meng và cộng sự (2008) đã cho rằng yếu tố cung cấp dịch vụ như sự thân thiện của các nhân viên và chất lượng khách sạn là quan trọng đối với sự hài lòng của khách du lịch

 Nhân tố đáp ứng:

Nghiên cứu của Ivyanno Canny and Nila Hidayat năm 2012 nhân tố đáp ứng được công nhận là có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ Điều này cho thấy khách du lịch cảm thấy rằng nhân viên ngôi đền Borobudur là thiếu nhiệt tình và tính chuyên nghiệp để sẵn sàng giúp đỡ du khách Arabatzis và Grigoroudis năm 2009 nghiên cứu về sự hài lòng của khách du lịch ở Vườn quốc gia Nadia Hy Lạp và thấy rằng du khách không hài lòng nhất đối với vui chơi giải trí, từ đó cho thấy đó là tiêu chí quan trọng cho trong chất lượng dịch

vụ của điểm đến Tuy nhiên, khách du lịch rất hài lòng với các yếu tố chẳng hạn như nhân viên và đặc điểm tự nhiên nơi đây

Trang 30

 Phương tiện hữu hình

Li-Chun Huang, National Taiwan University, Taiwan cũng đồng chỉ ra trong bài nghiên cứu trên thì phương tiện hữu hình cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đánh giá mức độ hài lòng Nghiên cứu của Ivyanno Canny and Nila Hidayat năm 2012 cũng cho thấy rằng phương tiện hữu hình

có ảnh hưởng nhất của chất lượng dịch vụ Khách du lịch rất hài lòng với cảnh quang xung quanh ngôi đền Borobudur và việc vệ sinh môi trường đã biến nơi này trở thành điểm đến quan trọng Arabatzis và Grigoroudis năm 2009 cũng cho rằng cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng để gây ấn tượng với du khách và được đánh giá cao Chui và cộng sự năm 2010 trong một điều tra lý do cho sụt giảm số lượng khách du lịch quốc tế trong một công viên quốc gia ở Kuala Tahan, Malaysia cho biết khách du lịch đánh giá giao thông vận tải , khách sạn

và nhà hàng, hướng dẫn du lịch và các dịch vụ công được cung cấp trong khu vực cùng tác động đến mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ

 Nhân tố an toàn

Nor’Aini Yusof và Faiz Abd Rahman năm 2011 nghiên cứu “Cảm nhận khách du lịch về chất lượng dịch vụ trong Khu du lịch khu vực Lake-Based cũng cho thấy rằng đảm bảo (an toàn) và cấu trúc bền vững làm khách du lịch rất hài lòng với sự hấp dẫn hình ảnh và bị thu hút về nét hoang sơ tự nhiên của nơi này Đây là những thế mạnh của Hồ Kenyir và là yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch trở lại nơi này Chui và cộng sự năm 2010 cũng nhận thấy rằng khách du lịch đánh giá trong chất lượng dịch vụ thì an toàn vệ sinh rất được quan tâm, là nhân tố quan trọng nhất

 Chi phí

Mukhles Al-Ababneh năm 2013 trong nghiên cứu “Chất lượng dịch vụ

và tác động của nó đối với du lịch hài lòng” cho rằng giá cả là yếu tố không

kém phần quan trọng trong đánh giá mức độ hài lòng của du khách Chi phí

được sử dụng cho các sản phẩm du lịch ở các điểm đến Đối với chi phí khách sạn nhà nghỉ được đo lường thông qua số ngày lưu trú ở lại qua đêm Ngoài ra,

du khách còn phải chi tiêu cho các loại chi phí khách như ăn uống, chi phí đi lại tại khu du lịch, chi phí mua sắm quà lưu niệm, đặc sản,… Do đó, các nhà cung cấp dịch vụ lữ hành đã có sự phối hợp giá bằng việc cung cấp các tour du lịch trọn gói (ngoại trừ chi phí cho việc mua sắm của du khách)

Trang 31

Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của đề tài

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu

Kích cỡ mẫu: n = p(1-p)(Zα/2/MOE)2 (2.1) Trong đó:

n: cỡ mẫu p: tỉ lệ xuất hiện của các phần tử trong đơn vị lấy mẫu (0≤ p ≤1)

*cơ quan quản lý

*năng lực của cơ quan quản

*phương tiện vận chuyển

*phong cách ăn mặc của

Trang 32

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua từ các báo cáo của Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, Ban quản trị Miếu Bà Chúa Sứ, Ban quản

lý dự án đầu tư và xây dựng thành phố Châu Đốc, từ năm 2010 đến năm 2012, sách, báo chuyên ngành có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2.2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 200 du khách nội địa ở Châu Đốc An Giang bằng bảng câu hỏi

