2- Tính hấp dẫn của câu nhiễu cần phải tỏ ra là có vẻ hợp lí đối với những người không am hiểu hoặc hiểu không đúng 3- Tính tương tự trong cấu trúc trả lời cần phải để mỗi phần có độ d
Trang 1TỔ BỘ MÔN : THỂ DỤC - QUỐC PHÒNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG XÂY DỰNG HÌNH THỨC KIỂM TRA BẰNG PHƯƠNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM
BỘ MÔN GDQP TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT ”
Giáo viên : Lê Xuân Vũ
Năm học : 2012 – 2013
Trang 2Phần II Một số quy tắc trong xây dựng các công cụ đánh giá (bài trắc
nghiệm) áp dụng cho môn GDQP 3
A Một số tiêu chuẩn viết câu hỏi trắc nghiệm 3
I Các đặc tính quan trọng của câu hỏi trắc nghiệm 3
II Những đặc tính quan trọng của phần câu dẫn 3III Các đặc tính quan trọng đối với các câu lựa chọn 3
IV Hai mươi quy tắc để viết các câu hỏi nhiều lựa chọn 4
V Những gợi ý khi chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn 5
B Những gợi ý khi viết các câu hỏi tự luận 9Phần III: Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra, đánh giá thành quả học tập 12
A Các loại câu hỏi trắc nghiệm 11
I Phân loại trắc nghiệm 11
II So sánh trắc nghiệm tự luận hay luận đề và trắc nghiệm khách quan 12
I Đặc tính của trắc nghiệm tự luận 14
II Phương pháp soạn câu hỏi tự luận hay luận đề 17III Phương pháp chấm điểm loại câu tự luận 18
TRẮC NGHIỆM CÓ NHIỀU PHƯƠNG ÁN TRẢ LỜI CHO
I Ưu điểm của loại trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời để lựa chọn 20
II Hạn chế của loại câu hỏi có nhiều phương án trả lời để chọn MCQ 20III Các quy tắc khi soạn câu hỏi trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời để
TRẮC NGHIỆM LOẠI "ĐÚNG - SAI” 23I- Đặc tính của trắc nghiệm đúng - sai 23II- Quy tắc soạn câu hỏi loại "đúng - sai” 25III- Phương pháp chấm điểm loại trắc nghiệm: đúng - sai 25Phần III: Kết quả đạt được 26
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
Giáo dục quốc phòng (GDQP) cho học sinh là một bộ phận quan trọng của công tácgiáo dục quốc phòng toàn dân GDQP là môn học chính khóa nằm trong chương trình giảngdạy của các trường Trung học Phổ thông (THPT) nhằm rèn luyện hình thành nhân cách, gópphần nâng cao ý thức quốc phòng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh Nhận rõ vịtrí, vai trò của nhiệm vụ trên, những năm qua, Ban Giám hiệu và Tổ Thể dục - GDQP luônquan tâm chỉ đạo và tổ chức, triển khai thực hiện tốt công tác Giáo Dục Quốc Phòng cho họcsinh
Trong những năm qua, Ban Giám Hiệu đã chỉ đạo, xây dựng kế hoạch hướng dẫn cácgiáo viên chọn nhiều hình thức tổ chức giảng dạy, học tập môn học này Các Giáo viên bộmôn phải thay đổi giáo án cho phù hợp với chương trình của Bộ giáo dục, 35 tiết mỗi nămhọc Từ năm 2003 đến nay, HS được nâng cao hiểu biết về truyền thống vẻ vang của dântộc, Quân đội Nhân dân Việt Nam và một số nội dung cơ bản về quốc phòng, rèn luyện tácphong, nếp sống tập thể có kỷ luật Nội dung thực hành luyện tập theo đúng nội dung, thờigian quy định Các giáo viên đều tích cực tham gia huấn luyện, học sinh hăng say luyện tập
Trong những năm gần đây khi nền kinh tế Việt Nam phát triển, kỹ thuật thông tinhiện đại, thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong trường học là vấn đề đang đượccác cấp lãnh đạo quan tâm và ủng hộ, hiện nay, số lượng giáo viên áp dụng công nghệ thôngtin vào trong phương pháp giảng dạy rất đa dạng, sinh động, gây hứng thú cho học sinh nóichung, và đối với phương pháp giáo dục quốc phòng – an ninh nói riêng, chương trình môngiáo dục quốc phòng an ninh rất đa dạng:
- Liên quan đến Lịch sử có bài : Việt Nam đánh giặc giữ nước, lịch sử và truyền thống
của Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam
- Liên quan đến Địa lý như bài : Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia,
thường thức phòng tránh một số loại bom đạn và thiên tai.
