Phlorotannin có nhiều hoạt tính sinh học khác nhau như: hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm, chống khối u, ngừa ung thư,… Hoạt tính chống oxy hóa của phlorotannin là một tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- ĐẶNG XUÂN CƯỜNG
NGHIÊN CỨU THU NHẬN PHLOROTANNIN TỪ
RONG MƠ (SARGASSUM SERRATUM) TẠI NHA
TRANG VÀ THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỒ UỐNG CÓ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA
Chuyên ngành: Công nghệ Chế biến Thủy sản
Mã số: 62540105
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
Nha Trang - 2015
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Nha Trang và Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ Nha Trang
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Vũ Ngọc Bội
Trường Đại học Nha Trang
2 PGS TS Trần Thị Thanh Vân
Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ Nha Trang
Phản biện 1: GS TSKH Nguyễn Trọng Cẩn
Phản biện 2: PGS TS Phùng Thị Thanh Tú
Phản biện 3: PGS TS Nguyễn Anh Tuấn
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án Tiến sỹ cấp Trường họp tại: ………
Vào hồi …………giờ ……… ngày ……tháng ……….năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Trường Đại học Nha Trang hoặc thư viện Quốc gia Hà Nội
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Rong nâu (Phaeophyta) là loại rong giàu các chất có hoạt tính sinh
học như lamilaran, fucoidan, alginate, phlorotannin, … Các chất này
có nhiều hoạt tính sinh học, trong đó đáng chú ý là hoạt tính chống
oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm… Ngành rong nâu (Phaeophyta)
có nhiều họ như: Alariaceae, Fucaceae và Sargassaceae
Ở Việt Nam, chi rong mơ (Sargassum) thuộc họ rong mơ
(Sargassaceae) được biết là chi rong có sản lượng lớn và có giá trị
cao, do chi rong này có chứa nhiều hoạt chất sinh học có giá trị như fucoidan, laminaran, alginate, phlorotannin,… Trong đó đáng chú ý là phlorotannin - một hợp chất chuyển hóa thứ cấp kiểu hỗn hợp phenolic Phlorotannin có nhiều hoạt tính sinh học khác nhau như: hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm, chống khối u, ngừa ung thư,… Hoạt tính chống oxy hóa của phlorotannin là một trong những hoạt tính được nghiên cứu nhiều nhất và phlorotannin được biết đến là chất chống oxy hóa không độc và an toàn với con người nên có thể khai thác và sử dụng trong hỗ trợ cơ thể đào thải các gốc tự do giúp tăng cường sức khỏe Do vậy, phlorotannin từ rong mơ
đã được các nhà nghiên cứu quan tâm
Vùng biển Nha Trang có nguồn lợi rong mơ Sargassum phong phú và
đa dạng về số lượng, chủng loại Mặt khác, rong mơ ở vùng biển Nha Trang được cho rằng có chứa các hoạt chất sinh học như fucoidan, phlorotannin, alginate,… với hàm lượng cao Do vậy việc nghiên cứu
“Nghiên cứu thu nhận phlorotannin từ rong mơ Sargassum serratum
tại Nha Trang và thử nghiệm sử dụng trong đồ uống có hoạt tính chống oxy hóa” là cần thiết
Trang 42
2 Mục tiêu của Luận án:
- Nghiên cứu thu nhận phlorotannin có hoạt tính chống oxy hóa từ
rong mơ (Sargassum serratum) thu hoạch ở vùng biển Nha Trang,
Khánh Hòa
