1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN sử dụng các định luật bảo toàn để giải bài tập về sắt

19 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 377,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu nhiều dạng bài toán hoá học khác nhau về các loại chất khác nhau vô cơ cũng như hữu cơ, tôi nhận thấy rằng bài tập hỗn hợp gồm sắt và oxit sắt là một

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài:

Trong các môn học ở trường phổ thông, môn Hóa học giữ một vai trò khá quan trọng Hóa học là một môn khoa học tự nhiên, nghiên cứu về chất và sự biến đổi chất này thành chất khác

Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài của ngành giáo dục Hóa học là môn khoa học vừa lý thuyết, vừa thực nghiệm vì vậy bài tập có vai trò khắc sâu phần lý thuyết đã học, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức Đồng thời thông qua bài tập giúp học sinh củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách thuận lợi nhất, rèn luyện kĩ năng giải bài tập, phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh, sáng tạo cho học sinh, nâng cao hứng thú học tập bộ môn Bài tập còn là con đường đầu tiên để áp dụng chính xác kiến thức khoa học vào cuộc sống Song thực tế cho thấy nhiều học sinh rất sợ giải bài tập hóa học hoặc còn rất lúng túng trong việc xác định các dạng toán và phương pháp giải do đó còn gặp nhiều khó khăn trong việc giải bài tập Hơn nữa thời lượng dành cho việc giải bài tập trên lớp lại rất ít nên việc củng

cố, đào sâu và vận dụng kiến thức còn nhiều hạn chế

Trong thời gian 9 năm giảng dạy bộ môn Hoá học trong trường phổ thông, tôi đã được tham gia giảng dạy các khối lớp 10, 11, 12, được tham gia ôn luyện đội tuyển thi học sinh giỏi và luyện thi Đại học, Cao đẳng Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu nhiều dạng bài toán hoá học khác nhau về các loại chất khác nhau

vô cơ cũng như hữu cơ, tôi nhận thấy rằng bài tập hỗn hợp gồm sắt và oxit sắt là một trong những dạng bài tập mà học sinh hay gặp trong các kỳ thi mà đặc biệt là

kì thi Đại học, Cao đẳng, do sắt là một kim loại phổ biến có thể tạo ra nhiều hợp chất ứng với nhiều mức oxi hoá khác nhau Thông thường những bài tập về sắt và các oxit thường khá phức tạp và xảy ra theo nhiều phương trình phản ứng khác nhau Vậy phương pháp nào để giải quyết bài toán khoa học nhất, hiệu quả nhất

và nhanh nhất? Đó là lý do để tôi viết đề tài “Vận dụng các định luật bảo toàn

để giải bài toán về hỗn hợp sắt và oxit sắt” nhằm giúp học sinh giải quyết tốt các

bài toán về hỗn hợp sắt và oxit sắt trong chương trình Hóa học lớp 12 một cách nhanh chóng đồng thời chia sẻ kinh nghiệm về phương pháp giải bài tập với các đồng nghiệp

II Mục đích nghiên cứu:

Vận dụng các định luật bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn nguyên tố, định luật bảo toàn electron để tìm ra phương pháp giải tối ưu nhất, nhanh nhất (không cần phải viết phương trình hóa học) dạng bài toán về sắt và oxit sắt

Trang 2

thường gặp trong chương trình Hóa học lớp 12 và các đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng

Đề xuất phương pháp để giải nhanh bài toán về sắt và oxit sắt góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn ở trường phổ thông và là hành trang vững chắc để học sinh chuẩn bị bước vào kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng là học sinh các lớp 12A1, 12A2 Trường THPT Vĩnh Định -huyện Triệu Phong – tỉnh Quảng Trị

Với khuôn khổ thời gian nghiên cứu có hạn nên trong đề tài này tôi chỉ nghiên cứu phương pháp vận dụng các định luật bảo toàn để giải bài bài toán về hỗn hợp sắt và oxit sắt bằng cách quy đổi về hỗn hợp gồm sắt và oxi áp dụng cho chương trình Hóa học lớp 12

IV Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đưa ra các định luật bảo toàn cần vận dụng, phân tích áp dụng vào các dạng toán và đề ra phương pháp giải

Soạn phần bài tập và đưa ra phương pháp giải các dạng bài tập về sắt và oxit sắt

Thử nghiệm trên các lớp: 12A1; 12A2 trường THPT Vĩnh Định

V Phương pháp nghiên cứu:

