1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tàiSự xuất hiện, tồn tại và phát triển của hợp đồng đã chứng minh đó là một hình thức pháp lý thích hợp và hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá và tiền tệ. Vai trò, vị trí của chế định hợp đồng ngày càng được khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật. Khi nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng càng cần thiết, càng được coi trọng và hoàn thiện.Sự ra đời của BLDS 2005 và LTM 2005 là bước cải cách lớn để hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta trước quan hệ xã hội phức tạp phát sinh. Sự cấp thiết đòi hỏi ban hành quy định mới phù hợp với thực tiễn để điều chỉnh quan hệ dân sự, kinh tế đang được đặt ra. BLDS 2005, LTM 2005 ra đời đánh dấu sự đổi mới, tiến bộ trong thời kì hội nhập. Trong BLDS 2005, chế định hợp đồng đã được khẳng định với 205 điều luật trên tổng số 777 điều luật (từ điều 388 đến điều 593) đó là chưa kể đến 45 điều quy định về hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (từ điều 693 đến điều 732); Có thể khẳng định, chế định hợp đồng không chỉ là một trong những chế định “xương sống” của BLDS 2005 mà bao gồm cả một số Luật chuyên ngành như LTM 2005, Bộ luật Hàng hải, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Kinh doanh bất động sản...Khi thành lập doanh nghiệp, ai cũng muốn doanh nghiệp phát triển đúng hướng, thành công, tạo dựng chỗ đứng cũng như vị thế của mình trên thương trường. Doanh nghiệp luôn hướng mình là doanh nghiệp tiên phong trong những lĩnh vực mới và mạnh mẽ trong lĩnh vực không mới. Có rất nhiều yếu tố để đánh giá cũng như quyết định sự thành công của doanh nghiệp mà không phân định đó là yếu tố chính hay phụ mà thiếu nó thì khó đạt được mục đích. Không chỉ vì bản thân muốn thử sức mà những doanh nghiệp Việt Nam chúng ta luôn ấp ủ phát triển kinh tế, phát triển đất nước lên tầm cao mới. Sự trả giá của những doanh nghiệp đi trước cả trong nước và thế giới đó là những gì mà doanh nghiệp trẻ Việt Nam phải học hỏi; để không đi vào “vết xe đổ”. Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kĩ thuật, nền kinh tế nước ta phải phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường để tạo nên uy tín và sức mạnh cho nước ta trên trường thế giới. Công cụ để xác lập quyền, nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động thương mại là hợp đồng. Do đó, hợp đồng phải tuân thủ theo qui định của pháp luật để có hiệu lực ràng buộc các bên kết ước, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của những chủ thể kinh doanh chân chính. Bất cứ một vấn đề nào, khi nắm được những kiến thức cơ bản cũng mang lại những lợi ích nhất định. Khi có những tranh chấp, rủi ro bất ngờ có liên quan đến hợp đồng và hợp đồng thương mại bị tuyên bố vô hiệu sẽ khó tránh khỏi tổn thất. Cho nên, phải hiểu sâu, hiểu rõ các qui định của pháp luật hiện hành về các trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại để tiến hành kinh doanh có hiệu quả. Ngày nay, rất nhiều doanh nghiệp khi kí kết hợp đồng lợi dụng quy định của pháp luật để khi không có lợi thì yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu.Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn đề tài “Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.1.Tình hình nghiên cứu đề tàiĐề tài này là một đề tài đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu trong nước và trên thế giới. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở các vấn đề lý luận và đã từ lâu. Ngày nay, với sự phát triển kinh tế, sự thay đổi trong ngoại giao, kéo theo đó là sự thay đổi quy định của pháp luật, tình hình và thực trạng xã hội cần có những nghiên cứu mới, tổng hợp hơn.Ở nước ngoài: có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật hợp đồng nói chung trong đó có đề cập đến các vấn đề có liên quan đến hợp đồng nói chung như sách chuyên khảo về Luật hợp đồng The modern law of contract 5th ed của Richard Stone 18; European Contract Law của Hein Kotz Axel Flessner; Elements of the Law of contract của Macmillan C.A R.Stone 25; bài báo Competing Approaches to Force Majeure and Hardship của Catherine Kessedjian 20Ở trong nước có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu đến hợp đồng trong kinh doanh vô hiệu và các vấn đề liên quan như: “Chế dộ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của TS. Phạm Hữu Nghị; “Hợp đòng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu” của TS. Lê Thị Bích Thọ 14; “Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” của TS.Nguyễn Văn Cường 17; “Pháp luật về hợp đồng” của TS.Nguyễn Mạnh Bách; “Cẩm nang giao kết hợp đồng thương mại điện tử” của GS.TS. Nguyễn Thị Mơ 15Ngoài ra, còn có một số sách tổng quát các vấn đề liên quan đến hợp đồng nói chung như: “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án” của TS. Đỗ Văn Đại 16 “Pháp luật về hợp đồng” của TS. Nguyễn Mạnh Bách.Những công trình trên là tài liệu vô cùng quý giá giúp em có nhiều thông tin quan trọng, hữu ích để tham khảo, phục vụ cho việc hoàn thành tốt của khóa luận 2.Mục đích nghiên cứuKhóa luận tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh tại Việt Nam và những tồn tại khi áp dụng thực tiễn từ đó đề ra phương hướng, giải pháp để hoàn thiện pháp luật;3.Phương pháp nghiên cứuĐề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp luận của Chủ nghĩa MácLê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp so sánh để thấy những điểm tiến bộ, những điểm hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước khác về hợp đồng kinh doanh vô hiệu. Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, quy nạp, diễn giải…cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài.4.Kết cấu của khóa luậnNgoài phần Mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tham khảo, khóa luận có kết cấu 3 chương:Chương 1. Lý luận chung về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh.Chương 2. Quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh.Chương 3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh.
Trang 1VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
CAO THỊ LAN HƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Nhung
Trang 2Hà Nội, 05/2014
Trang 3Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn tới cô TS Nguyễn Thị Nhung – Chủ nhiệmkhoa Luật – Viện Đại học Mở Hà Nội là người đã trực tiếp hướng dẫn em hoànthành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin kính chúc các thầy, cô khỏe mạnh, hạnh phúc và công tác tốt
Em xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện
Cao Thị Lan Hương
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS Bộ Luật Dân Sự
BLDS 1995 Bộ Luật Dân sự 1995
BLDS 2005 Bộ Luật Dân sự 2005
LDN Luật doanh nghiệp
LTM 2005 Luật Thương Mại 2005
PICC Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng Châu âu
PLHĐKT Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH 4
1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng trong kinh doanh 4
1.1.1 Khái niệm hợp đồng trong kinh doanh 4
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng trong kinh doanh 7
1.2 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh và hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 12
1.2.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh 12
1.2.2 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 16
1.2.3 Phân loại hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 17
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH 18
2.1 Các trường hợp cụ thể của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 18
2.2 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 39
Chương 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH 43
3.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 43
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 51
KẾT LUẬN 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của hợp đồng đã chứng minh đó là một hìnhthức pháp lý thích hợp và hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá vàtiền tệ Vai trò, vị trí của chế định hợp đồng ngày càng được khẳng định trong mọi
hệ thống pháp luật Khi nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì việcđiều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng càng cần thiết, càng được coi trọng vàhoàn thiện
Sự ra đời của BLDS 2005 và LTM 2005 là bước cải cách lớn để hoàn thiện hệthống pháp luật nước ta trước quan hệ xã hội phức tạp phát sinh Sự cấp thiết đòihỏi ban hành quy định mới phù hợp với thực tiễn để điều chỉnh quan hệ dân sự,kinh tế đang được đặt ra BLDS 2005, LTM 2005 ra đời đánh dấu sự đổi mới, tiến