- Thử nghiệm sử dụng phlorotannin trong đồ uống có hoạt tính chống oxy hóa
3 Đối tương và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Rong mơ (Sargassum serratum) sinh trưởng ở vùng biển Nha
Trang được thu mẫu, rửa sạch bằng nước mặn, sấy khô đến độ ẩm 19% và bảo quản ở nhiệt độ thường để dùng làm nguyên liệu trong
suốt quá trình nghiên cứu thu nhận phlorotannin
3.2 Phạm vi nghiên cứu: gồm 5 phần
1) Nghiên cứu tách chiết và tối ưu hóa quá trình thu nhận phlorotannin từ rong mơ (Sargassum serratum) thu hoạch ở vùng biển Nha Trang, Khánh Hòa
2) Bước đầu phân đoạn và tinh sạch phlorotannin thu nhận từ rong
mơ (Sargassum serratum)
3) Nghiên cứu sấy phun để thu nhận bột phlorotannin từ dịch chiết rong mơ S serratum
4) Đánh giá độc tính của phlorotannin thu từ rong mơ S serratum 5) Thử nghiệm sử dụng phlorotannin trong đồ uống có hoạt tính chống oxy hóa
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuẩn của Thế giới
và Việt Nam trong nghiên cứu thu nhận phlorotannin từ rong mơ
(Sargassum serratum), có sử dụng toán học để tối ưu hóa nhằm tìm ra
Trang 53 các quy luật, phát hiện ra các tính chất mới, các mối quan hệ giữa các đại lượng và kiểm chứng các giả thuyết
5 Các đóng góp mới về mặt khoa học
- Lần đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về phlorotannin của
rong mơ (Sargassum serratum) thu hoạch ở vùng biển Nha Trang,
Khánh Hòa từ nghiên cứu tối ưu hóa quá trình tách chiết đến tinh sạch, thử nghiệm độc tính trên chuột, nghiên cứu sấy phun để tạo bột chế phẩm phlorotannin có hoạt tính chống oxy hóa cao và thử nghiệm sản xuất đồ uống phlorotannin có hoạt tính chống oxy hóa Do vậy, kết quả nghiên cứu của Luận án có ý nghĩa khoa học cao Kết quả này góp phần khẳng định giá trị của nguồn lợi rong biển Việt Nam Mặt khác, kết quả của luận án còn là tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu và giảng
dạy trong lĩnh vực nghiên cứu các chất tự nhiên từ rong biển
- Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở để các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm phát triển thương mại hóa một số sản phẩm từ
phlorotannin thu nhận từ rong mơ (Sargassum serratum) thu hoạch ở
vùng biển Nha Trang
6 Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm 171 trang, trong đó 34 trang tổng quan, 22 trang phương pháp nghiên cứu, 89 trang kết quả nghiên cứu, kết luận 2 trang, tài liệu tham khảo 24 trang và phụ lục
Trang 64
CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1 GIỚI THIỆU VỀ RONG MƠ
Rong mơ là nguồn tài nguyên giàu hoạt chất sinh học với các hoạt tính sinh học phong phú và đa dạng, như chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm, chống đông tụ và chống bức xạ UV-B, khả năng làm lành
vết thương và tái tạo cấu trúc tế bào (Kang và ctv., 2003) Thực tế cho thấy, tỉnh Khánh Hòa có 21 loài rong mơ trong đó loài Sargassum
serratum là loài phân bố rộng, trữ lượng lớn và là loài mới, có chứa
nhiều chất có hoạt tính tự nhiên như fucoidan, phlorotannin,… nhưng chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ
1.2 GIỚI THIỆU VỀ PHLOROTANNIN
Phlorotannin là một trong những hoạt chất chống oxy hóa mạnh
