Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, nên vấn đề này được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Trong “Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011 -2020” khẳng định: tiếp tục phấn đấu đến năm 2020 cơ bản nước ta phát triển thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính trị, xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận….Để làm được điều đó chiến lược nhấn mạnh: “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung đổi mới cơ bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học và công nghệ”[65;8]. Chúng ta hướng tới đào tạo ra những con người mới năng động, sáng tạo, có năng lực tự giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Con người đó được trang bị kiến thức trong các lĩnh vực, có kĩ năng và khả năng học tập suốt đời. Ở cấp THCS (Trung học cơ sở), mỗi môn học đều góp phần thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục mà Đảng đề ra. Bộ môn Lịch sử ở trường THCS là môn học với đặc trưng có ưu thế và sở trường trong giáo dục thế hệ trẻ bởi lịch sử không chỉ là quá khứ mà còn là kết tinh giá trị các thế hệ trước để lại và thế hệ sau cần tiếp nối và phát huy. Bộ môn Lịch sử cung cấp cho HS (học sinh) hệ thống tri thức cơ bản về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới với các sự kiện cụ thể, nhằm dựng lại cho HS bức tranh quá khứ của xã hội loài người đã xảy ra. Môn Lịch sử có tác dụng lớn trong việc phát triển tư duy của HS, đặc biệt là tư duy độc lập, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức. Bản thân kiến thức lịch sử tự thân đã mang trong mình tính giáo dục cao cho HS về phẩm chất đạo đức, tư tưởng, tình cảm. Do vậy, bộ môn Lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần nhân văn – những giá trị dễ bị xói mòn trong cuộc sống hiện đại. Môn Lịch sử có tầm quan trọng như vậy nhưng hiện nay chất lượng bộ môn Lịch sử đang dần giảm sút. Muốn khắc phục và giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ GV (giáo viên) và đổi mới chương trình, SGK (sách giáo khoa). Từ đó đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng đất nước, tiếp cận và học hỏi trình độ giáo dục của các nước trên thế giới. SGK là tài liệu cơ bản trong học tập của HS, là quy định về mức độ kiến thức, kĩ năng HS cần đạt để giáo dục HS. Là thước đo phản ánh trình độ văn hóa, khoa học của đất nước. SGK Lịch sử hiện nay có nhiều ưu điểm về nội dung và hình thức. Về cơ bản SGK cung cấp đủ hệ thống tri thức lịch sử cho HS, song nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế. CT (cấu tạo) SGK hiện nay gồm: bài viết và cơ chế sư phạm, trong đó chủ yếu là phần bài viết, còn lại phần kênh hình, tư liệu, câu hỏi và bài tập còn ít, mang tính chất minh họa là chủ yếu. Tư liệu lịch sử nói chung và TLG (tư liệu gốc) nói riêng trong sách là còn hạn chế, chưa phon
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
SỬ DỤNG TƯ LIỆU GỐC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI (THẾ KỈ XVI – GIỮA THẾ KỈ XIX) ĐỂ BIÊN SOẠN SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ TRUNG
HỌC CƠ SỞ SAU NĂM 2015
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hà Nội, 2015
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 21.Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn coi giáo dục làquốc sách hàng đầu Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, nên vấn đề nàyđược ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội Trong
“Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011 -2020” khẳng định: tiếp tục phấn
đấu đến năm 2020 cơ bản nước ta phát triển thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại, chính trị, xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận….Để làm được
điều đó chiến lược nhấn mạnh: “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung đổi mới cơ bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học và công nghệ”[65;8].
Chúng ta hướng tới đào tạo ra những con người mới năng động, sáng tạo, có nănglực tự giải quyết các vấn đề trong cuộc sống Con người đó được trang bị kiến thứctrong các lĩnh vực, có kĩ năng và khả năng học tập suốt đời
Ở cấp THCS (Trung học cơ sở), mỗi môn học đều góp phần thực hiện mụctiêu và nhiệm vụ giáo dục mà Đảng đề ra Bộ môn Lịch sử ở trường THCS là mônhọc với đặc trưng có ưu thế và sở trường trong giáo dục thế hệ trẻ bởi lịch sử khôngchỉ là quá khứ mà còn là kết tinh giá trị các thế hệ trước để lại và thế hệ sau cần tiếpnối và phát huy Bộ môn Lịch sử cung cấp cho HS (học sinh) hệ thống tri thức cơbản về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới với các sự kiện cụ thể, nhằm dựng lại cho
HS bức tranh quá khứ của xã hội loài người đã xảy ra Môn Lịch sử có tác dụng lớntrong việc phát triển tư duy của HS, đặc biệt là tư duy độc lập, sáng tạo trong quátrình lĩnh hội tri thức Bản thân kiến thức lịch sử tự thân đã mang trong mình tínhgiáo dục cao cho HS về phẩm chất đạo đức, tư tưởng, tình cảm Do vậy, bộ mônLịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục truyền thống dân tộc,tinh thần nhân văn – những giá trị dễ bị xói mòn trong cuộc sống hiện đại
Môn Lịch sử có tầm quan trọng như vậy nhưng hiện nay chất lượng bộ mônLịch sử đang dần giảm sút Muốn khắc phục và giải quyết vấn đề này, chúng ta cầnphải nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ GV (giáo viên) và đổi mới chương trình,SGK (sách giáo khoa) Từ đó đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho
Trang 3công cuộc xây dựng đất nước, tiếp cận và học hỏi trình độ giáo dục của các nướctrên thế giới.
SGK là tài liệu cơ bản trong học tập của HS, là quy định về mức độ kiến thức,
kĩ năng HS cần đạt để giáo dục HS Là thước đo phản ánh trình độ văn hóa, khoahọc của đất nước SGK Lịch sử hiện nay có nhiều ưu điểm về nội dung và hìnhthức Về cơ bản SGK cung cấp đủ hệ thống tri thức lịch sử cho HS, song nhìnchung vẫn còn nhiều hạn chế CT (cấu tạo) SGK hiện nay gồm: bài viết và cơ chế
sư phạm, trong đó chủ yếu là phần bài viết, còn lại phần kênh hình, tư liệu, câu hỏi
và bài tập còn ít, mang tính chất minh họa là chủ yếu Tư liệu lịch sử nói chung vàTLG (tư liệu gốc) nói riêng trong sách là còn hạn chế, chưa phong phú Bản thân tưliệu lịch sử có tác dụng bổ sung kiến thức, tạo điều kiện cho HS cụ thể hóa kiếnthức, làm phong phú nội dung lịch sử, đặc biệt TLG có tác dụng làm cho HS nhìnnhận, làm việc với tri thức lịch sử được chân thực, tránh “hiện đại hóa” lịch sử Đócũng là cở sở thiết thực trong việc giúp HS so sánh, phân tích, tổng hợp… tìm rabản chất sự kiện lịch sử, tạo ra cái nhìn khách quan, toàn diện, khoa học về vấn đềlịch sử
Thực tế cho thấy, SGK Lịch sử hiện nay còn ít và chưa chú trọng việc đưaTLG vào BS (biên soạn) và giảng dạy SGK hiện nay vẫn nặng nề, đưa các ý kiếnchủ quan của người viết sách vào nội dung để HS học Từ đó dẫn đến tình trạng HSkhông thích học môn Lịch sử, thậm chí nhiều HS không đọc hay tìm hiểu nội dungbài học trong sách làm cho việc học lịch sử chỉ là nhằm chống đối, học để trả bàicho qua, chứ không vì mục đích yêu thích hay trau dồi kiến thức
Xuất phát từ yêu cầu đào tạo nhân lực mới cho đất nước, từ thực tế SGK vàviệc học tập bộ môn, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hướng tới xây dựng khungchương trình mới, với phương pháp dạy học mới chuyển từ tiếp cận tri thức sangtiếp cận năng lực và phẩm chất người học, nhằm làm thay đổi cục diện dạy và họchiện tại theo hướng tích cực hơn, theo kịp xu thế thời đại hiện nay Trong đó, giáodục lịch sử cần thiết phải cho HS tự đánh giá các vấn đề lịch sử trên cơ sở nhữngchứng cứ xác thực, để HS tự phán xét với vấn đề lịch sử mà không cần qua lăngkính chủ quan nào Từ đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, làm cho
Trang 4HS hứng thú và phát huy được khả năng vốn có của mình một cách năng động vàsáng tạo.
Trong chương trình lịch sử THCS, phần lịch sử thế giới cận đại có vị trí rấtquan trọng Đây là phần lịch sử chiếm khối lượng kiến thức lớn, được BS học trướcphần lịch sử Việt Nam với nội dung phong phú, xuyên suốt tạo cái nhìn đối sánhvới lịch sử dân tộc Đây là phần lịch sử khó vì vậy khi BS SGK Lịch sử sau năm
2015 chúng ta phải chú ý và cần đưa hệ thống TLG vào nội dung SGK, nhằm làmnội dung lịch sử sinh động, hấp dẫn hơn Từ việc BS SGK theo hướng mở làm tiền
đề cho đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng mới, nhằmgiúp GV sáng tạo hơn trong giảng dạy và giúp HS phát triển được năng lực của bảnthân trong học tập môn lịch sử
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với mong muốn góp phần đổi mới cách
BS SGK lịch sử để HS thực sự thích học môn Lịch sử một cách chủ động, tự giác,với tinh thần độc lập, sáng tạo, từ đó nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử ở trường
THCS, tôi quyết định chọn đề tài: “ Sử dụng tư liệu gốc phần lịch sử thế giới (thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX) để biên soạn sách giáo khoa Lịch sử Trung học
cơ sở sau năm 2015 ” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề SGK nói chung, SGK Lịch sử, sử dụng TLG trong BS SGK và dạyhọc nhằm phát triển năng lực của HS nói riêng đã được nhiều nhà khoa học, nhàgiáo dục học, các học giả ở các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu ở các mức
độ, khía cạnh khác nhau
2.1 Tài liệu nước ngoài
2.1.1 Tài liệu giáo dục học
T.A.Ilina trong cuốn “Giáo dục học tập II” (NXB Giáo dục Hà Nội, 1973) đề
cập đến các phương pháp làm việc với SGK và các quy tắc làm việc chủ yếu của
HS trong SGK
B.P.Exipôp trong cuốn “Những cơ sở của lý luận dạy học” (NXB Giáo Dục,
1971) đã khẳng định ý nghĩa của việc đọc sách ngoài giờ lên lớp, yêu cầu để làm
việc với SGK Đồng thời tác giả khẳng định vai trò của tài liệu trong dạy học: “Việc nghiên cứu tài liệu chân thực nêu lên những khía cạnh về đời sống của những tầng
Trang 5lớp xã hội khác nhau trong một thời kỳ nhất định, việc so sánh, đối chiếu các nguồn, việc phân tích, có chứng minh các kết luận thu được đều là những việc rất
có ích”[18;148].
N.M.Iakovlev trong cuốn “Phương pháp và kĩ thuật lên lớp trong trường phổ thông tập I” (NXB Giáo Dục, 1983) đã phân tích ý nghĩa của sử dụng SGK trong
dạy học, phương pháp khai thác SGK hiệu quả trong dạy học lịch sử
A.P.Primacôpxki trong cuốn “ Phương pháp đọc sách” (NXB Giáo Dục,
1978) đã chỉ ra một số kinh nghiệm đọc sách, tự nghiên cứu sách của nhiều nhàkhoa học, có sự phân tích, tổng hợp lại thành “văn hóa đọc sách”
I.F.Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào tập 2”
(NXB Giáo Dục, 1979) trình bày về vai trò, ý nghĩa của SGK cũng như cách sử dụng
SGK và tài liệu học tập trong dạy học ở trường: “SGK và tài liệu học tập phải trở thành một trong những nguồn kiến thức cung cấp kiến thức và là phương tiện quan trọng cuả việc tổ chức công tác tự lập của HS trong giờ học”[29;36].