bộ trong thời kì hội nhập Trong BLDS 2005, chế định hợp đồng đã được khẳng
định với 205 điều luật trên tổng số 777 điều luật (từ điều 388 đến điều 593) đó là chưa kể đến 45 điều quy định về hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (từ điều
693 đến điều 732); Có thể khẳng định, chế định hợp đồng không chỉ là một trong
những chế định “xương sống” của BLDS 2005 mà bao gồm cả một số Luật chuyênngành như LTM 2005, Bộ luật Hàng hải, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bảohiểm, Luật Kinh doanh bất động sản
Khi thành lập doanh nghiệp, ai cũng muốn doanh nghiệp phát triển đúnghướng, thành công, tạo dựng chỗ đứng cũng như vị thế của mình trên thươngtrường Doanh nghiệp luôn hướng mình là doanh nghiệp tiên phong trong nhữnglĩnh vực mới và mạnh mẽ trong lĩnh vực không mới Có rất nhiều yếu tố để đánh giácũng như quyết định sự thành công của doanh nghiệp mà không phân định đó là yếu
tố chính hay phụ mà thiếu nó thì khó đạt được mục đích Không chỉ vì bản thânmuốn thử sức mà những doanh nghiệp Việt Nam chúng ta luôn ấp ủ phát triển kinh
tế, phát triển đất nước lên tầm cao mới Sự trả giá của những doanh nghiệp đi trước
cả trong nước và thế giới đó là những gì mà doanh nghiệp trẻ Việt Nam phải họchỏi; để không đi vào “vết xe đổ”
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kĩ thuật, nền kinh tếnước ta phải phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm
Trang 7độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc vănhóa dân tộc, bảo vệ môi trường để tạo nên uy tín và sức mạnh cho nước ta trêntrường thế giới Công cụ để xác lập quyền, nghĩa vụ của các chủ thể hoạt độngthương mại là hợp đồng Do đó, hợp đồng phải tuân thủ theo qui định của pháp luật
để có hiệu lực ràng buộc các bên kết ước, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng củanhững chủ thể kinh doanh chân chính
Bất cứ một vấn đề nào, khi nắm được những kiến thức cơ bản cũng mang lạinhững lợi ích nhất định Khi có những tranh chấp, rủi ro bất ngờ có liên quan đếnhợp đồng và hợp đồng thương mại bị tuyên bố vô hiệu sẽ khó tránh khỏi tổn thất.Cho nên, phải hiểu sâu, hiểu rõ các qui định của pháp luật hiện hành về các trườnghợp vô hiệu của hợp đồng thương mại để tiến hành kinh doanh có hiệu quả Ngàynay, rất nhiều doanh nghiệp khi kí kết hợp đồng lợi dụng quy định của pháp luật đểkhi không có lợi thì yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu
Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn đề tài “Hợp đồng vô hiệu trong
kinh doanh - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
1 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài này là một đề tài đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu trongnước và trên thế giới Tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở các vấn đề lý luận
và đã từ lâu Ngày nay, với sự phát triển kinh tế, sự thay đổi trong ngoại giao, kéotheo đó là sự thay đổi quy định của pháp luật, tình hình và thực trạng xã hội cần cónhững nghiên cứu mới, tổng hợp hơn
Ở nước ngoài: có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật hợp đồng nóichung trong đó có đề cập đến các vấn đề có liên quan đến hợp đồng nói chung nhưsách chuyên khảo về Luật hợp đồng The modern law of contract 5th ed của RichardStone [18]; European Contract Law của Hein Kotz &Axel Flessner; Elements of theLaw of contract của Macmillan C.A & R.Stone [25]; bài báo CompetingApproaches to Force Majeure and Hardship của Catherine Kessedjian [20]
Ở trong nước có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu đến hợp đồng trong kinh
doanh vô hiệu và các vấn đề liên quan như: “Chế dộ hợp đồng trong nền kinh tế thị
trường tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của TS Phạm Hữu Nghị; “Hợp đòng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu” của TS Lê
Trang 8Thị Bích Thọ [14]; “Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý
của giao dịch dân sự vô hiệu” của TS.Nguyễn Văn Cường [17]; “Pháp luật về hợp
đồng” của TS.Nguyễn Mạnh Bách; “Cẩm nang giao kết hợp đồng thương mại điệntử” của GS.TS Nguyễn Thị Mơ [15]
Ngoài ra, còn có một số sách tổng quát các vấn đề liên quan đến hợp đồng nói
chung như: “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án” của TS Đỗ Văn Đại [16] “Pháp luật về hợp đồng” của TS Nguyễn Mạnh Bách.
Những công trình trên là tài liệu vô cùng quý giá giúp em có nhiều thông tinquan trọng, hữu ích để tham khảo, phục vụ cho việc hoàn thành tốt của khóa luận
2 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hợp đồng vôhiệu trong kinh doanh tại Việt Nam và những tồn tại khi áp dụng thực tiễn từ đó đề
ra phương hướng, giải pháp để hoàn thiện pháp luật;
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp luận của Chủ nghĩaMác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp
so sánh để thấy những điểm tiến bộ, những điểm hạn chế trong quy định của phápluật Việt Nam với pháp luật các nước khác về hợp đồng kinh doanh vô hiệu Bêncạnh đó, các phương pháp phân tích, quy nạp, diễn giải…cũng được sử dụng trongquá trình nghiên cứu đề tài
4 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tham khảo, khóa luận có kếtcấu 3 chương:
Chương 1 Lý luận chung về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh
Chương 2 Quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh.Chương 3 Thực tiễn giải quyết tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh
Trang 9Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU
TRONG KINH DOANH1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng trong kinh doanh
1.1.1 Khái niệm hợp đồng trong kinh doanh
Việt Nam đã thống nhất sau nhiều năm trải qua chiến tranh, bom đạn, kinh tếlạc hậu, trật tự xã hội bị đảo lộn, nhờ sự đổi nhiều chính sách của Đảng và nhà nướcqua từng thời kì chuyển biến của xã hội, đất nước và trên thế giới theo thời gian đã
đi vào ổn định, bản chất của nhà nước thể hiện qua chế độ chính trị và được cụ thểqua các quy định của pháp luật
Tự do ý chí thỏa thuận trong giao dịch dân sự, kinh tế xuất phát từ việc phápluật hiện đại thừa nhận quyền bình đẳng của con người và quyền tự do cá nhân Sự
tự do ý chí này vẫn tuân thủ những quy định của pháp luật nói chung để đảm bảonhững chính sách quản lý của nhà nước cũng như đảm bảo cho sự cân bằng xã hộiTrên thế giới các quốc gia đưa ra khái niệm hợp đồng khác nhau nhưng cócùng bản chất đó là sự thỏa thuận là kết quả của quá trình thương thảo và thống nhất
ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đốivới nhau, trừ những trường hợp luật có qui định là không thể thay đổi hoặc chấmdứt bằng thỏa thuận của các bên
Định nghĩa “hợp đồng” cũng được qui định tại Điều 1-201 Bộ LTM Thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code of United State of America, viết tắt là
UCC): “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự thỏa thuận của các bên…”
Văn bản Pháp điển xuất bản lần hai có nêu một định nghĩa cụ thể hơn: “Hợp
đồng là một hay một tập hợp các cam kết mà nếu vi phạm những cam kết này thì bị buộc phải thực hiện bằng sự cưỡng chế của pháp luật, hoặc nói cách khác pháp luật công nhận việc thực hiện những cam kết này là một nghĩa vụ” Trong Bách
Khoa toàn thư về Pháp luật của Hoa Kỳ cũng có định nghĩa hợp đồng: “Hợp đồng
là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm
để làm một việc, hoặc để không làm một việc, giao một vật xác định”[ trang 53].
Trang 10đồng và nội dung của nó cũng có tính “hội nhập” hơn với khoa học pháp lý của các
quốc gia khác trên thế giới
Tại Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc (1999) qui định: “Hợp đồng theo
qui định của Luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, các tổ chức khác Các thỏa thuận liên quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… thích dụng với qui định của các luật khác” Tương tự, theo qui định tại khoản 1 Điều 420
BLDS Nga (1994):“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác
lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Điều 388 BLDS 2005 định nghĩa hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự
thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Có thể dễ dàng thấy rằng, qui định tại Điều 388 BLDS 2005 cũng gần
giống như qui định của Luật hợp đồng Trung quốc (1999) và đặc biệt là hoàn toàn giống với qui định tại khoản 1 Điều 420 BLDS Nga (1994).