- Phương pháp chọn mẫu: lấy mẫu theo phương thức thuận tiện

+ 100 quan sát đầu tiên để lấy tỷ lệ của 2 đối tượng khách từ đó cho thấy được quy mô trong tổng số lượt khách đến Châu Đốc du lịch (vì không có số liệu rõ ràng giữa số lượng khách du lịch và khách tham quan)

+ 100 quan sát còn lại được lấy sao cho đủ số lượng 100 khách tham quan và 100 khách du lịch nhưng vẫn đảm bảo theo phương pháp chọn mẫu

- Thiết kế bảng câu hỏi: gồm 3 phần

+ Phần 1: Thông tin chung của đáp viên

+ Phần 2: Phần nội dung nhằm xác định hành vi, nhu cầu, các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách khi du lịch Châu Đốc An Giang + Phần 3: Ý kiến đề xuất của du khách nhằm phát triển du lịch Châu Đốc

An Giang

Trang 33

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

2.2.3.1 Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu

- Mục tiêu 1: phân tích thực trạng chung về du lịch ở Châu Đốc An Giang Sử dụng phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối các số liệu thứ cấp thu thập được để thấy được sự tăng giảm về doanh thu, số lượng khách, từ đó thấy được sự phát triển của ngành du lịch nơi này

- Mục tiêu 2: phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở Châu Đốc An Giang Phương pháp được sử dụng là

+ Phương pháp thống kê mô tả: để phân tích phần thông tin chung của du khách từ đó nhận dạng được đặc điểm của du khách đến viếng thăm

+ Phương pháp bẳng chéo được sử dụng để loại các biến không phù hợp trước, các biến có hệ số tương quan biến-tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0,30 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi có độ tin cậy Alpha từ 0,60 trở lên

+ Phương pháp phân tích nhân tố dùng để thu gọn lại dữ liệu, đưa vào nhóm phù hợp

+ Phương pháp hồi quy tuyến tính để thấy được mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ hài lòng của du khách

- Mục tiêu 3: so sánh sự thỏa mãn của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở Châu Đốc An Giang Dùng phương pháp so sánh, suy luận

- Mục tiêu 4: đề ra kiến nghị để đáp ứng nhu cầu cũng như thu hút du khách đến viếng thăm Châu Đốc An Giang trong thời gian tới

2.2.3.2 Cụ thể các phương pháp phân tích

a Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu khoa học Phương pháp này được dùng để so sánh hai chỉ tiêu cùng loại hay khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống của một chỉ tiêu nào đó qua thời gian hay mức độ hoàn thành kế hoạch của doanh nghiệp Phương pháp này bao gồm:

- Số tuyệt đối: là chỉ tiêu biểu hiện quy mô, khối lượng của hiện tượng hoặc quá trình kinh tế-xã hội trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể

y = y1 – y0 (2.3) Trong đó:

Trang 34

y1 : là giá trị của kì nghiên cứu

y0 : là giá trị kì gốc

- Số tương đối: là chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ so sánh giữa hai tiêu chí thống kê cùng loại nhưng khác nhau về thời gian hoặc không gian hoặc giữa hai chỉ tiêu khác loại nhưng có quan hệ với nhau Trong hai chỉ tiêu của

số tương đối sẽ có một số được chọn làm gốc để so sánh

(2.4)

b Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê mô tả là một trong hai chức năng chính của thống kê (thống kê

mô tả và thống kê ứng dụng) Thống kê mô tả là tập hợp tất cả các phương pháp

đo lường, mô tả và trình bày số liệu

- Giá trị trung bình: Mean, Average: bằng tổng tất cả các giá trị biến quan sát chia cho số quan sát

x

1

1

(2.5)

- Phương sai: là trung bình giữ bình phương các độ lệch giữa các biến

và trung bình của các biến đó

X X s

Nếu các biến được chuẩn hóa thì mô hình nhân tố được thể hiện bằng phương trình:

Xi=Ai1F1+Ai2F2+…+AimFm+ViUi (2.8) Trong đó:

Ai: biến thứ I được chuẩn hóa

Số tương đối động thái =

số liệu kỳ nghiên cứu

số liệu kỳ gốc

Trang 35

Aij: hệ số hồi quy bội được chuẩn hóa của nhân tố i đối với biến j

F: các nhân tố chung

Vi: hệ số hồi qui được chuẩn hóa của nhân tố đặc trưng I đối với biến j

Ui: nhân tố đặc trưng của biến i

m: số nhân tố chung

Các nhân tố đặc trưng có tương quan với nhau và với các nhân tố chung Các nhân tố chung là sự kết hợp tuyến tính của các biến quan sát:

Fi= Wi1X1+Wi2X2+…+WikXk (2.9) Trong đó:

