Những đặc tính quan trọng của phần câu dẫn 1- Tính rõ ràng và hoàn chỉnh của vấn đề hoặc nhiệm vụ được trình bày 2- Tính ngắn gọn, xúc tích của câu dẫn bao hàm chỉ các thông tin cần t
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG TRỊ
TRƯỜNG THPT VĨNH ĐỊNH
TỔ BỘ MÔN : THỂ DỤC - QUỐC PHÒNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG XÂY DỰNG HÌNH THỨC KIỂM TRA BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM
BỘ MÔN GDQP TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT ”
Giáo viên : Lê Xuân Vũ
Trang 2Năm học : 2012 – 2013 MỤC LỤC
I Các đặc tính quan trọng của câu hỏi trắc nghiệm 3
III Các đặc tính quan trọng đối với các câu lựa chọn 3
IV Hai mươi quy tắc để viết các câu hỏi nhiều lựa chọn 4
V Những gợi ý khi chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn 5
Phần III: Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra, đánh giá thành quả học tập 12
II So sánh trắc nghiệm tự luận hay luận đề và trắc nghiệm khách quan 12
Trang 3B Trắc nghiệm tự luận 14
ü TRẮC NGHIỆM CÓ NHIỀU PHƯƠNG ÁN TRẢ LỜI CHO MỖI CÂU HỎI (
I.Ưu điểm của loại trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời để lựa chọn 20
II Hạn chế của loại câu hỏi có nhiều phương án trả lời để chọn MCQ 20III Các quy tắc khi soạn câu hỏi trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời để chọn MCQ 21
ü TRẮC NGHIỆM LOẠI "ĐÚNG - SAI” 23
III- Phương pháp chấm điểm loại trắc nghiệm: đúng - sai 25
A PHẦN MỞ ĐẦU
Giáo dục quốc phòng (GDQP) cho học sinh là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dụcquốc phòng toàn dân GDQP là môn học chính khóa nằm trong chương trình giảng dạy của cáctrường Trung học Phổ thông (THPT) nhằm rèn luyện hình thành nhân cách, góp phần nâng cao ýthức quốc phòng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh Nhận rõ vị trí, vai trò của nhiệm
Trang 4vụ trên, những năm qua, Ban Giám hiệu và Tổ Thể dục - GDQP luôn quan tâm chỉ đạo và tổchức, triển khai thực hiện tốt công tác Giáo Dục Quốc Phòng cho học sinh.
Trong những năm qua, Ban Giám Hiệu đã chỉ đạo, xây dựng kế hoạch hướng dẫn các giáo viênchọn nhiều hình thức tổ chức giảng dạy, học tập môn học này Các Giáo viên bộ môn phải thayđổi giáo án cho phù hợp với chương trình của Bộ giáo dục, 35 tiết mỗi năm học Từ năm 2003đến nay, HS được nâng cao hiểu biết về truyền thống vẻ vang của dân tộc, Quân đội Nhân dânViệt Nam và một số nội dung cơ bản về quốc phòng, rèn luyện tác phong, nếp sống tập thể có kỷluật Nội dung thực hành luyện tập theo đúng nội dung, thời gian quy định Các giáo viên đềutích cực tham gia huấn luyện, học sinh hăng say luyện tập
Trong những năm gần đây khi nền kinh tế Việt Nam phát triển, kỹ thuật thông tin hiện đại, thì việcứng dụng công nghệ thông tin vào trong trường học là vấn đề đang được các cấp lãnh đạo quantâm và ủng hộ, hiện nay, số lượng giáo viên áp dụng công nghệ thông tin vào trong phươngpháp giảng dạy rất đa dạng, sinh động, gây hứng thú cho học sinh nói chung, và đối với phươngpháp giáo dục quốc phòng – an ninh nói riêng, chương trình môn giáo dục quốc phòng an ninhrất đa dạng:
- Liên quan đến Lịch sử có bài : Việt Nam đánh giặc giữ nước, lịch sử và truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam
- Liên quan đến Địa lý như bài : Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia, thường thức phòng tránh một số loại bom đạn và thiên tai.
- Liên quan đến Giáo Dục Công Dân có bài : Tác hại của Ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng chống ma túy.
- Liên quan đến Sinh học có bài : Cấp cứu ban đầu các tai nạn thông thường và Băng
bó vết thương, kỹ thuật cấp cứu và chuyển thương.
