TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANHNGUYỄN LÊ QUỐC THỊNH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐẾN THU NHẬP VÀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VÙNG DỰ ÁN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN LÊ QUỐC THỊNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐẾN THU NHẬP VÀ
VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VÙNG DỰ ÁN Ở QUẬN NINH KIỀU,
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN LÊ QUỐC THỊNH
Tháng 05 – Năm 2014
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Mai Văn Nam Thầy
đã tận tình hướng dẫn và cung cấp nhiều kiến thức quý báo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này Nhờ sự tận tình, chu đáo của Thầy mà tôi có được nhiều sự thuận lợi trong thời gian thực hiện Luận văn Tốt nghiệp Kính chúc Thầy luôn dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong công tác giảng dạy
Xin cám ơn quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ
và cung cấp cho tôi những tài liệu cũng như kiến thức rất hữu ích trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Xin gửi lời cảm ơn đến các chủ hộ gia đình đã nhiệt tình hỗ trợ trong quá trình thu thập số liệu, cũng như đã có những lời đóng góp ý kiến quý báu Đây
là căn cứ quan trọng giúp tôi thực hiện được nghiên cứu này
Xin gửi lời cảm ơn đến chị Nguyễn Lê Hoa Hạ, người đã có những hỗ trợ tôi rất nhiều về tài liệu tham khảo, nguồn số liệu thứ cấp, cũng như những
sự giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu
Xin gửi lời cảm ơn đến anh Nguyễn Lê Quốc Thi, người đã có những ý kiến đóng góp cũng như hỗ trợ tôi trong việc hoàn thành nghiên cứu này Cuối cùng, tôi bày tỏ lời tri ân với gia đình tôi đã tận tình động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và thực hiện luận văn này
Cần Thơ, ngày 19 tháng 5 năm 2014
Nguyễn Lê Quốc Thịnh
Trang 4ii
TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày 19 tháng 5 năm 2014
Nguyễn Lê Quốc Thịnh
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian 2
1.3.2 Thời gian 2
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1.1 Khái niệm về đầu tư 3
2.1.2 Khái niệm về dự án đầu tư 3
2.1.3 Khái niệm Hiệu quả của dự án 4
2.1.4 Khái quát về hiệu quả tài chính 5
2.1.5 Khái quát về hiệu quả kinh tế - xã hội 5
2.1.6 Khái niệm về thu nhập, cơ cấu thu nhập 6
2.1.7 Khái niệm chung về lao động 7
2.1.8 Cơ sở lý luận về việc làm và thất nghiệp 7
2.1.9 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất 10
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 13
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 21
2.3.3 Sơ lược lý thuyết các phương pháp nghiên cứu 22
Trang 6iv
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ ĐỊA BÀN
NGHIÊN CỨU – QUẬN NINH KIỀU 26
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 26
3.1.1 Vị trí địa lí 26
3.1.2 Lịch sử hình thành 27
3.1.3 Khí hậu 27
3.1.4 Đất đai và sông ngòi 28
3.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 28
3.2.1 Đơn vị hành chính 28
3.2.2 Dân số 29
3.2.3 Văn hóa - xã hội 30
3.2.4 Vốn đầu tư phát triển - xây dựng cơ bản 31
3.2.5 Kinh tế 32
3.3 MÔ TẢ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 THỰC TRẠNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI QUẬN NINH KIỀU 38
4.1.1 Loại dự án 38
4.1.2 Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2013 phân theo ngành 39
4.1.3 Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2013 phân theo lĩnh vực 40 4.1.4 Các dự án đã và đang triển khai trên địa bàn quận Ninh Kiều 41 4.1.5 Quy trình thu hồi đất của quận Ninh Kiều 46
4.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ 47
4.2.1 Năng lực tài chính của nhà đầu tư 47
4.2.2 Tiến độ của các dự án và các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công và hiệu quả các dự án đầu tư 50
4.2.3 Đánh giá hiệu quả một số dự án đầu tư 52
4.3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐẾN THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VÙNG DỰ ÁN 55
4.3.1 Thông tin về đặc điểm hộ dân 55
4.3.2 Thu nhập của các hộ dân 57
Trang 7v
4.3.3 Tình hình hộ dân phân theo tình trạng dự án 58
4.3.4 Phân tích các yếu tố tác dộng đến thu nhập trước dự án 60
4.3.5 Phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập sau dự án 62
4.4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG VÙNG DỰ ÁN 65
4.4.1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cải thiện việc làm của lao động 65
4.4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng việc làm xấu đi của lao động 68
4.4.3 Nhận xét chung 70
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI QUẬN NINH KIỀU 72