Fi: ước lượng trị số của nhân tố thứ i

e Kiểm định Chi – Square

Chi – Square là phương pháp kiểm định mối quan hệ giữa hai biến định tính với nhau trong tổng thể (định danh – định danh và định danh – thứ bậc), tuy nhiên Chi – Square không cho biết độ mạnh của các mối quan hệ giữa hai biến

Giả thuyết thống kê: H0: hai biến độc lập với nhau

H1: hai biến có liên hệ với nhau

χ2

: đại lượng Chi – Square dùng để kiểm định

Oij : đại diện cho số trường hợp được quan sát trong một ô cụ thể của bảng chéo (tần số quan sát)

Trang 36

Eij : đại diện cho số trường hợp mà bạn mong đợi được gặp trong ô của bản chéo đó nếu không có mối quan hệ giữa hai biến trong bảng (tần số mong đợi)

f Phân tích hồi quy đa biến

Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy là tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến một chỉ tiêu nào đó thông qua phân tích một hay nhiều biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc (trong đó X là biến cố định hoặc không ngẫu nhiên, còn Y là biến ngẫu nhiên), từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng tốt (để phát huy) và nhân tố ảnh hưởng xấu (để khắc phục) Phương trình hồi

quy có dạng:

Y = β0 + β1 X1 + β2 X2+…+βk Xk (2.11) Trong đó:

Y: Mức dộ hài lòng khi đi du lịch

Xi ( i = 1,2,…,k) là các biến độc lập, trong đó

Trang 37

2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TỔNG THỂ CỦA ĐỀ TÀI

Hình 2.6 Mô hình tổng thể của đề tài

so sánh mức độ hài lòng của khách du lịch và khách tham

quan

Trang 38

CHƯƠNG 3 TÌNH HÌNH DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC AN GIANG GIAI ĐOẠN 2010 – 2012 VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2013

3.1 TỔNG QUAN VỀ CHÂU ĐỐC AN GIANG

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình

Nguồn: http://chaudoc.angiang.gov.vn/

Hinh 3.1 Bản đồ địa lý hành chính thành phố Châu Đốc

Trang 39

Châu Đốc là thành phố trực thuộc tỉnh An Giang được thành lập theo Nghị quyết 86/NQ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ, có đường biên giới giữa Việt Nam và Vương quốc Campuchia, cách Thành phố Long Xuyên 54km theo Quốc lộ 91 Đông bắc tiếp giáp huyện An phú; Tây bắc giáp Campuchia; phía Đông giáp huyện Phú Tân; phía Nam giáp huyện Châu Phú; phía Tây giáp huyện Tịnh Biên Về đơn vị hành chánh, thành phố Châu Đốc bao gồm 5 phường: Châu Phú A, Châu Phú B, Vĩnh Mỹ, Núi Sam,Vĩnh Ngươn và 2 xã: Vĩnh Tế, Vĩnh Châu

Châu Đốc là một thành phố không lớn nhưng giáp với nhiều khu vực trong tỉnh, chỉ nói đến việc thu hút khách tham quan trong tỉnh thì việc có nhiều đường ranh giới như vậy được đánh giá là một lợi thế không nhỏ Thành phố Long Xuyên là khu vực tập trung đông dân cư với mức sống cao qua đó

có thể thấy nhu cầu du lịch của người dân ở đây tương đối cao hơn so với các vùng khác trong tỉnh Huyện Phú Tân là cái nôi ra đời của Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, tuy là một tôn giáo chính thức nhưng nó kế thừa giáo lý của Phật Giáo,

có sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn Minh Huyên (được dân gian tôn là Phật Thầy Tây An, được thờ ở Chùa Tây

An tại Châu Đốc) Do đó việc hàng năm khách tham quan quê quán ở Phú Tân chiếm một phần đáng kể khi du lịch tại Châu Đốc Châu Đốc được xem là cửa ngõ giao thương quan trọng của tỉnh An giang và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bởi vì vị trí địa lý của Châu Đốc khá đặc biệt nằm ở ngã ba của hai con sông lớn là sông Hậu và sông Châu Đốc chảy theo chiều Bắc – Nam ; hơn nữa xuất phát từ những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, An Giang có hai cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và Vĩnh Xương, hai cửa khẩu quốc gia Khánh Bình, Vĩnh Hội Đông, An Giang đã chủ động đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu Trong những năm qua, hoạt động kinh tế cửa khẩu đã mang lại kết quả tích cực, có vai trò ngày càng quan trọng của tỉnh và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long Từ đó tạo điều kiện giao lưu mua bán, nâng cao mức sống của người dân thì nhu cầu về du lịch cũng được phát triển kéo theo