mẽ có nguồn gốc từ rong mơ (Ahn và cộng sự (2007); Kang và cộng
sự (2003); LIM (2002); Kuda (2007) và Shibata (2008)) Phlorotannin
có các đơn vị cơ bản là phloroglucinol (1,3,5-trihydroxybenzene) với kích thước phân tử dao động trong khoảng 126 Da - 650 kDa (Singh
và cộng sự (2006)) và có các kiểu liên kết đặc trưng trong cấu trúc như: liên kết ether, liên kết phenyl, liên kết ether và liên kết phenyl, liên kết dibenzodioxin (La Barre và cộng sự (2010)).Điều thú vị là hàm lượng, cấu trúc và cơ chế chống oxy hóa của polyphenol/ phlorotannin trong rong nâu có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt tính chống oxy hóa Phlorotannins là hỗn hợp phenolic với bản chất polymer của phloroglucinol, chúng tồn tại trong nhiều họ của ngành
rong nâu như: Alariaceae, Fucaceae và Sargassaceae Như vậy có thể
thấy phlorotannin là hoạt chất đáng để quan tâm nghiên cứu
Trang 75
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHLOROTANNIN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
* Tình hình nghiên cứu phlorotannin trên thế giới
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hỗn hợp phenolic trong rong nâu chính là phlorotannin (Jormalainen và cộng sự, (2004); Koivikko và cộng sự, (2007); Swanson và cộng sự, (2002)) Siti A Budhiyanti và cộng sự (2012) công bố khả năng bắt gốc tự do (DPPH) dao động từ 14,61 ÷ 48,71% và 0,17 ÷ 44,05% tương ứng khi dịch chiết từ thành tế bào và tế bào chất có nồng độ 0,45 mg/ml; hoạt tính khử sắt dao động
từ 2,05 ÷ 12,51% và 26,77 ÷ 68,80% tương ứng khi dịch chiết từ tế
bào chất và thành tế bào của một số loài Sargassum thu ở bờ biển
Indonesia có nồng độ 0,45 mg/ml được sử dụng, các dịch chiết này
đều chứa phlorotannin Hoạt tính bắt gốc tự do DPPH của loài S
ramifolium và S pteropleuron với chỉ số oxi hóa EC50 dao động từ
6,64 đến 7,14 mg/ml (Mayalen Zubia và cộng sự, 2007) Đồng thời
Soo Jin Heo và cộng sự (2005) chỉ ra khả năng bắt gốc tự do của loài
S thunbergii và S fulvellum tương ứng là 97,41% và 84,66% Hoạt
tính chống oxy hóa mạnh của phlorotannin tinh chế từ một số loài rong nâu có mối liên hệ mật thiết với phân tử skeleton (Ahn và cộng
sự, 2007) Như vậy thấy rằng có sự đa dạng về hoạt tính và hoạt lực
của phlorotannin ở các loài rong Sargassum khác nhau trên thế giới
Những nghiên cứu trên cùng công bố của Barry Halliwell (2001) đã cho thấy, phlorotannin có khả năng giảm thiểu sự tổn thương tế bào dưới tác động của những gốc tự do như: superoxide, hydroxyl, peroxyl, alkoxyl, hydroperoxyl, nitric oxide và nitrogen dioxide được
coi là gốc tự do Điều này cũng được minh chứng trên loài S
ringgoldianum có khả năng bắt gốc (.OH) đến 78% và (O2-) đến
Trang 86
88,4% và hoặt tính bắt gốc tự do (DPPH) của loài S vulgare là 0,2%
÷ 20,3% (Naja và cộng sự, 2012) cũng như loài S pallidum có hoạt
tính chống oxy hóa tổng dao động từ 0,04 ± 0,02 đến 52,08 ± 0,02µmol FeSO4/mg (Hong Ye và cộng sự, 2009)
* Tình hình nghiên cứu trong nước về phlorotannin