Định nghĩa trên đây của BLDS 2005 được xem là hợp lý và thuyết phục nhất ởViệt Nam từ trước đến nay vì có nội dung ngắn gọn, chuẩn xác; vừa mang tính khái
quát cao, phản ánh đúng bản chất của thuật ngữ “hợp đồng”, vừa thể hiện rõ vai trò
của hợp đồng như là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền vànghĩa vụ của các bên
Với vai trò làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nên hợp đồngxuất hiện trong mọi hoạt động của đời sống với những thể hiện từ đơn giản đếnphức tạp Hoạt động kinh doanh là một hoạt động quan trọng trong xã hội, có sựtham gia của nhiều chủ thể trong nước và nước ngoài, chính vì thế hợp đồng tronghoạt động kinh doanh là điều không thể thiếu Hợp đồng trong kinh doanh là côngthức để giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mìnhkhi có tranh chấp xảy ra Nếu như sự an toàn của con người, tài sản được bảo đảmtrên cơ sở những quy định trong Bộ Luật hình sự thì sự an toàn và trật tự trong thếgiới kinh doanh lại phụ thuộc vào hợp đồng Trong kinh doanh, để đi đến hợp đồng
là điều khó, nhưng để hoàn thành một hợp đồng mà các bên đều hài lòng lại là điềukhó hơn, thực vậy, khi ký kết hợp đồng các doanh nghiệp không thể lường trước hếtmọi tình huống sẽ xảy ra trong tương lai, nguyên nhân dẫn đến việc không hoàn
Trang 11thành hay không thực hiện những thỏa thuận có thể là khách quan nhưng cũng cóthể là chủ quan dẫn để dẫn đến tranh chấp Thông qua hợp đồng, các doanh nghiệpxây dựng được kế hoạch tài chính chủ động, là điều quan trọng nhất trong việc thựchiện chiến lược cạnh tranh tổng quát của doanh nghiệp Hợp đồng sẽ giúp doanh
nghiệp loại bỏ được những đối tác có tư duy “ăn thật làm giả” khi tham gia vào thị
trường Ngoài ra, thông qua hợp đồng các doanh nghiệp chân chính sẽ được phápluật bảo vệ quyền và lợi ích của mình từ đó tránh được những nguy cơ bị lừa gạt.Việc thực hiện đúng, tốt những cam kết, thỏa thuận trong hợp đồng sẽ mang tới sựthỏa mãn, tin tưởng cho khách hàng, đối tác của doanh nghiệp và chính họ sẽ là cầunối cho doanh nghiệp với những khách hàng, đối tác mới, từ đó giúp doanh nghiệp
có được lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh
Những thỏa thuận trong hợp đồng sẽ là cơ sở để doanh nghiệp rằng buộc vàgiữ chân những khách hàng của mình, khi kinh tế phát triển, sẽ kéo theo số lượngdoanh nghiệp tham gia vào thị trường sẽ gia tăng, đồng thời sức ép cạnh tranh sẽngày càng lớn Hợp đồng trước tiên sẽ giúp cho doanh nghiệp giữ chân được cáchkhách hàng cũ của mình, thông qua các điều khoản ràng buộc về thời gian Sau đó
nó cũng là công cụ để lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh bằng những thỏa
thuận mang tính thuyết phục đối với các bên “Thương trường là chiến trường” là câu ngạn ngữ mà các thương nhân đều nắm được và hợp đồng là “vũ khí” cho các
thương nhân trong chiến trường đó
Pháp luật Việt Nam chưa đưa ra khái niệm cụ thể nào về hợp đồng trong kinh
doanh mà chỉ đưa ra khái niệm hoạt động thương mại “ Hoạt động thương mại là
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác, các hợp đồng thực hiện hoạt động thương mại này do LTM chi phối”( Điều 3 LTM 2005).
Tuy nhiên, có thể xác định bản chất pháp lý của hợp đồng trong kinh doanh trên cơ
sở quy định của BLDSvề hợp đồng
Từ đây, kết hợp tinh thần của BLDS 2005 và LTM 2005 ta có khái niệm về
hợp đồng trong kinh doanh như sau: “Hợp đồng trong kinh doanh là sự thỏa thuận
nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ phát sinh giữa ít nhất một bên là thương nhân, nhằm mục đích lợi nhuận, bên không có mục đích lợi nhuận nhưng chọn LTM
Trang 12làm luật điều chỉnh”
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng trong kinh doanh
Trong một nền kinh tế thị trường, hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng, các quan
hệ xã hội ngày trở nên phức tạp, khi đó vai trò của hợp đồng là vô cùng quan trọng,
là công cụ pháp lý thông dụng và quan trọng nhất trong việc kinh doanh buôn bán Hiện nay pháp luật về hợp đồng tại Việt Nam nằm rải rác ở các văn bản có giátrị pháp lý khác nhau Tuân thủ nguyên tắc về mối quan hệ giữa luật chung và luậtriêng thì các quy định chung của pháp luật về hợp đồng được quy định từ điều 388đến 411 BLDS 2005 có thể áp dụng cho tất cả những hợp đồng khác nhau Bêncạnh các quy định chung đó, BLDS 2005 cũng quy định riêng cho những hợp đồngchuyên biệt Đối với những vấn đề mà luật chuyên ngành điều chỉnh thì áp dụngquy định của luật chuyên ngành còn đối với những vấn đề mà luật chuyên ngànhchưa điều chỉnh thì áp dụng những quy định của luật chung để điều chỉnh Nói cáchkhác các hoạt động có tính chất thương mại nếu được quy định tại một luật riêng thì
áp dụng luật riêng đó hay đã được quy định tại LTM 2005 để điều chỉnh, các hoạtđộng thương mại không được quy định trong luật riêng khác và LTM 2005 thì ápdụng quy định của BLDS để điều chỉnh
Như vậy, dù là hợp đồng trong lĩnh vực chuyên ngành nhưng hợp đồng trongkinh doanh vẫn có bản chất của hợp đồng nói chung, là sự thỏa thuận nhằm xác lập,thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ kinh doanh Từ đó chothấy, hợp đồng trong kinh doanh, thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dânsự
Có thể xem xét hợp đồng kinh doanh, thương mại trong mối liên hệ với hợpđồng dân sự theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nhiều vấn
đề về hợp đồng trong kinh doanh, thương mại được điều chỉnh bởi pháp luật không
có sự khác biệt với các hợp đồng dân sự, như: Giao kết hợp đồng, hợp đồng vô hiệu
và xử lý hợp đồng vô hiệu… Bên cạnh đó, xuất phát từ yêu cầu của hoạt độngthương mại, một số vấn đề về hợp đồng trong kinh doanh, thương mại được quyđịnh trong LTM có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật
truyền thống về hợp đồng (như chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên,
chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng ) Vì vậy, nắm được những điểm chung
Trang 13của 2 loại hợp đồng này đồng thời tôn trọng một số đặc thù của từng loại hợp đồng
sẽ đặc biệt có ý nghĩa đối với doanh nghiệp trong quá trình xác lập và thực hiện cácgiao dịch nhằm đảm bảo mục đích của mình khi tham gia giao dịch
Những điểm giống nhau giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng trong kinh doanh:
- Đều là những giao dịch có bản chất dân sự, thiết lập dựa trên sự tự nguyện,bình đẳng và thỏa thuận của các bên;
- Đều hướng tới lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung của các bên tham giagiao kết hợp đồng;
- Hai loại hợp đồng này có một số điều khoản tương tự như: Điều khoản vềchủ thể; đối tượng của hợp đồng; giá cả; quyền và nghĩa vụ của các bên; phươngthức thực hiện; phương thức thanh toán; giải quyết tranh chấp phát sinh (nếu có)
- Về hình thức của hợp đồng:
+ Một số hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại có thể giao kết bằng
miệng (thực hiện chủ yếu qua sự tín nhiệm, giao dịch được thực hiện ngay hoặc
những giao dịch đơn giản, có tính phổ thông, đối tượng giao dịch có giá trị thấp);
+ Hoặc bằng văn bản (được thực hiện chủ yếu ở những giao dịch phức tạp,
đối tượng của hợp đồng có giá trị lớn hoặc do pháp luật quy định phải thực hiện bằng văn bản như: Vay tiền tại tổ chức tín dụng, bảo hiểm (nhưng không có mục đích lợi nhuận) Đối với hình thức hợp đồng này tùy từng hợp đồng cụ thể pháp luật
quy định bắt buộc phải công chứng hoặc thị thực mới hợp lệ (như mua bán nhà ở,
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ) Tuy nhiên nếu các bên không công chứng
hoặc chứng thực thì hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý và không bị coi là vô hiệu trừtrường hợp pháp luật có quy định khác Ngoài ra những trường hợp pháp luật khôngquy định bắt buộc phải công chứng thì các bên vẫn có thể thỏa thuận công chứnghoặc có sự chứng kiến của người làm chứng nhằm làm cho hợp đồng có giá trị pháp
lý cao Các loại văn bản cũng được coi là hợp đồng nếu hai bên giao kết gián tiếpbằng các tài liệu giao dịch như: Công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng
và được sự đồng ý của bên kia với nội dung phản ảnh đầy đủ các nội dung chủ yếucần có và không trái pháp luật thì được coi là hợp lệ
+ Hợp đồng cũng có thể được giao kết bằng hành vi cụ thể: Thông thường đây
là một dạng quy ước đã hình thành trên cơ sở thông lệ mà các bên đã mặc nhiên
Trang 14chấp nhận.