2.1.2 Tài liệu giáo dục lịch sử
N.G.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” (NXB Giáo
Dục, 1973) đã nêu ra tầm quan trọng của việc sử dụng SGK hiệu quả và cách sửdụng sách hiệu quả cao nhất Đặc biệt ông đã đưa ra sơ đồ sử dụng SGK nhằm giảiquyết mối tương quan giữa nội dung bài giảng của GV và nội dung SGK trong giờ
học lịch sử Đồng thời, tác giả nêu ra vai trò của tài liệu trong dạy học: “Nếu chúng
ta lìa bỏ tài liệu thực thì điều đó sẽ đưa tới kết quả là cố gắng vun xới một vụ thu hoạch dồi dào trên một mảnh ruộng không có phân bón” [16;32], bởi từ tài liệu
thực mới nảy sinh được hình tượng và mang lại kết quả giáo dục cho HS
A.A.Vaghin trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông”
(NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 1977) đã trình bày các biện pháp nâng cao chấtlượng dạy học lịch sử, ý nghĩa của việc sử dụng SGK và tài liệu lịch sử
Trong các tài liệu của các tác giả nước ngoài đã nêu lên vai trò, ý nghĩa củaviệc sử dụng SGK, đưa ra hướng dẫn sử dụng SGK cho hiệu quả nhất Đồng thờicác tác giả thấy được vai trò của tài liệu trong dạy học nói chung và dạy học lịch sửnói riêng Song các tác phẩm trên đều chưa chú ý về CT SGK và cách đưa hệ thống
tư liệu lịch sử gốc vào BS SGK nhằm phát triển năng lực HS trong dạy học
Trang 62.2 Tài liệu trong nước
Vấn đề SGK nói chung, SGK lịch sử, sử dụng TLG trong BS SGK nói riêngvàtrong dạy học lịch sử cũng được nhiều nhà giáo dục Việt Nam quan tâm, chỉ rõ vaitrò, tầm quan trọng của vấn đề
2.2.1 Tài liệu giáo dục học
Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong “ Giáo dục học tập 1” (NXB Giáo Dục,
1987) đã trình bày ý nghĩa của việc dùng SGK Tác giả đưa ra các yêu cầu vềphương thức sử dụng sách, tài liệu và hướng dẫn việc dùng sách ở nhà và trên lớp.Đồng thời các tác giả đã đưa ra các vấn đề cần đảm bảo khi BS SGK
Trần Bá Hoành trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK” (NXB Đại học Sư phạm, 2006), tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của SGK trong dạy học vầ đưa ra yêu cầu cho công việc BS SGK: “Để GV phát triển các phương pháp tích cực, SGK cần chuyển cách trình bày truyền thống kiểu thông báo – giải thích – minh họa sang cách tổ chức các hoạt động tìm tòi khám phá, qua
đó HS tự lực chiếm lĩnh nội dung bài học” [20;195].
Trong cuốn “Giáo dục học tập I” của tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (NXB Đại
học Sư phạm, 2007) đã đưa ra và phân biệt giữa các khái niệm: chương trình, SGK
và các tài liệu học tập khác dùng trong các trường học do Nhà nước quy định Đồngthời, trình bày cụ thể về chức năng của SGK đối với quá trình dạy học và đưa ranhững yêu cầu cơ bản đối với một cuốn SGK
Trong hai cuốn “Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại” của Thái Duy Tuyên, “Giáo dục học đại cương” của Phạm Viết Vượng, các tác giả phần nào đề
cập vị trí, vai trò của sách, yêu cầu và phương pháp sử dụng trong dạy học, hai tácphẩm không đi sâu trình bày chi tiết toàn diện về các lĩnh vực của SGK
2.2.2 Tài liệu giáo dục lịch sử
Cuốn “ Một số vấn đề về lí luận sử học” của Hà Văn Tấn (NXB Đại học Quốc gia, 2008), Cuốn “Phương pháp luận sử học” do Phan Ngọc Liên chủ biên (NXB
Đại học Sư phạm 2003) đã đưa ra khái niệm về sử liệu, tư liệu lịch sử Các tác giả
nêu lên vị trí, ý nghĩa, cách phân loại các nguồn sử liệu, và khẳng định: “Nếu ví công trình nghiên cứu lịch sử như một cơ thể sống thì sự kiện lịch sử là các tế bào CT
Trang 7nên, mà những tế bào đó là từ các tư liệu lịch sử…Bất cứ một vấn đề nào đó mà khoa học Lịch sử đặt ra, có được giải quyết hay không phụ thuộc hoàn toàn vào một điều kiện tiên quyết là có tư liệu lịch sử của vấn đề hay không” [39;204] Đồng thời
các tác giả cũng đưa ra công tác sưu tầm, chọn lọc tư liệu
Trong các giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” xuất bản năm 1976, 1980,
1992 (NXB Giáo dục) (Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị chủ biên), đặc biệt giáo trìnhxuất bản năm 2002 đã đề cập cụ thể vị trí, ý nghĩa của SGK trong dạy học lịch sử ởtrường phổ thông Đồng thời các tác giả, nêu ra CT SGK với hai phần là bài viết và
cơ chế sư phạm, trong đó phần tư liệu (đặc biệt là TLG) đã được sử dụng trong BSSGK Sau đó, các tác giả đã đưa ra cách sử dụng SGK hiệu quả nhất với việc học tập
sơ đồ Đairi vào trong soạn và dạy bài học
Ngoài các giáo trình trên, các tác giả còn công bố trên các chuyên đề, tạp chí,
về vấn đề CT SGK và TLG:
Cuốn “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” của các tác giả Phan
Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường, (NXB Đại họcQuốc gia, 2002) có đề cập đến vấn đề SGK Trong tác phẩm đã đưa ra vai trò củaviệc sử dụng tư liệu lịch sử trong giảng dạy lịch sử, nhất là nguồn tư liệu viết
Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia về dạy - học lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam tại Đà Nẵng, tháng 8 – 2012 Kỷ yếu gồm ba phần: phần thứ nhất là
các nhà khoa học tập trung tập trung đánh giá chương trình, SGK hiện nay nêu ra vịtrí ý nghĩa của SGK, nhận xét về CT SGK chỉ rõ các ưu và khuyết điểm của SGK,
đề xuất định hướng đổi mới chương trình, SGK sau năm 2015 Phần hai là các bàiviết tập trung phân tích những giải pháp nhằm đổi mới phương pháp dạy học lịch sử
ở trường phổ thông trên cơ sở học tập kinh nghiệm các nước trên thế giới Phần ba
là các bài viết tập trung vào các vấn đề đào tạo GV
Vấn đề này còn được nêu trong nhiều tài liệu, bài đăng trên tạp chí chuyên ngành:
- “Kinh nghiệm Đairi với việc dạy học môn sử” của hai tác giả Lương Ninh và
Nguyễn Thị Côi đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 8, 1988
- “Về SGK Lịch sử ở trường Phổ thông Trung học” (Chương trình cải cách)
của tác giả Nguyễn Thị Côi đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 1993
Trang 8- “Về việc sử dụng các tài liệu gốc trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”
của tác giả Trần Viết Thụ trong Hội thảo Khoa học Lịch sử Việt Nam về Đổi mớiviệc dạy, học lịch sử lấy “HS làm trung tâm”, 1996
- “Về cấu trúc và yêu cầu BS SGK môn Lịch sử THCS” của tác giả Nguyễn
Hữu Chí đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4, 2000
- “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn BS SGK lịch sử THCS” của tác giả
Nghiêm Đình Vỳ đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 98, 2004
- “Một vài kinh nghiệm về đổi mới BS SGK Lịch sử” của tác giả Phan Ngọc
Liên đăng trên tạp chí Giáo dục, số 7, 2004
- “Một số yêu cầu về xây dựng chương trình và BS SGK Lịch sử” của tác giả
Phan Ngọc Liên đăng trên tạp chí Giáo dục, số 126, 2005
Các luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên cũng đề cậptới các khía cạnh khác nhau của vấn đề qua các đề tài:
- Luận án“SGK lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam từ 1954 đến nay”, Phạm
Thị Kim Anh, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1999
- Luận văn “Sử dụng SGK nhằm phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông tỉnh Lào Cai”, Lê Quý Toàn, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2003
- Luận án “Sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945 ở trường Trung học Phổ thông Thừa Thiên Huế”,
Nguyễn Thành Nhân, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007
- Luận văn “Sử dụng tài liệu lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 – 1954”, Nguyễn Thị Xuân Khang, Đại học
Sư phạm Hà Nội, 2010
- Luận văn“CT SGK lịch sử bậc Trung học Phổ thông của cộng hòa Pháp và khả năng vận dụng vào Việt Nam qua nội dung: Các quốc gia cổ đại phương Tây –
Hi Lạp và Rôma”, Trần Quỳnh Chi, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2013.
- Luận văn “Mô hình bài viết SGK lịch sử ở trường THCS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và khả năng vận dụng vào Việt Nam”, Lương Thị Phương
Trang 9Liên, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2013.
- Khóa luận “Sử dụng tư liệu lịch sử gốc nhằm phát triển năng lực đánh giá cho HS khi dạy học bài “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII”, Đồng Thị Bay,
Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012
Nhìn chung lịch sử nghiên cứu vấn đề về CT SGK, vấn đề TLG, trong cácgiáo trình, chuyên đề, tạp chí, luận án nêu trên có phần nào đề cập vấn đề trong đócác cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” nói rõ nhất về vấn đề Tuynhiên, nguồn tài liệu nghiên cứu vấn đề đổi mới BS SGK, vấn đề sử dụng tư liệugốc trong BS SGK Lịch sử trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay còn khiêmtốn Những nguồn tài liệu trên giúp chúng tôi có cái nhìn đa chiều về vấn đề này, làđịnh hướng quan trọng để chung tôi tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện cho
đề tài của luận văn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: CT SGK, hệ thống TLGvà đề xuất trongđổi mới BS SGK Lịch sử THCS sau năm 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỉ XVI –giữa thế kỉ XIX)
b Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu CT SGK và đề xuất hệ thống TLG (tư liệu thànhvăn gốc) phục vụ công tác BS SGK Lịch sử THCS sau năm 2015 phần lịch sử thếgiới (thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX) với các nội dung là các cuộc cách mạng xã hội(cách mạng Anh, chiến tranh của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ, cách mạng Pháp),cách mạng công nghiệp, phong trào công nhân nửa đầu thế kỉ XIX và sự ra đời củachủ nghĩa Mác
Trên cơ sở CT SGK hiện nay, định hướng CT SGK, học tập kinh nghiệmtrong BS SGK Lịch sử nước ngoài đề tài đề xuất CT mới trong BS SGK Lịch sửTHCS sau năm 2015 và tiến hành TN (thực nghiệm) sư phạm để chứng minh tínhkhả thi của đề tài
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Trang 10Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học nói chung và thực tiễn việc dạy học ởtrường THCS nói riêng, đề tài khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng TLGvào BS SGK lịch sử sau 2015.
Vận dụng lí luận nghiên cứu vào xây dựng, đề xuất sử dụng hệ thống TLGtrong phần lịch sử thế giới (từ thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX ) trong BS SGK THCSsau năm 2015
b Nhiệm vụ
Để thực hiện các mục đích trên, đề tài là giải quyết các nhiệm sau:
+ Nghiên cứu giáo dục học, lí luận dạy học lịch sử, tâm lí học, tâm lí lứa tuổihọc sinh THCS
+ Nghiên cứu chương trình SGK chuẩn, khai thác nội dung phần lịch sử thếgiới (thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX) để tìm ra những nội dung cơ bản cần đưa TLGvào BS SGK sau 2015
+ Điều tra cơ bản chất lượng dạy học, thực trạng sử dụng TLG trong dạy họclịch sử của GV và học sinh THCS
+ Đề xuất hệ thống TLG có thể sử dụng trong đổi mới BS SGK Lịch sử THCSphần lịch sử thế giới (thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX)
+ Cụ thể hóa lý luận và thực tiễn nêu trên bằng bài TN để khẳng định tínhđúng đắn của lí luận và đề xuất đã đưa ra
+ Sử dụng phương pháp toán thống kê
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
a Cơ sở phương pháp luận của đề tài
Dựa trên lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối của Đảng cộng sảnViệt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục lịch sử
Lý luận về giáo dục học, tâm lí học phương pháp dạy học của các nhà khoahọc giáo dục, giáo dục lịch sử trong và ngoài nước
b Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận :
Nghiên cứu qua các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lốicủa Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 11Triển khai đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu từ các công trình của các nhà giáodục, các nhà giáo dục lịch sử, các nhà nghiên cứu lịch sử, các đề tài nghiên cứu viết
về vấn đề CT BS SGK và TLG
Nghiên cứu thực tiễn:
Tiến hành điều tra cơ bản bằng các hình thức quan sát, dự giờ, trắc nghiệm, trảlời câu hỏi của GV và HS để đánh giá được thực tế dạy học lịch sử ở trường THCStại Hà Nội, Nam Định, Sơn La, Hòa Bình
Tiến hành soạn bài TN theo những đề xuất dự kiến mà luận văn đề ra, tiếnhành TN sư phạm để khẳng định tính đúng đắn của đề xuất
6 Giả thuyết khoa học của đề tài
Chất lượng dạy học lịch sử ở trường THCS sẽ được nâng cao nếu xây dựngđược hệ thống TLG vào đổi mới BS SGK sau năm 2015 phần lịch sử thế giới (thế kỉXVI – giữa thế kỉ XIX ) Từ đó, sẽ phát huy sức sáng tạo của GV và phát triển nănglực trong học tập của HS
và phát triển năng lực HS trong học tập nhằm nâng cao chất lượng bộ môn
8 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài làm phong phú thêm lí luận về phương pháp dạy học lịch sử nói chung,
về vấn đề CT SGK và vận dụng đưa TLG vào BS SGK nói riêng
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp các GV giảng dạy học lịch sử ởtrường THCS có nhận thức mới về CT SGK sau 2015 Đồng thời đưa ra hệ thốngTLG làm cơ sở tham khảo cho các nhà khoa học viết SGK sau này và là tư liệu bổsung giúp GV tham khảo dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử
9 Bố cục luận văn
Trang 12Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồmhai chương:
Chương I: Vấn đề sử dụng tư liệu gốc trong sách giáo khoa lịch sử Trung học
cơ sở: lí luận và thực tiễn
Chương II: Đề xuất sử dụng tư liệu gốc phần lịch sử thế giới (thế kỉ XVI giữa thế kỉ XIX) để biên soạn sách giáo khoa Lịch sử Trung học cơ sở sau năm
-2015 Thực nghiệm sư phạm
NỘI DUNGCHƯƠNG I: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG TƯ LIỆU GỐC TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ TRUNG HỌC CƠ SỞ: LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
sử khác Các nhà giáo dục lịch sử đã đưa ra các khái niệm về TLG
Trang 13Trước tiên, để hiểu rõ khái niệm TLG cần phải hiểu về khái niệm tài liệu lịch
sử và tư liệu lịch sử Tài liệu lịch sử là những sách báo hoặc các công trình nghiên
cứu về lịch sử quá khứ của xã hội loài người Theo từ điển tiếng Việt: “Tài liệu là văn bản giúp cho tìm hiểu một vấn đề gì: tài liệu học tập, tài liệu tham khảo; tư liệu
là tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu” [72;884] Trong cuốn “Phương pháp luận
sử học” do Phan Ngọc Liên chủ biên có viết “tư liệu lịch sử là khâu trung gian nối liền giữa nhà sử học với các công trình nghiên cứu lịch sử” [39;269] “Tư liệu lịch
sử là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ nhất định, mang trong mình những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng hóa một mặt hoạt động nào đấy của con người” [39;272] Tác giả Phan Huy Lê trong cuốn “ Tìm về cội nguồn” đưa ra ý kiến như sau: “Tư liệu lịch sử hay sử liệu, theo quan niệm hiện đại, là tất cả những gì chứa đựng những lượng thông tin về lịch sử, giúp nhà sử học khai thác, gạn lọc để tái hiện và nghiên cứu quá khứ lịch sử” Có thể thấy, các tác giả đã định nghĩa tài liệu lịch sử bao gồm tư liệu lịch sử.