- Liên quan đến Giáo Dục Công Dân có bài : Tác hại của Ma túy và trách nhiệm của
học sinh trong phòng chống ma túy.
- Liên quan đến Sinh học có bài : Cấp cứu ban đầu các tai nạn thông thường và Băng
bó vết thương, kỹ thuật cấp cứu và chuyển thương.
- Liên quan đến hướng nghiệp như bài: Hệ thống nhà trường quân đội, công an và chế
độ tuyển sinh vào các trường quân sự, công an giúp các em học sinh định hướng được
nghề nghiệp quân sự, công an… Đồng thời Ngành Giáo dục và Đào tạo đang nổ lực đổimới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinhtrong hoạt động học tập, khắc phục thói quen học tập thụ động, lối truyền thụ kiến thứcmột chiều phổ biến ở các trường phổ thông hiện nay
Tuy vậy, có thể nói trong một thời gian khá dài việc kiểm tra, đánh giá kết quả môn họcGDQP-AN còn có những hạn chế nhất định Để phục vụ cho công tác thi, kiểm tra đánh giámột cách hoàn thiện và công bằng đồng thời tạo điều kiện cho cả giáo viên và học sinh nắmvững kiến thức đã học Trong thời gian giảng dạy bộ môn cũng như tham khảo nhiều ý kiếnđóng góp từ các thành viên trong Tổ bộ môn và các giáo viên giảng dạy bộ môn GDQP, tôiđưa ra một số phương pháp kiểm tra hình thức trắc nghiệm để đánh giá học sinh trong quá
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG PHẦN I: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
Qua thực tế ở trường cụ thể là những bài kiểm tra định kỳ, các bài thi ra đề, phần lớnhọc sinh không mấy hứng thú với những tiết kiểm tra; những bài kiểm tra làm các em ghò bótrong khuôn mẫu của những từ ngữ Trên thực tế, với phần đông các em bộ môn GDQP chỉđược xem là môn không quan trọng; từ đó, các em thiếu hào hứng khi học chứ không chỉ làtrong kiểm tra
Trước tình hình trên đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ bằng nhiều cách để nângcao chất lượng bộ môn ngày một cao hơn
PHẦN II: MỘT SỐ QUY TẮC TRONG XÂY DỰNG CÁC CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ
(BÀI TRĂC NGHIỆM) ÁP DỤNG CHO MÔN GDQP
A MỘT SỐ TIÊU CHUẨN VIẾT CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
I Các đặc tính quan trọng của câu hỏi trắc nghiệm
1- Sự phù hợp của điều được trắc nghiệm
2- Tính chính xác hoặc tính đúng đắn của kiến thức được trắc nghiệm
3- Tính công bằng đối với tập hợp học sinh được trắc nghiệm Toàn bộ học sinh có cơ hộinhư nhau để tiếp cận với kiến thức được trắc nghiệm
4- Tính nhạy cảm đối với các vấn đề dân tộc thiểu số (tránh các thuật ngữ có thể tỏ ra xúcphạm với bất cứ nhóm người nào)
5- Tính dễ hiểu cho những người đọc các câu hỏi trắc nghiệm ( tính rõ ràng, đơn giản củacác từ vựng được sử dụng)
6- Sắp xếp các câu hỏi trắc nghiệm như thế nào để câu hỏi cuối cùng cũng ứng với mứcđiểm cao nhất
II Những đặc tính quan trọng của phần câu dẫn
1- Tính rõ ràng và hoàn chỉnh của vấn đề hoặc nhiệm vụ được trình bày
2- Tính ngắn gọn, xúc tích của câu dẫn ( bao hàm chỉ các thông tin cần thiết để trả lờicâu hỏi và tránh hiện tượng "đánh lừa”
3- Tính tập trung đối với các khẳng định dương tính (tránh các từ " ít nhất” " không” "ngoại trừ”.v.v )
III Các đặc tính quan trọng đối với các câu lựa chọn
Trang 51- Tính chính xác của câu trả lời (chỉ có một câu trả lời chính xác – đúng).