Mặt khác, hợp đồng trong kinh doanh cũng có những điểm khác biệt để phânbiệt với các hợp đồng khác:
Thứ nhất, về chủ thể hợp đồng trong kinh doanh, thương mại được thiết lập
chủ yếu là thương nhân Theo quy định tại Điều 6 LTM 2005, “ thương nhân bao
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.”
Thứ hai, về hình thức hợp đồng kinh doanh, thương mại có thể được thiết lập
dưới hình thức văn bản, lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết.Trong những trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp
đồng kinh doanh, thương mại bằng hình thức văn bản (Hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương mại ) LTM 2005 cho phép các bên hợp đồng có thể thay thế hình thức thức văn
bản bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Các hình thức có giá trịtương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu
Thứ ba, về nội dung và mục đích của hợp đồng kinh doanh thương mại: mục
đích của các bên trong hợp đồng kinh doanh, thương mại là lợi nhuận Trường hợp
có chủ thể hợp đồng không nhằm mục đích lợi nhuận giao dịch với thương nhânthực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì hợp đồngđược áp dụng LTM 2005 khi bên không nhằm mục đích lợi nhuận lựa chọn áp dụngLTM 2005
Thứ tư, Về cơ quan giải quyết tranh chấp: Đối với tranh chấp thương mại phát
sinh, nếu các bên không tự giải quyết được thì có thể nhờ cơ quan Tòa án hoặcTrọng tài giải quyết theo sự lựa chọn của các bên Trong khi đó, đối với tranh chấpdân sự thì Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết mà các bên chỉ có thể đưa ra
cơ quan Tòa án
Quá trình hình thành hợp đồng trong kinh doanh về cơ bản dựa trên quy địnhcủa BLDS 2005
Giai đoạn thứ nhất: Đề nghị giao kết hợp đồng
Một bên đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng : “Đề nghị giao kết hợp đồng là
việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của
Trang 15bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể.”
Về mặt hình thức, việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiềucách thức khác nhau như:
• Người đề nghị có thể gặp trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị trao đổi
thỏa thuận hoặc có thể thông qua các đường liên lạc khác như đện thoại, liên lạc ởtrên mạng Internet…Trong những trường hợp này thời hạn trả lời là một khoảngthời gian do hai bên thỏa thuận ấn định
• Đề nghị giao kết hợp đồng dân sự còn có thể được thực hiện bằng việcchuyển, gửi công văn, giấy tờ qua đường bưu điện…Trong trường hợp này thời hạntrả lời là một khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định
Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếubên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đềnghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giaokết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh
(i) Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực (Điều 391 BLDS2005 )
được xác định như sau: Do bên đề nghị ấn định hoặc nếu bên đề nghị không ấn địnhthì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đềnghị đó
Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
• Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; đượcchuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
• Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;
• Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua cácphương thức khác
(ii) Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 392 BLDS2005): Lời đề
nghị mặc dù chưa phải là một hợp đồng nhưng ít nhiều đã có tính chất ràng buộcđối với người đề nghị Tuy nhiên, bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rútlại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
- Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đềnghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị
- Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề
Trang 16nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh.
- Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đềnghị mới
(iii) Huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 393 BLDS2005): Trong trường
hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền huỷ bỏ đề nghị do đã nêu rõquyền này trong đề nghị thì phải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo nàychỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đềnghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
(iv) Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 394 BLDS2005): Đề nghị giao
kết hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp:
- Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận;
- Hết thời hạn trả lời chấp nhận, chậm trả lời chấp nhận;
- Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực;
- Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực;
- Theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạnchờ bên được đề nghị trả lời
(v) Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất (Điều 395 BLDS2005): Khi
bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửađổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới
Giai đoạn thứ hai: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đốivới bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị Chấp nhận giao kếthợp đồng thực chất là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hànhviệc giao kết hợp đồng với bên đã đề nghị
* Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được hiểu như sau: (Điều 397
BLDS2005):
Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ cóhiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồngnhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghịmới của bên chậm trả lời Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồngđến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách
Trang 17quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợpbên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoạihoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhậnhoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời Nếu việc trảlời được chuyển qua đường bưu điện, thì ngày gửi đi theo dấu bưu điện được coi làthời điểm trả lời, căn cứ vào thời điểm đó để bên đề nghị xác định việc trả lời đềnghị có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định.
*Rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng (Điều 400 BLDS2005): Bên
được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợpđồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được
trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng Điều 404 BLDS 2005 có quy định “Hợp đồng
dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết” có nghĩa rằng khi có sự thống nhất ý chí giữa bên đề nghị và bên được đề nghị
giao kết hợp đồng, bên đề nghị giao kết hợp đồng phải thê hiện rõ ý muốn đượcgiao kết, nội dung giao kết hợp đồng và xác định chủ thể được đề nghị cụ thể
1.2 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh và hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh
1.2.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh
Trong hầu hết Từ điển Tiếng Việt và từ điển chuyên ngành luật ở Việt Nam
hiện nay (trừ quyển “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của Trường Đại học
Luật Hà Nội) đều không có mục từ “hiệu lực của hợp đồng” mà chỉ có các mục từ
khác gần với nó như “hiệu lực pháp luật của di chúc” hay hiệu lực của các văn bản pháp luật [trang 289;, trang 203] Theo các từ điển này thì hiệu lực pháp luật (của
văn bản pháp luật nói chung)” là tính bắt buộc thi hành của văn bản…”, “là giá trị pháp lý của văn bản …, hoặc giá trị pháp lý của văn bản đó…, thể hiện phạm vi tác động hoặc phạm vi điều chỉnh của văn bản pháp luật về thời gian, không gian, đối tượng áp dụng [trang 202; trang 357-58]
Trong Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học có giải thích khái niệm “hiệu lực của hợp đồng dân sự là giá trị bắt buộc thi hành đối với chủ thể tham gia giao kết hợp đồng” [trang 65]
Trang 18Khái niệm hiệu lực hợp đồng cũng không được tìm thấy trong một số từ điểnnước ngoài bằng tiếng anh như quyển Orans’s Dictionary of the Law - 3rd ed [12], AOxford Law - 5th ed [23] hay quyển Dictionary of the Law - 4th ed [22] Tuy vậy,
trong quyển Từ điển bách khoa pháp luật Hoa Kì có đưa ra định nghĩa về “hiệu
lực”: “Hiệu lực là sự ràng buộc; sự cưỡng chế pháp lý…”.
Trong luật thực định, khái niệm hiệu lực hợp đồng cũng được quy định trong
các văn bản pháp luật của quốc gia Chẳng hạn như BLDS Pháp có quy định: “Hợp
đồng được giao kết hợp pháp có giá trị là luật đối với các bên”, “chỉ có thể bị hủy
bỏ trên cơ sở có thỏa thuận chung , hoặc theo các căn cứ do pháp luật quy định và phải được thực hiện một cách thiện chí” [điều 1134]
BLDS 1995 từng có quy định về hiệu lực của hợp đồng như sau: “1 Hợp
đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc với các bên; 2 Hợp đồng chỉ có thể bị sủa đổi hoặc hủy bỏ, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định ” [điều 404]
BLDS 2005 không quy định cụ thể về hiệu lực của hợp đồng, mà chỉ quy định
khái quát là: “hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao
kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác [Điều 405] Tóm lại qua nghiên cứu khía cạnh pháp lý và từ điển của khái niệm hiệu lực của hợp đồng thì nó có hai dấu hiệu thể hiện bản chất là: giá trị pháp lý của hợp
đồng giống như pháp luật; hiệu lực ràng buộc mang tính cưỡng chế nhằm buộc cácbên phải tôn trọng và thực thi đầy đủ các cam kết trong hợp đồng Như vậy, có thể
nói “hiệu lực của hợp đồng là giá trị pháp lý của hợp đồng làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia, và giá trị pháp lý ràng buộc các bên tham gia hợp đồng phải tôn trọng và phải thi hành nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ đó” và từ đó ta rút ra “Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng được xác lập hợp pháp và có hiệu lực ràng buộc các bên”.