- Liên quan đến hướng nghiệp như bài: Hệ thống nhà trường quân đội, công an và chế
độ tuyển sinh vào các trường quân sự, công an giúp các em học sinh định hướng được nghề
nghiệp quân sự, công an… Đồng thời Ngành Giáo dục và Đào tạo đang nổ lực đổi mới phươngpháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt độnghọc tập, khắc phục thói quen học tập thụ động, lối truyền thụ kiến thức một chiều phổ biến ở cáctrường phổ thông hiện nay
Tuy vậy, có thể nói trong một thời gian khá dài việc kiểm tra, đánh giá kết quả môn học
GDQP-AN còn có những hạn chế nhất định Để phục vụ cho công tác thi, kiểm tra đánh giá một cáchhoàn thiện và công bằng đồng thời tạo điều kiện cho cả giáo viên và học sinh nắm vững kiếnthức đã học Trong thời gian giảng dạy bộ môn cũng như tham khảo nhiều ý kiến đóng góp từcác thành viên trong Tổ bộ môn và các giáo viên giảng dạy bộ môn GDQP, tôi đưa ra một số
Trang 5phương pháp kiểm tra hình thức trắc nghiệm để đánh giá học sinh trong quá trình giảng dạy, rấtmong các thầy cô đóng góp thêm ý kiến để hoàn thiện hơn nội dung này.
B PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
Qua thực tế ở trường cụ thể là những bài kiểm tra định kỳ, các bài thi ra đề, phần lớn học sinhkhông mấy hứng thú với những tiết kiểm tra; những bài kiểm tra làm các em ghò bó trong khuônmẫu của những từ ngữ Trên thực tế, với phần đông các em bộ môn GDQP chỉ được xem làmôn không quan trọng; từ đó, các em thiếu hào hứng khi học chứ không chỉ là trong kiểm tra
Trước tình hình trên đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ bằng nhiều cách để nâng cao chấtlượng bộ môn ngày một cao hơn
PHẦN II: MỘT SỐ QUY TẮC TRONG XÂY DỰNG CÁC CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ (BÀI TRĂC NGHIỆM) ÁP DỤNG CHO MÔN GDQP
A MỘT SỐ TIÊU CHUẨN VIẾT CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
I Các đặc tính quan trọng của câu hỏi trắc nghiệm
1- Sự phù hợp của điều được trắc nghiệm
2- Tính chính xác hoặc tính đúng đắn của kiến thức được trắc nghiệm
3- Tính công bằng đối với tập hợp học sinh được trắc nghiệm Toàn bộ học sinh có cơ hộinhư nhau để tiếp cận với kiến thức được trắc nghiệm
4- Tính nhạy cảm đối với các vấn đề dân tộc thiểu số (tránh các thuật ngữ có thể tỏ ra xúcphạm với bất cứ nhóm người nào)
5- Tính dễ hiểu cho những người đọc các câu hỏi trắc nghiệm ( tính rõ ràng, đơn giản của các
từ vựng được sử dụng)
Trang 66- Sắp xếp các câu hỏi trắc nghiệm như thế nào để câu hỏi cuối cùng cũng ứng với mức điểmcao nhất.
II Những đặc tính quan trọng của phần câu dẫn
1- Tính rõ ràng và hoàn chỉnh của vấn đề hoặc nhiệm vụ được trình bày
2- Tính ngắn gọn, xúc tích của câu dẫn ( bao hàm chỉ các thông tin cần thiết để trả lời câu hỏi
và tránh hiện tượng "đánh lừa”
3- Tính tập trung đối với các khẳng định dương tính (tránh các từ " ít nhất” " không” " ngoạitrừ”.v.v )
III Các đặc tính quan trọng đối với các câu lựa chọn
1- Tính chính xác của câu trả lời (chỉ có một câu trả lời chính xác – đúng)
2- Tính hấp dẫn của câu nhiễu (cần phải tỏ ra là có vẻ hợp lí đối với những người không amhiểu hoặc hiểu không đúng)
3- Tính tương tự trong cấu trúc trả lời ( cần phải để mỗi phần có độ dài, lượng từ tương tựnhư nhau)
4- Tránh được các từ đầu mối ( "luôn luôn” " không bao giờ” " chỉ có” " tất cả”.vv )
IV Hai mươi quy tắc để viết các câu hỏi nhiều lựa chọn
1 Sự tinh thông nội dung môn học của giáo viên chính là giấy thông hành để viết câu hỏi trắcnghiệm
2 Sử dụng thành thạo các biểu đồ, sơ đồ, bảng, đồ thị
3 Xác lập mức và độ phức tạp đối với các học sinh và thời gian cần thiết
Trang 78 Thông tin trong câu dẫn cần phải xác thực và các câu lựa chọn không được phủ nhận câudẫn.