2- Tính hấp dẫn của câu nhiễu (cần phải tỏ ra là có vẻ hợp lí đối với những người không
am hiểu hoặc hiểu không đúng)
3- Tính tương tự trong cấu trúc trả lời ( cần phải để mỗi phần có độ dài, lượng từ tương
tự như nhau)
4- Tránh được các từ đầu mối ( "luôn luôn” " không bao giờ” " chỉ có” " tất cả”.vv )
IV Hai mươi quy tắc để viết các câu hỏi nhiều lựa chọn
1 Sự tinh thông nội dung môn học của giáo viên chính là giấy thông hành để viết câu hỏitrắc nghiệm
2 Sử dụng thành thạo các biểu đồ, sơ đồ, bảng, đồ thị
3 Xác lập mức và độ phức tạp đối với các học sinh và thời gian cần thiết
10 Tránh các đầu mối có nội dung xa lạ với câu trả lời
11 Tránh các tình hướng lựa chọn 3 khả năng " tăng, giảm, giữ nguyên”
12 Nhất thiết trong các lựa chọn phải có một câu trả lời đúng, rõ ràng
13 Phần dẫn của câu hỏi trắc nghiêm có thể viết dưới dạng đưa ra nhiều yếu tố giúp chohọc sinh lựa chọn câu trả lời Các yếu tố đó được tổ hợp lại thành các câu lựa chọn sao chochỉ có một câu lựa chọn ( câu trả lời) đúng
Trang 6I - Yếu tố x, II - Yếu tố y, III - Yếu tố z
Và các lựa chọn đưa ra là:
(A) chỉ có I đúng (B) chỉ có I và II đúng (C) chỉ có I và III đúng
(D) chỉ có II và III đúng (E) cả ba I, II và III đều đúng
14 Phải phân bố một cách ngẫu nhiên câu trả lời đúng
15 Hiếm khi sử dụng: "Không có cái nào đúng trong số kể trên” và sử dụng " nó” là câutrả lời trong câu trắc nghiệm có " nó” xuất hiện
16 Phải tính đến các đơn vị đánh số trong câu lựa chọn
17 Các câu nhiễu cần phải có vẻ hợp lí, phù hợp với câu dẫn
18 Các câu hỏi trắc nghiệm, trong một tập hợp phụ thuộc vào thông tin giới thiệu (mởđầu) thì không phụ thuộc vào nhau
19 Đôi khi có xu hướng câu hỏi trắc nghiệm được soạn theo kiểu có 5 lựa chọn, có quan
hệ mật thiết với nhau dưới dạng các từ, câu, phương trình, đồ thị, sơ đồ được đưa ra ngay từđầu và người ta dùng các lựa chọn đó cho một loạt các câu trắc nghiệm tiếp theo (Một lựachọn có thể được sử dụng làm một câu trả lời một lần hay nhiều lần hoặc chẳng được dùnglàm câu trả lời lần nào trong một loạt các câu trắc nghiệm có liên quan đến nhau)
20 Các câu hỏi trắc nghiệm cần được phân bố sao cho có thể đo lường được năng lựcnhận thức ở các thứ bậc khác nhau như:
Bậc 1 Nhớ - nhắc lại các sự kiện, quan điểm, nguyên lí cơ bản
Bậc 2 Hiểu - Truyền đạt, làm sáng tỏ, ngoại suy
Bậc 3 Áp dụng - vào vấn đề mới
Bậc 4 Phân tích - Cấu trúc cơ sở dữ liệu được phân tích
Bậc 5 Tổng hợp - Tạo nên một chỉnh thể mới
Bậc 6 Đánh giá - Khi phải sử dụng các tiêu chuẩn phụ thêm như tính kinh tế, tốc độ, độchính xác, độ an toàn để đánh giá mà quyết định lựa chọn cho chính xác một yêu cầu nàođó
V Những gợi ý khi chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn
1 Câu hỏi trắc nghiệm
Trang 7a Lựa chọn khái niệm hay ý tưởng quan trọng mà chỉ với học sinh cần phải biết hoặchiểu.