Phlorotannin chống oxy hóa được chiết từ rong nâu mới bước đầu được nghiên cứu ở Việt Nam từ năm 2009 Tuy nhiên đến năm 2010 mới có một số công bố về hoạt tính chống oxy hóa của một số loài rong nâu ở vùng biển Nha Trang - Khánh Hòa, Việt Nam và những công bố đều do nhóm nghiên cứu của tác giả công bố
PHLOROTANNIN
Thực tế cho thấy kỹ thuật sấy phun sẽ giúp chuyển hóa hoạt chất từ dạng dịch qua dạng bột, loại bỏ hầu hết dung môi, tiết kiệm chi phí vận chuyển, nâng cao thời gian bảo quản hoạt chất và quan trọng nhất
là hình thành hạt vi nang nâng cao độ bền của hoạt chất nhờ khả năng liên kết và bao gói của các chất trợ sấy được đính kèm trong quá trình sấy phun Nên kỹ thuật sấy phun rất phù hợp để tạo bột phlorotannin chống oxy hóa có nguồn gốc từ rong biển
Từ những phân tích ở trên thấy rằng, trên thế giới chưa có bất kỳ công trình nào về nghiên cứu chiết tách, tối ưu, sấy phun tạo bột ứng dụng, xác định cấu trúc của phlorotannin từ rong nâu Sargassum serratum sinh trưởng ở bờ biển Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam hay sàng lọc đánh giá hàm lượng trữ lượng theo mùa vụ thời gian sinh trưởng cũng như sự tích lũy và phân bố ở từng phần cây rong hay theo thời gian bảo quản Do vậy Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề trên
Trang 9Rong mơ (Sargassum serratum) sinh trưởng ở vùng biển Nha
Trang - Khánh Hòa được thu mẫu, rửa sạch bằng nước mặn, sấy khô đến độ ẩm 19% và bảo quản ở nhiệt độ thường để dùng trong suốt quá trình nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp phân tích
2.2.1.1 Phương pháp định lượng phlorotannin: theo Swanson
và cộng sự, 2002, với phloroglucinol là chất chuẩn
2.2.1.2 Phương pháp xác định hoạt tính chống oxy hóa
+ Hoạt tính chống oxy hóa tổng (TA): theo phương pháp của
Prieto và cộng sự, (1999) với chất chuẩn là acid ascorbic
+ Hoạt tính khử Fe (RP): xác định theo Zhu và cộng sự, (2002)
với chất chuẩn là FeSO4
Trang 108
- Định lượng hàm lượng Pb: theo TCVN 7602:2007 Thực phẩm
- Định lượng hàm lượng acid citric: Theo phương pháp AOAC (1932)
- Định lượng hàm lượng đường sucrose: Theo phương pháp AOAC (2000)
2.2.2 Phương pháp tinh chế
Mỗi phân đoạn này được tiến hành chạy sắc ký bản mỏng với hệ dung môi rửa giải là chloroform: methanol: acid formic (90: 9: 1) Thuốc thử phát hiện phlorotannin là FeCl3 5% trong cồn ethanol 96% Sau đó kiểm tra lại độ tinh sạch của mẫu trên bản mỏng bằng LC/MS
và phân tích phlorotannin theo phương pháp Swanson và cộng sự Phân đoạn phlorotannin sạch nhất được chạy qua sắc ký cột Sephadex
LH 20 với dung môi chạy sắc ký là chloroform : methanol : acid formic theo tỷ lệ (90 : 9: 1) Phân đoạn phlorotannin sạch thu từ cột
LH 20 được chạy NMR 1
H và 13C (pha động gồm pha A H2O 0,1% acid formic, pha B Acetonitril 0,1% acid formic) Phương pháp chạy
là HPLC-MS, nhận biết chất qua tỉ lệ m/z
- Chạy LC/MS: Chương trình gradient như sau:
Bảng 2.1 Chương trình gradient trên LC/MS
Trang 119
2.2.3 Phương pháp đánh giá cảm quan: theo phương pháp cho
điểm theo tiêu chuẩn Việt Nam 3215-79 với thang điểm 20 để đánh
giá chất lượng cảm quan của sản phẩm
- Xác định Streptococci faecal theo TCVN 6189-2:1996
- Xác định Pseudomonas aeruginosa theo ISO 16266:2006
- Xác định Staphycus aureus theo TCVN 4830-1:2005