V.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:

Đọc các tài liệu làm cơ sở xây dựng lí thuyết của chuyên đề: tài liệu lí luận dạy học (Chủ yếu là phương pháp giải bài tập Hóa học THPT); sách giáo khoa, sách bài tập hóa học 12; phương pháp giải bài tập hóa vô cơ; 16 phương pháp và

kĩ thuật giải nhanh bài tập trắc nghiệm môn Hóa học; một số đề thi học sinh giỏi,

đề thi đại học, cao đẳng

V.2 Phương pháp sư phạm:

a Phương pháp chuyên gia

Vận dụng phương pháp bài tập để hướng dẫn học sinh giải quyết bài toán Xin ý kiến nhận xét, đánh giá của các giáo viên có kinh nghiệm, giáo viên giỏi về nội dung sáng kiến

b Tìm hiểu chất lượng học sinh ở những lớp mình điều tra

c Chọn lớp thử nghiệm và đối chứng kết quả

VI Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014

Trang 3

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

A TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI.

I Các định luật cần vận dụng:

I.1 Định luật bảo toàn khối lượng:

Nội dung định luật: Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng

tổng khối lượng các chất được tạo thành sau phản ứng

Trong đó chúng ta cần vận dụng các hệ quả:

lượng các chất sau phản ứng Dù phản ứng xảy ra với hiệu suất bất kỳ ta đều có:

mT = mS

Hệ quả 2: Khi cation kim loại (hoặc cation amoni) kết hợp với anion gốc

axit (hoặc anion oxit) để tạo ra các hợp chất ta luôn có: Khối lượng chất = khối lượng của cation + khối lượng anion Khối lượng của cation hoặc anion ta coi như bằng khối lượng của nguyên tử cấu tạo thành

I.2 Định luật bảo toàn nguyên tố:

Nội dung định luật: Tổng khối lượng một nguyên tố trước phản ứng bằng

tổng khối lượng của nguyên tố đó sau phản ứng Nội dung định luật có thể hiểu là tổng số mol của một nguyên tố được bảo toàn trong phản ứng

I.3 Định luật bảo toàn electron:

Nội dung định luật: Trong phản ứng oxi hóa khử: Số mol electron mà chất

khử cho đi bằng số mol electron mà chất oxi hóa nhận về

Khi vận dụng định luật bảo toàn electron vào dạng toán này cần lưu ý:

Trong phản ứng hoặc một hệ phản ứng chỉ cần quan tâm đến mức oxi hóa của các nguyên tố ban đầu và mức oxi hóa của các nguyên tố sau phản ứng mà không cần quan tâm đến mức oxi hóa trung gian

Nếu có nhiều chất oxi hóa và chất khử thì số mol electron trao đổi là tổng

số mol của tất cả chất nhường hoặc nhận electron

II Tổng quan về bài tập hỗn hợp sắt và oxit sắt:

Bài tập Fe và hỗn hợp oxit sắt thường có dạng cho khối lượng và cho phản ứng với một chất oxi hóa như H2SO4 đặc nóng hoặc HNO3 hoặc thậm chí là axit thường như HCl, H2SO4 loãng

Giải quyết vấn đề: Với giả thiết là cho m gam hỗn hợp gồm Fe và các oxit

FeO, Fe3O4, Fe2O3 tác dụng với HNO3 thu được khí NO2 Ta xem như đây là quá trình oxi hoá liên tiếp Fe bằng 2 chất oxi hoá là O và HNO3.

Chất nhường electron: Fe , tạo sản phẩm là Fe3+

Chất nhận electron: O và HNO3 , tạo sản phẩm là oxit (O2-) và V lít NO2 (đktc) (hoặc các sản phẩm khử khác)

Theo định luật bảo toàn khối lượng: 56x + 16y = m (1)

Trang 4

Theo định luật bảo toàn electron:

Fe    Fe3+ + 3e

x(mol) 3x(mol)

O + 2e    O

2-y(mol) 22-y(mol)

N5

+ 1e    N4

(NO2) (mol) (mol)

Tổng electron nhường: 3x (mol) Tổng electron nhận: 2y + (mol)

Áp dụng định luật bảo toàn electron ta có: 3x = 2y + (2)

Từ (1) và (2) ta có hệ:

22,4

56x 16 3x 2 V

y m y

 