Về mặt địa hình thì thành phố Châu Đốc thuộc vùng đồng bằng của tỉnh

An giang do phù sa sông Hậu bồi đắp, nhưng ở trung tâm có Núi Sam đột khởi lên giữa đồng bằng tạo nên cảnh quan độc đáo Các khu di tích nằm tập trung dưới chân núi Sam, xung quanh là những cánh đồng lúa, cụm dân cư, tuyến dân cư Phía tây có kênh Vĩnh Tế chạy song song với biên giới Campuchia, nối liền với thị xã Hà Tiên Các công ty du lịch lữ hành đã khai thác yếu tố này

để tạo ra nhiều tour du lịch Châu Đốc – Hà Tiên phục vụ cho du khách

Trang 40

3.1.1.2 Khí hậu

An Giang nằm trong khoảng vĩ tuyến 10 - 11° Bắc, tức là nằm gần với xích đạo, nên các quá trình diễn biến của nhiệt độ cũng như lượng mưa đều giống với khí hậu xích đạo Do đó, khí hậu Châu Đốc hàng năm chia làm 2 mùa rõ rệt, nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ bình quân hàng năm 25oC - 29oC, nhiệt độ cao nhất từ 36oC - 38oC, nhiệt độ thấp nhất hàng năm thường xuất hiện vào tháng 10, dưới 18oC Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với gió mùa Tây Nam; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau trùng với gió mùa Đông Bắc; lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1500mm Việc phân định

2 mùa rõ rệt làm ảnh hưởng một phần đến tính thời vụ của du lịch Châu Đốc Nhiệt độ và số giờ nắng trong năm cao là điều kiện tốt để du khách có thể dễ dàng đi lại và tham gia các hoạt động ngoài trời ở Châu Đốc Khí hậu, thời tiết thành phố Châu Đốc đại diện chung cho khí hậu, thời tiết ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, cho nên so với các địa điểm du lịch khác trong khu vực Châu Đốc không có điểm nổi bật Hơn nữa với khí hậu ít biến đổi qua các năm thì chính quyền địa phương có thể chủ động lập kế hoạch phát triển thích hợp cho từng thời điểm trong năm

Ngoài ra, Châu Đốc cũng như các tỉnh thành khác tuy ít chịu ảnh hưởng của gió bão nhưng chịu sự tác động mạnh của chế độ thuỷ văn gây nên hiện tượng ngập lụt, sạt lỡ đất bờ sông…cần có kế hoạch phòng tránh

3.1.1.3 Tài nguyên du lịch ở Châu Đốc

a./ Chùa Tây An

Nguồn: http://chaudoc.angiang.gov.vn/

Hình 3.2: Chùa Tây An Châu Đốc An Giang

Ngày đăng: 15/09/2015, 22:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Hình 2.1 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (Trang 24)
Hình 2.3 Mô hình servqual (Parasuraman, 1988) - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Hình 2.3 Mô hình servqual (Parasuraman, 1988) (Trang 26)
Hình 2.4 Mô hình servperf (Cronin và Taylor, 1992) - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Hình 2.4 Mô hình servperf (Cronin và Taylor, 1992) (Trang 28)
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của đề tài - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của đề tài (Trang 31)
Hình 2.6 Mô hình tổng thể của đề tài - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Hình 2.6 Mô hình tổng thể của đề tài (Trang 37)
Hình 3.2: Chùa Tây An Châu Đốc An Giang - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Hình 3.2 Chùa Tây An Châu Đốc An Giang (Trang 40)
Hình 3.3: Lăng Thoại Ngọc Hầu Châu Đốc An Giang - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Hình 3.3 Lăng Thoại Ngọc Hầu Châu Đốc An Giang (Trang 42)
Hình 3.4: Miếu Bà Chúa Sứ Núi Sam - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Hình 3.4 Miếu Bà Chúa Sứ Núi Sam (Trang 43)
Hình 3.5: Kinh Vĩnh Tế Châu Đốc An Giang - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Hình 3.5 Kinh Vĩnh Tế Châu Đốc An Giang (Trang 45)
Bảng 4.5: Độ tuổi du khách đến du lịch Châu Đốc - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Bảng 4.5 Độ tuổi du khách đến du lịch Châu Đốc (Trang 61)
Bảng 4.11: Bảng tổng hợp số lượng nhân tố cho khách tham quan - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Bảng 4.11 Bảng tổng hợp số lượng nhân tố cho khách tham quan (Trang 70)
Bảng 4.13: Bảng tính điểm hệ số các nhân tố cho khách tham quan - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Bảng 4.13 Bảng tính điểm hệ số các nhân tố cho khách tham quan (Trang 74)
Bảng 4.14:  Kết quả kiểm tra đa công tuyến - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Bảng 4.14 Kết quả kiểm tra đa công tuyến (Trang 75)
Bảng 4.20: Bảng tính điểm hệ số các nhân tố cho khách du lịch - so sánh mức độ hài lòng của khách tham quan và khách du lịch khi du lịch ở châu đốc – an giang
Bảng 4.20 Bảng tính điểm hệ số các nhân tố cho khách du lịch (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w