- Xác định tổng số bào tử NM - NM (BT/ml) theo TCVN 5166:1990
2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm tổng quát
Bố trí thí nghiệm tổng quát của quá trình nghiên cứu thể hiện ở
hình 2.1
Trang 1210
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm tổng quát
Trên cơ sở sơ đồ bố trí thí nghiệm tổng quát chúng tôi tiến hành nghiên cứu xác định các thông số phù hợp cho từng công đoạn
Trang 13- Các loại phụ gia thực phẩm: acid citric, acid ascorbic, carrageenan, sacharose, đều là phụ gia tinh khiết đạt tiêu chuẩn sử dụng làm dược phẩm và thực phẩm do Merck - Đức cung cấp
2.3.2 Thiết bị chủ yếu đã sử dụng
Sử dụng các thiết bị chủ yếu hiện có trong các phòng thí nghiệm Hóa phân tích và Triển khai Công nghệ của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang và phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học
- Trung tâm Thực hành phân tích - Trường Đại học Nha Trang gồm: Thiết bị ổn nhiệt - Memment (Đức), máy đo pH HANA (Mỹ), Thiết bị
Cô quay chân không (Đức), Máy sấy phun Bucchi - Thụy Sỹ, máy so mầu UV- VIS - Mỹ,…
2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Phân tích dữ liệu và tiên đoán bề mặt đáp ứng bằng phần mềm Design Expert 8 trial, Nemrodw và Excell Nghiệm thức được lặp lại 3 lần Giá trị bất thường được loại bỏ bằng phương pháp Dulcan
Trang 1412
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 NGHIÊN CỨU TÁCH CHIẾT PHLOROTANNIN TỪ
RONG MƠ S SERRATUM
3.1.1 Xác định dung môi chiết rút phlorotannin
Kết quả cho thấy dung môi chiết ảnh hưởng rất lớn đến hàm lượng phlorotannin (Phc) và hoạt tính chống oxy hóa trong dịch chiết Đối với cả 2 phương pháp chiết (hồi lưu và ngâm chiết) thì hàm lượng Phc
và hoạt tính chống oxy hóa thu được đều giảm dần theo thứ tự dung môi chiết như sau: ethanol > acetone > ethyl acetate > chloroform > n-hexan Kết quả phân tích cũng cho thấy chiết rút phlorotannin từ rong
mơ bằng phương pháp ngâm chiết luôn cho dịch chiết có hàm lượng phlorotannin với hoạt tính chống oxy hóa tổng, hoạt tính khử sắt cao hơn so với dịch chiết thu nhận bằng phương pháp hồi lưu Cụ thể, hàm lượng phlorotannin, hoạt tính chống oxy hóa tổng (TA), hoạt tính khử sắt (RP) của dịch chiết ethanol theo phương pháp hồi lưu chỉ bằng tương ứng 98,19%, 91,12% và 93,89% so với dịch chiết phlorotannin bằng ethanol theo phương pháp ngâm chiết
Vì vậy, ethanol được lựa chọn làm dung môi chiết và phương pháp ngâm chiết cũng được lựa chọn để chiết phlorotannin từ rong mơ
3.1.2 Xác định nồng độ dung dịch ethanol sử dụng chiết rút phlorotannin
Kết quả phân tích cho thấy sử dụng ethanol ở nồng độ 96% để
chiết phlorotannin từ rong mơ S serratum thì dịch chiết thu được có
hàm lượng Phc, TA và RP cao nhất Phân tích ANOVA và hồi quy cho thấy có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa Phc, TA và RP ở các điều kiện chiết khác nhau và có sự tương tác qua lại rất chặt chẽ (R2 > 0,8) đồng thời đều thay đổi theo mô hình hồi quy phi tuyến bậc
2 Do vậy ethanol ở nồng độ 96% được lựa chọn để chiết rút
phlorotannin từ rong mơ S serratum
Trang 1513
3.1.3 Xác định tỷ lệ dung dịch chiết so với nguyên liệu rong
