Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tài Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay ngân hàng thương mại có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế
là hệ thần kinh, trái tim của nền kinh tế, là dấu hiệu báo hiệu trạng thái sức khoẻcủa nền kinh tế Các ngân hàng mạnh, nền kinh tế mạnh Ngược lại, các ngân hàngyếu, nền kinh tế sẽ yếu kém Thậm chí nếu ngân hàng đổ vỡ nền kinh tế sẽ lâm vàokhủng hoảng và sụp đổ Với tư cách là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi
và tiến hành các hoạt động cho vay và đầu tư NHTM đã thâm nhập vào mọi lĩnhvực kinh tế - xã hội như là người mở đường, người tham gia, người quyết định đốivới mọi quá trình sản xuất kinh doanh NHTM ngày càng đóng vai trò là trung tâmtiền tệ, tín dụng và thanh toán của các thành phần kinh tế, là định chế tài chínhquan trọng nhất của nền kinh tế
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Trong sốcác nghiệp vụ kinh doanh của mình thì tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu vàcũng là nội dung chủ yếu của bản thân các nhân viên của toàn hệ thống Đây lànghiệp vụ tạo ra lợi nhuận cao nhất, nó chiếm khoảng 2/3 lợi tức nghiệp vụ ngânhàng có từ tiền lãi cho vay Nhưng đây cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ronhất Có vô số các rủi ro khác nhau khi cho vay, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thểdẫn đến việc không chi trả được nợ khi đến hạn làm cho ngân hàng bị phá sản gâyảnh hưởng nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế
Quá trình phát triển của Việt Nam theo hướng CNH-HĐH theo chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của Đảng, Nhà nước đòi hỏi việc triển khaingày càng nhiều các dự án đầu tư, với nguồn vốn trong và ngoài nước, thuộc mọithành phần kinh tế Trong đó, nguồn vốn cho vay theo dự án đầu tư của NHTMngày càng phổ biến, cơ bản và quan trọng đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp vàChính phủ Đó cũng đặt ra một thách thức không nhỏ đối với các NHTM về sự antoàn và hiệu quả của nguồn vốn cho vay theo dự án Bởi vì, các dự án đầu tưthường đòi hỏi số vốn lớn, thời gian kéo dài và rủi ro rất cao Để đi đến chấp nhậncho vay, thì thẩm định dự án đầu tư về mặt tài chính dự án đầu tư là khâu quantrọng, quyết định chất lượng cho vay theo dự án của ngân hàng Thẩm định tàichính dự án đầu tư ngày càng có ý nghĩa vô cùng to lớn, đảm bảo lợi nhuận, sự an
Trang 2Những năm vừa qua, mặc dù các NHTM đã chú trọng đến công tác thẩm địnhnhưng nhìn chung kết quả đạt được chưa cao, chưa đem lại cho nền kinh tế một sựphát triển xứng đáng Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Sở giao dịch 1 Ngân
hàng Công thương Việt Nam , em đã chọn đề tài: " Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tài Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam"
Với những kiến thức tích luỹ được trong thời gian thực tập thực tế tại Chinhánh và trong thời gian học tập tại trường, em mong muốn sẽ đóng góp một phầncông sức để hoàn thiện và nâng cao chất lượng thẩm định dự án nói chung và chấtlượng thẩm định tài chính dự án nói chung tại Chi nhánh
Chuyên đề thực tập bao gồm 2 chương:
Chương 1: Thực trạng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam
Chương 2: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương VN
Do giới hạn về trình độ, kinh nghiệm và thời gian tìm hiểu thực tế, vì vậy bàiviết của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được sựđóng góp giúp đỡ, đóng góp ý kiến và chỉ bảo tậm tình của các thầy cô giáo và các
cô, chú cán bộ tại Chi nhánh để bài viết thêm hoàn thiện
Trang 3Chương 1: Thực trạng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở
giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam
1.1 Khái quát về Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm
1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Là Ngân hàng thươngmại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam. Có hệthống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 3 Sở Giao dịch, 141 chi nhánh và trên
700 điểm/phòng giao dịch. Có 4 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuêTài chính, Công ty TNHH Chứng khoán, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tàisản, Công ty TNHH Bảo hiểm và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệThông tin và Trung tâm Thẻ, Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Làsáng lập viên và đối tác liên doanh của Ngân hàng INDOVINA. Có quan hệ đại
lý với trên 850 ngân hàng lớn trên toàn thế giới. Ngân hàng Công thương ViệtNam là một Ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO9001:2000. Là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội các ngânhàng Châu Á, Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT),
Tổ chức Phát hành và Thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế. Là ngân hàngtiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và thương mại điện tử tạiViệt Nam. Ngân hàng Công thương không ngừng nghiên cứu, cải tiến các sảnphẩm, dịch vụ hiện có và phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng cao nhấtnhu cầu của khách hàng
Sở giao dịch I Ngân hàng Công thương Việt Nam là một chi nhánh lớncủa Ngân hàng Công thương, là đơn vị hạch toán phụ thuộc của Ngân hàngCông thương Việt Nam, được thành lập lại theo quyết định 134-HĐQT về việcsắp xếp lại tổ chức và hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch 1 Trong nhữngnăm: từ 1988 đến tháng 7 năm 1993, Sở giao dịch có tên là trung tâm giao dịchNgân hàng Công thương thành phố Sau pháp lệnh ngân hàng, thực hiện điều lệcủa Ngân hàng Công thương Việt Nam ngày 1/7/1993, Trung tâm giao dịchNgân hàng Công thương thành phố được giải thể và đổi thành Sở giao dịch
Trang 4quyền tự chủ trong kinh doanh, có con dấu riêng và được phép mở tài khoản củangân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác
Là một trong 3 sở giao dịch của hệ thống Ngân hàng Công thương ViệtNam, Sở giao dịch I hoạt động như một ngân hàng thương mại, có vai trò quantrọng vào bậc nhất trong hệ thông ngân hàng, đây là nơi đầu tiên nhận các quyếtđịnh, chỉ thị, thực hiện thí điểm các chủ trương chính sách của Ngân hàng Côngthương Việt Nam, đồng thời được Ngân hàng Công thương Việt Nam uỷ quyềnlàm đầu mối cho các chi nhánh phía Bắc trong việc thu chi ngoại tệ mặt, séc dulịch, visacard, mastercard
Sở Giao dich 1 thực hiện nhiều chức năng và nhiều lĩnh vực hoạt động Như
Huy động vốn : nhận tiền gửi tiết kiệm với nhiều hình thức phong phú và hấp
dẫn Cho vay, đầu tư: ngắn hạn, trung, dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ, Thực
hiện thanh toán xuất khẩu, nhập khẩu; nghiệp vụ chiết khấu, và cho vay hợpvốn đối với những dự án lớn, thời gian hoàn vốn dài, cho vay tài trợ theo sự ủythác của Chính phủ, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Thực hiện các
nghiệp vụ Bảo lãnh, Thanh toán và Tài trợ thương mại Mua, bán ngoại tệ
Mua, bán các chứng từ có giá Thu, chi hộ tiền mặt VNĐ và ngoại tệ.Cho thuêkét sắt; cất giữ bảo quản vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá, bằng phát minh sángchế…
Ngòai ra Sở giao dịch 1 còn có một số hoạt động khác như: Khai thác bảo
hiểm nhân thọ, phi nhân thọ Tư vấn đầu tư và tài chính Cho thuê tài chính Môigiới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn, lưu kýchứng khoán Tiếp nhận, quản lý và khai thác các tài sản xiết nợ qua Công tyQuản lý nợ và khai thác tài sản
1.1.2 Cơ cấu tổ chức
Căn cứ quyết định số 359/QĐ-HĐQT-NHCT ngày 23/1/2005 của chủ tịchhội đồng quản trị Ngân hàng Công thương Việt Nam về việc ban hành quy chế tổchức và hoạt động của Sở giao dịch 1, chi nhánh Ngân hàng Công thương ViệtNam
Theo quyết định số 36/QĐ-TCHC ngày 15/6/2006 có hiệu lực từ ngày
Trang 51/6/2007 mô hình tổ chức tại Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương bao gồm:
- Giám đốc Sở giao dịch
Điều hành hoạt động của Sở, phòng giao dịch đúng pháp luật, đúng thể lệ,chế độ của ngân hàng nhà nước và của Ngân hàng Công thương
Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Sở được quy định theo quy chế
Quản lý nhân sự các nhiệm vụ của Sở theo quy định của Ngân hàng Côngthương, Kiến nghị và chủ động đề xuất với Tổng Giám Đốc Lập kế hoạch kinhdoanh cho Sở phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương và chiến lượckinh doanh của Ngân hàng Công thương
Kiểm tra, giám sát, đôn đốc các bộ phận nghiệp vụ, nhân viên dưới quyền,các đơn vị trực thuộc ( nếu có) về việc thực hiện nghiệp vụ, chấp hành các chínhsách, chế độ của Nhà nước, thể lệ, chế độ của Ngân hàng nhà nước và của Ngânhàng Công thương Báo cáo lên ban Tổng Giám Đốc nội dung các vụ việc vềtham nhũng, tieu cực (nếu có) tại đơn vị
Hệ thống các phòng ban của sở giao dịch 1, gồm các phòng sau
Phòng khách hàng số 1: Là nơi tiếp nhận các hồ sơ của các doanh nghiệp lớn,
thực hiện và khai thác các khoản tín dụng từ những khách hàng lớn Đề xuất vàcải tiến các nghiệp vụ hiện có, cung cấp những sản phẩm dịch vụ mới…
Phòng khách hàng số 2: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với các khách
hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thực hiện các nghiệp vụ về tín dụng,quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướngdẫn của Ngân hàng Công thương Việt Nam Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giớithiệu và bán sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phòng khách hàng cá nhân: là nơi giao dịch với các khách hàng là các cá
nhân, các tổ sản xuất…
Phòng kế toán tài chính: giúp cho Giám đốc thực hiện công tác quản lý tài
chính đồng thời thực hiện nhiệm vụ chi tiêu nội bộ tại sở theo đúng quy định củaNhà nước và của Ngân hàng Công thương Việt Nam
Trang 6quản lý rủi ro tín dụng và quản lý nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro Quản lý giám sátcác danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo các giới hạn tín dụng cho từng kháchhàng Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấptín dụng Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạtđộng ngân hàng theo chỉ đạo của Ngân hàng Công thương Việt Nam Là đầumối khai thác và quản lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của Nhà nước.