Việc giải hệ này khi một khi biết được 2 trong số 4 yếu tố sẽ giải quyết được yêu cầu của bài toán Hoặc ta cũng có thể sử dụng phương trình 1 ẩn số để lập theo nguyên tắc trên là: Số mol e (Fe cho) = Số mol e (O nhận) + Số mol e (NO3

nhận)

III Ưu điểm của việc vận dụng các định luật bảo toàn để giải bài toán về hỗn hợp sắt và oxit sắt:

Giải nhanh, chính xác các bài tập về hỗn hợp sắt và oxit sắt đồng thời có thể áp dụng cho tất cả các bài tập liên quan đến phản ứng oxi hóa - khử trong Hóa học vô cơ mà không cần viết các phương trình hóa học, đáp ứng được yêu cầu về mặt thời gian phù hợp với hình thức kiểm tra đánh giá trong giai đoạn hiện nay

Giải được nhiều bài tập hỗn hợp rất phức tạp mà các phương pháp giải thông thường có thể không giải quyết được hoặc nếu giải quyết được thì phần trình bày rất dài và phức tạp

Việc sử dụng các định luật bảo toàn để giải các bài toán về hỗn hợp sắt và oxit sắt giúp học sinh không phải viết các phương trình hóa học và tính theo phương trình hóa học, hạn chế được nhiều rủi ro về sai sót trong tính toán vì nếu cân bằng chỉ cần cân bằng phương trình hóa học sai thì hệ quả chắc chắn tính toán kết quả sai và với bài toàn phức tạp nhiều phương trình thì việc kiểm tra lại kết quả gặp nhiều khó khăn

IV Nhược điểm của việc vận dụng các định luật bảo toàn để giải bài toán về hỗn hợp sắt và oxit sắt:

Học sinh phải nắm chắc nội dung và cách vận dụng các định luật phù hợp vào từng dạng toán cụ thể

22, 4

V

22, 4

V

22, 4

V

22, 4

V

Trang 5

Học sinh phải nắm vững kiến thức đã học về phản ứng oxi hóa - khử, tính chất của sắt, hợp chất của sắt, axit nitric, axit sunfuric và phải biết phân tích tổng hợp, vận dụng nhiều kiến thức vào một bài toán Vì vậy phương pháp này được

áp dụng chủ yếu cho đối tượng là học sinh khá, giỏi

B THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI.

I Thuận lợi:

Năm học 2014-2015 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết

TW lần thứ tám của BCH TW Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục đào tạo” thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá

kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh và triển khai quán

triệt, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín BCH TW khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đất nước” Tiếp tục thực hiện các cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Năm học 2014-2015 toàn ngành tổ chức thực hiện điểm Nhấn “Tăng cường xây dựng văn hóa học đường và giáo dục kỷ năng sống cho

Ngay từ đầu năm học, ban giám hiệu và tổ bộ môn đã có triển khai các kế hoạch, chỉ thị năm học; kiểm tra khảo sát theo bộ môn để phân loại đối tượng học sinh, từ đó có biện pháp phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh khá giỏi

Học sinh trung học phổ thông sau khi được học chương “phản ứng oxi hoá khử ”; “axi sunfuric” ở lớp 10, và phần “ axit nitric” ở lớp 11, đã bắt đầu làm quen với nhiều dạng bài toán phức tạp, trong đó có bài toán về hỗn hợp sắt và các oxit sắt phản ứng với các chất có tính oxi hoá mạnh (như HNO3, H2SO4 đặc nóng ) hoặc cả với những axit mạnh thông thường (như HCl, H2SO4 loãng )

Có nhiều học sinh khá, giỏi đã có kĩ năng giải bài tập này theo phương pháp thông thường (đặt ẩn, lập hệ phương trình)

II Khó khăn:

Đối tượng học sinh của trường THPT Vĩnh Định phần đông là học sinh ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Triệu Phong – tỉnh Quảng Trị nên không có nhiều điều kiện cả về kinh tế và thời gian cho việc học tập

Rất nhiều học sinh lớp 12 vẫn chưa hiểu được bản chất của các phản ứng của hỗn hợp sắt và oxit sắt với các chất có tính oxi hóa mạnh như axit nitric (hoặc axit sunfuric đặc, nóng) là quá trình oxi hoá liên tiếp Fe bằng 2 chất oxi hoá là O

và HNO3 (hoặc axit sunfuric đặc, nóng)