Tư liệu lịch sử là phần quan trọng CT thành tài liệu lịch sử, phục vụ cho quá trìnhnghiên cứu hay học tập lịch sử Tư liệu lịch sử chứa đựng những sự kiện lịch sử - là
CT cơ bản của lịch sử Vì thế, tư liệu lịch sử có vai trò hết sức quan trọng đối vớikhoa học lịch sử “là nguồn quan trọng nhất trong nghiên cứu lịch sử”
Trong công tác nghiên cứu, để viết các tác phẩm về lịch sử các tác giả rất chú
ý tới tư liệu lịch sử để mang lại tính hấp dẫn và xác thực cho tác phẩm Nếu coi “tưliệu lịch sử” là nguyên vật liệu để chế tác ra các tác phẩm khác nhau trong nghiêncứu lịch sử thì TLG chính là nguyên liệu “tinh khiết” trong hệ thống ấy Vì đó lànhững căn cứ, bằng chứng lịch sử quan trọng nhất nên luôn được các nhà nghiêncứu lịch sử chú trọng, ưu tiên
Từ khi con người xuất hiện cùng với quá trình lao động của mình đã tự sángtạo ra lịch sử của chính bản thân mình, con người để lại dấu ấn về cuộc sống vậtchất và tinh thần qua các hiện vật, công trình, qua văn tự… Lịch sử của con ngườicàng nhiều bao nhiêu thì những tư liệu về con người càng nhiều bấy nhiêu Lịch sử
là những gì đã xảy ra, không lặp lại, vì vậy khi nghiên cứu về lịch sử ở các thời kỳlịch sử khác nhau với các quan điểm chính trị khác nhau, các nhà nghiên cứu đã cócác cách nhìn nhận lịch sử khác nhau Đôi khi, vì phục vụ mục đích của giai cấp mà
Trang 14các tác giả đã cố ý bóp méo lịch sử, làm sai sự thật Vậy để tìm câu trả lời chính xáccho các sự kiện hiện tượng của quá khứ chúng ta cần dựa vào TLG, dựa vào cácchứng tích còn lại để cho lịch sử không bị hiện đại hóa, bị đóng màu quá khứ.
Tác giả Trần Viết Thụ trong bài viết “Về việc sử dụng các tài liệu gốc trong
giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông”, đã đưa ra khái niệm tài liệu gốc “là những văn kiện, tư liệu có liên quan trực tiếp đến sự kiện, ra đời vào thời điểm xảy ra các
sự kiện như các văn tự cổ, các hiệp ước, điều ước, tuyên ngôn…” [22;245] TLG
không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn mang giá trị nhân văn rất lớn (chỉ có một bảnduy nhất) và mang tính nguyên bản Về mặt thông tin, nó mang những thông tin đầutiên chưa có tư liệu nào nói đến
Như vậy, TLG là tư liệu lịch sử mang những thông tin về sự kiện lịch sử đượcphản ánh lại, ra đời cùng với thời gian và không gian của sự kiện lịch sử đó Nómang thông tin đầu tiên của sự kiện, hiện tượng lịch sử, là bằng chứng gần gũi, xácthực nhất của lịch sử TLG mang giá trị lịch sử đặc biệt mà không một loại tài liệulịch sử nào có được
Một vấn đề đặt ra trong nghiên cứu, học tập khi sử dụng TLG, đó là ngườinghiên cứu học tập không tận tay sở hữu bản gốc của tư liệu, mà chỉ tiếp cận đượccác bản sao chép lại, hay chụp ảnh lại có được gọi là TLG không Ví dụ, khi dạy bàiCách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII, GV sử dụng bản dịch để dạy học cho HS
về Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, hay các tranh ảnh được phôtô lại từ bảngốc thì có coi là đã sự dụng TLG chưa? Theo đĩnh nghĩa về TLG ở trên thì việc sửdụng TLG truy nguyên đúng bản chính, không thay đổi về nội dung, hình ảnh gốc
đã có, nghĩa là đã sử dụng TLG Bởi các TLG chỉ có ở bảo tàng hoặc nơi trưng bày,
GV hay người nghiên cứu không thể tiếp cận được một cách dễ dàng hay sử dụngnhiều lần, thêm vào đó các TLG nước ngoài lại càng khó về ngôn ngữ, địa lí nênviệc sờ tận tay và sử dụng là điều không thể làm được Trong dạy học, nghiên cứuviệc sử dụng TLG có tác dụng rất lớn vì giá trị khách quan của nó, vì vậy khi muốn
sử dụng TLG chúng ta cần thẩm định độ chính xác nguồn gốc của TLG mang tínhgián tiếp đó, để đảm bảo nội dung không bị thay đổi sửa chữa, có như thế thì mớimang lại giá trị thực sự như nó vốn có
Trang 151.1.1.2 Phân loại tư liệu gốc
Khoa học lịch sử tồn tại trên cơ sở các sự kiện lịch sử, mà các sự kiện là tế bàocấu thành lịch sử, các tế bào đó là từ những tư liệu lịch sử Do đó không có tư liệulịch sử thì không có khoa học lịch sử Sự kiện lịch sử xảy ra trong quá khứ và khônglặp lại, nếu lặp lại cũng chỉ là ở trình độ khác, mức độ khác, thời gian khác nhau.Trong mỗi thời kỳ khác nhau tư liệu lịch sử được để lại theo những cách khác nhau,
từ đó tạo ra các loại tư liệu khác nhau Hiện nay, tư liệu lịch sử được chia thành bảyloại: tư liệu thành văn, tư liệu vật chất, tư liệu truyền miệng dân gian, tư liệu ngônngữ, tư liệu dân tộc học, tư liệu phim ảnh, băng ghi hình và tư liệu băng ghi âm.Theo quan niệm về nội dung phản ánh và tính chất của tư liệu có thể chia TLGthành bốn loại sau:
Tư liệu vật chất là sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn và hoạt độngnhận thức của con người, đó là những dụng cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt, vũ khícủa người xưa, thành quách, cung điện… Ví dụ như như thành cổ Loa (Đông Anh –
Hà Nội), trống đồng Ngọc Lũ (Hà Nam) được tìm thấy trong các di chỉ khảo cổhọc Tư liệu vật chất mang ý nghĩa cực kì quan trọng, nó phản ánh thời kì dài củalịch sử khi mà chưa xuất hiện chưa viết, đồng thời mang tính khách quan trung thựclớn Khi đã có chữ viết, tư liệu vật chất có giá trị bổ sung về mặt nhận thức làm chonhận thức của chúng ta chính xác hơn các loại tài liệu chữ viết, bổ sung và kiểm tracác loại tư liệu chữ viết đã đúng chưa và đúng ở mức độ nào Ngày nay, với sự hỗtrợ của khoa học kĩ thuật, số lượng tư liệu vật chất tăng lên, cực kì phong phú, đadạng, chúng ta khai quật được nhiều hơn tư liệu vật chất của các thời kì lịch sử vàgiải mã những bí ẩn của nhân loại thời kì trước kia Tuy nhiên, đây là loại tư liệu
“câm”, tự bản thân nó không nói lên điều gì được vì thế chỉ khi nào được các nhàkhoa học nghiên cứu được thì chúng ta mới biết thông tin về tư liệu Loại tư liệunày thường được bảo quản trong các kho, hay viện bảo tàng nên gây khó khăn trongviệc tiếp xúc trực tiếp
Tư liệu chữ viết là những sử liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã xảy
ra được ghi lại bằng kí tự trên các kênh thông tin khác nhau như: giấy, xương, đá,mai rùa, vỏ cây… Ví dụ bộ Đại Việt sử kí toàn thư (thời Hậu Lê), tác phẩm Phủ
Trang 16biên tạp lục (Lê Quý Đôn) Đây là nguồn tư liệu có khối lượng lớn và đặc biệt quantrọng, đôi khi chiếm địa vị chủ yếu trong các loại TLG Các nhà nghiên cứu đã phânchia tư liệu chữ viết thành các loại khác nhau như theo đặc điểm, theo ngành, theolĩnh vực, …Tuy loại tư liệu này có thể dễ dàng thu thập dưới nhiều hình thức hơncác loại tư liệu khác, nhưng chúng ta cần lưu ý khi nghiên cứu và xử lí trước khiđem vào sử dụng Vì lịch sử mang tính giai cấp nên lịch sử cũng mang tính chủquan, chịu ảnh hưởng tư tưởng của các thời kì lịch sử Khi tìm hiểu loại tư liệu nàychúng ta cần phải đối chiếu với các loại tư liệu khác để có cái nhìn toàn diện, chânthực nhất về lịch sử Ngoài ra, tư liệu chữ viết còn bao gồm cả những bảng số liệuthống kê từ các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa giáo dục Thông quacác bảng số liệu đó phần nào đó lịch sử được cụ thể hóa.
Tư liệu hình ảnh: gồm tranh, ảnh được chụp lại, vẽ lại tại thời điểm xảy ra sựkiện lịch sử Ví dụ tranh Quang cảnh Luân Đôn Anh thế kỉ XVII, tranh Tình cảnhnông dân Pháp trước cách mạng…Đây là tư liệu đặc biệt giúp người quan sát có thểtri giác được lịch sử qua hình ảnh lịch sử Loại tư liệu này giúp chúng ta tái hiện lạibức tranh lịch sử một cách sinh động cụ thể và mang tính trực quan cao Tư liệuhình ảnh rất phong phú, nhưng cần lưu ý loại hình ảnh được dựng lại để chụp thìkhông được gọi là TLG Vì vậy, khi sử dụng cần phân biệt rõ để sử dụng hiệu quả
Tư liệu băng ghi âm, ghi hình là loại tư liệu mới xuất hiện cùng với xã hộihiện đại Ví dụ băng ghi hình sự kiện Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập” tạiquảng trường Ba Đình năm 1945…Loại tư liệu này cho phép chúng ta “nghe”,nhìn” hiện thực lịch sử Nó ghi lại một cách chân thực và tái hiện gần như đầy đủcác sự kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra Tuy nhiên, với sự phát triển của kĩ thuật côngnghệ nguồn tư liệu này dễ bị xuyên tạc, làm giả nên khi sử dụng cần lưu ý về độtrung thực nguyên bản Nếu sử dụng được đúng tư liệu băng ghi âm, ghi hình gốcthì sẽ có giá trị rất lớn
Ngoài ra, còn có loại tư liệu truyền miệng dân gian gồm các thể loại ca daodân ca, vè, truyện thần thoại… được lưu truyền qua các thời kì lịch sử với các dịbản khác nhau lại không có niên đại cụ thể đi kèm, tư liệu được bao phủ lên một lớpmàu sắc kì bí Vì vậy, độ chính xác của tư liệu này cần được nghiên cứu khi sử
Trang 17dụng, cần bóc tách tư liệu dựa trên sự kết hợp với các loại tư liệu khác để gạn đụckhơi trong tìm ra giá trị lịch sử đích thực của nó.