Theo quy định trong BLDS Pháp, hợp đồng được thừa nhận có hiệu lực thì
phải thỏa mãn bốn điều kiện chủ yếu (Điều 1108): các bên giao kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện (Điều 1109 -22); các bên giao kết hợp đồng phải có năng lực
để giao kết hợp đồng (Điều 1123-5); đối tượng và nội dung chủ yếu của hợp đồng
Trang 19phải xác định (Điều 1126-30); mục đích, căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp (Điều
1131-3)
Theo luật Anh – Mỹ, để có hiệu lực thì hợp đồng phải thỏa mãn các yêu cầu:
1 Có sự đề nghị; 2 Có sự chấp nhận đề nghị; 3 Lợi ích đối ứng; 4 Các bên phảithực sự có ý định muốn giao kết hợp đồng; 5 Cam kết chắc chắn và sự thỏa thuậnhoàn chỉnh; 6 Phải tuân thủ các quy định khác về: các bên phải có năng lực chủ thể
để giao kết hợp đồng; không thể thiếu những yếu tố mà thiếu nó có thể làm cho hợp
đồng bị vô hiệu, bị hủy bỏ, hoặc không có giá trị pháp lý
LTM 2005 không quy định cụ thể các điều kiện để hợp đồng trong kinh doanh
có hiệu lực Vì vậy, khi xem xét hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh, cần dựatrên điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định trong BLDS 2005
Căn cứ theo Điều 122 BLDS 2005 và các quy định có liên quan, có thể xácđịnh hợp đồng trong kinh doanh có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, các chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực chủ thể để thực hiện
nghĩa vụ theo hợp đồng
Là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự (Điều 14 Bộ
luật Dân sự năm 2005); Năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra vàchấm dứt khi người đó chết
Theo đó yêu cầu về chủ thể tham gia hợp đồng “có năng lực hành vi dân sự”
là một trong những điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực
Khi tham gia hợp đồng trong kinh doanh, các thương nhân phải đáp ứng điềukiện có đăng kí kinh doanh đối với đối tượng kinh doanh nhất định Trường hợpkinh doanh hàng hóa có điều kiện kinh doanh, thương nhân còn phải đáp ứng cácđiều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật Người kí hợp đồng là ngườiđại diện hợp pháp Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theopháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền
Theo quy định của LDN 2005 thì người đại diện đương nhiên theo pháp luậtcủa các doanh nghiệp được xác định như sau:
• Đối với doanh nghiệp tư nhân thì chủ doanh nghiệp tư nhân là người đạiđiện theo pháp luật
Trang 20• Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty trách nhiêmhữu hạn có từ hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần thì người đại diên theo pháp
luật là Tổng giám đốc (Giám đốc), trừ trường hợp Điều lệ Công ty quy định Chủ
tịch hội đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng quản trị là người đại diện theo phápluật
• Đối với Công ty hợp danh thì người đại diện theo pháp luật là các thànhviên hợp danh
Như vậy, đối với người đại diện theo pháp luật họ có quyền nhân danh doanhnghiệp để ký kết hợp đồng Điều đó cũng có nghĩa là tất cả những người khác trongdoanh nghiệp dù giữ bất cứ chức vụ gì đều không có quyền tự mình ký hợp đồngnhân danh doanh nghiệp mà họ chỉ có quyền ký hợp đồng theo sự uỷ quyền củangười đại diện theo pháp luật và chỉ được ký hợp đồng trong phạm vi uỷ quyền.Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các doanh nghiệp đều thực hiện theođúng những quy định của pháp luật, có rất nhiều trường hợp Phó giám đốc, Trưởngphòng, Trưởng chi nhánh, Trưởng các bộ phận ký hợp đồng không được sự uỷquyền của người đại diện theo pháp luật Cũng có trường hợp có giấy uỷ quyềnnhưng người ký hợp đồng đã ký vượt quá phạm vi uỷ quyền, hay giấy uỷ quyềnkhông còn thời hạn uỷ quyền Tất cả những trường hợp trên, nếu căn cứ vào quyđịnh của pháp luật thì hợp đồng có nhiều khả năng bị tuyên bố vô hiệu, mà hợpđồng bị tuyên bố vô hiệu sẽ gây ra thiệt hại cho một bên hoặc cả hai bên Nguyênnhân xảy ra tình trạng này là do trong quá trình hợp tác các bên thường tin tưởng vàkhông quan tâm nhiều đến khía cạnh pháp lý khi giao kết hợp đồng
Thứ hai, mục đích và nội dung của hợp đồng trong kinh doanh không vi phạm
điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
BLDS 2005 thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận (Điều 4) Nhưng
để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác, BLDS 2005 cũng quy định một số trường hợp hạn chế quyền tự do của các
bên trong việc thiết lập hợp đồng Theo đó mục đích và nội dung của hợp đồng
trong kinh doanh không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội (điểm b, khoản 1, Điều 122 BLDS 2005) Hợp đồng có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì vô hiệu (Điều 128)
Trang 21Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ
thể thực hiện những hành vi nhất định (Điều 128 BLDS 2005) Xuất phát từ lợi ích
công cộng mà pháp luật sẽ có các quy định cụ thể liên quan đến việc cấm chủ thểđược thực hiện những hành vi nhất định hoặc đưa ra những quy định xác định cụthể loại tài sản không thể là đối tượng của hợp đồng
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong
đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng (Điều 128 BLDS2005).
Như vậy, tính trái đạo đức là những chuẩn mực ứng xử của cộng đồng được thừanhận và tôn trọng
Tùy thuộc vào chính sách của nhà nước nhằm quản lý nền kinh tế, quản lý trật
tự xã hội mà đối tượng kinh doanh được quy định khác nhau, có thể bị hạn chế,hoặc bị cấm
Thứ ba, hợp đồng trong kinh doanh được giao kết đảm bảo các nguyên tắc của
hợp đồng theo quy định của pháp luật, đó là: tự do giao kết nhưng không trái phápluật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực, ngaythẳng
Thứ tư, hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật Hình thức
của hợp đồng có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc xác định bằng hành vi cụ thể.Tuy nhiên đối với những trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được lậpthành văn bản mới có hiệu lực, khi đó hình thức của hợp đồng là điều kiện để hợpđồng có hiệu lực
1.2.2 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh
“Vô hiệu” theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không có hiệu quả”.
Như vậy, có thể suy ra rằng hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực pháp
lý mặc dù hợp đồng đó được đã xác lập, các bên có thể chưa thực hiện, đang thựchiện hay đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ như cam kết nhưng khi xác định làhợp đồng vô hiệu thì mọi cam kết đã, đang thực hiện thì đều không phải là cácquyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ Vậy hợp đồng vô hiệu là khi xác lập cácbên đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy địnhdẫn đến hậu quả pháp lý là không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nào
Trang 221.2.3 Phân loại hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh
Phân loại hợp đồng vô hiệu là việc chia hợp đồng vô hiệu thành từng nhómtheo những tiêu chí nhất định và nhằm những mục đích nhất định và qua đó để có
sự điều chỉnh pháp lý thích hợp Việc phân loại hợp đồng cho ta cái nhìn toàn diện
về hợp đồng vô hiệu dưới những khía cạnh và phương diện khác nhau để từ đó đưa
ra cách thức xử lý thích hợp
Căn cứ vào tính chất trái pháp luật dẫn đến hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh được chia ra làm hai loại:
Hợp đồng vô hiệu tuyêt đối: là những hợp đồng mà mức độ vi phạm điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng là nghiêm trọng, kể cả khi các bên tham gia giao kết hợpđồng không yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng đó vẫn đượcxác định vô hiệu Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối bao gồm vi phạm điều cấm của pahspluật, trái đạo đức xã hội; hợp đồng xác lập do giả tạo; khi hình thức của hợp đồngkhông tuân thủ bắt buộc theo quy định của pháp luật Thời hiệu yêu cầu Tòa ántuyên bố hợp đồng vô hiệu tuyệt đối không bị hạn chế
Hợp đồng vô hiệu tương đối: là những hợp đồng mà nội dung chỉ xâm hại đếnlợi ích các nhân hoặc có sự khiếm khuyết của sự thồng nhất ý chí thì có thể vô hiệunếu có sự yêu cầu của bên được pháp luật bảo vệ và được tòa án tuyên bố vô hiệu.Trong trường hợp này hợp đồng sẽ vô hiệu kể từ khi hợp đồng được kí kết nếu cóyêu cầu của bên được pháp luật bảo vệ và phán quyết của tòa án Một số loại hợpđồng vô hiệu tương đối: hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn; hợp đồng vô hiệu do bịlừa dối, đe dọa Thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu bị hạn chế vềthời gian
Dựa vào mức độ của sự vô hiệu:
Hợp đồng vô hiệu toàn bộ: đó là hợp đồng mà tất cả nội dung của hợp đồngđều vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hoặc một số nội dung của hợpđồng vô hiệu nhưng trực tiếp ảnh hưởng đến các điều khoản còn lại của hợp đồng.Hợp đồng vô hiệu một phần: đó là hợp đồng chỉ có một số nội dung vi phạmvào các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng còn các nội dung khác không vi phạmhoặc có một phần của hợp đồng vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực củaphần còn lại của hợp đồng
Trang 23Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH
2.1 Các trường hợp cụ thể của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh
Trên cơ sở quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, các yếu tố vô hiệuhợp đồng trong kinh doanh gồm:
a Hợp đồng thương mại vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạođức xã hội
Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ
thể thực hiện những hành vi nhất định
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong
đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
Do vậy, những giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hộiđều vô hiệu theo quy định tại Điều 128 BLDS
Khi xem xét đến những ảnh hưởng của sự bất hợp pháp của những hợp đồng
kí kết trong trường hợp này, cần phải tính đến các yếu tố sau:
- Thứ nhất: biểu hiện cụ thể của sự bất hợp pháp
- Thứ hai: các bên có biết đến sự bất hợp pháp không?