Khi chiết phlorotannin từ rong mơ S serratum bằng dung môi
ethanol 96% với tỷ lệ DM:NL 40:1 (v/w) thì hàm lượng Phc, TA và
RP của dịch chiết thu được cao nhất và đạt tương ứng 4,102 ± 0,005mg phloroglucinol/g trọng lượng khô (DW), 4,279 ± 0,001 mg acid ascorbic/g DW và 24,228 ± 0,014 mg FeSO4/g DW Trong khi đó nếu chiết với tỷ lệ dung môi (DM): nguyên liệu (NL) 10:1 (v/w) thì hàm lượng Phc, hoạt tính TA và RP của dịch chiết chỉ đạt tương ứng 57,80%, 73,63%, 86,50% so với khi chiết với tỷ lệ DM:NL 40:1 (v/w) Nếu chiết với tỷ lệ DM/NL 30:1 (v/w) thì Phc, TA và RP của dịch chiết chỉ đạt 86,57%, 96,79%, 86,89% so với khi chiết ở tỷ lệ DM:NL 40:1 (v/w) Nếu chiết tỷ lệ DM/NL 50/1 (v/w) hàm lượng phlorotannin (Plc), hoạt tính oxy hóa tổng (TA), hoạt tính khử sắt (RP) của dịch chiết đạt 96,32%, 96,61%, 96,65% so với khi chiết ở tỷ
lệ DM:NL 40:1 (v/w) Do vậy, tỷ lệ giữa dung môi chiết so với nguyên liệu rong là 40:1 (v/w) được lựa chọn để nghiên cứu chiết rút
phlorotannin từ rong mơ S serratum
3.1.4 Xác định nhiệt độ chiết
Kết quả phân tích ANOVA và hồi quy cho thấy khi chiết rút
phlorotannin từ rong mơ (S serratum) ở 500C thì dịch chiết thu được
có hàm lương phlorotannin với hoạt tính chống oxy hóa tổng, hoạt
tính khử sắt cao nhất Do vậy, nhiệt độ được lựa chọn cho quá trình
chiết phlorotannin có hoạt tính chống oxy hóa từ rong mơ Sargassum serratum là 50 0 C
3.1.5 Xác định thời gian chiết
Kết quả phân tích cho thấy sự thay đổi hàm lượng Phc theo thời gian chiết tuân theo phương trình phi tuyến bậc 2, kết quả này cũng
tương đồng với nghiên cứu chiết rút phlorotannin từ rong mơ S
mcclurei của Đặng Xuân Cường, Trần Thị Thanh Vân, Vũ Ngọc Bội,
Bùi Minh Lý công bố năm 2014 [10] Hoạt tính RP của dịch chiết ở các thời gian chiết khác nhau có sự khác biệt mang tính thống kê và
Trang 1614 giữa thời gian chiết với hoạt tính TA có mối tương quan mạnh Mặt khác, giữa hàm lượng Phc, hoạt tính TA và RP có mối tương quan chặt chẽ, trong đó hàm lượng Phc và hoạt tính TA có mối tương quan cao mạnh mẽ hơn cả Mối tương quan này thể hiện ở chỗ khi thời gian ngâm chiết dài thì quá trình khuếch tán của phlorotannin từ nguyên liệu ra môi trường đạt mức cao nhất thể hiện qua hàm lượng phlorotannin hòa tan trong dung dịch tăng và đạt mức cực đại khi thời
gian chiết đủ dài Kết quả phân tích còn cho thấy thời gian chiết 32
giờ thì hàm lượng hàm lượng Phc, hoạt tính TA và RP của dịch chiết cao nhất Do vậy thời gian chiết 32 giờ được lựa chọn để chiết phlorotannin với hoạt tính chống oxy hóa từ rong mơ S serratum
3.1.6 Xác định pH dung dịch chiết
Kết quả phân tích ANOVA và hồi quy cũng cho thấy pH của dung dịch chiết và hoạt tính chống oxy hóa có sự tương quan dương rất lớn (R > 0,9) Đồng thời hàm lượng phlorotannin và hoạt tính chống oxy hóa tổng cũng có mối tương quan rất mạnh (R2 = 0,95) và tuân theo phương trình phi tuyến bậc 2 với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của pH môi trường chiết Tuy nhiên, hàm lượng phlorotannin chỉ tương quan với hoạt tính khử sắt ở mức trung bình (R2 = 0,65) Kết quả nghiên cứu