Trang 6

Đa số học sinh chưa biết cách áp dụng các định luật bảo toàn vào giải toán, đặc biệt là bảo toàn electron trong phản ứng oxi hoá - khử

Mỗi dạng bài tập có nhiều phương pháp giải, nhưng học sinh chưa tìm ra phương pháp hiệu quả nhất để giải quyết bài tập

Thói quen của học sinh về giải bài tập Hóa học bao giờ cũng là viết phương trình hoá học, đặt ẩn, lập hệ phương trình Phương pháp này chỉ phù hợp với những bài toán đơn giản, khi số ẩn và số phương trình đại số lập được bằng nhau Mặt khác, với một câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong đề kiểm tra (một tiết, học kì), đề thi tốt nghiệp, tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng với thời gian trung bình 1,8 - 2 phút/1 câu hỏi thì việc giải nhanh bài toán này là vấn đề khá nan giải

C GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

I Phương pháp giải một số dạng bài tập điển hình:

I.1 Dạng đốt cháy Sắt trong không khí rồi cho sản phẩm phản ứng với chất oxi hóa: Đây là dạng bài toán kinh điển về bài tập sắt và hỗn hợp sắt và oxit

sắt

Ví dụ 1: Nung nóng 12,6 gam Fe ngoài không khí sau một thời gian thu được

m gam hỗn hợp X gồm Fe, FeO, Fe2O3 và Fe3O4 Hỗn hợp này phản ứng hết với dung dịch HNO3 loãng (dư), thu được 2,8 lít khí NO (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc) Tính giá trị của m?

Phân tích đề: Sơ đồ phản ứng

Fe O

  hhX (Fe, FeO, Fe2O3 và Fe3O4) HNO3

   3

e

NO

F

Fe bị oxi hoá thành Fe3+ bằng 2 chất oxi hoá là O và HNO3

+ Trong cả quá trình: chất nhường e là Fe, chất nhận là O và HNO3

Giải quyết vấn đề:

Ta có nNO = 0,125 mol, nFe = 0,225 mol

Gọi số mol oxi trong oxit là x ta có:

Fe    Fe3+ + 3e

0.225(mol) 0,675(mol)

O + 2e    O

2-x(mol) 22-x(mol)

N5

+ 3e    N2

(NO) 0,375(mol) 0,125(mol) Tổng electron nhường: 0,675 (mol) Tổng electron nhận: 2x + 0,375(mol)

Áp dụng định luật bảo toàn electron ta có: 0,675 = 2x + 0,375    x = 0,15 Mặt khác ta có: m mFem O2  nên: m = 12,6 + 0,15x16 = 15 (gam)

Trang 7

Ví dụ 2: Nung nóng m gam bột sắt ngoài không khí, sau phản ứng thu được

20 gam hỗn hợp X gồm Fe, FeO, Fe2O3 và Fe3O4 Hòa tan hết X trong dung dịch HNO3 loãng thu được 5,6 lít hỗn hợp khí Y gồm NO và NO2 có tỉ khối so với H2

là 19 Tính m và thể tích HNO3 1M đã dùng?

Phân tích đề:

Sơ đồ phản ứng:

3 2

2

( )

3 3

,

à Fe du

HNO

O kk

NO FeO Fe O

Fe O v

Fe NO

+ Hỗn hợp X gồm Fe và O trong oxit

+ Xét cả quá trình ta thấy chỉ có Fe nhường e, Chất nhận e là Oxi và HNO3 + 5

N (HNO3) nhận electron tạo thành 2

N (NO) và 4

N (NO2)

+ Số mol N5

(trong HNO3) ban đầu bằng tổng số mol N5

(NO3

) trong muối

N2

(NO) cộng với N4

(NO2)

Giải quyết vấn đề:

Đặt số mol của NO là a (mol), NO2 là b (mol)

Theo giả thiết ta có:

0, 25

30 46

38

0, 25

a b

 

 Giải hệ PT ta được: n NOn NO2 0,125mol

Gọi số mol Fe và O tương ứng trong X là x và y ta có: 56x + 16y = 20 (1) Quá trình nhường và nhận e:

Fe    Fe3+ + 3e

x(mol) 3x(mol)

O + 2e    O

2-y(mol) 22-y(mol)

N5

+ 3e    N2

(NO) 0,375(mol) 0,125(mol) 5

N + 1e    4

N (NO2) 0,125 (mol) 0,125(mol) Tổng electron nhường: 3x (mol) Tổng electron nhận: 2y + 0,125+ 0,375 (mol)