Phòng tổ chức hàng chính: là phòng tác tổ chức cán bộ và đào tạo lại tại Sở
giao dịch 1 theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước và quy định củaNgân hàng Công thương Việt Nam Quản trị văn phòng phục vụ hoạt động kinhdoanh tại Sở, thực hiện công tác bảo bệ, an ninh an toàn tài chính
Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Giám đốc
Phòng
kế toán tài chính
Phòng tiền tệ kho quý
Phó Giám đốc
Phòng
tổ chức hành chính
Phòng thông tin điện toán
Phòng tổng hợp
Ban kiểm toán nội bộ
Trang 7 Phòng kế toán giao dịch: thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng.Các nghiệp vụ, công việc lien quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội
bộ tại Sở, cung cấp cá dịch vụ ngân hàng lien quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử
lý hạch toán các giao dịch Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giaodịch trên máy, quản lý kho tiền và quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theođúng quy định của Nhà nước và Ngân hàng Công thương Việt Nam Thực hiệnnhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm Ngân hàng
Phòng thanh toán xuất nhập khẩu: Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện
nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại Sở theo quyđịnh của Ngân hàng Công thương Việt Nam
Phòng tiền tệ kho quỹ: Là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý
quỹ tiền mặt theo quy định của Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng Công thươngViệt Nam, ứng và thu tiền cho các Quỹ tiết kiệm, các Điểm giao dịch trong vàngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn
Phòng thông tin điện toán: thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông
tin điện toán tại chi Sở Bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạtđộng của hệ thống mạng, máy tính của Sở
Phòng tổng hợp: Là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám đốc dự kiến kế
hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh,thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của Sở
1.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh trong thời gian qua
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã dần đi vào ổn định và pháttriển Sự ổn định về chính trị và những thành công trong hoạt động đối ngoại đãtạo điều kiện cho nước ta trở thành địa chỉ tin cậy cho các nhà đầu tư nướcngoài Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước đã cónhững thay đổi lớn theo thông lệ quốc tế, đặc biệt là lãi suất và tỉ giá đã tạo môitrường thuận lợi, khiến cho hoạt động ngân hàng ngày càng sôi động
Tuy nhiên, nước ta vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức doảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu Hoạt động của nền kinh tế còn kém
Trang 8đó là: sản phẩm cạnh tranh thấp, giá cả các mặt hàng xuất khẩu chiến lược nhưnông sản, dầu thô, cà phê liên tục giảm.
Trong bối cảnh đó, có thể nói tình hình hoạt động của Sở giao dịch 1 trongnhững năm qua đã đạt được những kết quả đáng kể Sau nhiều bước đổi mớihiệu quả, bám sát sự chỉ đạo của Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàngNhà nước thành phố Hà Nội, cấp ủy, chính quyền địa phương, với sự hợp tácgiúp đỡ của bạn hàng, Sở giao dịch 1 đã nỗ lực phấn đấu vươn lên phát triểnkinh doanh, chống chọi được những khó khăn chung trong ngành ngân hàng, đạtđược những kết quả đáng khích lệ và ngày càng có uy tín với khách hàng
Bảng 1.1 Kết quả kinh doanh của Sở Giao dịch 1 NHCTVN một số năm
( Đv: triệu đồng)
( Nguồn: báo cáo tổng kết thường niên của Sở giao dịch)
Do cuộc khủng hoảnh kinh tế toàn cầu, lợi nhuận của Sở giao dịch 1 Ngânhàng Công thương có xu hướng giảm, nhưng mức giảm thấp, cuộc khủng hoảnhảnh hưởng lớn đến tình hinh kinh tế của Việt Nam nói chung và hệ thống ngânhàng nói riêng, trong đó có Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt nam.Trong thời kỳ khủng hoảng, tuy Ngân hàng Công thương không hứng chịu trựctiếp, nhưng khủng hoảng đã gián tiếp tác động doanh thu cũng như chi phí, làmcho lợi nhuận suy giảm Nhưng nhìn vào bảng chỉ tiêu thì ta thấy múc suy giảmlợi nhuận là không đáng kể Tuy giảm về lợi nhuận nhưng với lợi nhuận đạtđược khoảng 331 tỷ đồng, đây là mức lợi nhuận cao mà nhiều Ngân hàng khóđạt được Điều này chứng tỏ Sở đang có chiến lược kinh doanh hợp lý và làm ănhiệu quả Doanh thu hoạt động trong năm 2008 đạt khoản 1539 tỷ đồng, tăng5,7% so với năm 2007
Trang 9Sau đây là một số hoạt động kinh doanh chính của sở giao dịch 1 Ngânhàng Công thương Việt Nam.
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn.
Huy động vốn tại sở giao dich 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam trong 3năm 2006, 2007, 2008 diễn ra phức tạp, một số chỉ tiêu tăng giảm đột biến, cơcấu nguồn huy động có sụ thay đổi mạnh mẽ Đặc biệt trong 2 năm 2007, 2008các thành phần nguồn vốn thay đổi rõ riệt Năm 2007 hầu hết các khoản nguồnvốn đều giảm, chỉ có nguồn huy động từ các doanh nghiệp tăng, và mức tăngtương đối lớn, tăng 2876 tỷ đồng (29,2%) Còn tiền gửi của dân cư giảm 578 tỷdồng (14.5%), và đặc biệt năm 2007 sự suy giảm nguồn huy động rất lớn từ tiềngửi của các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác, với mức giảm 3028 tỷ đồng( 84%) Nguyên nhân của sự tăng giảm thất thường là do năm 2007, nước tađang trong tình trạng lạm phát nặng nề, chịu ảnh hưởng của các sự kiện chính trịcũng như kinh tế trên thế giới Lạm phát cao làm giá cả hàng hóa tăng, đồng tiềnmất giá, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn Và cũngtrong thời gian này, thị trường chứng khoán đang sôi động, dân cư cũng như các
tổ chức kinh tế khác rút tiền đầu tư chứng khoán Để huy động được vốn, hoặckhông muốn vốn từ ngân hàng mình chạy sang các ngân hàng khác, thì phảinâng lãi suất huy động sát với diễn biến của thị trường vốn Một cuộc chạy đualãi suất huy động ngoài mong đợi tại hầu hết các ngân hàng (17% - 18%/nămcho kỳ hạn tuần hoặc tháng), luôn tạo ra mặt bằng lãi suất huy động mới, rồi lạitiếp tục cạnh tranh đẩy lãi suất huy động lên
mức tăng trưởng cao trong bối cảnh hầu hết các ngân hàng thương mại đều tănglãi suất huy động để thu hút nguồn vốn Tiền gửi theo đồng nội tệ cũng nhưngoại tệ đều tăng, mức tăng tiền gủi theo VND là 4.2%(595 tỷ đồng), theo ngoại
tệ là 25.6% (627 tỷ đồng) Nhưng lượng tiền gửi doanh nghiệp và của dân cư lạigiảm, tiền gửi doanh nghiệp năm 2007 tăng 29.2% thì năm 2008 lại giảm 42%,còn tiền gửi của khu vực dân cư tiếp tục giảm 12.3% so với năm 2007 Và đặcbiệt tiền gửi của các tổ chức tín dụng và tổ chức khác lại tăng mạnh 6998 tỷđồng (tăng gấp hơn 12 lần) Nói chung năm 2008, nguồn huy động của Sở giao
Trang 10thực sự là một áp lực lớn với Ngân hàng, làm sao vừa giữ được thị phần, vừatăng thêm được nguồn vốn, trong khi khách hàng lại có quá nhiều cơ hội đểlựa chọn và tìm kiếm lợi ích ở các ngân hàng Với tổng nguồn vốn lớn và ổnđịnh, Ngân hàng có đủ khả năng để đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của kháchhàng, đồng thời chuyển vốn về Ngân hàng Công thương Việt Nam góp phầnđiều hoà toàn hệ thống và tham gia thị trường vốn.
Bảng 1.2: Tình hình hoạt động huy động vốn của Sở giao dịch 1 Ngân hàng
Trang 111.1.3.2 Hoạt động tín dụng.