b Thiết kế câu trắc nghiệm xoay quanh một ý tưởng hay một vấn đề trung tâm được trìnhbày rõ ràng trong câu dẫn Toàn bộ các lựa chọn có quan hệ với câu dẫn được xây dựng trêncùng một phương thức
c Phải bảo đảm chắc chắn để mỗi một câu hỏi trắc nghiệm chỉ có một câu trả lời đúng
d Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, rõ ràng và tránh tối nghĩa Không nên thiết kế câu trắcnghiệm như là một kiểu kiểm tra của khả năng đọc hiểu, trừ khi đây là mục đích câu hỏi
e Khi nhiều câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng dựa trên cùng một thông tin đưa ra ở câutrắc nghiệm đầu dưới dạng một đoạn văn, đồ thị hoặc biểu đồ thì cần phải chọn câu hỏi saocho đảm bảo chắc chắn các câu trắc nghiệm có liên quan đến cùng một loại thông tin đưa rasau đó thì câu này phải độc lập với câu kia Câu trả lời đúng của người thi phải bắt nguồn từthông tin chung đã cho chứ không phụ thuộc câu trả lời đúng của câu trắc nghiệm trước.Không được sử dụng các câu nhiễu trong một câu hỏi làm đầu mối cung cấp thông tin chocâu trả lời của câu trắc nghiệm khác
f Phải có ý thức rõ ràng về mục đích của câu hỏi trắc nghiệm Điều này có nghĩa là nếunhư giáo viên có ý định trắc nghiệm năng lực nhận thức ở bậc nhớ thì không được "ngụytrang” câu hỏi trắc nghiệm dưới dạng một thể hiện khác đi Hoặc nếu như giáo viên có ýđịnh trắc nghiệm tư duy phê phán thì phải làm thế nào để câu hỏi không thể được trả lời khichỉ đơn thuần dựa vào thông tin thực tế đã thu được
g Nếu có ý định làm một câu hỏi trắc nghiệm khó phải chắc chắn rằng nó sẽ khó bởi vì
nó đòi hỏi những lí luận sắc bén hoặc sự hiểu biết ở mức cao chứ không vì nó trắc nghiệmvấn đề bí mật hoặc chưa rõ ràng ở môn học
h Không được sử dụng phủ định kép trong một câu hỏi trắc nghiệm Nếu như giáo viên
đề nghị học sinh trả lời bằng cách nhận ra một lựa chọn là không đúng, hoặc là không chínhxác thì các lựa chọn phải được trình bày dưới dạng khẳng định dương tính Có thể nêu ramột ví dụ về điều này là học sinh có thể bị lúng túng khi phải nhận ra một lựa chọn thuộcloại không đúng
2 Phần câu dẫn của câu hỏi trắc nghiệm
a Bạn có thể xây dựng câu dẫn dưới dạng câu hỏi, dưới dạng câu chưa hoàn chỉnh mà nó
sẽ được hoàn thành bằng liên kết với câu lựa chọn, hoặc dưới dạng một nội dung hoàn chỉnhcủa vấn đề cần được giải quyết
b Xác định rõ ràng trong câu dẫn nhiệm vụ mà bạn xác định cho học sinh và bao hàm tất
cả các thông tin cần thiết cho học sinh để hiểu được ý đồ của câu trắc nghiệm (Các câu hỏiđược xây dựng thành từng cụm một nên cần có sự chỉ dẫn, đặc biệt viết cho cuộc trắc
Trang 8nghiệm được phân thành nhóm và đòi hỏi các chỉ dẫn đặc thù và chúng được dùng cho cácnhóm mà không cần nhắc lại mỗi lần).