9 Các câu lựa chọn cần phải đồng nhất, song song và được sắp xếp một cách logic hoặc đượcđánh số thứ tự
10 Tránh các đầu mối có nội dung xa lạ với câu trả lời
11 Tránh các tình hướng lựa chọn 3 khả năng " tăng, giảm, giữ nguyên”
12 Nhất thiết trong các lựa chọn phải có một câu trả lời đúng, rõ ràng
13 Phần dẫn của câu hỏi trắc nghiêm có thể viết dưới dạng đưa ra nhiều yếu tố giúp cho họcsinh lựa chọn câu trả lời Các yếu tố đó được tổ hợp lại thành các câu lựa chọn sao cho chỉ cómột câu lựa chọn ( câu trả lời) đúng
Ví dụ, người đưa ra các yếu tố trong câu dẫn như:
I - Yếu tố x, II - Yếu tố y, III - Yếu tố z
Và các lựa chọn đưa ra là:
(A) chỉ có I đúng (B) chỉ có I và II đúng (C) chỉ có I và III đúng
(D) chỉ có II và III đúng (E) cả ba I, II và III đều đúng
14 Phải phân bố một cách ngẫu nhiên câu trả lời đúng
15 Hiếm khi sử dụng: "Không có cái nào đúng trong số kể trên” và sử dụng " nó” là câu trả lờitrong câu trắc nghiệm có " nó” xuất hiện
16 Phải tính đến các đơn vị đánh số trong câu lựa chọn
17 Các câu nhiễu cần phải có vẻ hợp lí, phù hợp với câu dẫn
18 Các câu hỏi trắc nghiệm, trong một tập hợp phụ thuộc vào thông tin giới thiệu (mở đầu) thìkhông phụ thuộc vào nhau
19 Đôi khi có xu hướng câu hỏi trắc nghiệm được soạn theo kiểu có 5 lựa chọn, có quan hệ mậtthiết với nhau dưới dạng các từ, câu, phương trình, đồ thị, sơ đồ được đưa ra ngay từ đầu vàngười ta dùng các lựa chọn đó cho một loạt các câu trắc nghiệm tiếp theo (Một lựa chọn có thểđược sử dụng làm một câu trả lời một lần hay nhiều lần hoặc chẳng được dùng làm câu trả lờilần nào trong một loạt các câu trắc nghiệm có liên quan đến nhau)
Trang 820 Các câu hỏi trắc nghiệm cần được phân bố sao cho có thể đo lường được năng lực nhậnthức ở các thứ bậc khác nhau như:
Bậc 1 Nhớ - nhắc lại các sự kiện, quan điểm, nguyên lí cơ bản
Bậc 2 Hiểu - Truyền đạt, làm sáng tỏ, ngoại suy
Bậc 3 Áp dụng - vào vấn đề mới
Bậc 4 Phân tích - Cấu trúc cơ sở dữ liệu được phân tích
Bậc 5 Tổng hợp - Tạo nên một chỉnh thể mới
Bậc 6 Đánh giá - Khi phải sử dụng các tiêu chuẩn phụ thêm như tính kinh tế, tốc độ, độ chínhxác, độ an toàn để đánh giá mà quyết định lựa chọn cho chính xác một yêu cầu nào đó
V Những gợi ý khi chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn
1 Câu hỏi trắc nghiệm
a Lựa chọn khái niệm hay ý tưởng quan trọng mà chỉ với học sinh cần phải biết hoặc hiểu
b Thiết kế câu trắc nghiệm xoay quanh một ý tưởng hay một vấn đề trung tâm được trình bày rõràng trong câu dẫn Toàn bộ các lựa chọn có quan hệ với câu dẫn được xây dựng trên cùng mộtphương thức
c Phải bảo đảm chắc chắn để mỗi một câu hỏi trắc nghiệm chỉ có một câu trả lời đúng
d Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, rõ ràng và tránh tối nghĩa Không nên thiết kế câu trắc nghiệmnhư là một kiểu kiểm tra của khả năng đọc hiểu, trừ khi đây là mục đích câu hỏi
e Khi nhiều câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng dựa trên cùng một thông tin đưa ra ở câu trắcnghiệm đầu dưới dạng một đoạn văn, đồ thị hoặc biểu đồ thì cần phải chọn câu hỏi sao cho đảmbảo chắc chắn các câu trắc nghiệm có liên quan đến cùng một loại thông tin đưa ra sau đó thìcâu này phải độc lập với câu kia Câu trả lời đúng của người thi phải bắt nguồn từ thông tinchung đã cho chứ không phụ thuộc câu trả lời đúng của câu trắc nghiệm trước Không được sửdụng các câu nhiễu trong một câu hỏi làm đầu mối cung cấp thông tin cho câu trả lời của câu trắcnghiệm khác
f Phải có ý thức rõ ràng về mục đích của câu hỏi trắc nghiệm Điều này có nghĩa là nếu như giáoviên có ý định trắc nghiệm năng lực nhận thức ở bậc nhớ thì không được "ngụy trang” câu hỏitrắc nghiệm dưới dạng một thể hiện khác đi Hoặc nếu như giáo viên có ý định trắc nghiệm tưduy phê phán thì phải làm thế nào để câu hỏi không thể được trả lời khi chỉ đơn thuần dựa vàothông tin thực tế đã thu được
Trang 9g Nếu có ý định làm một câu hỏi trắc nghiệm khó phải chắc chắn rằng nó sẽ khó bởi vì nó đòihỏi những lí luận sắc bén hoặc sự hiểu biết ở mức cao chứ không vì nó trắc nghiệm vấn đề bímật hoặc chưa rõ ràng ở môn học.