Đây luôn là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất của Sở giao dịch 1 Ngânhàng Công thương, là cơ sở để tiến hành và thúc đẩy các hoạt động khác pháttriển Trong những năm qua, cùng với việc sàng lọc nhằm nâng cao thêm mộtbước chất lượng dư nợ đối với các khách hàng truyền thống, Ngân hàng đã tiếptục công tác tiếp thị, tìm đến với những khách hàng mới, các dự án khả thi đểthay đổi cơ cấu dư nợ theo hướng giảm thiểu rủi ro
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Công thương Việt Nam luôn diễn ra sôiđộng, và Sở giao dịch cũng vậy Khối lượng dư nợ cho vay tại sở không ngừnggia tăng trong 3 năm 2006, 2007, 2008 Tổng dư nợ cho vay năm 2007 tăng 12%
so với năm 2006, và năm 2008 tăng 25% so với năm 2007 Trong đó lượng tăng
về dư nợ ngắn hạn là đáng kể, và cho vay ngắn hạn trong năm 2008 đạt 1592 tỷđồng tăng 58% so với năm 2007, đây là sự gia tăng lớn Và cơ cấu của cho vayngắn hạn so với nợ dài hạn cũng chuyển biến, cho vay ngắn hạn tăng mạnhtrong khi dư nợ dài hạn có xu hướng giảm, điều này phản ánh tình hình kinh tế
xã hội của Việt Nam giai đoạn này Lạm phát cao, đẩy lãi suất cho vay cũngtăng chót vót, lãi suất cao chưa từng có, đây là điều bất thường, và lượng chovay dài hạn là những khoản tín dụng mạo hiểm mà Sở giao dịch cần có chínhsách hạn chế Những khoản cho vay ngắn hạn vào lúc này là hợp lý, và nên duytrì lãi suất thấp trong dài hạn, khi mà đầu tư dài hạn chúa đựng đầy rủi ro Cũng
vì tình hình khinh tế xã hội đó mà lượng dư nợ đồng nội tệ giảm mạnh và dư nợngoại tệ có xu hướng tăng Năm 2007 cho vay ngoại tệ tăng 31% và cho vay nội
tệ chỉ tăng 3% so với 2006, Nhưng năm 2008 cho vay nội tệ lại có sự gia tăng( lên 21% so với 2007), sự gia tăng này nhằm cân bằng cơ cấu cho vay theongoại tệ trong ngân hàng, cơ cấu đó là khoảng 61-63 % lượng cho vay nội tệ, và37-39% cho vay ngoại tệ Tỷ trọng cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nước
và ngoài quốc doanh vân duy trì ổn định trong 2 năm 2007, 2008 (75% cho vaydoanh nghiệp quốc doanh, 25 % cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh) Đểduy trì cơ cấu này thì năm 2007 Sở tăng lượng cho vay đối với doanh nghiệpnhà nước tăng 12%, cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 9%, còn năm
Trang 122008 lần lượt tăng 24% và 28% Trong bối cảnh sự tăng trưởng quá nóng và bất
thường của nền kinh tế thì khoản cho vay không có đảm bảo giảm xuống
mạnh(14%) và hầu hết các khoản cho vay đều có tài sản đảm bảo
Bảng 1.3 Tình hình hoạt động của Sở Giao dịch 1 Ngân hàng Công thương.
Tỷ trọng (%) Tăng so 2006 Tổng số Tỷ trọng (%) Tăng so
những thay đổi nhất định trong cơ cấu huy động vốn cũng như hoạt động tín dụng
Sư thay đổi này là hợp lý giúp ngân hàng đứng vững trong thời buổi khó lường về
mọi mặt của nền kinh tế
Trang 131.2 Thực trạng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam
1.2.1 Sự cần thiết của việc thẩm định tài chính dự án đầu tư
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động tín dụng là chủ yếu vàphải đối mặt với vô số những rủi ro, có thể gây thiệt hại lớn cho ngân hàng Dovậy để tồn tại, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với đặc điểm
là tự do cạnh tranh và tính cạnh tranh lại rất cao, thì Ngân hàng cũng như cácpháp nhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải phápcho riêng mình để ngăn ngừa các rủi ro có thể nẩy sinh Thẩm định dự án đầu tưtrong công tác hoạt động của Ngân hàng chính là một trong những biện pháp cơbản nhằm phòng ngừa rủi ro trong quá trình cho vay vốn đầu tư tại Ngân hàng.Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, đánh giá toàn diện các khía cạnhcủa một dự án đầu tư để ra các quyết định đầu tư cho phép đầu tư hoặc tài trợ
Thẩm định dự án xét trên các mục tiêu khác nhau sẽ có những nội dung cần
chú ý khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng thẩm định Như Về phía nhà đầu tư :
Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúpdoanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc đưa
ra những ý kiến xác đáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn
Hay Về phía xã hội và các cơ quan hữu quan : các quyết định phải tiến hành
kiểm tra, thẩm định dự án, so sánh các dự án với nhau để lựa chọn được đầu tư
là dự án mang lại hiệu quả cao nhất cho xã hội Hiệu quả được nhắc đến ở đâykhông chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khácnhư giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khảnăng cạnh tranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường.Công tác thẩmđịnh dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá chính xác sựcần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phương diện: mục tiêu, quy
hoạch, quy mô và hiệu quả Về phía Ngân hàng Để có một khoản vay chất lượng
là điều mong muốn và mục tiêu hoạt động của các ngân hàng Nhưng nó là mộtđiều cực kỳ khó khăn vẫn có những thất bại khi cho vay vì thực tế vận động xã
Trang 14dẫn đến những hiểu biết sai lệch Đứng trước những rủi ro đó thì ngân hàng phảiluôn cân nhắc đắn đo, xem xét và bằng những nghiệp vụ phải xác định nhữngkhách hàng tốt, khoản xin vay có chất lượng khi quyết định cho vay hạn chế đếnmức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.
Trong quá trình thẩm định dự án đầu tư, để làm sao có cái nhìn khách quan vàđúng đắn trước khi quyết định cho vay, Ngân hàng phải xem xét mọi mặt, xét trên tất
cả các phương diện ngân hàng thương mại với tư cách là người cho vay, tài trợ cho dự
án đầu tư đặc biệt quan tâm đến khía cạnh thẩm định tài chính dự án, nó có ý nghĩaquyết định trong các nội dung thẩm định Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọngnhất của ngân hàng thương mại Thành công của một ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếuvào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công tín dụng, xuất phát từ chính sáchcho vay của ngân hàng Trong các hoạt động cho vay của ngân hàng thì cho vay theo
dự án được ngân hàng đạc biệt quan tâm vì nó đòi hỏi vốn lớn, thời hạn kéo dài và rủi
ro cao nhưng lợi nhuận cao Vô số các rủi ro khác nhau khi cho vay nói chung và chovay theo dự án nói riêng, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đến việc không chitrả được nợ khi đến hạn Do đó để quyết định có chấp nhận cho vay hay không, ngânhàng cần phải coi trọng phân tích tín dụng nói chung và thẩm định tài chính dự án nóiriêng Thông qua việc thẩm định này, ngân hàng có cái nhìn toàn diện về dự án đánhgiá về như cầu tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguôn vốn và tình hình sử dụng nguồn vốn,hiệu quả tài chính mà dự án mang lại cũng như khả năng trả nợ của dự án
Với mục tiêu hoạt động là an toàn và sinh lời, do đó Ngân hàng chỉ cho vayđối với các dự án có hiệu quả tài chính tức là dự án mang lại lợi nhuần và khảnăng trả nợ thì ngân hàng mới có thể thu hồi được gốc và lãi, khoản cho vay mớiđảm bảo, Ngân hàng mới có được khoản vay có chất lượng
1.2.2 Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư
Ngân hàng Công thương Việt Nam đã soạn thảo quy trình cho vay và quản
lý tín dụng với mực dịch giúp cho quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoahọc nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng đáp ứngtốt nhất nhu cầu vay vốn cho các dự án Sau đây là quy trình thẩm định cho vaydoanh nghiệp của Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam
Trang 151.2.2.1 Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn
Cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ của khách hàng và hướng dẫn cung cấp thôngtin cho khách hàng về hồ sơ, quy trình và quy định của Ngân hàng mà khách hàngphải đáp ứng về điều kiện vay vốn và tư vấn những vấn đề liên quan
Sau khi kiểm tra, nếu hồ sơ của khách hàng đầy đủ, cán bộ tín dụng báo cáotrưởng phòng tín dụng và tiếp tục các bước trong quy trình
1.2.2.2 Thẩm định các điều kiện vay vốn
+ Kiểm tra hồ sơ vay vốn và mục địch vay vốn:
Cán bộ tín dụng kiểm tra hồ sơ vay vốn như: xác minh quyền hạn, tráchnhiệm của các bên thông qua các biên bản, hợp đồng liên doanh, xác minh cácchức danh trong doanh nghiệp, xác định người đại diện…Cán bộ tín dụng xemxét tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ, xem xét báo cáo tài chính và phương án sảnxuất kinh doanh, dự án đầu tư, khả năng trả nợ, nguồn trả và kiểm tra về sự phùhợp ngành nghề kinh doanh Kiểm tra mục đích vay vốn: thuộc đối tượng chovay không, mục đích có hợp pháp không…
+ Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin về khách hàng và phương án sản xuấtkinh doanh, dự án đầu tư
Cán bộ tín dụng tìm hiểu thêm về ban lãnh đạo, tình trạng nhà xưởng, máymóc thiết bị, kỹ thuật, quy trình công nghệ, tình trạng hoạt động sản xuất kinhdoanh, tài chính của khách hàng, đánh giá tài sản đảm bảo Về phương án sảnxuất kinh doanh, dự án đầu tư cần tìm hiểu giá cả, tình hình cung cầu trên thịtrường đối với các tếu tố đầu vào đầu ra mà dự án tạo ra, kinh nghệm năng lựctriển khai, khả năng quản lý và thực hiện của dự án
+ Kiểm tra xác minh thông tin như: hồ sơ vay vốn trước đây và hiện tại củakhách hàng, thộng tin về khách hàng qua bạn hàng qua cơ quan quản lý, qua cácTrung tâm thông tin…
+ Ngoài ra chúng ta còn phân tích ngành nghề kinh doanh hoạt động của dự án,
từ nhưng chi số, những thông tin qua phân tich nghành chúng ta thấy được khả
Trang 16Bảng 1.4: Quy trình thẩm đỊnh tín dụng tại Sở Giao dịch 1 NHCTVN Khách
hàng Phòng khách
hàng
Cán bộ phụ trách nguồn vốn
Phòng khác
Phòng thanh toán xuất nhập khẩu
Phòng
kế toán Giám đốc Hội đồng
tín dụng
Tham gia khi
có dề nghị
-Nguồn vốn -Hiệu quả dự án -Kế hạch trả nợ
Xét duyệt cho vay Thông
báo tới
khách
hợp đồng
Chuẩn
bị hợp
đồng
Trang 18+ Thẩm định tư cách và năng lực pháp lý, năng lực điều hành, năng lực quản lýsản xuất kinh doanh, mô hình tổ chức, bố trí lao động trong doanh nghiệp.