3 Các lựa chọn cho câu hỏi trắc nghiệm
(Câu trả lời đúng và các câu trả lời không chính xác, hoặc câu nhiễu)
a Các câu lựa chọn cũng quan trọng như nội dung của vấn đề được trình bày trong câudẫn Lựa chọn và tạo lập nội dung của vấn đề trong phần thân câu trắc nghiệm, sau đó tiếnhành lựa chọn và tạo lập các câu nhiễu thật cẩn thận, thể hiện ở chỗ tính không đúng là tiêuchuẩn duy nhất
Các nguồn để tạo câu nhiễu tốt là:
- Những quan điểm sai và những sai lầm thường gặp trong kỹ thuật
- Nội dung bản thân nó là đúng nhưng lại không thỏa mãn các yêu cầu của câu hỏi
- Nội dung hoặc là quá rộng hoặc là quá hẹp so với yêu cầu của câu hỏi
- Một nội dung không đúng của câu nhiễu được diễn đạt về từ ngữ cẩn thận tới mức nó
có vẻ có lí đối với những người không am hiểu
b Độ khó của câu hỏi trắc nghiệm phụ thuộc nhiều vào các câu lựa chọn Sự khác biệtgiữa các câu lựa chọn đúng sai càng tinh tế bao nhiêu thì câu trắc nghiệm càng trở nên khóbấy nhiêu
c Đặt câu đối với tất cả các câu lựa chọn như thế nào để chúng duy trì được mối quan hệnhư nhau đối với ý tưởng của câu dẫn và diễn đạt các câu lựa chọn một cách rõ ràng và xúctích
d Đề phòng việc đưa ra các gợi ý vào câu trả lời đúng Nếu như có sự tương tự giữa câudẫn với câu trả lời đúng về một từ, câu hoặc cấu trúc ngữ pháp, và nếu như sự tương tự này
là không có đối với các câu lựa chọn khác thì chỉ trên cơ sở này học sinh cũng đã đủ nhận racâu trả lời nào là đúng Đồng thời cũng tránh khuynh hướng sử dụng cách viết như sáchtrong các câu lựa chọn khác
e Tránh mọi xu hướng làm cho câu trả lời đúng luôn dài hơn các câu nhiễu, khuynhhướng này thông thường là kết quả của việc lập câu trả lời đúng một cách hoàn chỉnh vàhoàn toàn chính xác, đồng thời lập các câu nhiễu với nội dung đơn giản và không đủ chấtlượng Hãy viết các câu nhiễu với sự cẩn thận và độ chính xác như là đối với câu trả lờiđúng, như vậy để tất cả các câu lựa chọn đề có ái lực như nhau đối với các học sinh chỉ haytrả lời phỏng đoán
Trang 9f Tránh các "sơ hở” trong các câu nhiễu, ví dụ "luôn luôn”, "chỉ”, "mọi”, "tất cả”,
"không bao giờ”.v.v Các câu trắc nghiệm cần kiểm tra một điều gì đó tinh tế hơn chứ
không phải chỉ là năng lực nhận biết ra những gì khác thường ở học sinh
g Không được để lộ câu trả lời đúng do sử dụng tất cả các từ của câu nhiễu có ý nghĩakhông thiện chí, điều này sẽ tương phản mạnh đối với các từ có ý nghĩa thiện chí trong câutrả lời đúng và ngược lại
8 Không được nhắc lại trong mỗi câu lựa chọn thông tin mà có thể để ở trong câu dẫn.Trường hợp này dứt khoát phải đưa nội dung về câu dẫn
h Nếu cần một sự đánh giá ở câu dẫn (thí dụ: "tốt nhất” hoặc "cực kỳ”) thì phải đảm bảo được rằng quả thật giáo viên đòi hỏi học sinh nhận ra cái "tốt nhất” hoặc "cực kỳ” của vài
câu lựa chọn chứ không phải là phân biệt giữa cái chính xác và không chính xác
4 Các vấn đề khác
a Đối với một bài trắc nghiệm điển hình thì cần có bộ câu hỏi được sắp xếp theo mức độ
từ dễ đến khó đối với lớp mà cuộc trắc nghiệm được tiến hành (một câu trắc nghiệm dễ làcâu mà có ít nhất 70% học sinh trả lời đúng, một câu khó là câu có dưới 30% học sinh trả lờiđúng) Tuy nhiên, phần lớn các câu hỏi trắc nghiệm nằm trong phạm vi đúng thường là 30 -70% Điều quan trọng phải luôn phải nhớ rằng thời gian làm bài mới là một vấn đề khó khănđối với học sinh hơn là giáo viên dự tính