Với các loại TLG ở trên, loại tư liệu chữ viết là chiếm đa số, dễ cho việc tìmkiếm hơn các tư liệu khác nên được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học vàtrong dạy học lịch sử Với tư liệu hiện vật là những “hiện vật câm” không phải lúcnào cũng nói lên được lịch sử, hơn nữa hiện vật lại khó có thể tiếp xúc trực tiếp Tưliệu truyền miệng chứa đựng những thông tin sinh động, chi tiết, song việc thêmthắt, cải biện trong quá trình khẩu truyền nên khiến việc khai thác thông tin khókhăn Trong khi tư liệu viết có thể bị biến đổi qua sao chép nhưng về cơ bản nó ổnđịnh vì thế chỉ cần đối chiếu bản gốc, sử dụng bản gốc sẽ đem lại hiệu quả đặc biệt
Vì thế, trong dạy học lịch sử hiện nay đặc biệt chú ý đến loại tư liệu chữ viết gốc,vừa bởi giá trị của nó, vừa bởi sự dồi dào của nguồn tư liệu Và trong phạm vi luậnvăn của mình, tác giả cũng chỉ đi sâu vào đề xuất sử dụng hệ thống TLG loại chữviết cho việc BS SGK Lịch sử sau năm 2015 ở cấp THCS
1.1.1.3 Đặc điểm tư liệu gốc
Trong nghiên cứu khoa học và trong học tập việc sử dụng TLG được coi trọnghàng đầu, nó có một vị trí tương đối đặc biệt Nhiều nhà khoa học đã xem đây lànguồn chính xác nhất, quan trọng nhất Chính các đặc điểm của TLG đã làm chobản thân nó được chú ý và trở thành quan trọng mà người ta đã ví đó là “bà hoàng”của các nguồn tư liệu khác TLG có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, TLG mang tính khách quan, chân thực TLG là bằng chứng của quákhứ, được ra đời trong thời điểm sự kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra Đó là những kí
tự mang tính nguyên gốc, chưa thông qua một lăng kính chủ quan nào So vớinhững tài liệu lịch sử được viết sau này lịch sử luôn bị chi phối bởi những quanđiểm của tác giả, những bình phẩm phê phán đối với sự kiện, hiện tượng Từ việcbình luận lại lịch sử của một tác giả sau đó có thể bị “tam sao thất bản” qua nhiềutài liệu khác nhau với ý kiến khác nhau Như vậy, chỉ có TLG mới có đủ tính kháchqua, chân thực nhất so với các loại tư liệu, tài liệu khác, là chuẩn mực cho việcnghiên cứu, học tập
Thứ hai, TLG đáng tin cậy và có thông tin chính xác hơn các loại tư liệu, tài
Trang 18liệu khác TLG ra đời đồng thời, gần nhất với sự kiện lịch sử đã diễn ra vì thế sẽđược ghi lại rõ ràng, chi tiết và sống động nhất Đó không phải là các tài liệu viếttheo trí nhớ hay trí tưởng tượng hình dung theo các lời kể lại, vì thế bản thân loại tưliệu này mang tính đáng tin cậy và có thông tin chính xác là cao nhất.
Thứ ba, TLG đưa lại những nhận thức trực tiếp, những thông tin trực tiếp vềcác sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử Đó là nhận thức về không gian, thời gian
sự kiện hiện tượng, những số liệu hay những bảng thống kê chi tiết, những câu nhậnxét miêu tả về nhân vật lịch sử của người đương thời Đó là những thông tin làmngười nghiên cứu, học tập được phản ánh trực tiếp, thu nhận vào trong đầu óc củamình một cách cụ thể nhất, sinh động nhất tạo ra các biểu tượng sâu sắc
Thứ tư, TLG không phải là một tư liệu tổng hợp tất cả các khía cạnh của đờisống xã hội của loài người đã diễn ra, nó chỉ phản ánh một khía cạnh, một chi tiếtnào đó của sự kiện, hiện tượng lịch sử Khi sử dụng trong nghiên cứu, học tập đểlàm sáng tỏ các vấn đề lịch sử cần sử dụng nhiều loại TLG khác nhau để dựng lạiđược bức tranh rõ ràng về các vấn đề lịch sử cần tìm hiểu Mỗi loại tư liệu chỉ mangmột số nội dung hay thông tin, vì thế không nên khiên cưỡng cho nó mang nhữngnội dung không đúng và sẽ làm mất giá trị vốn có
Thứ năm, TLG ra đời cùng với thời điểm và địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử,
do đó có những hạn chế về mặt ngôn ngữ, văn bản, số lượng Đây là loại tư liệu khókhai thác, nội dung đơn lẻ nên khi nghiên cứu, học tập với loại tư liệu này sẽ vấpphải nhiều khó khăn
Với các đặc điểm trên của TLG, trong dạy học lịch sử, GV sử dựng TLG cầnphải tìm hiểu nội dung trước một cách sâu sắc chi tiết, lựa chọn tư liệu phải chú ýđến tính vừa sức của HS, phù hợp với nội dung bài học Trong BS SGK sau năm
2015, khi đưa TLG vào trong sách các nhà khoa học cần chú ý để làm sao phát triểnnăng lực của HS, để HS không chỉ lĩnh hội được kiến thức mà còn phát triển kĩnăng và tư tưởng tình cảm của mình
1.1.2 Cơ sở xuất phát của vấn đề
1.1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nhu cầu nhân lực được đào tạo toàn diện
Trang 19ngày càng cao Điều đó đặt ra cho ngành Giáo dục nói chung, các trường trung họcnói riêng trong dạy học không chỉ cung cấp đầy đủ cho HS các kiến thức về toánhọc, vật lí, văn học hay ngoại ngữ…mà còn hình thành cho HS những hiểu biết đầy
đủ về lịch sử Với các kiến thức được trang bị, HS dần dần hình thành các năng lựctrong cuộc sống, tôi luyện tinh thần dân tộc, từ đó hoàn thành các công việc, nhiệm
vụ trong bất cứ hoàn cảnh nào, lĩnh vực lao động sáng tạo nào phục vụ lợi ích cho
Tổ quốc và nhân loại
Hiện nay, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và xã hội với bộ môn Lịch sử
trong giáo dục thế hệ trẻ ngày càng lớn Môn Lịch sử đã và đang góp phần “ đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm
mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành
và bồi dường nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [41;8].
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường trung học được xây dựng trên cơ sở,quan điểm, đường lối của Đảng về sử học và giáo dục mục tiêu cấp học Mục tiêumôn học cũng căn cứ vào nội dung, đặc trưng của hiện thực lịch sử và nhận thứclịch sử; yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng hiện nay Việc dạy học lịch
sử ở trường THCS nhằm giúp HS nắm được những kiến thức cơ bản, cần thiết vềlịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, làm cơ sở bước đầu cho việc hình thành thế giớiquan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc tạocho HS có năng lực tư duy, hành động, thái độ đúng đắn trong đời sống xã hội
Để đạt được các mục tiêu của việc dạy học lịch sử cần phải đạt được cácchuẩn mực về kiến thức, kĩ năng, thái độ như sau:
Về kiến thức: HS phải biết, hiểu được những sự kiện lịch sử quan trọng củalịch sử xã hội loài người từ nguồn gốc đến nay, trọng tâm là phần lịch sử thế giớicận đại và hiện đại, chú trọng những sự kiện, vấn đề lịch sử liên quan đến lịch sửdân tộc Việc học tập lịch sử dân tộc, HS phải nắm được kiến thức chủ yếu về quátrình phát triển lịch sử dân tộc với những sự kiện nổi bật nhất của từng thời kỳ, hiểunội dung chủ yếu của từng giai đoạn lịch sử dân tộc Qua đó, HS được trang bịnhững hiểu biết đơn giản, bước đầu về một số nội dung của phương pháp luận và
Trang 20nhận thức xã hội: sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người, vai trò của laođộng với sự phát triển xã hội, vai trò quần chúng nhân dân, đấu tranh giai cấp làđộng lực phát triển của xã hội loài người…
Về kĩ năng: dạy học lịch sử ở trường THCS cần bước đầu hình thành các kĩnăng cần thiết trong học tập bộ môn như sử dụng SGK, làm việc với các nguồn tưliệu lịch sử, kĩ năng sử dụng bản đồ và các loại biểu bảng…, kỹ năng phân tích,đánh giá, so sánh, phản biện các sự kiện hiện tượng, nhân vật lịch sử… ở mức độban đầu Hình thành ở HS năng lực đề xuất và giải quyết vấn đề sử học (nêu vấn đề,thu thập, xử lí thông tin, giải quyết vấn đề)
Về thái độ: trên cơ sở những kiến thức cơ bản đã học tập HS sẽ được giáo dụclòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, trân trọng với những di sản lịch
sử trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, thiết tha gắn bó với lý tưởngđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Qua học lịch sử thế giới, HS trân trọng với cácdân tộc, các nền văn hóa trên thế giới và có tinh thần quốc tế đúng đắn HS có niềmtin về sự phát triển từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến văn minh của lịch sử nhân loại vàlịch sử dân tộc
Bản thân bộ môn Lịch sử đã mang trong mình tính giáo dục cao với thế hệ trẻ,
HS học tập bộ môn giúp hình thành thái độ và phẩm chất công dân; tính tích cực vìcộng động, yêu lao động, sẵn sàng đi vào nghiên cứu khoa học kĩ thuật, rèn luyệnlối sống kỉ luật, tuân thủ pháp luật và bảo vệ Tổ quốc
Như vậy, bộ môn Lịch sử ở trường THCS có mục tiêu và nhiệm vụ là “Thôngqua dạy chữ để dạy người”, tức là HS không chỉ được trang bị về kiến thức, kĩ năng,
mà còn giáo dục tư tưởng, tình cảm đúng đắn nhằm phát triển con người toàn diện(đức, trí , thể, mĩ) Mục tiêu đó muốn thực hiện tốt cần phải có chương trình phùhợp, mà cụ thể hóa của nó là SGK SGK cần được BS phù hợp với trình độ, tâm lílứa tuổi HS nhằm phát triển năng lực cho các em, vì thế khi dạy học và BS SGK cầnphải sử dụng thường xuyên TLG Sử dụng TLG chính là đưa HS tới gần nhất vớicác sự kiện, hiện tượng đã xảy ra, HS sẽ tri giác vấn đề lịch sử khách quan nhất, từ
đó tạo hứng thú học tập, phát triển năng lực và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử
1.1.2.2 Đặc trưng của môn Lịch sử ở trường Trung học cở sở
Trang 21Để đưa ra các phương pháp, biện pháp đúng đắn trong dạy học lịch sử, người
GV phải nắm rõ các đặc trưng của bộ môn Khác với các môn học khác môn Lịch
sử có đặc điểm riêng của nó không thể trực tiếp quan sát hay làm trong phòng thínghiệm được, vì lịch sử có tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệthống, tính thống nhất giữa sử và luận
Lịch sử mang tính quá khứ, tất cả mọi sự kiện, hiện tượng được chúng ta
nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra theo một tiến trình lịch sử cùng với sự pháttriển của xã hội loài người Vì thế, con người không thể trực tiếp quan sát được màthông qua tài liệu lưu lại HS tiếp thu lịch sử thông qua việc tạo biểu tượng của
GV trong các giờ giảng, HS không thể “trực quan sinh động” những sự kiện xảy
ra Vì vậy, GV phải dùng các loại tư liệu nói chung, TLG nói riêng để giảng dạycho HS, chứ không thể thay thế sự kiện hiện tượng khách quan đang học Từ các
tư liệu đó HS sẽ được tiếp cận sự khách quan của lịch sử, làm cho lịch sử đượcgần gũi và dễ tiếp thu hơn
Lịch sử mang tính không lặp lại về thời gian và không gian Con người
trong tiến trình lịch sử nhân loại, mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trongthời gian, không gian nhất định và duy nhất một lần Không có một sự kiện, hiệntượng lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàngiống nhau, lặp lại là có sự kế thừa, phát triển, sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại Sựphát triển của lịch sử dân tộc và lịch sử các nước trên thế giới luôn là sự vận độngbiến đổi không ngừng, sự không lặp lại của lịch sử gây khó khăn cho việc tiếp thukiến thức của HS Vì vậy, GV phải hướng dẫn HS cách ghi nhớ các sự kiện và phânbiệt sự kiện với nhau, tránh nhầm lần và hiện đại hóa các sự kiện, hiện tượng lịch sử
Lịch sử có tính cụ thể, khoa học lịch sử nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể
của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó Bản thân mỗi nước có chế
độ chính trị khác nhau, điều kiện sống khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, cónhững nước có cùng hình thái kinh tế xã hội nhưng sự phát triển không giống nhau.Chính điều đó làm nên tính cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi nước, khi nhắc tới một dântộc nào, một giai đoạn thời kỳ nào đều có sự kiện hiện tượng riêng gắn với dân tộc
đó một cách sinh động Đặc điểm này đòi hỏi trong giảng dạy lịch sử người GV cầnphải chú ý trình bày các sự kiện càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu sẽ
Trang 22hấp dẫn HS bấy nhiêu, tránh trình bày máy móc tên địa danh, tên nhân vật, thời gianxảy ra sự kiện mà hãy cụ thể hóa để HS lĩnh hội bằng việc sự dụng các tư liệu, tàiliệu tham khảo kết hợp đồ dùng trực quan.