h Không được sử dụng phủ định kép trong một câu hỏi trắc nghiệm Nếu như giáo viên đề nghịhọc sinh trả lời bằng cách nhận ra một lựa chọn là không đúng, hoặc là không chính xác thì cáclựa chọn phải được trình bày dưới dạng khẳng định dương tính Có thể nêu ra một ví dụ về điềunày là học sinh có thể bị lúng túng khi phải nhận ra một lựa chọn thuộc loại không đúng
2 Phần câu dẫn của câu hỏi trắc nghiệm
a Bạn có thể xây dựng câu dẫn dưới dạng câu hỏi, dưới dạng câu chưa hoàn chỉnh mà nó sẽđược hoàn thành bằng liên kết với câu lựa chọn, hoặc dưới dạng một nội dung hoàn chỉnh củavấn đề cần được giải quyết
b Xác định rõ ràng trong câu dẫn nhiệm vụ mà bạn xác định cho học sinh và bao hàm tất cả cácthông tin cần thiết cho học sinh để hiểu được ý đồ của câu trắc nghiệm (Các câu hỏi được xâydựng thành từng cụm một nên cần có sự chỉ dẫn, đặc biệt viết cho cuộc trắc nghiệm được phânthành nhóm và đòi hỏi các chỉ dẫn đặc thù và chúng được dùng cho các nhóm mà không cầnnhắc lại mỗi lần)
3 Các lựa chọn cho câu hỏi trắc nghiệm
(Câu trả lời đúng và các câu trả lời không chính xác, hoặc câu nhiễu)
a Các câu lựa chọn cũng quan trọng như nội dung của vấn đề được trình bày trong câu dẫn.Lựa chọn và tạo lập nội dung của vấn đề trong phần thân câu trắc nghiệm, sau đó tiến hành lựachọn và tạo lập các câu nhiễu thật cẩn thận, thể hiện ở chỗ tính không đúng là tiêu chuẩn duynhất
Các nguồn để tạo câu nhiễu tốt là:
- Những quan điểm sai và những sai lầm thường gặp trong kỹ thuật
- Nội dung bản thân nó là đúng nhưng lại không thỏa mãn các yêu cầu của câu hỏi
- Nội dung hoặc là quá rộng hoặc là quá hẹp so với yêu cầu của câu hỏi
- Một nội dung không đúng của câu nhiễu được diễn đạt về từ ngữ cẩn thận tới mức nó có vẻ có
lí đối với những người không am hiểu
b Độ khó của câu hỏi trắc nghiệm phụ thuộc nhiều vào các câu lựa chọn Sự khác biệt giữa cáccâu lựa chọn đúng sai càng tinh tế bao nhiêu thì câu trắc nghiệm càng trở nên khó bấy nhiêu
Trang 10c Đặt câu đối với tất cả các câu lựa chọn như thế nào để chúng duy trì được mối quan hệ nhưnhau đối với ý tưởng của câu dẫn và diễn đạt các câu lựa chọn một cách rõ ràng và xúc tích.