+ Phân tích đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tài chính, đánh giá cácquan hệ với các tổ chức tài chính như: dư nợ ngắn, trung và dài hạn, doanh sốcho vay, thu nợ, diễn biến các khoản vay, mưc độ tín dụng và vòng quay của nó.+ Dự kiến lợi ích của ngân hàng nếu khoản vay được phê duyệt: cán bộ tín dụngtính các khoản lãi phí các lợi ích có thể thu được, phải xem xét các lợi ích mộtcách tổng thể khi thiết lập quan hệ tín dụng với khách hàng
+ Phân tích thẩm định phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư đưa ra kếtluận về tính khả thi, hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ và các rủi ro có thể xảy raphục vụ cho viêc quyết định cho vay hoạc từ chối cho vay, là cơ sở cho cán bộ tíndụng góp ý, tư vấn cho khách hàng vay , tạo tiền đề bảo đảm hiệu quả cho vay, thuđược nợ gốc đúng hạn, hạn chế phòng ngừa rủi ro, là cơ sở xác định số tiền chovay, thời gian , tiến độ giải ngân;… Và thẩm định tài sản đảm bảocho khoản vay.+ Xem xét phương thức cho vay: Lựa chọn phương thức cho vay phải phù hợpđặc diểm sản xuất kinh doanh và luân chuyển vốn của khách hàng
1.2.2.3 Thẩm định tài chính: Xem xét khả năng nguồn vốn, điều kiện thanh toán và xác định lãi suất cho vay
Cán bộ tín dụng xét khả năng nguồn vốn và phối hợp với bộ phận phụ tráchnguồn vốn để cân đối nguồn vốn với những khoản vay lớn, dự tính khả năngchuyể đổi ngoại tệ đối với những khoản vay thanh toán ngoại tệ
Cán bộ tín dụng tổn hợp các số liệu để tính toán và xác định lãi suất cho vay ápdụng cho khoản vay, xác định điều kiện thanh toán và hình thức thanh toán
1.2.2.4 Lập tờ trình thẩm định cho vay
Tờ trình của cán bộ tín dụng và thẩm định dự án được đưa lên trưởng phòngtín dụng các nội dung đã thẩm định
1.2.2.5 Tái thẩm định khoản vay
Ít nhất hai cán bộ tham gia tái thẩm định, có ít nhất một phó phòng tín dụng
là thành viên, tổ thẩm định xem xét lại toàn bộ hồ sơ vay vốn một cách độc lập,mọi sự khác biệt phải được đưa ra xem xét
Trang 191.2.2.6 Duyệt cho vay, ký hợp đồng, giải ngân và Kiểm tra giám sát, thu lãi và
gốc, thanh lý hợp đồng, lưu giư hồ sơ
Quy trình này có thể được trình bày theo sơ đồ
1.2.3 Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư
Sở giao dịch 1 là ngân hàng có nhiều sản phẩm dịch vụ trong hoạt động kinhdoanh, vì thế ngân hàng phải có phương pháp thẩm định phù hợp cho từng kháchhàng tín dụng với nhứng dự án khách nhau Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy
đủ và chính xác khi có phương pháp thẩm định khoa học kết hợp với các kinhnghiệm quản lý thực tiễn và nguồn thông tin đáng tin cậy Việc thẩm định dự án
có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình thẩm định, tuỳthuộc vào nội dung và yêu cầu đối với dự án Sau đây là những phương phápthẩm định mà Sở giao dịch có thể sử dung trong quá trình thẩm định tín dụng
- Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đang đòi hỏi
- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư…
- Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công,tiền lương, chi phí quản lý… của ngành theo các định mức kinh tế - kỹ thuậtchính thức hoạc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế
- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư
- Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo hiệnhành của nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại
- Các chỉ tiêu mới phát sinh…
Trang 20Trong việc sử dụng các phương pháp so sánh cần lưu ý các chỉ tiêu dùng đểtiến hành so sánh cần phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụthể của từng dự án và doanh nghiệp Cần hết sức tranh thủ ý kiến của các cơquan chuyên môn, chuyên gia (kể cả thông tin trái ngược) Tránh khuynh hướng
so sánh máy móc, cứng nhắc, dập khuôn
1.2.3.2 Phương pháp thẩm định theo trình tự
Trong phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo mộttrình tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề chokết luận sau
- Thẩm định tổng quát: là việc xem xét một cách khái quát các nội dung cơ bảnthể hiện tính pháp lý, tính phù hợp, tính hợp lý của dự án Thẩm định tổng quát chophép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng của dự án trongchiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xác định các căn cứ pháp lý của
dự án đảm bảo khả năng kiểm soát được của bộ máy quản lý dự án dự kiến
- Thẩm định chi tiết: là việc xem xét một cách khách quan, khoa học, chi tiếttừng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả, tínhhiện thực của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật công nghệ,môi trường, kinh tế… phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trongtừng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trong giai đoạn thẩm định chi tiết, cần đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ýhay sửa đổi bổ xung hoặc không thể chấp nhận được Khi tiến hành thẩm địnhchi tiết sẽ phát hiện được các sai sót, kết luận rút ra từ nội dung trước có thể bác
bỏ toàn bộ dự án mà không cần đi vào thẩm định các nội dung còn lại của dự án
1.2.3.4 Phương pháp thẩm định dựa trên việc phân tích độ nhạy của dự án.
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tàichính của dự án Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bấttrắc có thẩy xảy ra trong tương lai đối với dự án rồi khảo sát tác động của nhữngyếu tố đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án
Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc là tuỳ thuộc vào điều kiện cụthể ở đây, ta nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệuquả của dự án để xem xét Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong trường
Trang 21hợp có nhiều bất trắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án vững chắc, có độ
an toàn cao Trong trường hợp ngược lại thì cần phải xem xét lại khả năng phátsinh bất trắc đề xuất kiến nghị các biện pháp hữu hiệu để khắc phục hay hạn chế
1.2.3.5 Phương pháp dự báo.
Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo, điều tra thống kê để kiểmtra cung cầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của côngnghệ, thiết bị, nguyên liệu… ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính khả thi của
dự án
1.2.3.6 Phương pháp triệt tiêu rủi ro
Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự
án đến khi đi vào khai thác, hoàn vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phátsinh ngoài ý muốn chủ quan Để đảm bảo tính vững chắc của dự án, người tathường dự đoán một số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hànhchính thích hợp, hạn chế thấp nhất các tác động của rủi ro hoặc phân tán rủi rocho các đối tác có liên quan đến dự án
Một số loại rủi ro bắt buộc phải có biện pháp xử lý như: đấu thầu, bảo hiểmxây dựng, bảo lãnh hợp đồng Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro quenthuộc nhất là bảo lãnh của ngân hàng, bảo lãnh của doanh nghiệp có tiềm lực tàichính và uy tín, thế chấp tài sản Để tránh tình trạng thế chấp tài sản nhiều lầnkhi vay vốn nên thành lập Cơ quan đăng ký quốc gia về giao dịch bảo đảm
1.2.4 Nội dung thẩm định dự án đầu tư
Công tác thẩm định dự án là khâu quan trọng trong thời kỳ chuẩn bị dự án, đượcthực hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án đã được thiết lập để ra quyết định đầu tư.Công tác thẩm định dự án gồm các bước: Thẩm định thị trường, thẩm định kỹ thuật,thẩm định tổ chức- quản lý dự án, thẩm định tài chính và thẩm định kinh tế - xã hội
1.2.4.1 Thẩm định thị trường
Là việc tiến hành phân tích các kết quả nghiên cứu thị trường nhằm đưa racác kết luận hợp lý, chính xác về thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án Thẩmđịnh thị trường là tiền đề cho việc thực hiện các bước thẩm định tiếp theo Thẩm
Trang 22định thị trường giúp nhà đầu tư lựa chọn mục tiêu, xác định rõ phương hướng vàquy mô của dự án.
Thẩm định thị trường bao gồm các nội dung sau:
- Thẩm định nhu cầu hiện tại và tương lai về sản phẩm của dự án trên thị trường dựkiến xâm nhập chiếm lĩnh: Xác định xem ai là khách hàng tiềm năng, ai là khách hàngmới, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong hiện tại và tương lai, mức gia tăng nhu cầu hàngnăm về sản phẩm của dự án
- Thẩm định các nguồn và các kênh đáp ứng nhu cầu: Mức độ đáp ứng nhu cầu hiệntại, xác định khối lượng sản phẩm của dự án dự kiến bán ra hàng năm
- Thẩm định các yếu tố về sản phẩm: Chất lượng, giá bán, quy cách, hình thức trìnhbày, dịch vụ sau khi bán sản phẩm của dự án…
- Thẩm định các vấn đề về tiêu thụ sản phẩm: Các cơ sở tiếp thị và phân phối sảnphẩm, chi phí cho công tác tiếp thị và phân phối sản phẩm, kênh phân phối dự kiến( bán trực tiếp, bán qua các đại lý ), phương thức thanh toán…
-Xem xét các vấn đề về cạnh tranh: Các đối thủ cạnh tranh, mức độ cạnh tranh trên thịtrường, lợi thế so sánh ( về chi phí sản xuất, kiểu dáng, chất lượng, giá cả…)và khảnăng thắng trong cạnh tranh của sản phẩm dự án
- Thẩm định mức độ thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của dự án trong suốt thờigian tồn tại
Nội dung của thẩm định kỹ thuật gồm:
- Mô tả sản phẩm sẽ sản xuất của dự án: Đặc điểm của sản phẩm chính, sảnphẩm phụ, chất thải; các tiêu chuẩn chất lượng cần phải đạt được là cơ sở choviệc nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật khác; các hình thức bao bì đóng gói, cáccông dụng và cách sử dụng của sản phẩm
Trang 23Các phương pháp và phương tiện để kiểm tra chất lượng sản phẩm, các yêucầu về chất lượng sản phẩm phải đạt được, dự kiến bộ phận kiểm tra chất lượng,các thiết bị và dụng cụ cần thiết cho việc kiểm tra, phương pháp kiểm tra, chiphí cho công tác kiểm tra.