5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 72
5.2 GIẢI PHÁP CỤ THỂ 74
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
6.1 KẾT LUẬN 78
6.2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 79
6.3 KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 84
Trang 8vi
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính trước
dự án 15
Bảng 2.2: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính sau dự án 16
Bảng 2.3: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình 1 18
Bảng 2.4: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình 2 19
Bảng 2.5: Mô tả cỡ mẫu theo địa bàn nghiên cứu 21
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của thành phố Cần Thơ 28
Bảng 3.2: Thông tin các đơn vị hành chính thành phố Cần Thơ năm 2012 29
Bảng 3.3: Dân số trung bình phân theo giới tính thành phố Cần Thơ năm 2012 30
Bảng 3.4: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành phân theo thành thị, nông thôn, nguồn thu và phân theo nhóm thu nhập 34
Bảng 3.5: Tổng sản phẩm thành phố Cần Thơ theo giá so sánh 1994 phân theo khu vực giai đoạn 2010-2012 35
Bảng 3.6: Cơ cấu tổng sản phẩm thành phố Cần Thơ theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế 35
Bảng 4.1: Số lượng và Vốn đầu tư của các dự án trên địa bàn quận Ninh Kiều 38
Bảng 4.2: Danh mục các dự án thuộc vốn ngân sách của quận Ninh Kiều năm 2013 42
Bảng 4.3: Danh mục các dự án ngoài vốn ngân sách quận Ninh Kiều năm 2013 45
Bảng 4.4: Thông tin về đặc điểm của chủ hộ 56
Bảng 4.5: Thông tin về đặc điểm chủ hộ bị ảnh hưởng bởi các dự án đã hoàn thành 59
Bảng 4.6: Thông tin về đặc điểm chủ hộ bị ảnh hưởng bởi các dự án treo hoặc bị hủy quy hoạch 60
Bảng 4.7: Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của người dân trước dự án 61
Trang 9vii
Bảng 4.8 : Kết quả phân tích yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của người dân sau
dự án 63 Bảng 4.9: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary Logistic các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cải thiện việc làm của lao động 66 Bảng 4.10: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary Logistic về khả năng việc làm xấu đi của lao động 68
Trang 10viii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.1 Bản đồ hành chính Thành phố Cần Thơ 26
Hình 3.2 Chỉ số phát triển tổng sản phẩm thành phố Cần Thơ giá so sánh 1994 phân theo thành phần kinh tế 36
Hình 4.1 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành của thành phố Cần Thơ năm 2013 40
Hình 4.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực của thành phố Cần Thơ năm 2013 40
Hình 4.3 Cơ cấu dự án vốn ngân sách quận Ninh Kiều năm 2013 44
Hình 4.4 Cơ cấu vốn đầu tư cho các dự án vốn ngân sách quận Ninh Kiều 44
Hình 4.5 Cơ cấu vốn đầu tư của các dự án vốn ngoài ngân sách quận Ninh Kiều năm 2013 46
Hình 4.6 Cơ cấu vốn của các dự án do nhà nước đầu tư 48
Hình 4.7 Cơ cấu vốn của các dự án đầu tư ngoài nhà nước 49
Hình 4.8 Cơ cấu vốn của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 49
Hình 4.9 Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ điều tra 58
Hình 4.10 Thu nhập của hộ dân thay đổi sau so với trước dự án 58
Trang 11ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
BTTH-GPMB : Bồi thường thiệt hại - giải phóng mặt bằng GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GNP : Tổng sản phẩm quốc gia
UBND : Ủy ban nhân dân
HĐND : Hội đồng nhân dân
Trang 121
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thành phố Cần Thơ là thành phố trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, được chú trọng xây dựng phát triển để giữ vững và phát huy vai trò trung tâm đó Quyết định số: 1533/QĐ-TTg ngày 30 tháng 8 năm 2013 về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 có đề ra mục tiêu phát triển tổng quát như sau: Xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành thành phố văn minh, hiện đại, mang đặc trưng sông nước, cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020; là trung tâm y tế và văn hóa, thể thao của vùng ĐBSCL; là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của vùng ĐBSCL và của cả nước; đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng ĐBSCL Trong Quyết định này cũng đề cập đến một khâu đột phá, đó là: “Tập trung hoàn chỉnh và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng Phối hợp với Trung ương sớm hoàn thành các công trình lớn liên quan đến thành phố như: Tuyến cao tốc Trung Lương – Cần Thơ, các tuyến đường đối ngoại (Quốc lộ 91, cầu Vàm Cống kết nối vào tuyến Lộ Tẻ - Rạch Sòi ), kênh đào Quan Chánh Bố