- Thứ ba: phần nội dung bất hợp pháp có độc lập với các điều khoản mang nộidung còn lại không
Thực tiễn áp dụng trong giải quyết tranh chấp cho thấy khái niệm này rất rộng
và được hiểu là bất cứ nội dung nào của hợp đồng trái với quy định của pháp luậtcũng như các quy định hướng dẫn đều bị coi là vi phạm điều cấm của pháp luật
b Hợp đồng thương mại vô hiệu do giả tạo
Hợp đồng giả tạo là hợp đồng được xác lập nhằm che dấu việc thực hiện mộthợp đồng khác mà các bên thực sự mong muốn thực hiện Nói cách khác hợp đồnggiả tạo là hợp đồng mang tính hình thức, các nội dung được thiết lập không phải bởi
ý chí đích thực của các Trên thực tế các bên không có ý định tạo lập quyền, nghĩa
vụ pháp lý qua hợp đồng này Thông thường các hợp đồng này được thiết lập để
Trang 24trốn tránh nghĩa cụ đối với xã hội như nghĩa vụ nộp thuế hoặc che dấu hành vi bấthợp pháp.
Trong hoạt động của các cơ quan, doanh nghiệp, quyền sở hữu tài sản thuộc vềnhà nước hoặc thuộc về các nhà đầu tư hay những cổ đông góp vốn Những ngườiđại diện cho cơ quan, đơn vị trong hoạt động đầu tư, kinh doanh là những ngườitham gia giao kết hợp đồng nên họ quan tâm đầy đủ và trước hết là lợi ích của đơn
vị mình, tìm kiếm lợi ích tối đa cho đơn vị mình Nhưng do không phải là chủ sởhữu đích thực, người trực tiếp tiến hành các hoạt động này có thể không có lợi íchkinh tế cụ thể từ những giao dịch mà mình tiến hành hoặc hưởng một phần lợi ích,nhiều khi lợi ích thu được quá nhỏ so với điều kiện cho phép họ có thể tìm kiếmnhững cơ hội, thông đồng với đối tác để mang lại lợi ích riêng cho cá nhân Chínhnhững điều đó là cơ hội cho những hợp đồng giả tạo được hình thành
Tuy nhiên, sự thể hiện ý chí giả tạo nào cũng đưa đến sự vô hiệu của hợpđồng, chỉ có những giao dịch mà ở đó ý chí giả tạo tồn tại ở cả hai bên giao kếttrước khi kí kết hợp đồng mới đưa đến hợp đồng vô hiệu
Có hai trường hợp:
Thứ nhất, giả tạo nhằm cố ý che giấu một giao dịch thì giao dịch giả tạo vôhiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô
hiệu theo quy định của Bộ luật này (Điều 129 BLDS 2005) Ví dụ như để lách quy
định trần lãi suất cho vay, các ngân hàng lập hợp đồng tư vấn tài chính với doanhnghiệp để thu thêm vài điểm phần trăm lãi suất/năm, thực chất đây là giao dịch đểche giấu giao dịch vay nợ Tương tự như vậy là hợp đồng hợp tác đầu tư mà cáccông ty chứng khoán đã ký với nhà đầu tư trước khi giao dịch ký quỹ được phápluật chính thức thừa nhận Thực chất, công ty chứng khoán và nhà đầu tư không hợptác đầu tư gì hết, đó chỉ là hợp đồng giả tạo để che giấu hoạt động tín dụng, vốn làhoạt động mà công ty chứng khoán không được phép thực hiện
Thứ hai, trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụvới người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu, ví dụ như giá ghi trong hợp đồng là 30triệu trong khi giá thực tế hai bên giao dịch là 100 triệu, cách như vậy với mụchđích trốn thuế Hợp đồng giả tạo này sẽ bị tuyên vô hiệu do trốn tránh nghĩa vụđóng thuế cho cơ quan Nhà nước
Trang 25c Hợp đồng vô hiệu do lừa dối, đe dọa
Theo cách nói thông thường, “lừa dối” là lừa bằng thủ đoạn nói dối, gian lận
để làm cho người ta nhầm tưởng mà nghe theo, tin theo Thuật ngữ pháp lí “lừa
dối” được hình thành từ thời La Mã Cổ luật La Mã lúc đầu đã coi lừa dối như một
tội phạm hình sự, theo đó những kẻ lừa dối sẽ bị trừng phạt đối với sự lừa dối mangtính chất quan trọng Dần dần lừa dối đã được sử dụng trong lĩnh vực dân sự và xem
nó như một trong các yếu tố có thể làm cho hợp đồng vô hiệu hay nói cách khác khi
có lừa dối, sự thỏa thuận trở thành khiếm khuyết và bên bị lừa dối có quyền yêu cầu
vô hiệu hợp đồng
Theo ngôn ngữ pháp luật, “lừa dối” là một xảo thuật dùng để lừa gạt người
khác Từ những lời lẽ gian dối đến mánh khóe xảo trá dùng để khiến người ta giao
kết hợp đồng đều là lừa dối Cũng có cách hiểu: “Lừa dối là hành vi cố ý đưa thông
tin sai không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật Nếu không có các thủ đoạn ấy thì bên kia sẽ không giao kết hợp đồng” Dù cách sử dụng ngôn từ có
khác nhau song nội dung của các khái niệm trên là không khác nhau
Trên thực tế làm thế nào để xác định có sự lừa dối là vấn đề rất phức tạp Một
sự khẳng định của người bán hàng về thực trạng mà anh ta không biết có phải là sựlừa dối không? Năng lực của người kí kết hợp đồng có ý nghĩa gì không trong việcxác định có hay không có sự lừa dối?
Lừa dối chỉ được coi là yếu tố dẫn đến vô hiệu hợp đồng khi một bên cố ý làmcho bên kia phải giao kết hợp đồng không theo ý muốn thực Lừa dối và nhầm lẫnđều là những khiếm khuyết của sự thể hiện ý chí của các bên trong giao kết hợpđồng và đều giống nhau ở chỗ cả hai đều liên quan đến việc trình bày một cách trựctiếp hay gián tiếp về những sự việc không đúng sự thật hay không tiết lộ một sựthật Song sự lừa dối khác với nhầm lẫn ở chỗ: Sự nhầm lẫn vốn do người kí kếthợp đồng tự mình hiểu sai còn sự lừa dối là sự hiểu sai do đối phương gây ra Sựphân biệt giữa lừa dối và nhầm lẫn được xác định bởi tính chất và mục đích của việctrình bày gian lận của một bên Nhầm lẫn hay lừa dối đều đưa đến hệ quả là hợpđồng có thể bị vô hiệu do thỏa thuận không thể hiện đúng ý chí thật của các bên Vềnguyên tắc, hành vi lừa dối phải do chính một bên giao kết hợp đồng thực hiện Tuynhiên, dù một người kí kết hợp đồng không trực tiếp thực hiện hành vi gian trá
Trang 26nhưng đã tham gia hoặc đồng lõa với hành vi gian trá đó thì hành vi này cũng đượccoi là do chính người kí hợp đồng thực hiện Đối với người thứ ba ngay tình thì sựảnh hưởng của hậu quả pháp lí không được tính đến
Pháp luật của một số nước, trong một số trường hợp coi sự kiện không nói rađiều mà người kí có trách nhiệm phải nói khi kí hợp đồng cũng được coi là hành vigian trá và trong một số trường hợp pháp luật cũng thừa nhận việc khai gian hay imlặng trong trường hợp xét một cách hợp lý phải thông tin cho người cùng giao kếtbiết là lừa dối Khi đưa ra nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, Unidroit đã ghi
nhận nguyên tắc: “Một bên trong hợp đồng được phép vô hiệu hợp đồng, nếu bên
đó giao kết hợp đồng do bị phía bên kia lừa dối về sự việc, kể cả trong ngôn ngữ hoặc hành vi, hoặc do bên kia (bên lừa dối) không cung cấp thông tin về các yếu tố,
mà theo những tiêu chuẩn thông thường về công bằng và hợp lí trong thương mại
họ phải đựoc thông báo”.