này cũng tương tự nghiên cứu chiết rút phlorotannin từ rong mơ S
mcclurei của Đặng Xuân Cường, Trần Thị Thanh Vân, Vũ Ngọc Bội,
Bùi Minh Lý công bố năm 2014
Kết quả phân tích cho thấy pH 7 phù hợp với quá trình chiết rút
phlorotannin từ rong mơ S serratum Do vậy, chúng tôi lựa chọn pH của dung môi để chiết phlorotannin từ rong mơ S serratum là 7
Từ các nghiên cứu ở trên cho phép lựa chọn một số thông số phù hợp cho quá trình chiết phlorotannin với hoạt tính chống oxy hóa từ rong mơ Sargassum serratum làm cơ sở cho việc tối ưu hoá quá trình chiết rút sau này như sau: Nhiệt độ: 50 0 C, thời gian chiết 32 giờ, dung môi chiết là ethanol 96%, tỷ lệ dung môi so với nguyên liệu (DM:NL)
là 40:1 (v/w)
Trang 1715
3.2 TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH TÁCH CHIẾT PHLOROTANNIN THEO PHƯƠNG PHÁP BOX-BEHNKEN
Sau khi xác định được một số điều kiện phù hợp để chiết
phlorotannin với hoạt tính chống oxy hóa từ rong mơ S serratum
Chúng tôi tiến hành tối ưu hóa quá trình chiết rút phlorotannin từ rong
mơ S serratum các biến số như sau: Nhiệt độ chiết (U1: 24 - 600C), thời gian chiết (U2: 16 - 42 giờ) và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu (v/w) (U3: 10 - 50) Các hàm mục tiêu Y1: Hàm lượng phlorotannin (mg/g),
Y2: Hoạt tính chống oxy hóa tổng (mg acid ascorbic/g), Y3: Hàm lượng FeSO4 (mg FeSO4/g) Kết quả tối ứu hóa được trình bày ở các bảng 3.1 và 3.2, hình 3.1
Bảng 3.1 Kết quả tối ưu hóa công đoạn chiết rút phlorotannin từ
rong mơ S serratum theo mô hình Box-behnken
Trang 18(C) Bề mặt đáp ứng của hàm mục tiêu Y 3
Hình 3.1 Mô hình 3D bề mặt đáp ứng Bảng 3.2 Kết quả thí nghiệm lặp lại ở điểm tối ƣu
Trang 1917 Kết quả tối ưu hóa này phù hợp với dữ liệu thực nghiệm đã kiểm định về quá trình chiết phlorotannin chống oxy hóa từ rong mơ
Sargassum serratum Từ kết quả này cho phép chọn điều kiện chiết tối
ưu cho quá trình thu nhận phlorotannin từ rong mơ S serratum: dung môi chiết là ethanol 96%, nhiệt độ chiết tối ưu 43 0 C, tỷ lệ dung môi so với nguyên liệu (DM:NL) 27:1 (v/w) và thời gian chiết 33 giờ
* Xác định số lần chiết
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng Phc của dịch chiết
phlorotannin từ rong mơ S serratum 3 lần bằng cồn 96% tăng lên không
đáng kể so với hàm lượng phlorotannin của dịch chiết chiết 1 lần Mặt khác, nếu chiết 3 lần thì tổng lượng cồn sử dụng quá nhiều và nếu so sánh hiệu quả giữa lượng phlorotannin thu được khi chiết lần 2 và lần 3 so với lượng cồn đã sử dụng cho các lần chiết này thì hiệu quả không đáng kể Do vậy, để đảm bảo tính kinh tế, luận án quyết định chỉ chiết phlorotannin từ
rong mơ S serratum 01 lần
PHLOROTANNIN TỪ RONG MƠ S SERRATUM
Kết quả nghiên cứu cô đặc dịch chiết thu nhận từ rong mơ S
serratum được lọc và cô đặc lần 1 ở các nhiệt độ khác nhau: 400C,
500C, 600C cho thấy khi tăng nhiệt độ cô đặc thì hàm lượng Phc với hoạt tính chống oxy hóa của dịch sau cô đặc có xu hướng giảm theo phương trình hồi quy bậc 1 và nhiệt độ cô đặc ở 400
C ít gây tổn thất
cho hàm lượng phlorotannin với hoạt tính chống oxy hóa Do vậy
nhiệt độ 40 0 C, áp suất 3mbar và điều kiện hồi lưu lạnh được lựa chọn