và luồng Định An vào cụm cảng Cần Thơ Nâng cấp, hoàn thiện kết cấu hạ tầng đô thị (mạng lưới giao thông, cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, chất thải rắn ), hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, khu du lịch, khu đô thị mới ”
Vì vậy, ngày càng có nhiều dự án được đầu tư vào thành phố, từ các dự
án sản xuất, thương mại dịch vụ đến các dự án phúc lợi công cộng, an ninh quốc phòng Để đáp ứng nhu cầu này cũng như thu hút đầu tư, thành phố cũng
có nhiều dự án cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trên địa bàn quận trung tâm, quận Ninh Kiều
Tuy nhiên, song song với thu hút, triển khai dự án, thì cũng cần phải xem xét, đánh giá thực trạng, tác động của các dự án để có các biện pháp thay đổi
và khắc phục phù hợp, kịp thời Trên thực tế, có không ít dự án gặp khó khăn trong quá trình thực hiện, trễ tiến độ, người dân trong vùng dự án bị ảnh
hưởng đến cuộc sống Từ thực tế trên, đề tài “Đánh giá hiệu quả và tác động
của các dự án đầu tư đến thu nhập và việc làm của người dân trong vùng
dự án ở quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ” mang ý nghĩa thực tiễn, cấp
thiết, nhằm đánh giá thực trạng và tác động của các dự án đầu tư, từ đó đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả, giải quyết các vấn đề phát sinh
Trang 131.2.2 Mục tiêu cụ thể
Phân tích thực trạng các dự án đầu tư trên địa bàn quận Ninh Kiều
Đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư trên địa bàn quận Ninh Kiều Đánh giá mức độ tác động của các dự án đầu tư đến thu nhập của người dân trong vùng dự án
Đánh giá mức độ tác động của các dự án đầu tư đến việc làm của người dân trong vùng dự án
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cho các dự án đầu tư tại quận Ninh Kiều
- Thời gian thực hiện đề tài: tháng 01/2014 đến tháng 05/2014
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các dự án đầu tư đang thực hiện trên địa bàn quận Ninh Kiều và người dân bị ảnh hưởng bởi dự án
Trang 143
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm về đầu tư
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Theo khoản 1 điều
3 Luật đầu tư (năm 2005))
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả
đó Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm các hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó
Ngoài ra, đầu tư còn được hiểu theo những nghĩa khác như: Đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để vận hành một loạt tài sản kinh doanh nào đó như nhà xưởng, máy móc và vật tự, cũng như để mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi, mà ở đây những tài sản đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thỏa mãn dần một nhu cầu nhất định nào đó cho người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương lai
2.1.2 Khái niệm về dự án đầu tư
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về dự án đầu tư, tùy theo mục đích mà người ta nhấn mạnh ở khía cạnh nào đó:
- Theo tự điển tiếng Anh OXFORD: dự án là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách được xác định nhằm xác định mục tiêu là đạt được một kết quả duy nhất nhưng được xác định rõ
- Theo viện quản trị dự án: dự án là một nổ lực nhất thời được thực hiện
để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ độc nhất vô nhị
- Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định, nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng
Trang 15Nếu xét về mặt hình thức, Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình
bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch
để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
Nếu xét về mặt nội dung, Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có
liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua
việc sử dụng các nguồn lực xác định
Nếu xét trên góc độ quản lý, Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc
sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài
2.1.3 Khái niệm Hiệu quả của dự án
Hiệu quả của dự án là một khái niệm trừu tượng và để xem một dự án là thành công hay thất bại thì rất phức tạp Tuy nhiên, khái niệm hiệu quả của dự
án có thể được tính toán thông qua các cách đo lường hiệu suất được phát triển
từ các nghiên cứu nơi mà nhiều tiêu chí đo lường hiệu quả đã được xác định (Chan, 2001)
Hiệu quả của dự án mang ý nghĩa khác nhau với những người khác nhau Mỗi nền công nghiệp, cá nhân hay nhóm dự án có định nghĩa về hiệu quả khác nhau Hiệu quả được xem là một cảm giác vô hình, một tiêu chuẩn đo lường