b Có sự linh hoạt trong sự lập ra các câu trắc nghiệm để đáp ứng các tiêu chí của bài trắcnghiệm Điều cần thiết là có được các câu hỏi cho một chủ đề nào đó ở các mức độ khó khácnhau và kiểm tra được các năng lực
c Khi duyệt các câu trắc nghiệm, hãy chỉ ra câu trả lời đúng hoặc ở mặt sau hoặc ở một
tờ giấy riêng biệt Cần phải đảm bảo rằng những người duyệt đề có thể trả lời đúng các câuhỏi một cách độc lập mà không chịu ảnh hưởng bởi câu trả lời của bạn được viết ngay dướicâu hỏi trắc nghiệm
Trang 10B NHỮNG GỢI Ý KHI VIẾT CÁC CÂU HỎI TỰ LUẬN
1 Câu hỏi cần phải rõ ràng: những hướng dẫn không được làm học sinh lúng túng vớicác vấn đề nêu ra Chủ đề nhằm mục đích kiểm tra năng lực trả lời chứ không phải là khảnăng đoán được những gì mà người lập trắc nghiệm dự định Bên cạnh đó người học sinh chỉ
có một lượng thời gian hạn chế, do đó thời gian cần phải dùng cho việc viết chứ không cầncho việc phân tích đề một cách không cần thiết
2 Câu hỏi ngắn gọn vừa đủ để vấn đề được trình bày rõ ràng: sự diễn đạt lại đôi khi làcần thiết để tránh hiểu nhầm, vậy nên xem xét sự diễn đạt được sử dụng có cần đúng nguyêngốc hay không, bởi vì sự lặp lại thì không cần làm sáng tỏ thêm
3 Cách hướng dẫn cần phải được xác định rõ ràng: học sinh cần phải biết điều gì đượcyêu cầu, ví dụ: thảo luận, trích dẫn, ví dụ cụ thể từ một luận thuyết, hoặc hướng sự chú ý đến
sự chuẩn xác của một nội dung khái niệm hoặc hãy khẳng định là đã sử dụng các câu hoànchỉnh
4 Tránh các câu hỏi chỉ đòi hỏi câu trả lời "Có” hoặc "Không”
5 Học sinh trung bình phải có khả năng viết câu trả lời ở mức độ trung bình, còn ngườihọc sinh giỏi có khả năng thể hiện trí thông minh của mình Một chủ đề tốt sẽ cho phép phânloại tất cả các học sinh theo năng lực của họ
6 Từ vựng được sử dụng và những khái niệm được thể hiện trong chủ đề không đượcquá khó đối với người học sinh bình thường để có thể hiểu được nhanh chóng mà làm bài Một chủ đề khó chỉ phân biệt được giữa những học sinh rất giỏi với số còn lại Bêncạnh đó việc đọc hiểu khó khăn sẽ biến cuộc trắc nghiệm thành trắc nghiệm khả năng đọc
7 Câu hỏi không được tạo ra cách viết một cách khuôn sáo trong các câu trả lời Chủ
đề sẽ bị nhàm chán do sử dụng quá mức các câu trả lời dài dòng, mặt khác một số câu hỏi tốtchính lại là các câu biến báo các khuôn sáo hay dùng
8 Nếu là kiểm tra tự luận: Bản thân câu hỏi cần phải cung cấp một nguyên lý tổ chức
để viết tự luận
Ví dụ: Hãy so sánh và đối chiếu
Hãy mô tả ngắn gọn và sau đó phân tích
Hãy thảo luận qua câu trả lời của anh (chị) cho câu hỏi này, trình bày nguyên nhânđưa ra câu trả lời của anh (chị) và đưa ra các ví dụ cụ thể để minh họa cho những nguyênnhân này
Trang 119 Nếu là kiểm tra tự luận: Câu hỏi không được gợi ra những phản ứng làm ảnh hưởngđến sự phán đoán của người viết hoặc người đọc Chính trị, chủng tộc và những chủ đề nhạycảm khác cần tránh nhắc đến Đồng thời, cũng nên tránh những chủ đề gây nên sự tối nghĩa;chủ đề dường như vô thưởng vô phạt Nếu như một học sinh viết về một nhân vật chính trịkhông đúng (theo quan điểm của người đọc, người chấm), thì điểm số hoặc là quá cao vìngười đọc đồng tình với chính kiến của học sinh, hoặc quá thấp vì người đọc không chấpnhận chính kiến này Mặt khác, khi chấm bài tự luận thứ 5 cùng nội dung, chất lượng nhưnhau chắc chắn cũng sẽ không được điểm như là đối với bài đầu tiên Những người chấmcũng là con người và họ đã trở nên nhàm chán.