d Đề phòng việc đưa ra các gợi ý vào câu trả lời đúng Nếu như có sự tương tự giữa câu dẫnvới câu trả lời đúng về một từ, câu hoặc cấu trúc ngữ pháp, và nếu như sự tương tự này làkhông có đối với các câu lựa chọn khác thì chỉ trên cơ sở này học sinh cũng đã đủ nhận ra câutrả lời nào là đúng Đồng thời cũng tránh khuynh hướng sử dụng cách viết như sách trong cáccâu lựa chọn khác
e Tránh mọi xu hướng làm cho câu trả lời đúng luôn dài hơn các câu nhiễu, khuynh hướng nàythông thường là kết quả của việc lập câu trả lời đúng một cách hoàn chỉnh và hoàn toàn chínhxác, đồng thời lập các câu nhiễu với nội dung đơn giản và không đủ chất lượng Hãy viết các câunhiễu với sự cẩn thận và độ chính xác như là đối với câu trả lời đúng, như vậy để tất cả các câulựa chọn đề có ái lực như nhau đối với các học sinh chỉ hay trả lời phỏng đoán
f Tránh các "sơ hở” trong các câu nhiễu, ví dụ "luôn luôn”, "chỉ”, "mọi”, "tất cả”, "không bao giờ”.v.v Các câu trắc nghiệm cần kiểm tra một điều gì đó tinh tế hơn chứ không phải chỉ là
năng lực nhận biết ra những gì khác thường ở học sinh
g Không được để lộ câu trả lời đúng do sử dụng tất cả các từ của câu nhiễu có ý nghĩa khôngthiện chí, điều này sẽ tương phản mạnh đối với các từ có ý nghĩa thiện chí trong câu trả lời đúng
là giáo viên dự tính
b Có sự linh hoạt trong sự lập ra các câu trắc nghiệm để đáp ứng các tiêu chí của bài trắcnghiệm Điều cần thiết là có được các câu hỏi cho một chủ đề nào đó ở các mức độ khó khácnhau và kiểm tra được các năng lực
Trang 11c Khi duyệt các câu trắc nghiệm, hãy chỉ ra câu trả lời đúng hoặc ở mặt sau hoặc ở một tờ giấyriêng biệt Cần phải đảm bảo rằng những người duyệt đề có thể trả lời đúng các câu hỏi mộtcách độc lập mà không chịu ảnh hưởng bởi câu trả lời của bạn được viết ngay dưới câu hỏi trắcnghiệm.
B NHỮNG GỢI Ý KHI VIẾT CÁC CÂU HỎI TỰ LUẬN
1 Câu hỏi cần phải rõ ràng: những hướng dẫn không được làm học sinh lúng túng với các vấn
đề nêu ra Chủ đề nhằm mục đích kiểm tra năng lực trả lời chứ không phải là khả năng đoánđược những gì mà người lập trắc nghiệm dự định Bên cạnh đó người học sinh chỉ có một lượngthời gian hạn chế, do đó thời gian cần phải dùng cho việc viết chứ không cần cho việc phân tích
đề một cách không cần thiết
2 Câu hỏi ngắn gọn vừa đủ để vấn đề được trình bày rõ ràng: sự diễn đạt lại đôi khi là cần thiết
để tránh hiểu nhầm, vậy nên xem xét sự diễn đạt được sử dụng có cần đúng nguyên gốc haykhông, bởi vì sự lặp lại thì không cần làm sáng tỏ thêm
3 Cách hướng dẫn cần phải được xác định rõ ràng: học sinh cần phải biết điều gì được yêu cầu,
ví dụ: thảo luận, trích dẫn, ví dụ cụ thể từ một luận thuyết, hoặc hướng sự chú ý đến sự chuẩnxác của một nội dung khái niệm hoặc hãy khẳng định là đã sử dụng các câu hoàn chỉnh
4 Tránh các câu hỏi chỉ đòi hỏi câu trả lời "Có” hoặc "Không”
5 Học sinh trung bình phải có khả năng viết câu trả lời ở mức độ trung bình, còn người học sinhgiỏi có khả năng thể hiện trí thông minh của mình Một chủ đề tốt sẽ cho phép phân loại tất cảcác học sinh theo năng lực của họ
6 Từ vựng được sử dụng và những khái niệm được thể hiện trong chủ đề không được quá khóđối với người học sinh bình thường để có thể hiểu được nhanh chóng mà làm bài
Một chủ đề khó chỉ phân biệt được giữa những học sinh rất giỏi với số còn lại Bên cạnh đóviệc đọc hiểu khó khăn sẽ biến cuộc trắc nghiệm thành trắc nghiệm khả năng đọc
7 Câu hỏi không được tạo ra cách viết một cách khuôn sáo trong các câu trả lời Chủ đề sẽ bịnhàm chán do sử dụng quá mức các câu trả lời dài dòng, mặt khác một số câu hỏi tốt chính lại làcác câu biến báo các khuôn sáo hay dùng
8 Nếu là kiểm tra tự luận: Bản thân câu hỏi cần phải cung cấp một nguyên lý tổ chức để viết tựluận