- Xác định công suất của dự án: Xác định công suất bình thường có thể của dựán: Là số sản phẩm sản xuất trong một đơn vị thời gian để đáp ứng nhu cầu củathị trường mà dự án dự kiến sẽ chiếm lĩnh
Xác định công suất tối đa danh nghĩa của dự án: là số sản phẩm sản xuấttrong một đơn vị thời gian vừa đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường mà
dự án sẽ chiếm lĩnh, vừa để bù vào những hao hụt tổn thất trong quá trình sảnxuất, lưu kho, vận chuyển và bốc dỡ
Xác định công suất thực tế khả thi của dự án và mức sản xuất dự kiến quacác năm cần căn cứ vào nhu cầu thị trường, trình độ kỹ thuật của máy móc thiết
bị, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, chi phí sản xuất và chi phí vốn đầu tư
- Thẩm định công nghệ và phương pháp sản xuất: Lựa chọn trong các công nghệ vàphương pháp sản xuất hiện có loại nào thích hợp nhất đối với loại sản phẩm mà dự
án định sản xuất, phù hợp với điều kiện của máy móc, thiết bị cần mua sắm, vớikhả năng tài chính và các yếu tố có liên quan khác như tay nghề, trình độ quản lý…Tuỳ thuộc công nghệ và phương pháp sản xuất, đồng thời căn cứ vào trình độ tiến
bộ kỹ thuật, chất lượng và giá cả phù hợp với khả năng vận hành và vốn đầu tư,điều kiện bảo dưỡng, sửa chữa, công suất, tính năng, điều kiện vận hành, nănglượng sử dụng, điều kiện khí hậu… mà lựa chọn máy móc thiết bị thích hợp
- Xác định nguyên vật liệu đầu vào: Nguyên vật liệu đầu vào bao gồm tất cả cácnguyên vật liệu chính và phụ, vật liêu bao bì đóng gói Đây là một khía cạnh kỹthuật quan trọng của dự án
- Xem xét các điều kiện về cơ sở hạ tầng: Nhu cầu năng lượng, nước, giaothông, thông tin liên lạc của dự án phải được xem xét, nó có ảnh hưởng đến chiphí đầu tư và chi phí sản xuất hay không
Trang 24- Xem xét lựa chọn địa điểm thực hiện dự án: Các khía cạnh về địa lý, điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội, kỹ thuật… có liên quan đến sự hoạt động và hiệu quả hoạt động của dự án
- Thẩm định kỹ thuật xây dựng công trình của dự án: Tìm các giải pháp kỹ thuật xâydựng vừa đảm bảo yêu cầu sản xuất sau này, vừa rút ngắn được thời gian xây dựngcông trình, mau chóng đưa công trình vào sử dụng, vừa đảm bảo chi phí xây dựngcông trình phải căn cứ vào yêu cầu về đặc tính kỹ thuật của máy móc, thiết bị, dâychuyền sản xuất, cơ sở hạ tầng, cách tổ chức điều hành, nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu
và sản phẩm, về lao động sẽ sử dụng
- Thẩm định tiến độ thi công dự án: Việc lập lịch trình thực hiện dự án phải đảm bảo
dự án đi vào hoạt động đúng thời gian dự định
- Thẩm định vấn đề xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường: Xác định các chất thải cókhả năng gây ô nhiễm môi trường của dự án Lựa chọn phương pháp và phương tiện
xử lý chất thải căn cứ vào điều kiện cụ thể về luật bảo vệ môi trường tại địa phương,địa điểm và quy mô hoạt động của dự án, loại chất thải, chi phí để xử lý chất thải…
1.2.4.3 Thẩm định tổ chức, quản lý dự án.
Là việc phân tích mặt tổ chức, quản lý nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của dự án.Cần phân tích nội dung sau:
- Xây dựng bộ máy tổ chức, quản lý dự án đảm bảo các nguyên tắc sau:
Các mục tiêu của dự án phải được quy định và hiểu rõ
Thống nhất về chức năng
Tổ chức phải tinh gọn, mối quan hệ giữa các bộ phận phải rõ ràng
Mọi cá nhân phải thực hiện tốt các công việc thuộc trách nhiệm củamình
Mọi cá nhân đều có quyền hạn tương xứng với trách nhiệm được trao để có thể hoànthành nhiệm vụ của mình
Sự giám sát và lãnh đạo phải được xác lập đối với mọi hoạt động của dự án để đạtđược mục tiêu đã định
Quy định rõ phạm vi kiểm soát của các đơn vị
- Lao động và chính sách tiền lương:
Trang 25 Xác định nhu cầu về lao động: Căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật của sản xuất và hoạtđộng điều hành dự án.
Xác định nguồn lao động và chi phí tuyển dụng, đào tạo, chi phí tiền lương; Xácđịnh hình thức trả lương thích hợp, tính ra quỹ lương hàng năm cho mỗi loại lao động
và cho tất cả lao động của dự án
Đối với dự án mà trình độ khoa học kỹ thuật chưa đủ khả năng để tiếp nhận một số
kỹ thuật hoặc đảm nhiệm một số khâu công việc thì khi chuyển giao công nghệ sảnxuất phải thoả thuận với bên bán công nghệ đưa chuyên gia sang trợ giúp
- Phương pháp quản lý mua sắm vật tư, thiết bị, tiến độ dự án:
Lựa chọn đơn vị cung ứng
Quản lý chặt chẽ các điều kiện của hợp đồng mua hàng: điều kiện về thươngmại(số lượng, giá cả, thời gian giao hàng…), điều kiện về kỹ thuật
Quản lý kế hoạch mua sắm
Quản lý việc thực hiện dự án: Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án, xác địnhthời gian thực hiện các công việc, phương pháp giám sát tiến độ dự án
- Xác định các tiêu thức đánh giá kết quả thực hiện dự án: Chỉ tiêu hiệu qủa sửdụng nguyên vật liệu cho dự án, hiệu quả sử dụng lao động máy móc…
1.2.4.4 Thẩm định kinh tế - xã hội dự án.
Là đánh giá việc thực hiện dự án có những tác động gì đối với nền kinh tế và
xã hội Ta phải tiến hành xem xét những lợi ích kinh tế xã hội ròng do thựchiện dự án đem lại Lợi ích kinh tế xã hội ròng của dự án là chênh lệch giữacác lợi ích mà nền kinh tế và xã hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh
tế và xã hội đã phải bỏ ra khi thực hiên dự án
Lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đóng góp của dự án đối với việc thựchiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế Những lợi ích nàycó thểđược xem xét mang tính chất định tính như đáp ứng các mục tiêu phát triểnkinh tế, phục vụ việc thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước, gópphần chống ô nhiễm môi trường, cải tạo môi sinh…hoặc đo lường bằng cách
Trang 26tính toán định lượng như mức tăng thu cho ngân sách, mức gia tăng số người
có việc làm, mức tăng thu ngoại tệ…
Những chi phí mà xã hội phải bỏ ra cho việc thực hiện dự án cũng được xemxét trên khía cạnh mang tính chất định tính và định lượng
Khi thẩm định kinh tế - xã hội dự án cần căn cứ vào các mục tiêu chủ yếu sau:
Nâng cao mức sống của dân cư được thể hiện gián tiếp qua các số liệu cụ thể
về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức gia tăngđầu tư, tốc độ phát triển, tốc độ tăng trưởng…
Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của dự án vào việc pháttriển các vùng kinh tế, nâng cao đời sống của tầng lớp dân cư nghèo
Gia tăng số lao động có việc làm
Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ
Nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ tay nghề cao, tiếpnhận chuyển giao công nghệ hoàn thiện cơ cấu sản xuất của nền kinh tế
Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng thúc đẩy sự phát triểncủa các ngành khác
1.2.4.5 Thẩm định tài chính dự án
Là thẩm định dự án dưới giác độ của doanh nghiệp Đó là việc xem xét đánhgiá và đưa ra những con số cụ thể về khả năng sinh lợi của vốn đầu tư Thẩm địnhtài chính dự án cho phép nhà đầu tư đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của dựán.Do đó, có thể đưa ra được kết luận cuối cùng về tính khả thi của dự án đầu tưphải xem xét khả năng sinh lợi của vốn đầu tư, tính toán các giá trị biểu hiện khảnăng này được dựa trên dòng tiền ròng của dự án Cụ thể hơn, nhà đầu tư phảitiến hành thẩm định các khía cạnh liên quan đến giá trị dòng tiền vào và dòng tiền
ra của dự án
Điều quan trọng trong thẩm định tài chính dự án là phải xây dựng được một
hệ thống định mức tiêu chuẩn các chỉ tiêu thông qua việc nghiên cứu kỹ thịtrường cũng như mặt bằng hàng hóa, dịch vụ cung ứng ở thời điểm tiến hành triển
Trang 27khai dự án Do tầm quan trọng của thẩm định tài chính dự án đối với quyết địnhcho vay của ngân hàng, nên ta xem xét thẩm định tài chính cụ thể như sau:
1.2.5 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư
1.2.5.1 Thẩm định tổng vốn đầu tư của dự án
Để đảm bảo cho dự án hoạt động có hiệu quả thì điều quan trọng trước tiên
là phải dự tính được lượng vốn đầu tư cần thiết theo từng loại công việc trongtừng giai đoạn của quá trình thực hiện đầu tư Ta cần phải tiến hành lập biểu ghichép tình hình thực hiện đầu tư, thẩm định số lượng, chất lượng, thời hạn cungcấp đầu vào cho dự án theo từng loại công việc trong từng giai đoạn của quátrình thực hiện và thẩm định giá cho các yếu tố đầu vào nhằm dự tính hợp lý sốvốn đầu tư trong từng giai đoạn của chu trình dự án
Về cơ bản, đây là việc xem xét tính toán tổng vốn đầu tư cho dự án có đầy đủ,chính xác và phù hợp hay không Vốn đầu tư cho dự án thường bao gồm vốn đầu tư
cơ bản, vốn lưu động và các chi phí khác
Vốn đầu tư cơ bản là toàn bộ lượng vốn cần thiết để hoàn thành công trìnhsẵn sàng đưa vào sử dụng bao gồm vốn đầu tư xây lắp, vốn đầu tư thiết bị, chiphí chuẩn bị mặt bằng…
Vốn lưu động là toàn bộ chi phí cần thiết để khai thác và sử dụng công trình Vốnlưu động thường bao gồm: Nguyên vật liệu, tiền lương, phụ tùng, thành phẩm tồn kho,hàng hoá bán chịu, chi phí đột xuất
Việc xác định đúng chi phí khác như chi phí thành lập, chi phí trả lãi vay có chú ýđến giá trị thời gian của tiền, chi phí dự phòng… cũng là yếu tố rất quan trọng trongquyết định bỏ vốn đầu tư
Các khoản tài chính dài hạn phải trang trải đủ các chi phí đầu tư của dự án baogồm vốn cố định và vốn lưu động cần thiết cho việc vận hành bình thường Các khoảntài chính có thể huy động dưới dạng vốn cổ phần và vốn vay dài hạn Việc giải quyếtnhu cầu của dự án không những quyết định khả năng sinh lợi trong tương lai mà cảnhững cân đối thu chi của nó Bởi vậy, trong quá trình đánh giá dự án, cơ cấu vốn dochủ đầu tư dự tính sẽ được xét một cách chặt chẽ trên cơ sở xét đoán khả năng sinh lợitrong tương lai của doanh nghiệp
Trang 28Việc xác định đúng lượng vốn cần thiết cho một vòng đời của dự án là chưa
đủ nếu không xem xét đến tiến độ bỏ vốn Tiến độ bỏ vốn được căn cứ theo tiến
độ triển khai đầu tư dự án, các điều kiện về tạm ứng vốn hoặc thanh toán khốilượng trong các hợp đồng giao nhận thầu cũng như khả năng tham gia của cácnguồn vốn đầu tư vào dự án