Tính hệ thống, nội dung tri thức lịch sử rất phong phú, đề cập mọi lĩnh vực
của đời sống loài người, gồm chính trị, kinh tế, văn học nghệ thuật, khoa học kỹthuật…SGK lịch sử ở trường phổ thông phải bao quát tất cả các mặt đó Những nộidung lịch sử đó lại có mối quan hệ với nhau Do vậy, khi giảng dạy người GV phảiluôn chú ý đến mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, các vấn đề lịch sử để cungcấp cho HS những tri thức lịch sử mang tính hệ thống, hoàn chỉnh, tạo cho HS cóđược những tri thức thống nhất, một cái nhìn xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại
Tính thống nhất giữa sử và luận, bất kì một chế độ nhà nước nào cũng đều
có quan điểm chính trị riêng của mình, các sử gia sống trong chế độ nào phải phục vụ
tư tưởng thống trị giai cấp đó Những ghi chép về quá trình phát triển xã hội loàingười từ các góc độ khác nhau là những nội dung lịch sử quý giá Chúng ta đứng trênlập trường giai cấp vô sản, theo chủ nghĩa Mác-Lênin Vì vậy, khi nghiên cứu, giảngdạy lịch sử phải luôn chú ý đấu tranh chống xuyên tạc lịch sử, dựa vào những nguyên
lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để quan sát, nghiên cứu Người
GV phải đứng trên quan điểm này để trình bày thống nhất, giải thích bình luận và mọigiải thích đó bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử cụ thể, chính xác nhằm làm rõ sự kiệnhiện tượng Đó là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính Đảng
Như vậy, quá trình tìm hiểu đặc trưng bộ môn làm chúng ta nắm vững chắchơn các vấn đề cơ bản của nội tại bản thân môn Lịch sử Từ đó, để HS học tập bộmôn cách hứng thú, hiểu rõ các nội dung lịch sử, hoàn thành tốt được nhiệm vụ họctập cần phải sử dụng TLG vào dạy học, nhất là vào BS SGK sau năm 2015 BởiSGK là nguồn tài liệu chủ yếu mà các em được tiếp cận khi học tập Việc đưa TLGvào giảng dạy các nội dung lịch sử là biện pháp giúp HS cụ thể hóa lịch sử, kíchthích sự ham mê học hỏi của HS từ đó làm cho HS yêu thích bộ môn hơn
1.1.2.3 Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh Trung học cơ sở trong học tập lịch sử.
* Đặc điểm tâm lý của học sinh Trung học cơ sở
Trang 23HS THCS thuộc lứa tuổi từ 11 đến 15, là tuổi thiếu niên, giai đoạn chuyển từtrẻ con sang người lớn, vẫn mang tính cách trẻ con nhưng lại tập làm người lớn.Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ đến mức thiếu cân đối về thể chất, tâm lí, trí tuệ.Việc đổi mới BS SGK ở trường THCS theo hướng phát triển năng lực HS trong quátrình học tập cần đến các đặc điểm về động cơ học tập, tư duy tâm lý.
Hoạt động học tập và các hoạt động khác của học sinh THCS có nhiều thayđổi so với học tiểu học, sự tác động đến việc hình thành những đặc điểm tâm lý lứatuổi HS, tiêu biểu như:
Đến thời kỳ này, HS được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau, mỗi mônhọc bao gồm một hệ thống tri thức với những khái niệm trừu tượng, có nội dung sâusắc, phong phú do đó đòi hỏi thay đổi cách học Các em cần học cách học bài cách
tư duy lôgic, trình bày bài học theo ý hiểu của mình Sự phong phú tri thức của từngmôn học làm cho khối lượng tri thức các em lĩnh hội được tăng lên nhiều lần Tầmhiểu biết các em được mở rộng
Sự thay đổi về phương pháp học và hình thức học tập Với các bộ môn khácnhau các thầy cô có phương pháp phù hợp với các hình thức khác nhau, từ đó ảnhhưởng đến việc lĩnh hội kiến thức, làm phát triển trí tuệ, nhân cách của HS MônLịch sử bản thân nó đã mang tính giáo dục cao, HS cũng thay đổi cách tiếp cận mônhọc từ dạng câu chuyện sang học thông sử
Ở cấp học THCS, HS dần chuyển sang mức độ tự học cao hơn, ý nghĩa họctập của các em dần dần được xem là hoạt động độc lập hướng vào sự thỏa mãn nhucầu nhận thức Động cơ học tập của HS rất phong phú do đó thái độ học tập cũngkhác nhau Muốn giúp các em có thái độ đúng đắn trong học tập thì tài liệu học tậpphải súc tích về nội dung khoa học; tài liệu gắn với cuộc sống của các em, làm chocác em hiểu rõ ý nghĩa của tài liệu; tài liệu phải gợi cảm cho HS có nhu cầu tìm hiểutài liệu đó; phải giúp đỡ các em biết cách học, có phương pháp phù hợp
HS THCS đã có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sựvật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở lên có kế hoạch, có trình tự
và hoàn thiện hơn Các em đã biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hóa,
Trang 24phân loại, tốc độ ghi nhớ tài liệu tăng lên.
Như vậy với đặc điểm tâm lí riêng biệt, sự dần dần trưởng thành về tư duy, thaotác trong học tập nhanh nhạy hơn của lứa tuổi học sinh THCS đòi hỏi các nhà BSSGK phải đáp ứng phù hợp sự phát triển của lứa tuổi Việc học tập trong sự khámphá luôn mang lại sự thú vị, hứng thú cho các em, cùng với đặc trưng bộ môn lịch sử
là học tập cái đã qua đặt ra yêu cầu việc BS SGK sau năm 2015 phải đưa nhiều hơnnữa TLG vào học tập bộ môn Đây là biện pháp quan trọng để đáp ứng nhu cầu họctập của HS, qua đó các em sẽ hứng thú với bộ môn khi tiếp thu các kiến thức mới
* Đặc điểm nhận thức của học sinh trong học tập môn lịch sử.
Quá trình nhận thức của HS cũng giống như quá trình nhận thức chung củanhân loại, tức là luôn diễn ra theo con đường biện chứng của nhận thức “từ trựcquan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”
Nhận thức cụ thể trong học tập lịch sử theo đặc trưng của khoa học lịch sử,nhận thức của HS trong học bộ môn là quá trình nhận thức lại những vấn đề mà cácnhà khoa học đã nghiên cứu nhưng HS chưa biết, quá trình nhận thức này được đặtdưới sự hướng dẫn tổ chức chỉ đạo của người thầy
Lôgic quá trình nhận thức của HS trong học tập diễn ra từ việc nắm tài liệumang tính gián tiếp Các sự vật hiện tượng của lịch sử (thế giới, dân tộc, địaphương) khách quan phản ánh trực tiếp vào não của HS thông qua giác quan Đó làgiai đoạn nhận thức cảm tính của HS, các em sẽ phản ánh một cách trực tiếp vàriêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng từ đó tạo nên trong óc HS các biểutượng đã được tri giác trước đó Những biểu tượng đó phản ánh những dấu hiệu bênngoài của các sự vật hiện tượng, nó trở thành cơ sở cho nhận thức lí tính HS bằng
tư duy trừu tượng, khái quát tri thức cụ thể tiến hành việc hình thành các khái niệm,nắm hệ thống khái niệm Trong giai đoạn tiếp theo, từ những hiểu biết sâu sắc vềlịch sử HS vận dụng tri thức đã học để tạo ra tư duy những mối liên hệ kiến thức cũ
và mới, sử dụng kiến thức quá khứ để hiểu ngày nay, để hành động phù hợp trongthực tiễn, hợp với yêu cầu và trình độ, nhiệm vụ của mình
Việc học tập lịch sử bắt nguồn từ tri giác tài liệu, vì vậy các tài liệu càngphong phú bao nhiêu càng tạo cơ sở thuận lợi cho nhận thức lí tính bấy nhiêu
Trang 25Trong dạy học lịch sử, tài liệu có sức mạnh lớn đó là TLG, mang tính khách quannhất, nó ảnh hưởng lớn đến chất lượng quá trình tư duy và trở về thực tiễn của HS.
Do đó, trong dạy học nói chung, trong BS SGK sau 2015 nói riêng rất cần thiếtphải đưa TLG vào BS, kết hợp với sử dụng các phương pháp, biện pháp khác làmột yêu cầu không thể thiếu để giúp HS thực hiện tốt quá trình nhận thức Bởi sựnhận thức của HS là có chọn lọc “không phải là phép phản xạ gương, phản xạ đơngiản, nghĩa là phản xạ tất cả các hiện tượng như các gương chiếu lại những gìđứng trước nó Đây là sự phản xạ tích cực chọn lọc Qua quá trình phản ánh, chủthể tiến hành những hoạt động phân tích và tổng hợp tích cực để phát hiện đượcbản chất hiện tượng”
Từ quá trình nhận thức trên, HS sẽ phát triển được các năng lực và thực hànhcủa mình trong quá trình học tập lịch sử, ngoài việc HS học tập sâu sắc hơn cònluyện tập cho các em trở thành những người có tư duy độc lập, chủ động, tích cựctrong suy nghĩ hành động
1.1.2.4 Yêu cầu đổi mới trong giáo dục
Giáo dục nước ta đang phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổinhanh chóng và phức tạp Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục thành xuthế tất yếu Cách mạng khoa học công nghệ, thông tin truyền thông, kinh tế tri thứcngày phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền giáo dục.Nền giáo dục Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu tolớn: đào tạo ra đội ngũ lao động đáp ứng cung cấp nhân lực cho các ngành nghềkhác nhau Tuy nhiên, việc phát triển của công nghệ, tri thức ngày càng đòi hỏi caohơn về đào tạo nhân lực chất xám Trong sự thay đổi ấy nền giáo dục Việt Nam đãbộc lộ ra những hạn chế của mình Bởi lẽ, trong nội dung chương trình, phươngpháp dạy và học, công tác thi kiểm tra đánh giá chậm được đổi mới cập nhật, chưamạnh dạn chuyển sang đào tạo theo nhu cầu xã hội
Hiện nay chất lượng học tập môn Lịch sử ở cấp trung học nói chung đanggiảm sút, đa phần HS các trường trung học chán học môn lịch sử, coi là môn phụ.Chúng ta thấy thực tế môn Lịch sử vẫn là môn học khơi dậy được niềm đam mê, lànguồn sáng tạo của các nhà khoa học Một trong những nguyên nhân ở đây là SGK
Trang 26lịch sử hiện nay không hấp dẫn HS, chỗ thừa, chỗ thiếu Thêm vào đó là phươngpháp dạy học của nhiều thầy cô còn chưa hấp dẫn, khô cứng, mang tính áp đặt nặng
nề, hàn lâm và coi nhẹ kĩ năng G.S Phan Huy Lê đã từng nói: “Sự giảm sút của chất lượng giáo dục môn Lịch sử… đã được cảnh báo từ lâu Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh, lớp trẻ không thích học sử không phải vì nội dung lịch sử không có sức hấp dấn và càng không phải lỗi của lớp trẻ… Nếu xét nguyên nhân trực tiếp là vì SGK nặng nề, khô khan là vì cách dạy sử mang nặng tính truyền đạt nhồi nhét… tức là nội dung và phương pháp dạy sử”[giaoduc.net.vn]
Nhận thức được những hạn chế và yêu cầu của đổi mới trong giáo dục để bắt
kịp xu thế thời đại, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” Để đạt