Áp dụng định luật bảo toàn electron ta có: 3x = 2y + 0,5 (2)

Từ (1) và (2) ta có hệ 56x 16 20

3x 2 0,5

y y

 

 Giải hệ trên ta có x = 0,3 và y = 0,2 Như vậy nFe = 0,3 mol vậy m = 16,8 gam Theo định luật bảo toàn nguyên tố ta có:

Trang 8

HNO

n = n NO3 [ Fe(NO ) ]3 3 + n NOn NO2 = 3*n Fe + n NOn NO2

nên n HNO3= 0,3*3 + 0,125 + 0,125 = 1,15 (mol)

Vậy 3 1,15 1,15( ít)

1

HNO

Ta cũng có thể dùng phương trình ion – electron để tìm số mol H+ chính là

số mol HNO3 phản ứng:

NO3

+ e + 2H+  NO2 + H2O

NO3

+ 3e + 4H+  NO + 2H2O

n H (HNO3)  2*n NO2  4*n NO

I.2 Dạng hỗn hợp sắt và các oxit phản ứng với chất oxi hóa mạnh:

Ví dụ 3: Cho 11,36 gam hỗn hợp gồm Fe, FeO, Fe2O3 và Fe3O4 phản ứng hết với dung dịch HNO3 loãng (dư), thu được 1,344 lít khí NO (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc) và dung dịch X Cô cạn dung dịch X thu được m gam muối khan Tính m ?

Phân tích đề: Ta coi như trong hỗn hợp X ban đầu gồm Fe và O Như vậy

xét cả quá trình chất nhường e là Fe chất nhận e là O và NO3 

Nếu chúng ta biết được số tổng số mol Fe trong X thì sẽ biết được số mol muối Fe(NO3)3 trong dung dịch sau phản ứng Do đó chúng ta sẽ giải bài toán này như sau:

Giải quyết vấn đề: Số mol NO = 0,06 mol.

Gọi số mol Fe và O tương ứng trong X là x và y ta có: 56x + 16y = 11,36 (1) Quá trình nhường và nhận e:

Fe    Fe3+ + 3e

x(mol) 3x(mol)

O + 2e    O

2-y(mol) 22-y(mol)

N5

+ 3e    N2

(NO) 0,18(mol) 0,06(mol) Tổng electron nhường: 3x (mol) Tổng electron nhận: 2y + 0,18 (mol)

Áp dụng định luật bảo toàn electron ta có: 3x = 2y + 0,18 (2)

Từ (1) và (2) ta có hệ: 56x 16 11,36

3x 2 0,18

y y

 

 Giải hệ trên ta có x = 0,16 và y = 0,15

Như vậy n Fen Fe NO( 3 3 )  0,16mol vậy m = 38,72 gam

Với bài toán này ta cũng có thể quy về bài toán kinh điển: Đốt m gam sắt sau phản ứng sinh ra 11,36 gam hỗn hợp gồm Fe, FeO, Fe2O3 và Fe3O4 Hỗn hợp này phản ứng hết với dung dịch HNO3 loãng (dư), thu được 1,344 lít khí NO Chúng ta sẽ tính m rồi từ suy ra số mol Fe và từ đó tính số mol của sắt

Phát triển bài toán:

Trang 9

Trường hợp 1: Cho nhiều sản phẩm khử như NO2, NO ta có vẫn đặt hệ bình thường tuy nhiên chất nhận e bây giờ là HNO3 thì cho 2 sản phẩm

Trường hợp 2: Nếu đề ra yêu cầu tính thể tích hoặc khối lượng của HNO3

thì ta tính số mol dựa vào bảo toàn nguyên tố N khi đó ta sẽ có:

mu Kh HNO NO NO Fe NO NO

nnnnn n

Hoặc theo phương trình ion- electron như sau:

NO3

+ 3e + 4H+  NO + 2H2O

Từ đó có: số mol HNO3 phản ứng = số mol H+ = 4 * số mol NO

Trường hợp 3: Có thể áp dụng cách giải trên cho hỗn hợp oxit các kim loại

khác ngoài sắt

Ví dụ 4: Cho a g hỗn hợp gồm CuO; Fe 2 O 3 ; FeO có số mol bằng nhau nung

duy nhất Tính a?