1.2.5.2 Thẩm định khả năng triển khai và huy động nguồn tài trợ.
Các nguồn tài trợ cho dự án có thể là vốn chủ sở hữu, vốn vay và đi thuê.Vì vốn đầu
tư phải được thực hiện theo tiến độ ghi trong dự án vừa để đảm bảo tiến độ thực hiệncác công việc chung của dự án, vừa tránh ứ đọng vốn nên các nguồn tài trợ được xemxét không chỉ về mặt số lượng mà cả thời điểm nhận được tài trợ Tiếp đó phải sosánh nhu cầu với khả năng đảm bảo vốn cho dự án từ các nguồn về số lượng và tiến
độ Nếu khả năng nhỏ hơn nhu cầu thì phải giảm quy mô của dự án, xem xét lại khíacạnh kỹ thuật, lao động để đảm bảo tính đồng bộ trong việc giảm quy mô của dự án
1.2.5.3 Xem xét các báo cáo tài chính, xác định dòng tiền dự kiến cho từng giai đoạn của chu trình dự án
+ Lập các báo cáo tài chính
Các báo cáo thường lập và cần lập là báo cáo chi phí sản xuất kinh doanh, báocáo kết quả sản xuất kinh doanh, bảng cân đối kế toán Các báo cáo tài chính làphương tiện thuận lợi và dễ hiểu để tóm tắt các thông tin phù hợp về dự án Trên cácbáo cáo tài chính này sẽ một phần nào dự tính các luồng tiền của dự án Từ các thôngtin trên các báo cáo tài chính này, các cán bộ thẩm định sẽ tính được các chỉ tiêu phảnánh về chất lượng dự án, từ đó ra quyết định đối với dự án
+ Thẩm định doanh thu
Doanh thu của dự án bao gồm: doanh thu do bán sản phẩm, doanh thu từ tậnthu phế liệu, hay từ các hoạt động kinh doanh bên ngoài…Trong quá trình tínhtoán doanh thu của dự án, phải chú ý công suất thiết kế cũng như công suất thực
tế của dự án, khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án Để xác định doanh thu của
dự án qua các giao đoạn ta cần xác định sản lượng tiêu thụ của dự án qua cácthời kỳ, và xác định đơn giá sản phẩm
Trang 29+ Thẩm định các chi phí đầu vào
Chi phí đầu vào gồm: chi phí biến đổi, chi phí cố định, lãi vay ngân hàng, thuế…Các định mức chi phí nên tính toán trên cơ sở quy định hiện hành của bộ tài chính, cácđịnh mức mà các đơn vị khác cùng nghành đã và đang thực hiện
1.2.5.4 Phân tích các chỉ tiêu phản ánh mặt tài chính của dự án
* Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV)
Giá trị hiện tại thuần là tổng lãi ròng của cả đời dự án được chiết khấu vềnăm hiện tại theo tỷ lệ chiết khấu nhất định
Cách xác định NPV như trên được thực hiện với tình huống bất kì
Phân tích tài chính một dự án đầu tư là phân tích căn cứ trên các luồng tiền của dự án Sau khi tính đến các yếu tố, chúng ta có thể xây dựng được một dãy các luồng tiền trong các năm của dự án như sau:
Trang 30Trên cơ sở các luồng tiền dự tính, các chỉ tiêu về tài chính được tính toánlàm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư.
Giá trị hiện tại ròng: Là chênh lệch giữa giá trị hiện tại của các khoản thu và giátrị hiện tại của các khoản chi mà dự án mang lại trong thời gian kinh tế của dự
án Do vậy, chỉ tiêu này phản ánh giá trị tăng thêm ( khi NPV dương) hoặc giảm
đi ( khi NPV âm) nếu dự án được chấp nhận
Việc tính toán giá trị hiện tại ròng liên quan đến việc tính toán:
+ Dự tính lượng tiền đầu tư ban đầu, tức là luồng tiền tại thời điểm 0: CFo làluồng tiền ra nên nó mang dấu âm CFo bao gồm các khoản đầu tư vào tài sản,tạo ra tài sản của dự án Nó có thể dưới dạng tiền sẵn sàng cho dự án hoạt động,tạo ra tồn kho, mua sắm tài sản cố định Đó là các khoản chi tiêu cho dự án hoạtđộng Trong thực tế, nó bao gồm các khoản chi tại các thời điểm khác nhautrong giai đoạn đầu tư của dự án
+ Dự tính các luồng tìên trong thời gian kinh tế của dự án Đây là các khoảnthực thu bằng tiền trong các năm hoạt động của dự án Nó được tính bằngdoanh thu ròng trừ đi các chi phí bằng tiền của từng năm Các khoản này có thểthu được tại các thời điểm khác nhau trong năm, nhưng trong tính toán phântích, người ta thường giả định các luồng tiền diễn ra vào thời điểm cuối năm.+ Dự tính tỷ lệ chiết khấu Rất khó để xác định một tỷ lệ chiết khấu hoàn toànchính xác Tỷ lệ chiết khấu là chi phí cơ hội của việc đầu tư vào dự án mà khôngđầu tư trên thị trường vốn Cho đến nay vần đề tỷ lệ chiết khấu cho dự án vẫnđang là một vấn đề tranh cãi cho các nhà nghiên cứu, chưa tìm ra được tiếng nóichung Tuy nhiên có thể hiểu một cách khái quát rằng tỷ lệ này được tính bằng
tỷ lệ thu nhập của các tài sản tài chính tương đương Đó là tỷ lệ thu nhập mà nhàđầu tư mong đợi khi đầu tư vào dự án
Giá trị hiện tại ròng là chỉ tiêu cơ bản đựoc sử dụng trong phân tích dự án Một
số nhà phân tích tài chính cho đây là chỉ tiêu chính tốt nhất giúp cho việc ra cácquyết định đầu tư Ta nhận thấy khi tỷ lệ chiết khấu r tăng lên, NPV của dự án sẽgiảm xuống Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu
vì vậy khi thẩm định tài chính dự án, chỉ tiêu NPV rất được các nhà đầu tư quan tâm
Trang 31NPV phản ánh kết quả lỗ lãi của dự án theo giá trị hiện tại (tại thời điểm 0) saukhi đã tính đến yếu tố chi phí cơ hội của vốn đầu tư NPV dương tức là dự án cólãi NPV = 0 chứng tỏ dự án chỉ đạt mức trang trải đủ chi phí vốn Còn lại dự án
có NPV âm là dự án bị lỗ
Chính vì vậy mà ta thấy quy tắc rất đơn giản là chấp nhận dự án có NPV dương
và lớn nhất (nếu có nhiều hơn một dự án có NPV dương) Hay cụ thể hơn đối vớicác dự án là độc lập nhau, thì dự án được lựa chọn là dự án có NPV >= 0 Dự án
có giá trị hiện tại ròng càng lớn thì hiệu quả tài chính đầu tư càng cao, dự án cànghấp dẫn Đối với các dự án là loại trừ nhau tức là chấp nhận dự án này thì phảiloại bỏ dự án khác, thì dự án được lựa chọn là dự án có NPV lớn nhất
Tuy nhiên việc sử dụng chỉ tiêu này cũng có những rủi ro nhất định Đó là
độ tin cậy của các dự đoán đưa ra như trên Bởi vì NPV được tính toán dựa trênnhững dự tính về các dòng tiền của dự án Nếu những dự đoán đưa ra ở trên màthiếu sự chính xác thì hiển nhiên việc tính toán NPV trở nên vô nghĩa và việc raquyết định đối với dự án sẽ bị sai lệch
* Chỉ tiêu tỷ lệ nội hoàn hay tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR
Ngoài mối quan tâm đến kết qủa tuyệt đối của việc chấp nhận dự án, các chủđầu tư còn có thể quan tâm đến tỷ lệ thu nhập bình quân các năm trên vốn đầu
tư Chỉ tiêu này cho phép có thể so sánh trực tiếp với chi phí của vốn đầu tư vào
dự án Đó chính là tỷ lệ hoàn vốn nội bộ
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại ròng của
dự án bằng 0
Trong đó:
Bi - Giá trị thu nhập (Benefits) năm i
Ci - Giá trị chi phí (Cost) năm i
Trang 32Để xác định IRR người ta thường sử dụng phương pháp nội suy tuyến tính:
)(
)(
1
2 1
1 2 1
NPV NPV
r r NPV r
r1 là tỷ lệ chiết khấu làm cho NPV1 > 0
r2 là tỷ lệ chiết khấu làm cho NPV2 < 0
Cũng như NPV, IRR liên quan đến việc dự tính các luồng tiền mà dự án sẽtạo ra trong quá trình hoạt động Đồng thời ta phải có một tỷ lệ chiết khấu mongđợi để so sánh khi ra quyết định đầu tư
Ta thấy nếu dự án chỉ có tỷ lệ nội hoàn IRR = r (tỷ lệ chiết khấu) thì cáckhoản thu nhập từ dự án chỉ đủ để hoàn trả phần vốn góp và lãi đã đầu tư banđầu vào dự án IRR phản ánh khả năng sinh lợi của dự án, chưa tính đến chi phí