được những yêu cầu đó, thay đổi thực trạng học tập bộ môn cần phải đổi mớiphương pháp học tập trong môn Lịch sử nói riêng, trong các môn học nói chung,trước hết cần đổi mới nội dung chương trình, mà cụ thể là BS nội dung bài họctrong SGK Việc đổi mới nội dung hiện nay trở thành vấn đề nóng đang được xã hộiquan tâm và theo dõi, là nội dung trọng tâm của các chương trình, hội thảo của BộGiáo dục SGK được coi là “một vũ khí quan trọng trong trận đánh lớn” của Bộgiáo dục và Đào tạo của việc đổi mới căn bản và toàn diện Theo đó, chúng ta viếtSGK Lịch sử theo lôgic sự phát triển năng lực của học trò làm trung tâm thay cholôgic theo môn học và các yếu tố khác chịu chi phối của lôgic này SGK mới chỉchọn lọc những nội dung cơ bản thiết thực, gần gũi thay vì nặng kiến thức hàn lâm.Cấu trúc SGK mới sẽ cho thấy một cách rõ ràng hơn việc chuyển từ dạy học lấy GVlàm trung tâm sang lấy HS làm trung tâm, nhằm phát triển được tính tích cực, chủđộng sáng tạo của người học về bộ môn Học tập lịch sử đổi mới theo quan điểmhiện đại sẽ không còn là sự học thuộc nạp vào trí nhớ theo lối thầy đọc trò chép, HShọc thuộc lòng sự kiện, hiện tượng lịch sử, mà là các em thông qua quá trình làmviệc với sử liệu, cụ thể là làm việc với TLG để tạo cho mình những hình ảnh lịch
sử, sự tự hình dung về lịch sử đã diễn ra theo sự hướng dẫn của GV Việc sử dụng
Trang 27TLG trong dạy học, BS SGK lịch sử đã được nhiều nước trên thế giới sử dụngthành công, trong khi đó hiện tại SGK lịch sử của Việt Nam chỉ sử dụng ở mức độrất ít Vì vậy, trong các đề xuất BS SGK lịch sử sau năm 2015 với CT bốn phần cómột phần dành cho việc xây dựng TLG, điều này chứng tỏ các nhà BS sách đã cậpnhập xu hướng và nhận thức đúng đắn về vai trò TLG trong phát triển năng lực cho
HS Bởi cách học tốt nhất, đó là HS tiếp xúc với những bằng chứng lịch sử thật, tựmình phát hiện ra những dấu hiệu của các sự kiện mà hình thành biểu tượng vềchúng
Như vậy, việc đổi mới BS SGK Lịch sử là yêu cầu rất cần thiết Bộ môn Lịch
sử với đặc trưng giáo dục của nó càng cần chú ý hơn, nhất là việc chọn đưa cácTLG vào trong SGK càng làm tăng tính khách quan của lịch sử, không bị chi phốicủa tư tưởng người viết sách sẽ làm cho HS thích thú hơn, thu hút hơn với bộ môn
để SGK lịch sử không còn nhàm chán với những sự “nhảy múa “ của các sự kiện
1.1.3 Cấu tạo bài học trong sách giáo khoa Lịch sử Trung học cơ sở
Vấn đề SGK nói chung và vấn đề SGK lịch sử nói riêng đã và đang trở thànhtrung tâm chú ý của ngành giáo dục và dư luận Để đổi mới giáo dục toàn diệnthành công thì vấn đề SGK đã được đặt ra nghiên cứu bàn thảo cách gay gắt Muốnthay đổi SGK cần nghiên cứu cốt lõi của nó là vấn đề cấu tạo, cách viết trình bàykiến thức, trực quan trong sách SGK cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức
và kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục của môn học cấp lớp của giáo dụcphát triển, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục Đây là “tài liệu cơ bản” tronghọc tập của HS, đồng thời là tài liệu để GV có thể sử dụng trong việc chuẩn bị vàtiến hành quá trình giảng dạy
Về CT bài học trong SGK lịch sử hiện nay có hai quan niệm cơ bản sau:
Quan niệm thứ nhất: nội dung bài học trong SGK có hai phần cơ bản là kênhhình và kênh chữ Cách phân chia này được nhiều nhà giáo dục lịch sử ở nước ngoàicũng như ở Việt Nam đồng ý
Kênh chữ là những thông tin thành văn chủ yếu được dùng trong SGK để trìnhbày nội dung tri thức của môn học, chỉ dẫn về phương pháp học tập và kiểm trađánh giá kết quả học tập
Kênh hình bao gồm hình ảnh, tranh vẽ, hình vẽ, sơ đồ, đồ thị… Theo chức
Trang 28năng hoặc mục đích sử dụng nhằm minh họa, cung cấp thông tin, nhằm rèn luyện kĩnăng thực hành, kiểm tra đánh giá.
Cách phân chia theo quan niệm thứ nhất mới nhấn mạnh ý nghĩa về mặt thôngtin để HS nhận thức nội dung bài học, chưa làm rõ được chức năng nhiệm vụ củamỗi phần trong SGK lịch sử
Quan niệm thứ hai: bài học trong SGK gồm có phần “bài viết” và “cơ chế sư phạm”
“Bài viết”: là nội dung cơ bản của chương trình được trình bày ngắn gọn trongmột số trang cho mỗi tiết học Đây là bộ phận chủ yếu của SGK mà HS phải nghiêncứu, nắm vững và tham khảo, bổ sung kiến thức SGK chia “bài viết” thành cácphần, chương, bài, tiết Thông thường mỗi phần gồm một số chương, mỗi chươnggồm một số bài, mỗi bài gồm 1 đến 3 tiết Trung bình bài viết cho mỗi tiết học trongSGK chỉ dài 3 đến 4 trang vì thế bài viết được BS cô đọng, súc tích, có lượng thôngtin vừa đủ để HS nắm bắt những kiến thức cơ bản Nội dung những thông tin đượctrình bày trong mỗi bài học phải thể hiện được những yêu cầu, hướng dẫn vềphương pháp dạy học, nhằm tích cực hóa hoạt động dạy học của HS, tạo điều kiện
để các em nắm vững kiến thức Số lượng và chất lượng, sự bố trí và săp xếp cácthông tin trong mỗi bài phải vừa sức đối với HS và giúp các em có phương pháp tựhọc, tự nghiên cứu
“Cơ chế sư phạm”: chỉ tất cả những thành tố khác trong SGK, trừ bài viết dànhcho một tiết học, giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản hơn Cơ chế sư phạm gồm cáccâu hỏi, bài tập, tư liệu tham khảo, bài đọc thêm, các kênh hình Đây không phải làphần minh họa cho bài học mà là bộ phận gắn bó hữu cơ với bài viết Nó là nguồnkiến thức mà HS cần phải nắm vững để học tập tốt, đầy đủ các kiến thức cơ bản củabài viết Do đó, khi BS SGK cần chú ý đến mối quan hệ gắn bó, mật thiết này
Hệ thống kênh hình trong SGK gồm: tranh vẽ, hình ảnh sự kiện, nhân vật lịch
sử, bản đồ, sơ đồ, bảng thống kê, niên biểu…góp phần quan trọng tạo biểu tượngcho HS, cụ thể hóa các sự kiện, khắc phục tình trạng hiện đại học lịch sử Kênh hình
có tác dụng giúp HS nhớ kĩ hiểu sâu những kiến thức lịch sử Vì vậy hệ thống kênhhình cần phong phú, đa dạng, đính kèm các thông tin về nguồn gốc, xuất xứ
Câu hỏi trong SGK thường nêu sau mỗi mục hoặc ở cuối bài, giúp HS ghi
Trang 29nhớ, tái hiện kiến thức, ghi nhớ, tái hiện kiến thức để hiểu biết vững chắc, sâu sắc
sự kiện cơ bản Câu hỏi đặt ra đảm bảo yêu cầu nhằm giải đáp các vấn đề đặt ra:như thế nào? Vì sao? Kết quả ra sao? Ngoài ra, câu hỏi phải mở rộng sự hiểu biết,phát triển trí thông minh sáng tạo của HS, đảm bảo sự rõ ràng, mạch lạc, vừa sức.Phần tư liệu là một phần quan trọng của nội dung CT trong SGK Đặc biệt làTLG có tác dụng bổ sung kiến thức, làm nội dung bài học phong phú, qua đó nângcao sự hiểu biết của HS với lịch sử Đồng thời sử dụng TLG vào nội dung SGK làmcho việc học tập mang tính khám phá, không bị áp đặt chủ quan từ tác giả SGK Từ
đó HS lĩnh hội hứng thú, chủ động hơn với các sự kiện, hiện tượng lịch sử và hìnhthành rèn luyện các kĩ năng cho HS Khi HS đọc một đoạn trích trong một bản hiệpước, một câu nói của nhân vật, một đoạn trích trong tác phẩm cùng thời kì sự kiệnghi về sự kiện đó … sẽ thấy thú vị hơn, thấy lịch sử gần hơn như đang diễn ra mộtcách chi tiết So sánh với việc đọc một đoạn bài viết dài để giải thích sự kiện, đánhgiá sự kiện thì việc sử dụng TLG dễ đi vào đầu óc HS hơn cả, thêm vào đó là tácđộng đến tình cảm HS một cách tự nhiên nhất mà không bị khiên cưỡng
Bài tập, nhằm mục đích giúp HS hình dung lại hệ thông hình ảnh quá khứ,biết, ghi nhớ được các sự kiện, hiện tượng lịch sử quan trọng, hiểu được lịch sử đểnắm bản chất sự kiện Ngoài ra, còn phải rèn luyện cho HS những kỹ năng tư duy(phân tích, giải thích, chứng minh, so sánh…) và các kỹ năng thực hành bộ môn (vẽbản đồ, sơ đồ, lập niên biểu, làm sa bàn…) Vì vậy ở cuối bài viết của SGK thường
có bài tập
Quan điểm thứ hai thể hiện tính sư phạm trong BS và sử dụng SGK “Bài viết”
và “cơ chế sư phạm” thể hiện quan điểm chặt chẽ giữa hai phần cơ bản của SGKvới nhau, đồng thời thể hiện hoạt động dạy học cuả GV và HS trong giờ lên lớp
“Bài viết” là bộ phận chủ yếu mà HS phải nắm vững, còn “cơ chế sư phạm” giúp
HS hiểu sâu sắc bài viết, kiểm tra nhận thức, kết quả học tập của mình, phát triểnnăng lực tư duy độc lập, thông minh sáng tạo
1.1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu gốc trong biên soạn sách giáo khoa Lịch sử ở trường Trung học cơ sở
Trang 30Sử dụng TLG để BS SGK lịch sử có ý nghĩa quan trọng, tạo thành công choviệc học tập và giáo dục lịch sử ở trường THCS TLG mang những thông tin trungthực nhất, chính xác nhất Vì vậy nó đạt được giá trị về kiến thức, kĩ năng và tưtưởng khi sử dụng trong dạy học lịch sử.
*Về kiến thức
Sử dụng TLG để BS SGK Lịch sử sẽ chứng minh tính khoa học, trong sáng,tính vừa sức của kiến thức trong SGK đối với HS Do đặc trưng của công việc họctập lịch sử là học những gì đã qua và không thể quan sát trực tiếp được, nên việcđưa TLG vào BS SGK sẽ là căn cứ khoa học để HS tìm hiểu một cách chính xácnhất về lịch sử Đó là những sự thật không thể bị bóp méo được thay cho những lờibình luận áp đặt chủ quan của một số người, tạo ra sự trong sáng cho SGK HS làmviệc với SGK có sử dụng TLG tức là các em được tiếp xúc trực tiếp với lịch sử,tránh khỏi “hiện đại hóa” lịch sử
BS SGK có sử dụng TLG cung cấp cho HS những kiến thức lịch sử cơ bản,thiết thực nhất Đó là phương tiện cụ thể hóa kiến thức lịch sử nhằm tạo cho HSbiểu tượng rõ ràng, có hình ảnh, tăng thêm tính sinh động, gợi cảm của SGK, gâyhứng thú cho việc học tập của các em Ví dụ, khi BS bài Cách mạng Pháp cuối thế kỉXVIII, để cụ thể hóa kiến thức, tạo biểu tượng về chế độ chính trị và quyền lực củavua, có thể BS sách bài viết trong SGK sử dụng đoạn trích “ Quyền lực tối cao của
nhà vua”: “Tôi là người duy nhất nắm quyền lực tối cao, đặc biệt tôi là người đứng đầu hội đồng, luật pháp và của lẽ phải … Tôi chính là người duy nhất có quyền sở hữu hợp pháp mà không phụ thuộc vào ai và không chia sẻ cùng ai Thần dân của tôi chỉ thuộc về tôi Mọi quyền lực và phúc lợi của quốc gia là cần thiết duy nhất đối với tôi và chỉ nằm trên bàn tay tôi” [80;203] Đoạn trích TLG được kết hợp với tranh
biếm họa thâu tóm quyền lực của cua Pháp và câu hỏi gợi mở:
Trang 31với đất nước và thần dân.