Giải quyết vấn đề: Gọi số mol mỗi oxit CuO, Fe2O3, FeO trong a gam hỗn hợp đầu là x, ta có: Cu = x mol, Fe = 3x mol

Cu    Cu2+ + 2e

x(mol) 2x(mol)

Fe    Fe3+ + 3e

3x(mol) 9x(mol)

O + 2e    O

2-y(mol) 22-y(mol)

N5

+ 3e    N2

(NO) 0,09(mol) 0,03(mol) Tổng electron nhường: 11x (mol) Tổng electron nhận: 2y + 0,09 (mol) Lập được hệ phương trình:

11x = 2y + 0,09 (theo bảo toàn electron)

64x + 56 3x + 16y = 6,4 (khối lượng của hỗn hợp D)

Giải ra được: x = 0,02225 Vậy a = 6,942 (g)

I.3 Dạng khử không hoàn toàn Fe 2 O 3 sau cho sản phẩm phản ứng với chất oxi hóa mạnh là HNO 3 hoặc H 2 SO 4 đặc nóng:

Ví dụ 5: Cho một luồng khí CO đi qua ống sứ đựng m gam Fe2O3 nung nóng Sau một thời gian thu được 10,44 gam chất rắn X gồm Fe, FeO, Fe2O3 và Fe3O4 Hòa tan hết X trong dung dịch HNO3 đặc, nóng thu được 4,368 lít NO2 (sản phẩm khử duy nhất ở đktc) Tính m ?

Phân tích đề: Sơ đồ phản ứng

3

2 3

,

o

HNO dn CO

t

Fe O

      

Trong trường hợp này xét quá trình đầu và cuối ta thấy chất nhường e là

CO, chất nhận e là HNO3 Nhưng nếu biết tổng số mol Fe trong oxit ta sẽ biết

Trang 10

được số mol Fe2O3 Bởi vậy ta dùng chính dữ kiện bài toán hòa tan X trong HNO3

đề tính tổng số mol Fe

Giải quyết vấn đề: Theo đề ra ta có: n NO2 0,195mol

Gọi số mol Fe và O tương ứng trong X là x và y ta có: 56x + 16y = 10,44 (1) Quá trình nhường và nhận e:

Fe    Fe3+ + 3e

x (mol) 3x(mol)

O + 2e    O

y(mol) 2y(mol) 5

N + 1e    4

N (NO2) 0,195(mol) 0,195(mol)

Tổng electron nhường: 3x (mol) Tổng electron nhận: 2y + 0,195(mol)

Áp dụng định luật bảo toàn electron ta có: 3x = 2y + 0,195 (2)

Từ (1) và (2) ta có hệ PT: 56x 16 10, 44

3x 2 0,195

y y

 

 Giải hệ trên ta có x = 0,15 và y = 0,1275

Như vậy nFe = 0,15 mol nên n Fe O2 3  0,075mol   m = 12 gam

Nhận xét:

Với bài toán trên, ta cũng có thể giải theo cách tính số mol O bị CO lấy theo phương trình: 2

2

2

 

     và 5

N + 1e    4

N (NO2) Sau đó dựa vào định luật bảo toàn khối lượng ta có: m = 10,44 + mO

Phát triển bài toán:

Nếu là dạng khử không hoàn toàn một oxit sắt khác (như Fe3O4 hoặc FeO) thì không thể áp dụng phương pháp trên được, mà dùng phương pháp quy về bài toán kinh điển: oxi hoá 1 lượng đơn chất Fe ban đầu bằng 2 chất oxi hoá là O và HNO3 hoặc H2SO4 đặc nóng để giải bài toán này

I.4 Dạng hỗn hợp oxit sắt phản ứng với axit thường: H + (HCl, H 2 SO 4

loãng )

Tổng quan: Đây không phải là phản ứng oxi hóa khử mà chỉ là phản ứng trao

đổi Trong phản ứng này ta coi đó là phản ứng của: 2

2

2HOH O

 

   và tạo ra các muối Fe2+ và Fe3+ trong dung dịch Như vậy nếu biết số mol H+ta có thể biết được khối lượng của oxi trong hỗn hợp oxit và từ đó có thể tính được tổng số mol sắt trong hỗn hợp ban đầu

Ví dụ 6: Cho 7,68 gam hỗn hợp gồm FeO, Fe3O4, Fe2O3 tác dụng vừa hết với

260 ml HCl 1M thu được dung dịch X Cho X phản ứng với dung dịch NaOH dư

Ngày đăng: 15/09/2015, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w