cơ hội của vốn đầu tư Tức là nếu như chiết khấu các luồng tiền theo IRR, PV sẽbằng đầu tư ban đầu CFo Hay nói cách khác, nếu chi phí vốn bằng IRR, dự án
sẽ không tạo thêm được giá trị hay có lãi Vì vậy ta có kết luận thẩm định nhưsau: Nếu các dự án độc lập nhau, thì dự án có IRR >= r sẽ được chọn Nếu các
dự án loại trừ nhau, ta chọn dự án có IRR cao nhất
Trong việc tính toán IRR cần lưu ý, không cần phài căn cứ vào tỷ lệ chiếtkhấu dự tính Điều đó không có nghĩa là tỷ lệ chiết khấu là không quan trọng.Như trên đã đề cập, một khi IRR được tính toán, tiêu chuẩn để so sánh là tỷ lệchiết khấu của dự án
Khi sử dụng IRR ta phải chú ý rằng cũng như NPV, sự chính xác của chỉ tiêuphụ thuộc vào sự chính xác của các dự tính về luồng tiền IRR là một chỉ tiêumang tính tương đối, tức là nó chỉ phản ánh tỷ lệ hoàn vốn nội bộ của dự án làbao nhiêu chứ không cung cấp quy mô của số lãi hay lỗ của dự án tính bằng tiền.Khi dự án được lập trong nhiều năm, việc tính toán chỉ tiêu là rất phức tạp Đặcbiệt loại dự án có các luồng tiền ròng vào ra xen kẽ năm này qua năm khác, kết quảtính toán có thể cho nhiều IRR khác nhau gây khó khăn cho việc ra quyết định
Sử dụng hai chỉ tiêu NPV và IRR để đánh giá dự án có thể đưa tới cùng mộtkết luận, đồng thời lại có thể đưa tới hai kết luận trái ngược Điều đó tùy thuộc
Trang 33vào các luồng tiền trong tương lai và tỷ lệ chiết khấu Vì IRR không đề cập tới
độ lớn, quy mô của dự án và không giả định đúng tỷ lệ tái đầu tư đồng thời đểđạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của dự án đầu tư, nên chủ đầu tư thườngcoi trọng chỉ tiêu NPV hơn để đưa ra quyết định trong trường hợp có sự mâuthuẫn giữa hai chỉ tiêu
* Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn
Thời gian hoàn vốn của một dự án là số năm mà tại đó các luồng tiền của dự
án được luỹ kế đến một khoản mà bù đắp được chi phí đầu tư ban đầu
Công thức như sau:
Luồng tiền mỗi năm
Trong công thức thời gian hoàn vốn không đề cập đến giá trị thời gian của tiền.Nguyên lý thời gian hoàn vốn trong đánh giá dự án có hai hạn chế chủ yếu sau: +Bỏ qua giá trị thời gian của tiền: Nguyên lý thời gian hoàn vốn giả định làluồng tiền nhận được trong tương lai cũng ngang bằng về giá trị của luồng tiềnnhận được trong năm hiện tại Trong thực tế, chúng ta cần chiết khấu các luồngtiền trong tương lai để làm chúng ngang bằng về giá trị với các luồng tiền hiệntại, bởi vì các luồng tiền có thể được đầu tư để thu được lãi trong tương lai Tuynhiên, trong khi nguyên lý thời gian hoàn vốn không xem xét đến giá trị thờigian của tiền, không có lý do giải thích tại sao chiết khấu luồng tiền không được
sử dụng trong các phân tích này
+Bỏ qua các luồng tiền phát sinh sau thời gian hoàn vốn: Chỉ có luồng tiền ởgiai đoạn cuối cùng mà vốn ban đầu đã được bù đắp được coi là phù hợp trongcác phân tích này, và vì vậy nguyên lý thời gian hoàn vốn tạo ra một bức tranhkhông hoàn chỉnh về tài chính của dự án Tất cả các luồng tiền phát sinh sau thờigian hoàn vốn bị bỏ qua
Mặc dù vậy, chỉ tiêu này cũng được áp dụng khá rộng rãi trong thực tế bởi vì:+ Đơn giản: Chỉ tiêu này đơn giản dễ hiểu và dễ tính hơn so với nguyên lý chiết
Trang 34+ Tạo bức màn che cho dự án: Nó cung cấp một công cụ để che dấu dự án Nếumột dự án không tìm được tiêu chuẩn thời gian hoàn vốn, nhà quản lý có thể từchối dự án mặc dù các luồng tiền lớn tiềm ẩn được tính trong tương lai.
+ Khan hiếm tiền: Khi một công ty bị khan hiếm tiền, công ty sẽ lựa chọn các dự
án có thể bù đắp được vốn đầu tư ban đầu trong thời gian ngắn nhất Một công
ty ít vốn có thể không đợi được kỳ trả tiền lớn của một dự án với thời gian hoànvốn lâu nhưng NPV khả thi Thậm chí trong các trường hợp, nó nên sử dụngcùng với một phương pháp chiết khấu luồng tiền
+ Các rủi ro của dự án: Công cụ thời gian hoàn vốn cung cấp những cách nhìnnhận rủi ro của một dự án Các luồng tiền thu được trong thời gian sớm thì sẽ ổnđịnh hơn các luồng tiền nhận được từ các năm sau Các luồng tiền càng xa trongtương lai thì mức độ không ổn định càng cao
* Chỉ tiêu chỉ số doanh lợi PI
Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ số lợi ích - chi phí, là tỷ lệ giữa giá trị hiệntại của các luồng tiền dự án mang lại và giá trị đầu tư ban đầu Chỉ tiêu này phảnánh một đơn vị đầu tư sẽ mang lại bao nhiêu đơn vị giá trị Nếu PI lớn hơn 1 cónghĩa là dự án mang lại giá trị cao hơn chi phí và khi đó có thể chấp nhận được.Chỉ số doanh lợi được tính dựa vào mối quan hệ tỷ số giữa thu nhập ròng hiệntại so với vốn đầu tư ban đầu
CFoTrong đó:
CFo : Số vốn đầu tư ban đầu
Trang 35* Chỉ tiêu điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu thu được bằng với các chi phí bỏ ra.Đối với dự án sản xuất thì điểm hòa vốn càng thấp thì khả năng thu lợinhuận của dự án càng cao, dự án càng hấp dẫn
Để đảm bảo cho việc ra quyết định đầu tư chính xác, nhà đầu tư cần phảixem xét hiệu quả tài chính dự án một cách toàn diện bằng việc kết hợp tất cả cácnhóm chỉ tiêu phân tích mặt tài chính của dự án cũng như các chỉ tiêu trongcùng nhóm Tuy nhiên, khi vận dụng phân tích các chỉ tiêu của dự án cụ thể phảirất linh hoạt, cán bộ thẩm định có thể lựa chọn những chỉ tiêu đặc trưng thíchhợp với từng đề án để xem xét, phân tích
Khi nghiên cứu các chỉ tiêu, vấn đề quan trọng nhất và cần thiết là phải ước tínhđược thu nhập, chi phí, lợi nhuận, luồng tiền ròng và tỷ lệ chiết khấu của dự án Độchính xác của các dự tính này càng cao thì mức độ thành công của dự án càng cao.Luồng tiền ròng của một dự án là căn cứ để đánh giá dự án, được xác địnhdựa vào số chênh lệch giữa lượng tiền nhận được với lượng tiền đã chi tiêu.Những dự báo về thu, chi của dự án được lập theo phương pháp kế toán là căn
cứ để xác định luồng tiền ròng của dự án Trong báo cáo thu nhập của kế toán,khâu hao được khấu trừ vào chi phí để xác định lợi nhuận trong kỳ, nhưng đểtính luồng tiền ròng của dự án, khấu hao không phải là chi phí bằng tiền, khấuhao chỉ là một yếu tố của chí phí làm giảm thuế thu nhập của doanh nghiệp Dovậy, khấu hao được coi là một nguồn thu nhập của dự án Thông thường luồngtiền ròng của dự án là toàn bộ lợi nhuận sau thuế và khấu hao tài sản cố đinh
CFi = LNSTi + DiVới: Di là khấu hao tài sản cố định năm thứ i
LNSTi là lợi nhuận sau thuế
Xác định chính xác tỷ lệ chiết khấu của từng dự án là một việc làm không
đơn giản Có thể hiểu tỷ lệ chiết khấu là tỷ suất lợi nhuận thích hợp bù đắp rủi rokhi bỏ vốn đầu tư vào dự án Tỷ lệ chiết khấu dự kiến được xác định dựa trênchi phí vốn đó là chi phí trả cho nguồn vốn huy động, nó được tính bằng số lợinhuận cần phải đạt được trên nguồn vốn huy động để giữ không làm thay đổi số
Trang 36Khi mức rủi ro của dự án bằng với mức rủi ro của doanh nghiệp và chínhsách tài trợ của doanh nghiệp phù hợp với dự án thì tỷ lệ chiết khấu thích hợp cóthể lựa chọn là chi phí trung bình của vốn (WACC).