10 Nếu là kiểm tra tự luận: Người viết câu hỏi nên viết luôn đáp án và xác định xem đề
ra có thực sự đòi hỏi câu trả lời đó hay không Người viết câu hỏi cũng nên cố gắng trả lờicâu hỏi trong khoảng thời gian giới hạn cho phép, điều này giúp cho thấy được tính hợp lýcủa thời gian dành cho học sinh để viết câu trả lời Câu hỏi cần phải được chỉnh lý nếu cónhững phát hiện ra những điều không hợp lý
Trang 12PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
THÀNH QUẢ HỌC TẬP
A CÁC LOẠI CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
I Phân loại trắc nghiệm:
Các bài kiểm tra hay thi, học sinh phải viết khi làm bài được chia thành hai loại: Loại tựluận và loại trắc nghiệm khách quan Cả hai loại đều được gọi là trắc nghiệm, chứ không chỉ
là loại thứ hai như nhiều người vẫn lầm lẫn Loại trắc nghiệm tự luận đòi hỏi học sinh viết
câu trả lời, thường nhiều dòng, tương ứng với mỗi câu hỏi, hay mỗi phần câu hỏi Chữ "
khách quan” dùng để chỉ loại trắc nghiệm có phương pháp chấm điểm khá đều tay và đáng
tin cậy khi có nhiều người chấm, nhờ ở "khóa” cho điểm đã chuẩn bị trước Chỉ trong loại trắc nghiệm "điền vào chỗ trống” học sinh được tự do diễn đạt câu trả lời trong một giới
hạn nào đó để chấp nhận đúng; còn trong loại trắc nghiệm khách quan khác, học sinh sẽđược điểm như nhau với bất kỳ người chấm là ai, ngoại trừ sai số do sự vô ý nhất thời củangười chấm Vậy nên loại trắc nghiệm này được gọi là khách quan, do tính chất hai haynhiều người cùng chấm bài kiểm tra hay thi sẽ cho điểm như nhau hoặc khác nhau rất ít.Trắc nghiệm khách quan có thể chia làm 4 loại:
1 Loại đúng sai Trong loại này học sinh đọc những câu phát biểu và phán đoán xem
nội dung hay hình thức của câu ấy đúng hay sai Loại câu hỏi này phù hợp nhất cho việckhảo sát trí nhớ các sự kiện, hay nhận biết các sự kiện
2 Loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để chọn, MCQ Loại này gồm một câu phát biểu
căn bản, gọi là câu dẫn, hay câu hỏi, đi với nhiều câu trả lời để học sinh lựa chọn thi làm bài.Các câu trả lời cho mỗi câu hỏi có dạng giống nhau, gồm một từ, một cụm từ, hay một câu
Trang 13hoàn chỉnh Học sinh phải chọn một câu trả lời đúng hay hợp lý nhất Đây là loại trắcnghiệm khách quan thông dụng nhất Các câu hỏi loại này có thể dùng thẩm định trí nhớ,mức hiểu biết, khả năng áp dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán caohơn.
3 Loại ghép đôi (hay xứng hợp) Trong loại này, học sinh tìm cách ghép mỗi từ hay
câu trả lời trong một cột với một từ hay câu xếp trong cột khác Số câu hoặc từ trong cột thứ
1 có thể ít, bằng hay nhiều hơn các câu hoặc từ trong cột thứ 2 Các hỏi loại này mang nhiều
tính chất của loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để lựa chọn, MCQ.
4 Loại điền vào ô trống hay cần câu trả lời ngắn Trong loại này, học sinh viết câu trả
lời khoảng 1 đến 8 hay 10 chữ, các câu trả lời thường thuộc loại đòi hỏi trí nhớ Tuy nhiên,trong trường hợp môn Toán hay Khoa học Tự nhiên, câu trả lời có thể đòi hỏi óc suy luậnhay sáng kiến
II So sánh trắc nghiệm tự luận hay luận đề và trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan có những ưu điểm riêng tùy theo mụctiêu cần kiểm tra, đánh giá, yêu cầu đề cập nhiều mục tiêu hay tiết mục nội dung
Khi được soạn kỹ, loại trắc nghiệm tự luận có thể tạo cho học sinh cơ hội để phân tích