Trên cơ sở tạo biểu tượng, cụ thể hóa sự kiện, sử dụng TLG trong BS SGKtheo hướng phát huy tính tích cực của HS còn giúp HS đi từ biết đến hiểu được bảnchất, những mối liên hệ giữa các sự kiện, góp phần hình thành những khái niệmquan trọng, giúp HS nắm vững những quy luật phát triển của xã hội HS chủ độngkhai thác tư liệu trong SGK từ đó rút ra nhận xét, đánh giá cho các em về sự kiện,hiện tượng lịch sử, từ đó những tri thức lịch sử sẽ được khắc sâu đối với bản thânsau mỗi trang sách có các đoạn trích TLG
Đồng thời sử dụng TLG đã đuợc BS trong SGK sẽ là cơ sở tin cậy để HS tracứu, đối chiếu và thẩm định các loại tài liệu lịch sử khác Hiện nay, HS được tiếpxúc với nhiều nguồn tư liệu, tài liệu khác nhau trên các kênh thông tin khác nhau.Các nguồn tư liệu, tài liệu đó không phải lúc nào cũng đúng chuẩn, vì chúng có thể
đã bị “chế biến” thành các mục đích khác nhau Bản thân HS chỉ có những tiếp xúcban đầu với lịch sử, sẽ không đánh giá đuợc tính xác thực của các tư liệu, tài liệu đãđọc nên HS sử dụng những TLG trong SGK để đối chiếu, xác minh tính chuẩn xáccủa các thông tin đã tiếp xúc
Ngoài ra, TLG được BS trong SGK không chỉ dùng để nghiên cứu kiến thứcmới, mà còn được sử dụng để tạo câu hỏi, bài tập, HS có thể tự kiểm tra, đánh giátình độ nhận thức của mình
*Về kĩ năng
Ưu thế của việc sử dụng TLG trong dạy học nói chung và BS trong SGK lịch
sử nói riêng là phát triển năng lực nhận thức và thực hành của HS Bản thân HS sửdụng SGK có đoạn trích TLG để học tập, nhất là nghiên cứu kiến thức mới, các em
dễ dàng tiếp nhận sự kiện hơn, ghi nhớ sự kiện nhanh hơn, lâu hơn Với các đoạntrích ngắn gọn, giàu hình tượng kết hợp hình ảnh gốc sẽ góp phần phát triển tư duycủa HS, HS sẽ có khả năng đối chiếu, phân tích, so sánh, tìm mối liên hệ bản chấtgiữa các sự kiện lịch sử Ví dụ khi biên soạn bài Chiến tranh của 13 thuộc địa Anh ởBắc Mĩ cuối thế kỉ XVIII, khi nói về các chính sách mà thực dân Anh đã ban hành ở
Bắc Mĩ nên sử dụng đoạn trích liệt kê các đạo luật: “1763, cấm dân thuộc địa không được tự do di dân và chiếm đất ở phía Tây dãy núi Appalachian; 1764, thuế
Trang 32đường nhập khẩu, luật cấm thuộc địa phát hành giấy bạc; 1765, đạo luật thuế tem;
1767, đạo luật chè.; Luật bắt dân nuôi lính Anh”[54;48] Đoạn trích TLG được sử
dụng kết hợp với câu hỏi gợi mở:
- Nhận xét về chính sách của thực dân Anh
- Hệ quả của chính sách đó
HS tự khám phá kiến thức biết, hiểu kĩ về các đạo luật vô lí mà thực dân Anh
đã thực thi ở thuộc địa Qua đó, HS đã được phát huy trí tuệ, rèn luyện tư duy củabản thân qua loạt câu hỏi nhằm đánh giá về các chính sách, rút ra kết luận nguyênnhân sâu xa của cuộc chiến tranh Đồng thời, HS rèn luyện cho bản thân cách trìnhbày nội dung vấn đề cần giải quyết một cách khoa học, logic của vấn đề lịch sử và
mở rộng thêm được vốn ngôn ngữ của mình
Bên cạnh việc phát năng lực nhận thức, sử dụng TLG để BS SGK sẽ phát triểnnăng lực thực hành cho HS Khi HS làm việc với các đoạn TLG các em sẽ được rènluyện kĩ năng đọc tư liệu, phát triển khả năng phân tích TLG nói riêng và các loạitài liệu nói chung, dần dần hình thành thói quen nghiên cứu khoa học, HS được trởthành các nhà khoa học nhí, từ đó gây hứng thú trong học tập của HS Cũng chính
từ việc tiếp xúc, học tập từ các đoạn trích TLG chính xác, súc tích mà góp phần pháttriển ngôn ngữ, vốn từ vựng và khả năng trình bày
*Về thái độ
Sử dụng TLG để BS SGK lịch sử giúp HS không chỉ có biểu tượng gợi cảm,khái niệm bao quát, kĩ năng phát triển, mà còn mang lại trong trái tim HS nhữngxúc cảm lịch sử, đây là cơ sở để giáo dục tình cảm đạo đức cho HS
Ví dụ: khi BS bài “Cách mạng Pháp cuối thế kỉ XVIII”, nói về sự kiện xử tử
Lui XVI, SGK nên sử dụng đoạn trích “Buổi xử tử Lui XVI “Tôi chết một cách oan uổng vì những cáo buộc mà người ta đã tố cáo tôi Tôi đã luôn mong rằng thần dân tôi hạnh phúc và mong ước cuối cùng của tôi là chúa sẽ tha thứ cho cái chết của tôi”.[80;213] Đoạn trích TLG này kết hợp với tranh ảnh thể hiện tính hai mặt của
Lui XVI và tranh “Xử tử vua Lui XVI” và câu hỏi gợi mở, từ đó HS sẽ nhận thấyrằng từ việc “trở mặt” của Lui XVI đã dẫn đến cái chết bi thảm của ông, nhưng đếnphút cuối cùng ông vẫn không xám hối về tội lỗi của mình mà còn thanh minh, biện
Trang 33chứng cho hành động sai trái đó, kết quả là đầu lìa khỏi cổ Từ đó, vừa làm rõ hơnbản chất của vua Lui XVI, vừa giáo dục cho HS về lối sống trung thực, biết chịutrách nhiệm trước những hành động của mình gây ra, thay vì đổ lỗi cho hoàn cảnhhay một người nào đó Qua học tập đoạn TLG, HS sẽ tỏ rõ yêu ghét, lên án, phảnđối sai trái không hợp đạo lí.
Việc tìm hiểu những tư liệu lịch sử sẽ rèn luyện cho HS đức tính trân trọng đốivới TLG và các loại tài liệu khác Bản thân HS học tập với TLG sẽ đưa ra phánđoán đối với sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử trong quá khứ theo quan điểm củacác em, giúp các em phát huy khả năng suy nghĩ độc lập, tự nghiên cứu, tự tìm hiểu
sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử để đánh giá, phân tích, bình luận về nó Chínhviệc tìm hiểu các nội dung sự kiện, hiện tượng, nhân vật trong các TLG, các câu hỏiđặt ra ở cuối đoạn trích TLG sẽ giúp HS rèn luyện tính chuyên cần, hăng say, sángtạo trong lao động, học tập Từ đó, sẽ khắc phục thói quen ỷ lại, thụ động trông chờvào người khác, HS sẽ tạo được thói quen chủ động làm việc trong bất cứ hoàn cảnhnào cho HS
Đồng thời, các TLG được đưa vào BS SGK còn giáo dục cho HS lí tưởng,niềm tin yêu cuộc sống, hiểu rõ truyền thống dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cáchmạng, biết trân trọng, giữ gìn biết ơn đối với những thành quả mà thế hệ ông cha đitrước đã dày công gây dựng, vun đắp để lại
SGK có BS những đoạn TLG không chỉ có ý nghĩa với HS trong học tập lịch
sử, mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với GV Những nguồn TLG đó làm cho bài giảngcủa GV phong phú hơn, hấp dẫn hơn Từ những kiến thức lịch sử vốn khô khan vớicác sự kiện, nhân vật khó nhớ, GV qua hướng dẫn HS tìm hiểu các đoạn TLG làm
HS tiếp thu bài nhanh hơn Các đoạn TLG được BS vào SGK sẽ là nguồn căn cứ cho
GV thẩm định các nguồn tài liệu khác Đồng thời với sự hướng dẫn về các phươngpháp sử dụng trong SGK sẽ làm mới hình thức dạy học truyền thống của GV vốn đãlàm GV kết hợp hệ thống TLG với hệ thống câu hỏi, tranh ảnh và sự hướng dẫn vềphương pháp làm bài giảng lôi cuốn, nhẹ nhàng vừa hiệu quả trong nâng cao chấtlượng dạy học vừa theo đúng xu hướng dạy học theo hướng tiếp cận năng lực HS.Như vậy, việc sử dụng TLG trong dạy học nói chung và TLG để BS SGK Lịch
Trang 34sử nói riêng đáp ứng được mức độ kiến thức chuẩn, khách quan, phát triển tư duy,
kĩ năng thực hành cho HS Qua đó nó còn tạo ra tính giá trị trong học tập lịch sử,giá trị đó là niềm tin, những cảm xúc lịch sử, những nhận thức về xã hội và cuộcsống đối với HS Vì vậy, việc đưa TLG vào BS SGK lịch sử là cấp thiết, và cầnđược chọn lọc một cách cẩn thận cho phù hợp với mục tiêu học tập và tâm lí lứatuổi HS Với một số GV nhiệt huyết tìm tòi và đưa thêm một số đoạn trích TLG vàogiảng dạy để HS được học tập với các tư liệu lịch sử gốc để HS tự mình đánh giá,nhận xét, giải thích, chứng minh… các sự kiện lịch sử ngay trong tiết học trên lớphay cho HS bài tập, bài kiểm tra có sử dụng đoạn trích TLG làm HS rất thích thúkhi học tập bộ môn Nhưng đây là số rất ít GV hiện nay làm được như vậy Vì vậy,
HS có thể thích lịch sử, thích xem các bộ phim về lịch sử, các câu chuyện lịch sử,thích đi tham quan các di tích, bảo tàng… nhưng lại không thích học môn Lịch sử.Điều này chúng ta không thể tránh được khi HS học SGK hiện nay là “thu nhỏ” nộidung của người lớn mà không chịu đổi mới, sáng tạo trong cả cách BS sách,phương pháp dạy học và thi cử
Với những ưu điểm và hạn chế trên, chúng tôi thấy rằng việc đưa nhiều hơnnữa số lượng các đoạn trích TLG phân bố đều trong các nội dung bài học, trong thi
cử là điều rất cần thiết Tính chính xác khách quan, chân thực, của các đoạn TLGkhông những làm cho nội dung trong sách nhẹ nhàng hơn, sâu sắc hơn mà rất lôicuốn và hấp dẫn, kích thích được tinh thần học tập độc lập, tư duy sáng tạo, trí thôngminh, rèn luyện kĩ năng của HS mà còn đi vào việc giáo dục HS hiệu quả hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực tiễn việc sử dụng tư liệu gốc trong biên soạn sách giáo khoa Lịch sử Trung học cơ sở hiện nay
Vấn đề sử dụng TLG trong dạy học lịch sử nói chung và trong BS SGK Lịch
sử cấp THCS nói riêng, có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình nhận thức của HS.Đây là một phương tiện hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy họclịch sử Nhưng vấn đề này cho đến nay chưa được đa số các nhà BS SGK, GV, HSquan tâm, chú trọng đúng mức Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi tiến hành phântích CT bài học trong từng tiết học để tìm ra những ưu điểm và hạn chế trong sử
Trang 35dụng TLG để làm cơ sở khắc phục trong việc BS SGK THCS sau năm 2015 Các
GV đều nhận thấy số lượng TLG được đưa vào BS SGK Lịch sử hiện nay là còn ít.Tất cả các GV được điều tra đã đưa ra mong muốn trong SGK mới sẽ được BS sẽ
có lượng TLG nhiều hơn tương ứng với các nội dung kiến thức Vì theo các GV sửdụng TLG trong dạy học có các ý nghĩa về kiến thức, kĩ năng, thái độ Kết quả chothấy GV đồng ý rằng TLG đạt được mức độ “Rất tốt” và “Tốt” trong dạy học lịch sử
ở các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ, và không có GV nào chọn mức độ trung bình.Trong phần lịch sử thế giới từ thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX có nội dung trong
4 bài đầu tiên của SGK Lịch sử lớp 8 4 bài học được chia làm 8 tiết như sau:
Tiết 1;2 Bài 1 Những cuộc cách mạng tư sản đầu tiên
Tiết 3;4 Bài 2 Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII
Tiết 5;6 Bài 3 Chủ nghĩa tư bản được xác lập trên phạm vi thế giới
Tiết 7;8 Bài 4 Phong trào công nhân và sự ra đời của chủ nghĩa MácTrong CT nội dung bài học cuả 8 tiết này có tiết 1 và 5 không có đoạn tríchTLG kèm theo, 6 tiết còn lại mỗi tiết học có một đoạn trích tài liệu hoặc TLG Cụthể các đoạn trích đó như sau:
Tiết 2 (bài 1) Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ
Trong nội dung bài đã đưa đoạn trích về Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa ban cho họ những quyền không thể tước bỏ Trong số những quyền ấy có quyền sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [8;8].