Ta có:
WACC = WdKd(1-T) + + WsKs
Trong đó
+ WACC: Chi phí trung bình của vốn
+ Wd, Ws: Tương ứng là tỷ lệ nợ, tỷ lệ vốn huy động từ các nguồn khác
+ Kd,Ks tương ứng là chi phí nợ trước thuế, chi phí vốn huy động từ các nguồn khác.+ T: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
+Kd(1-T): Chi phí nợ sau thuế
1.2.5.5 Phân tích bất định
Chu trình dự án thường rất dài, trong khi đó dự án được soạn thảo trên cơ sởgiả định nên thường không lường hết các tình huống bất trắc xảy ra trong tươnglai Vì vậy khi lập dự án cần tính đến một số tình huống rủi ro để trên cơ sở đóxác định lại thu nhập, chi phí và hiệu quả đầu tư Nếu dự án vẫn có hiệu quả trongtrường hợp bất trắc phát sinh thì đó là dự án an toàn Việc phân tích bất định gồmphân tích độ nhạy, tìm vùng an toàn và đánh giá dự án trong điều kiện rủi ro.Khi phân tích dự án ta thấy các yếu tố thường thay đổi Chủ đầu tư cần biếtkhi các yếu tố thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến kết luận thẩm định tàichính dự án đầu tư Để làm được điều này, nhà đầu tư phải phân tích độ nhạy.Thực chất đó chính là việc xác định mối quan hệ động giữa các yếu tố trên cơ sở
đó đánh giá lại các chỉ tiêu hiệu quả Việc phân tích độ nhạy sẽ giúp cho chủ đầu
tư lường trước được những kết quả do các tình huống khác nhau đem lại trướckhi đưa ra quyết định đầu tư để từ đó có thể xác định vùng an toàn Vùng antoàn là vùng dự án đạt hiệu quả tài chính, nó có tính chất định hướng cho doanhnghiệp trong quá trình thực hiện đầu tư
Rủi ro là điều rất có thể xảy ra trong hoạt động đầu tư Do đó ta cần phải xem xét các yếu tố rủi ro để có biện pháp hạn chế tác động của rủi ro đồng thời đưa ra được quyết định đầu tư đúng đắn đảm bảo tính hiệu quả của dự án ngay cả khi có rủi ro Một trong những giải
Trang 37pháp thường được sử dụng để đánh giá dự án đầu tư trong điều kiện có rủi ro là áp dụng tỷ lệ chiết khấu đã điều chỉnh rủi ro:
e = r/(1 b)Trong đó:
e: Tỷ lệ chiết khấu đã điều chỉnh rủi ro
r: Tỷ lệ chiết khấu trước khi điều chỉnh rủi ro
b: Xác xuất rủi ro
Thẩm định tài chính dự án là việc đánh giá hiệu quả của dự án đứng trênquan điểm lợi ích của Ngân hàng Kết quả thẩm định tài chính là sự kết hợp củanhiều yếu tố, giúp cho chủ đầu tư ra quyết định cuối cùng Sở giao dịch 1vận dụngcác phương pháp thẩm định linh hoạt, kết hợp với các chỉ tiêu thẩm định phù hợptrong thẩm định tài chính để ra quyết định cho vay một cách hiệu quả và khả thi nhất.Nhưng để công tác thẩm định tài chính dự án đạt hiệu quả cũng cần đòi hỏiphải xét tới các nhân tố ảnh hưởng như sau:
1.2.6 Các nhân tố tác động tới chất lượng thẩm định tài chính dự án.
Xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới thẩm định tài chính dự án sẽ giúp ta cócách nhìn tổng thể, từ đó có những quan tâm thích hợp tới các yếu tố tác động đểđảm bảo hiệu quả trong thẩm định Các nhân tố ảnh hưởng gồm các nhân tố chủquan và các nhân tố khách quan
1.2.6.1 Các nhân tố chủ quan.
* Sự tác động của ban lãnh đạo và cán bộ thẩm định
Các lãnh đạo, cán bộ thẩm định và những người chủ đầu tư có ảnh hưởngtrực tiếp tới công tác thẩm định tài chính dự án Chủ đầu tư có nhận thức đúngtầm quan trọng của công tác thẩm định tài chính thì họ mới có thể quan tâm mộtcách thích hợp tới công việc này Nhờ đó, ban lãnh đạo mới có sự tổ chức thựchiện thẩm định khoa học và hợp lý: phân công đúng người đúng việc, tạo điềukiện làm việc để công tác thẩm định dự án đạt hiệu quả Cùng với ban lãnh đạo,
sự hiểu biết của cán bộ thẩm về công tác thẩm định tài chính dự án cũng có vaitrò rất lớn Các quyết định họ đưa ra đều phải dựa trên những phân tích, đánh
Trang 38giá của cán bộ Cán bộ thẩm định có nghĩa vụ hợp tác, góp ý cho ban lãnh đạokịp thời thì họ mới có thể tổ chức tốt công tác thẩm định.
* Trình độ của cán bộ thẩm định.
Nếu như ban lãnh đạo ra các quyết định định hướng cho công tác thẩmđịnh tài chính dự án thì cán bộ thẩm định là người trực tiếp thực hiện côngviệc Trình độ của cán bộ thẩm định quyết định tính hiệu quả trong thẩm định.Cán bộ thẩm định với cơ sở lý thuyết hiện đại cùng những hiểu biết thực tiễn
sẽ vận dụng quy trình thẩm định tài chính dự án một cách linh hoạt, đảm bảochính xác khi dự tính vốn đầu tư, lập các báo cáo tài chính và sử dụng hệ thốngcác chỉ tiêu thẩm định hợp lý
Không chỉ trình độ trong thẩm định tài chính dự án, trình độ cán bộ thẩmđịnh trong thẩm định thị trường, thẩm định kỹ thuật, thẩm định tổ chức- quản lý
dự án cũng quyết định hiệu quả thẩm định tài chính Kết luận thẩm định ở cáckhâu này sẽ là căn cứ để tiếp tục bước thẩm định tài chính qua đó chủ đầu tư cóthể đưa ra quyết định cuối cùng Thẩm định thị trường, thẩm định kỹ thuật, thẩmđịnh tổ chức- quản lý dự án cung cấp những căn cứ và số liệu cần thiết để tiếnhành công tác thẩm định tài chính Nếu như các số liệu nghiên cứu thị trường,thẩm định kỹ thuật, thẩm định tổ chức, quản lý dự án cung cấp không chính xácthì việc cán bộ thẩm định đưa ra số vốn dự toán cùng các số liệu trong báo cáotài chính sẽ sai do đó việc tính toán các chỉ tiêu thẩm định tài chính chỉ là vônghĩa Thẩm định kỹ thuật còn giúp cho việc lựa chọn quy trình công nghệ thíchhợp sao cho dự án không chỉ khả thi về mặt kinh tế mà hơn thế còn phải tối ưu
về mặt kỹ thuật, có như vậy thì kết quả thẩm định tài chính mới thực sự có íchcho chủ đầu tư Để đưa ra quyết định cuối cùng, nhà đầu tư cần căn cứ vào kếtquả thẩm định các mặt của dự án Kết luận thẩm định tài chính dự án chỉ thật sự
có giá trị khi được kết hợp xem xét cùng các kết luận thẩm định khác trong toàn
bộ công tác thẩm định dự án Sự yếu kém của cán bộ thẩm định ở một khâu nào
đó trong công tác thẩm định đều dẫn đến quyết định đầu tư sai lầm Cán bộ thẩmđịnh không chỉ đưa ra kết luận thẩm định mà còn giúp nhà đầu tư điều chỉnh,sửa đổi dự án sao cho hợp lý đảm bảo quyết định đầu tư đúng hướng
Trang 39* Điều kiện cơ sở vật chất.
Điều kiện cơ sở vật chất trang bị cho công tác thẩm định tài chính dự án cũngphản ánh chất lượng thẩm định Cơ sở vật chất được hiểu là toàn bộ các trangthiết bị làm việc, kiến thức được đào tạo Máy móc, thiết bị đo lường, tính toánhiện đại sẽ trợ giúp cho cán bộ thẩm định trong việc đưa ra kết luận nhanh chóng,chính xác, nâng cao hiệu quả công việc Để sử dụng một cách khoa học, phát huyhết tính năng kỹ thuật của trang thiết bị, nhạy bén trong thẩm định tài chính, vậndụng quy trình thẩm định một cách linh hoạt phù hợp với tình hình công ty vàđiều kiện nền kinh tế, cán bộ thẩm định cần có cơ sở lý thuyết nền tảng và khôngngừng tiếp thu kỹ thuật thẩm định mới cùng những hiểu biết thực tiễn
1.2.6.2 Các nhân tố khách quan.
* Sự phát triển của nền kinh tế.
Nền kinh tế càng phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh nhạy, chính xác,đạt hiệu quả kinh tế khi ra quyết định đầu tư Ngược lại, doanh nghiệp sẽ khôngtheo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế với sự cạnh tranh khốc liệt Để làm đượcđiều đó, doanh nghiệp phải thực hiện công tác thẩm định dự án nói chung thẩmđịnh tài chính nói riêng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, doanh nghiệpnhận thấy tầm quan trọng của thẩm định dự án và có những quan tâm thích đáng.Tình hình thực tiễn nền kinh tế với những biến động và những phát triển trongnghiên cứu làm cho công tác thẩm định tài chính không ngừng được đổi mới vànâng cao Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải có cơ sở lý luận, tầm hiểu biết
về kinh tế một cách toàn diện, không ngừng tiếp thu những quan điểm mới trongnghiên cứu kinh tế nói chung, trong thẩm định tài chính dự án nói riêng Sự pháttriển kinh tế cùng với nó là sự phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ sẽ mang lạicho kỹ thuật thẩm định tài chính dự án những ứng dụng có ý nghĩa
* Hiệu quả đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp.
Doanh nghiệp mà hoạt động đầu tư đạt hiệu quả là nhờ sự đóng góp khôngnhỏ của công tác thẩm định tài chính dự án Ngược lại nhờ đầu tư, kinh doanhđạt kết quả, doanh nghiệp có điều kiện đổi mới, nâng cao công tác thẩm định