và tổng hợp dữ kiện theo lời lẽ riêng của mình dựa trên kinh nghiệm học tập hay kinhnghiệm ngoài đời Trong loại trắc nghiệm này học sinh có thể thi thố khả năng giải quyếtvấn đề hay khả năng suy luận trong việc: sắp xếp các dữ kiện hay sự kiện; so sánh các tínhchất hay ý kiến; giải thích rõ ràng các định luật và quy tắc; ứng dụng các nguyên tắc vàonhững vấn đề riêng biệt cần giải quyết; suy diễn từ những sự kiện đã biết; giải thích hay thiếtlập những mối tương quan khi có được một số yếu tố hay dữ kiện; phê bình các đoạn văn, tưtưởng, dựa trên các tiêu chuẩn đã cho; phác họa những đường lối mới để giải quyết nhữngvấn đề cần thiết
Ngược lại, loại trắc nghiệm khách quan có thể dùng kiểm tra đánh giá khả năng nhớ
những sự kiện hay kiến thức hữu hiệu hơn loại tự luận học sinh phải lựa chọn câu trả lờiđúng trong số nhiều câu trả lời cho sẵn hoặc phải biết thêm 1 từ, 1 câu, 1 đoạn ngắn để trảlời câu hỏi Tuy nhiên với khả năng, kinh nghiệm dùng thẩm định các khả năng suy luận,giải quyết vấn đề ở những mức trí lực cao hơn
Trong khi loại trắc nghiệm tự luận thường cho phép khảo sát một số ít kiến thức trongthời gian hạn định, loại trắc nghiệm khách quan có thể giúp chúng ta khảo sát một số kiếnthức rộng rãi, bao quát hơn Sự khác biệt này do câu hỏi tự luận cần nhiều thời gian hơn đểtrả lời một câu hỏi, trong lúc câu hỏi loại trắc nghiệm khách quan có thể được trả lời nhanhhơn học sinh nào có lời văn lưu loát sẽ có được lợi thế hơn khi viết phần trả lời tự luận, vì
họ có thể nhấn mạnh các điểm họ biết và bỏ qua những điểm chưa chắc chắn Nhờ vào cácphần họ biết nhiều, học sinh có thể gây ấn tượng thuận lợi để che lấp một vài phần yếu kémkhác trong bài thi Điều này không thể xảy ra với trắc nghiệm khách quan
Trang 14Học sinh nào thích được tự do diễn đạt tư tưởng sẽ thích câu hỏi tự luận hơn để có dịptrình bày ý tưởng một cách hữu hiệu Trái lại, các học sinh thích thu thập nhiều dữ kiện vàkiến thức sẽ lựa chọn một câu trả lời trong số những câu cho sẵn nên có khuynh hướng thíchloại câu hỏi trắc nghiệm khách quan Mỗi giáo viên nên báo trước cho học sinh biết sẽ dùngcâu hỏi nào để họ chuẩn bị một cách thích ứng.
Việc chấm điểm loại trắc nghiệm khách quan sẽ nhanh hơn và chính xác hơn, do các câutrả lời đã được chọn sẵn khi ấn định khóa chấm điểm Nhờ đó, với cùng một thời gian chấmbài như nhau, loại trắc nghiệm khách quan thường có độ tin cậy cao hơn loại luận đề Loạitrắc nghiệm tự luận đòi hỏi nhiều thời gian hơn để chấm bài, và điểm của cùng một bài thi
do nhiều giám khảo khác nhau, chấm sẽ khác nhau; ngay cả một giám khảo chấm cùng mộtbài vào những lúc khác nhau sẽ có những đánh giá khác nhau Tuy nhiên, độ tin cậy của loạitrắc nghiệm tự luận có thể gia tăng nếu chúng ta soạn trước những điểm nào cần đề cập đếntrong một câu trả lời đúng
Một bài trắc nghiệm loại tự luận dễ soạn hơn loại trắc nghiệm khách quan và chỉ cần ítcâu hỏi Tuy nhiên, nội dung mỗi câu hỏi nên được diễn tả một cách rõ ràng, chính xác để cóthể so sánh các câu trả lời một cách dễ dàng hơn Mỗi câu hỏi cần có nội dung tương đốitổng quát để những học sinh có sáng kiến có dịp tư duy và lí luận Việc soạn các câu hỏi trắcnghiệm khách quan cũng đòi hỏi nhiều công phu để các từ dùng được chính xác cũng như độkhó của mỗi câu ở mức thích hợp, vừa phải Với kinh nghiệm, thường ở một lớp 25 học sinhhay ít hơn nên dùng loại câu hỏi tự luận để có lợi thời giờ hơn; trong lúc một lớp đông hơn,việc dùng câu hỏi trắc nghiệm khách quan sẽ có lợi hơn
Câu hỏi tự luận hay câu hỏi trắc nghiệm khách quan có những điểm đáng chú ý sau đây:
1 Về khả năng cho được:
- Loại trắc nghiệm khách quan:
+ Học sinh chọn một câu đúng nhất trong số các phương án trả lời cho sẵn hoặc viếtthêm một từ đến một câu để trả lời
+ Có thể đo được những khả năng suy luận như sắp đặt ý tưởng, suy diễn, so sánh vàphân biệt