Như vậy, pháp luật nhiều nước cũng như nguyên tắc thương mại quốc tế củaUNIDROIT (PICC) không chỉ giới hạn sự biểu hiện của lừa dối ở hành vi, lời nói
mà thừa nhận cả trường hợp một bên không cung cấp thông tin hoặc im lặng khi xétmột cách hợp lí là họ phải có nghĩa vụ thông báo Đây là điểm mà pháp luật củaViệt Nam còn bỏ ngỏ Pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ coi những hành vi cố ý củamột bên mà không thừâ nhận sự im lặng hoặc không thông tin khi có nghĩa vụthông tin đến người cùng giao kết hợp đồng là lừa dối Chính cách tiếp cận như trêncủa pháp luật đã không giải quyết được một trong các vấn đề nảy sinh của thực tiễnthực hiện các hợp đồng mua bảo hiểm ở Việt Nam trong thời gian gần đây là làmthế nào để bảo vệ người mua bảo hiểm trước sự thiếu hiểu biết của người mua bảohiểm đối với các hợp đồng bảo hiểm vô cùng phức tạp Trong trường hợp này nếukhông có sự giải thích, hướng dẫn của bên bảo hiểm thì người mua không thể hiểumột cách đầy đủ trước khi kí kết hợp đồng Bên cạnh đó pháp luật cũng không thừanhận sự lừa dối gián tiếp thông qua người thứ ba là yếu tố làm cho hợp đồng có thể
Trang 27mẫu Những hợp đồng này đã hình thành nên mối quan hệ không bình đẳng
Vì vậy, đòi hỏi pháp luật phải có các qui định mang tính ràng buộc điều chỉnhchúng Đòi hỏi đối với các hợp đồng này phải chặt chẽ hơn là phù hợp Cần xác
định điều kiện đưa đến sự lừa dối đối với các hợp đồng mẫu (hợp đồng được một
bên mà thường là bên cung cấp dịch vụ soạn thảo trước theo mẫu và sẽ được hình thành khi một bên kí vào hợp đồng) trong trường hợp bên đưa ra hợp đồng mẫu mà
không giải thích rõ làm cho bên kia vì không biết rõ hoặc không để ý mà kí hợpđồng cũng là lừa dối
Như vậy, để có thể xem xét một hành vi có phải là sự lừa dối trong giao kếthợp đồng hay không người ta căn cứ vào các yếu tố sau đây:
Một là, phải có sự cố ý đưa thông tin sai lệch hoặc bỏ qua sự thật của một bên, Hai là, người nghe phải không biết đến sự sai lệch đó
Ba là, người nghe đã tin vào sự sai lệch do một bên đưa ra mà giao kết hợp
đồng
Bốn là, phải có thiệt hại xảy ra.
Đe dọa trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm chobên kia buộc phải thực hiện nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình
Sự tiềm ẩn của hiểm họa: Nếu người đối tác đã dùng đến vũ lực hoặc đã thựchiện các biện pháp nhằm gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe… hoặc đưa nạnnhân vào tình trạng không thể nhận thức được hành vi của mình, để nạn nhân chấpnhận giao kết hợp đồng thì hợp đồng vô hiệu không phải vì sự ưng thuận khônghoàn hảo mà do hoàn tòa không có sự ưng thuận Đe dọa là hành vi có tác dụng dẫndắt ý chí của một người bị đe dọa đi theo ý chí của người đe dọa, mà người bị đedọa không dám, không thể cưỡng lại Nói rõ hơn dưới góc nhìn của người bị đe dọa,thì sự đe dọa hình thành từ hai yếu tố: yếu tố khách quan – mối nguy hiểm bủa vây,yếu tố chủ quan – nỗi sợ Chính dưới sự đe dọa đó mà ý chí được bày tỏ của người
bị đe dọa không thể phản ánh ý chí trung thực, nội tâm của người này
Tính chất của sự đe dọa: sự đe dọa phải có tác dụng đối với quyết định ưngthuận của người bị đe dọa, có nghĩa là người bị đe dọa chấp nhận giao kết vì bị đedọa
Trang 28Để xác định một hợp đồng vô hiệu do bị đe dọa trong giao kết phải lưu ý:
Một là, phải có hành vi cố ý của một bên làm cho bên kia sợ hãi mà giao kết
hợp đồng; Hai là, bên bị đe dọa giao kết nhằm tránh gây thiệt hại về mọi mặt cho
chính họ hoặc cho những người thân thích của họ Nếu không thỏa mãn hai yêu cầutrên thì không phải là đe dọa được
Như vậy, không phải bất kì sự đe dọa nào cũng đủ uy lực để buộc bên bị đedọa giao kết hợp đồng Pháp luật chỉ bảo vệ các bên trong trường hợp được giới hạn
ở yêu cầu thứ hai đó là bên bị đe dọa phải nhằm mục đích tránh những thiệt hại chomình hoặc cho người thân Yêu cầu thứ hai này nhằm hạn chế việc các bên đưa ra lí
do bị đe dọa trong giao kết hợp đồng để vô hiệu hợp đồng và hướng tới bảo vệ cobên bị đe dọa không bị thiệt hại
BLDS 2005 cũng đã khắc phục được tình trạng người thứ ba đe dọa đối vớimột bên trong hợp đồng, khi đã đầy đủ yếu tố trên thì hợp đồng cũng bị vô hiệutrong trường hợp này
d Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn
Theo quy định của pháp luật của tất cả các nước, nhầm lẫn có thể được coi làcăn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, tuy nhiên thế nào là nhầm lẫnđược xem xét không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau Pháp luậtcủa các nước hầu như không ra khái niệm nhầm lẫn, còn trong khoa học pháp lý,
về vấn đề này có nhiều cách nhìn khác nhau Có quan đỉểm cho rằng, “nhầm lẫn”
là những trường hợp hợp đồng được ký kết nhưng ý chí của một hoặc của các bên
được hình thành không đúng vì nhiều lý do khác nhau Nhầm lẫn có thể do các bên
chưa thoả thuận hết mọi điều khoản của hợp đồng, có thể do các bên không thể hiện
sự cẩn thận cần phải có, cũng có thể do sự tự tin thái quá của chủ thể hoặc hành vi
của người thứ ba Ý kiến khác cho rằng, “nhầm lẫn” có nghĩa là hợp đồng được ký
kết không phản ánh ý chí đích thực của các bên, không có khả năng mang lại kếtquả mà các bên hướng đến tại thời điểm ký kết hợp đồng Có thể nói, nhầm lẫn làkhi ý chí của các bên không giống với ý chí của họ trong giai đoạn thống nhất ý chímặc dù không bị đe doạ hoặc lừa dối Việc coi nhầm lẫn là căn cứ tuyên bố hợpđồng vô hiệu gặp phải hai vấn đề phức tạp trong khoa học pháp lý và trong thựctiễn Một mặt, trên xuất phát từ thuyết ý chí, nhầm lẫn được coi là việc hợp đồng
Trang 29được ký kết trái với ý chí đích thực của chủ thể và vì vậy nên cần phải coi hợp đồng
đó là vô hiệu Mặt khác, nếu trong mọi trường hợp khi hợp đồng được ký kết tráivới ý chí đích thực của chủ thể sẽ bị vô hiệu, điều này sẽ tạo ra sự không ổn định,mất trật tự trong lưu thông dân sự và trong hoạt động kinh doanh thương mại - điều
mà không ai muốn Chính vì vậy, nên pháp luật cũng như Toà án cẫn phải thậntrọng trong việc xem xét hợp đồng vô hiệu Để tìm giải pháp hài hoà các mối quan
hệ trên cần phải phân biệt hai loại nhầm lẫn: nhầm lẫn không có ý nghĩa pháp lý,tức là không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng và nhầm lẫn có ý nghĩa pháp lý-