Tiết 3;4 (bài 2) Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII Trong nội dung
tiết học đã đưa ra đoạn trích cho nội dung đấu tranh trên mặt tư tưởng: “Tự do
về chính trị của công dân thể hiện ở chỗ: công dân đó không phải lo sợ, ngược lại luôn cảm thấy an toàn Để có tự do chính trị, chính phủ phải được tổ chức
để không một ai có thể đe dọa người khác”, “Hãy đập tan tòa nhà của sự dối trá”, “Mọi người sinh ra tự do, nhưng ở khắp nơi họ đều mang xiềng xích… Tự
do là quyền của con người” [8;11]; nội dung chế độ quân chủ lập hiến có trích đoạn Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền: “Điều 1: Mọi người sinh ra sinh ra đều có quyền tự do và bình đẳng…
Trang 36Điều 2:… (được hưởng) quyền tự do, quyền sở hữu, quyền an toàn và quyền chống áp bức
Điều 17: Quyền sở hữu là quyền bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai
Tiết 7 (bài 4) nội dung phong trào công nhân nửa đầu thế kỉ XIX, có đoạn
trích về công nhân nhỏ tuổi: “Tôi năm nay 12 tuổi, đã làm việc trong xưởng dệt từ năm ngoái Bình quân mỗi ngày làm việc 12 giờ 30 phút Thỉnh thoảng còn phải làm thêm giờ” [8;28] và “Tôi đã làm việc hai năm ở đây, từ lúc 12 tuổi; hằng ngày phải làm việc 16 giờ Giờ đây tôi không chịu được nữa, bị ốm nên đã đề nghị rút xuống 16 giờ Ông chủ bảo tôi: Nếu vậy thì mày ra khỏi nhà máy, đừng quay lại nữa” [8;29].
Tiết 8 (bài 4) nội dung sự ra đời của chủ nghĩa Mác có trích một câu trong
Tuyên ngôn độc lập: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” [8;32].
Với các đoạn trích TLG có giá trị được đưa vào trong SGK kèm theo câu hỏigợi mở đã giúp HS qua hoạt động độc lập nhận thức làm việc với các đoạn tư liệu
đó sẽ đạt được các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và thái độ đề ra
Bên cạnh ưu điểm đó, chúng ta thấy cách BS CT bài học được BS trong SGK
có một số hạn chế sau: trong 8 tiết học chỉ có 6 tiết học có BS kết hợp đoạn tríchTLG còn 2 tiết mà cụ thể là tiết thứ 1 và tiết thứ 5 thì không được BS kết hợp vớiđoạn trích TLG Mỗi tiết học ở trường THCS có khoảng 3 đến 4 hoạt động, nhưngvới số lượng 6 đoạn trích trong 6 tiết học thì chỉ có một hoạt động trong tiết học HSđược làm việc với đoạn trích TLG Với một lứa tuổi HS hiếu động ưa khám phá,
Trang 37yêu cầu tính trực quan cao thì cách BS tài liệu tham khảo đặc biệt là TLG rất ít kếthợp với kênh hình vừa thiếu lại vừa không bắt mắt mang tính minh họa làm cho HSkhông thích học tập bộ môn này Chúng ta còn chưa kể trường hợp có thể HS khôngđược GV hướng dẫn làm việc cụ thể với các TLG thì các đoạn trích trong sách cũng
sẽ không đạt được các giá trị Trong 6 đoạn trích TLG này được BS chỉ trongnghiên cứu kiến thức mới mà không có trong nội dung của câu hỏi hay bài tập để cóthể giúp HS có thể tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp nhằm hoàn thiện kiếnthức của HS sau mỗi giờ học
1.2.2 Thực tiễn giáo viên sử dụng tư liệu gốc trong dạy học lịch sử ở trường Trung học cơ sở
Để biết được nhận thức của GV về thực tế sử dụng TLG trong dạy học lịch sử
ở trường THCS, chúng tôi tiến hành khảo sát, điều tra theo các nội dung cụ thể.Tôi thực hiện điều tra tại 7 trường THCS sau: THCS và Trung học phổ thôngNguyễn Tất Thành, THCS Trung Hòa (Hà Nội), THCS Hải Hậu, THCS Hải Giang,THCS Hải Hòa (Nam Định), THCS Phong Phú, THCS Mãn Đức (Hòa Bình), THCS
Tô hiệu (Sơn La).Với tổng số 28 GV Sau khi tiến hành điều tra và xử lí số liệu bằngphương pháp định lượng tôi thu được kết quả đáng tin cậy, phản ánh trung thực việcdạy học lịch sử nói chung, việc sử dụng TLG trong dạy học lịch sử nói riêng vànhững đề nghị của GV trong việc đưa TLG vào BS SGK Lịch sử sau năm 2015
Tìm hiểu qua câu hỏi: Theo thầy (cô), mức độ yêu thích môn Lịch sử của HS ở trường THCS hiện nay ở mức độ nào? Kết quả thu được là 4/28 ý kiến (14,3%) GV
cho rằng HS yêu thích môn Lịch sử, 19/28 ý kiến (67,9%) GV cho rằng HS có thái
độ bình thường với bộ môn, còn lại 4/28 ý kiến (17,8%) GV cho rằng HS khôngthích môn Lịch sử Có thể thấy theo mức độ đánh giá của GV thì chỉ có số lượng ít
HS thích môn Lịch sử, còn số lượng lớn HS tỏ ra bình thường, thậm chí là khôngthích học Số lượng HS thích học bộ môn chủ yếu ở các trường mà GV áp dụngnhuần nhuyễn các phương pháp dạy học tạo sự sinh động cho giờ học, tiêu biểu như
ở trường THCS và Trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành có lớp đã yêu cầu đượchọc 5 tiết/tuần
Tìm hiểu về nhận thức của GV đối về việc sử dụng TLG với câu hỏi: Theo
Trang 38thầy (cô) trong dạy học lịch sử có cần thiết sử dụng TLG không? Kết quả thu được
là 22/28 ý kiến (78,6%) GV trả lời rất cần thiết, 6/28 ý kiến (21,4%) GV cho là bìnhthường, 0/28 ý kiến (0%) GVcho rằng không cần Có thể thấy rằng phần lớn GVhiểu sự cần thiết của công việc này và điều đáng mừng là không GV nào cho rằngkhông cần sử dụng TLG
Với câu hỏi: Việc sử dụng TLG trong dạy học lịch sử được thầy (cô) thực hiện
ở mức độ nào? Kết quả thu được là 7/28 ý kiến (25%) GV trả lời là thường xuyên,
21/28 ý kiến (75%) GV trả lời là thình thoảng, , 0/28 ý kiến (0%) GV chưa bao giờ
sử dụng Với kết quả trên cho thấy, GV nhận thức về mức độ rất cần thiết phải sửdụng TLG trong dạy học lịch sử Trong thực tế lại mâu thuẫn trong nhận thức vàviệc làm khi mà mức độ thình thoảng mới sử dụng TLG của GV lại nhiều hơn sốlượng GV nhận thức vấn đề
Điều tra về mục đích và biện pháp GV sử dụng TLG trong dạy học lịch sử, kếtquả thu được trong bảng sau:
Mục đích và biện pháp sử dụng TLG
trong dạy học lịch sử
Đồng ý
Tỉ lệ (%)
Sử dụng TLG để thay cho một đánh giá, kết luận
Sử dụng TLG để ra câu hỏi, bài tập, kiểm tra
1416
15
117
5057,1
53,6
39,325
- Theo thầy (cô) sử dụng TLG thế nào cho hiệu quả?
Sử dụng làm minh họa, dẫn chứng cho bài học
Hướng dẫn HS phát hiện kiến thức trong tư liệugốc
Cho HS tự khai thác, đánh giá sự kiện, hiện tượng,
nhân vật lịch sử
Sử dụng TLG để củng cố, kiểm tra
1117
144
39,360,7
5014,3
Trang 39Nhìn vào bảng điều tra cho thấy đa số GV sử dụng TLG để giải thích sự kiện,hiện tượng, nhân vật lịch sử (16/28 ý kiến, 57,1%), tiếp đến là sử dụng TLG để làm
cơ sở chứng minh cho một luận điểm khoa học (15/28 ý kiến, 53,6%) Một nửa ýkiến GV sử dụng TLG để cụ thể hóa cho bài học Với việc sử dụng TLG thay chomột đánh giá, kết luận, ra câu hỏi, bài tập và kiểm tra thì vẫn còn ít Đi kèm theo đó
là GV chủ động hướng dẫn HS phát hiện kiến thức trong TLG (17/28 ý kiến,60,7%) Đó là kết quả của việc nhận thức đúng đắn để khai thức kiến thức, rèn kĩnăng và nuôi dưỡng thái độ cho HS Đồng thời việc sử dụng TLG để củng cố, kiểmtra HS thì GV còn lúng túng và chưa khai thác hết ưu điểm của loại tư liệu này.Sau khi sử dụng TLG vào dạy học, GV đã đưa ra các ý kiến nhận xét về hiệuquả như sau: loại ý kiến thứ nhất cho rằng sử dụng TLG để dạy học giúp HS pháthuy tính tích cực trong học tập lĩnh hội các kiến thức cơ bản, sinh động hứng thú,qua đó phát triển tư duy các năng lực thực hành Loại ý kiến thứ hai cho rằng giúp
HS hiểu sâu và vận dụng kiến thức vào thực tế hơn Loại ý kiến tiếp theo cho rằng
HS hứng thú với môn học hơn, đưa ra nhiều đánh giá khách quan, khoa học, tạotính thuyết phục khách quan và từ đó có ý thức tôn trọng lịch sử Có thể thấy, các ýkiến trên đều đúng về hiệu quả khi sử dụng TLG, nhưng các GV mới thấy đượchiệu quả của TLG về mặt kiến thức, kĩ năng mà chưa thấy rằng TLG cũng có hiệuquả to lớn về mặt thái độ
Tuy việc sử dụng TLG đã đạt được kết quả về dạy học lịch sử nhưng trong
thực tế sử dụng GV gặp phải rất nhiều khó khăn Với câu hỏi: Trong sử dụng TLG thầy (cô) thường gặp khó khăn gì?.GV đưa ra ý kiến trong bảng sau:
Trong sử dụng TLG thầy (cô) thường
gặp khó khăn gì
Đồng ý
85,789,371,475Theo bảng trên có thể thấy số lượng GV gặp khó khăn trong việc tìm hiểu về độ
Trang 40sâu của TLG, sau đó đến việc sưu tầm tư liệu Bởi vì, các GV ở các vùng miền khácnhaukhông thể dễ dàng tiếp xúc, thu thập TLG ngoài SGK và giáo trình đã đượctrang bị, do điều kiện vật chất và điều kiện địa lí đã ảnh hưởng tới việc tìm kiếm tưliệu Điều này ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
*Ưu điểm:
Qua điều tra, khảo sát đối với GV về tình hình sử dụng TLG trong dạy họclịch sử và những đề nghị đưa TLG vào BS SGK Lịch sử sau năm 2015 đã làm nổibật được một số ưu điểm đó là: đa số GV nhận thức được sự cần thiết phải sự dụngTLG trong dạy học lịch sử GV sử dụng TLG với các mục đích và kết hợp phươngpháp khác nhau trong dạy học Các thầy cô đều thấy rằng trong SGK Lịch sử hiệnnay có quá ít TLG và đồng ý với ý kiến yêu cầu đưa TLG vào BS SGK
GV nhận thức được ưu thế của TLG trong việc chuẩn hóa kiến thức, rèn luyện kĩnăng tư duy và kĩ năng thực hành qua đó giáo dục đạo đức tư tưởng tình cảm cho HSnhằm phát triển năng lực cho HS Đó là cái đích mà giáo dục bộ môn cần đạt được
*Hạn chế:
Tuy nhiên trong dạy học lịch sử và sử dụng TLG GV lại gặp một số hạn chế sau:
Do khó khăn nhất định về nguồn TLG, sự nhận thức thẩm định tư liệu, khókhăn về vật chất và thời gian, với thời lượng 45 phút cho một tiết học với việc thựchiện đầy đủ các bước lên lớp như hiện nay thì GV vừa dạy lại vừa lo chạy giáo án
do phải truyền tải nội dung kiến thức nhiều và nặng nên GV sử dụng TLG với mức
độ không thường xuyên là khá cao
GV sử dụng TLG những chưa phát huy hết được tính năng của nó trong bàihọc Đồng thời biện pháp sử dụng chưa nhuần nhuyễn, nên hiệu quả mang lại chưacao, chưa huy động hết tất cả HS tham gia trong việc sử dụng TLG trong học tập
Từ đó HS không phát triển được thao tác tư duy và năng lực thực hành trong chiếmlĩnh kiến thức làm kiến thức thu được chưa bền vững
Một số GV vẫn nhầm lẫn TLG, chưa phân biệt được với tài liệu nên phươngpháp sử dụng chưa đúng
*Nguyên nhân