là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Như vậy không phải mọinhầm lẫn đều có ý nghĩa pháp lý đối với bên nhầm lẫn Điều này là nhất quán trongmọi hệ thống pháp luật Tuy nhiên, trong thực tiễn việc phân biệt hai loại nhầmlẫn nói trên là việc không đơn giản, trong khi đó hậu quả pháp lý của chúng lạikhác nhau Có thể nói rằng, nhầm lẫn, nhìn từ góc độ là điều kiện để yêu cầu Toà ántuyên bố hợp đồng vô hiệu là một trong những vấn đề phức tạp nhất của pháp luậthợp đồng và gây nhiều khó khăn cho người học khi nghiên cứu vấn đề này
Phạm vi của nhầm lẫn: Điều 131 BLDS 2005 về giao dịch dân sự vô hiệu do
bị nhầm lẫn quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội
dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này” Như vậy, theo pháp
luật của Việt Nam hiện hành, nhầm lẫn chỉ có thể liên quan đến nội dung của hợpđồng mà không quy định nhầm lẫn về chủ thể Mặc dù pháp luật không quy định cụthể nội dung, tuy nhiên có thể hiểu rằng, trong nội dung của hợp đồng có rất nhiềuvấn đề, ví dụ, đối tượng của hợp đồng, tính chất của hàng hoá, công việc… Cáchtiếp cận trên trong pháp luật của Việt Nam, có thể nói là tương tự với pháp luật củanhiều nước Theo Điều 178 BLDS Liên Bang Nga, hợp đồng được ký kết do bịnhầm lẫn nghiêm trọng có thể bị toà án tuyên bố vô hiệu khi có sự yêu cầu của bên
bị nhầm lẫn Nhầm lẫn nghiêm trọng là nhầm lẫn liên quan đến: bản chất của hợpđồng hoặc tương tự hay liên quan đến những đặc tính của đối tượng làm giảm khả
Trang 30năng đáng kể việc sử dụng chúng theo mục đích Nhầm lẫn liên quan đến động cơcủa giao dịch không được coi là có ý nghĩa pháp lý quan trọng Khác với pháp luậtcủa Việt Nam và Liên Bang Nga, pháp luật của nhiều nước có quy định nhầm lẫn vềchủ thể, tuy nhiên chỉ trong một số trường hợp hạn chế Điều 1110 BLDS Pháp quy
định “Sự nhầm lẫn chỉ là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi đó là sự nhầm lẫn
về bản chất của vật hoặc công việc là đối tượng của hợp đồng Sự nhầm lẫn về chủ thể giao kết không thể là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu, trừ trường hợp việc xem xét nhân thân người đó là căn cứ chính dẫn đến việc giao kết hợp đồng”
Không quy định nhầm lẫn về chủ thể có phải là khiếm khuyết của pháp luậtđồng Việt Nam hay không? Và việc thiếu vắng quy định của pháp luật trong trườnghợp này gây ra những hậu quả pháp lý như thế nào? Có tác giả cho rằng, pháp luậtquy định như vậy là chưa đủ, bởi lẽ trong thực tế, hoàn toàn có thể xảy ra nhầm lẫn
về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng và mặc dù pháp luật chưa quy định nhưngthực tiễn xét xử đã thừa nhận nhầm lẫn về chủ thể Ví dụ đó là ông Huy và bà Mai
có lập hợp đồng thỏa thỏa thuận hợp tác thành lập Công ty cổ phần đầu tư thẩm mỹXuân Trường với ngành nghề kinh doanh gồm: mua bán mỹ phẩm, trang thiết bị y
tế, dụng cụ thẩm mỹ, y ngoại tổng quát, đào tạo nghề Hai tháng sau khi thành lậpgiữa các chủ thể phát sinh tranh chấp Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án đã tuyên
hợp đồng hợp tác giữa ông Huy và bà Mai là vô hiệu do nhầm lẫn (Tòa án đã viện
dẫn Điều 131, BLDS năm 2005) Tòa án cho rằng sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận
thức của bà Mai bởi bà đã nhầm “y ngoại tổng quát” là “phẫu thuật tạo hình thẩm
mỹ” Với cách quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Toà án đã thiếu
chính xác trong việc lựa chọn quy định của pháp luật để áp dụng, bởi lẽ: thứ nhất,pháp luật Việt Nam không quy định nhầm lẫn về chủ thể; thứ hai, trong trường hợpnày toà án hoàn toàn có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu do: i) vi phạm điều kiện vềchủ thể, ông Huy là bác sĩ thì ông biết và buộc phải biết ông ta không có chuyênmôn phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, hoặc; ii) vi phạm điều cấm của pháp luật vì đây
là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện Mặt khác việc áp dụng quy định về nhầm lẫn sẽdẫn đến rủi ro pháp lý trong trường hợp Toà án thụ lý vụ án khi đã quá thời hạn 2năm kể từ ngày ký hợp đồng theo Khoản Điều 136 Trong vụ việc nói trên sẽ hợp lý
và thuyết phục hơn nếu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của
Trang 31pháp luật
BLDS Việt Nam cần phải bổ sung quy định nhầm lẫn về chủ thể trong một sốtrường hợp khi yếu tố nhân thân là động lực chủ yếu để bên nhầm lẫn ký kết hợpđồng
Tính chất của nhầm lẫn phải nghiêm trọng, Điều 131 BLDS 2005 chỉ quy địnhnhầm lẫn sự nhầm lẫn liên quan đến nội dung của giao dịch mà không quy địnhmức độ, tính chất của nhầm lẫn Thật ra pháp luật của nhiều nước không quy địnhnhững tiêu chí để xác định một sự nhầm lẫn nào đó là nghiêm trọng hay khôngnghiêm trọng, mà việc xác định này tuỳ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thểcũng như khả năng nhận biết của chủ thể về đối tượng nhầm lẫn Tuy nhiên khácvới pháp luật Việt Nam, sự thừa nhận án lệ của pháp luật nhiều nước có thể giảiquyết được vấn đề đặt ra Nhầm lẫn chỉ có ý nghĩa nếu nó là động lực chủ yếu đểbên bị nhầm lẫn ký kết hợp đồng Với tư cách là động lực chủ yếu nhầm lẫn chỉđược xem xét nếu nó là cơ sở duy nhất để bên bị nhầm lẫn ký hợp đồng Nếu còn cókhả năng ký hợp đồng với những điều kiện khác thì không thể coi nhầm lẫn là độnglực chủ yếu Thực tiễn xét xử của nhiều nước không coi hợp đồng vô hiệu nếu nhầmlẫn là do động cơ thông thường Nhầm lẫn có ý nghĩa pháp lý chỉ trong trường hợp,nếu sự nhầm lẫn đó có liên quan đến đặc tính, vì nó mà các bên đạt được sự thoảthuận một cách trực tiếp Có thể nhận thấy, việc pháp luật Việt Nam không quyđịnh rõ ràng nhầm lẫn đến mức nào thì có ý nghĩa pháp lý trong xác định hiệu lựccủa hợp đồng cộng với việc pháp luật không thừa nhận án lệ sẽ làm cho Toà ángặp nhiều khó khăn trong thực tiễn xét xử Bởi lẽ khó có tìêu chí rõ ràng đánh giámức độ nghiêm trọng của nhầm lẫn Trong vụ kiện giữa Công ty Việt Á Châu vàCông ty Connell Bros theo hợp đồng Công ty Connell Bros bán cho Công tyViệt Á Châu sản phẩm hoá chất Myflame 84527E Giữa các bên phát sinh tranhchấp liên quan đến chất lượng của Myflame 84527E Toà án tuyên bố hợpđồng vô hiệu do nhầm lẫn vì lý do sản phẩm Myflame 84527E được dùng chonguyên liệu vải Polyester và Oxphor nhưng lại ghi trong hợp đồng và trong hóa đơn
nhận hàng là chất Myflame 84527E dùng cho nguyên liệu PO (da thuộc) Có ý kiến
cho rằng, mặc dù cả hai bên có sự nhầm lẫn PO và PU, tuy nhiên sự nhầm lẫn nàykhông không có ý nghĩa pháp lý bởi không liên quan đến bản chất, đặc tính của