có thể thay đổi tùy vào kỳ vọng quản lý và thay đổi tùy vào con người và giai đoạn của dự án Thật vậy, chủ sở hữu, người thiết kế, người tư vấn, người đấu thầu cũng như người nhận lại thầu có những mục tiêu cho dự án và tiêu chí đo lường thành công khác nhau Ví dụ, kiến trúc sư có thể xem thẩm mỹ và chức năng như là tiêu chí đánh giá chính hơn là chi phí của công trình Tuy nhiên, khách hàng có thể có quan điểm khác Hơn thế nữa, thậm chí cùng một người, nhưng cảm nhận về thành công lại thay đổi tùy vào từng dự án Khái niệm hiệu quả của dự án có thể thay đổi tùy vào loại, cỡ và tính phức tạp của dự án, người tham gia dự án và kinh nghiệm của người chủ… (Chan, 2001)
Trang 165
Shahrzad Khosravi and Hamidreza Afshari (2011) thảo luận về định nghĩa hiệu quả của dự án, và đã cũng cấp một danh sách các nhân tố có thể ảnh hưởng đến hiệu suất của dự án ở từng giai đoạn khác nhau của dòng đời
dự án Như ông ấy đề cập, định nghĩa của hiệu quả của dự án thay đổi qua nhiều năm Những năm 1960, thành công của dự án được đo lường hoàn toàn bằng các định khái niệm kỹ thuật: sản phẩm có hoạt động hay không Những năm 1980, khái niệm sau đây được đề ra: thành công của dự án được khẳng định khi đạt được ba mục tiêu: hoàn thành đúng thời hạn, hoàn thành trong ngân sách và hoàn thành với chất lượng được mong đợi Chất lượng của một
dự án thường được định nghĩa là đạt được các tiêu chuẩn kỹ thuật Chú ý rằng,
ba tiêu chí đo lường trên là yếu tố nội tại của một dự án và không phản ánh được ý kiến của người sử dụng cuối hay khác hàng Cuối những năm 1980, một dự án được xem là thành công không chỉ phải đạt được các yếu tố đo lường hiệu suất nội tại như thời gian, chi phí và đặc trưng kỹ thuật mà còn phải đảm bảo rằng dự án được chấp nhận bởi khách hàng
2.1.4 Khái quát về hiệu quả tài chính
Được đo lường bằng việc so sánh kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí
bỏ ra để đạt được hiệu quả đó Hiệu quả tài chính là biểu hiện tính hiện hữu về mặt kinh tế của việc sử dụng các loại vật tư, lao động, tiền vốn trong sản xuất kinh doanh Nó chỉ ra các mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế thu được với các chi phí bằng tiền trong mỗi chu kỳ kinh doanh Lợi ích kinh tế là khoảng thặng dư của doanh thu sau khi trừ các khoản chi phí trực tiếp và chi phí ẩn, lợi ích kinh tế càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại Để đánh giá hiệu quả tài chính ta sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận (Lợi nhuận = Tổng doanh thu – tổng chi phí)
2.1.5 Khái quát về hiệu quả kinh tế - xã hội
Hiệu quả kinh tế - xã hội là đem lại cho nền kinh tế quốc dân sự phát triển về sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích lũy ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách nhà nước, giải quyết công ăn việc làm cho người dân, cải thiện đời sống nhân dân
Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư đem lại là bao gồm giá trị về kinh tế và giá trị về xã hội Giá trị về kinh tế là giá trị sử dụng của dự án đó ở hiện tại và trong tương lai mang lại phải cao hơn chi phí bỏ ra thực hiện dự án
đó Giá trị về xã hội là giá trị gián tiếp mà dự án đó mang lại cho toàn xã hội,
cụ thể ở đây như thu nhập người trong dự án cao hơn khi chưa có dự án, đời sống tinh thần người dân vui vẻ hơn, đời sống của người dân tốt hơn…
Trang 176
2.1.6 Khái niệm về thu nhập, cơ cấu thu nhập
a) Khái niệm thu nhập
Thu nhập là một trong những thước đo sự phát triển của một quốc gia Là một khoản mà người lao động nhận được do việc tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh
Thu nhập là số lượng tiền, hiện vật hoặc dịch vụ mà một cá nhân, công ty hay một nền kinh tế nhận trong khoảng thời gian nhất định (quý, tháng, năm) Thu nhập bằng tiền là số thu nhập mà một người có trong thời kỳ nhất định dưới hình thái tiền tệ
Thu nhập bằng hiện vật là thu nhập mà người ta nhận được bằng các sản vật và các dịch vụ Thu nhập chuyển giao là khoản thhu nhập mà người nhận được không phải đổi lại một hàng hóa hay hiện vật nào, như tiền hưu trí, tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội và các khoản trợ cấp khác, Những khoản chi trả này là những khoản tiền được chuyển trả từ bộ phận này sang bộ phận khác của cộng đồng Nó còn bao gồm những khoản trợ cấp do chính phủ trả cho các doanh nghiệp và những người khác Thu nhập nhất thời là thu nhập mà một người không thể biết chắc chắn có thể kiếm được đều đặn trong tương lai Thu nhập bình quân đầu người trên tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng
Thu nhập của hộ bao gồm:
- Thu nhập từ tiền công, tiền lương
- Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
- Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
- Thu khác được tính vào thu nhập như thu cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm…
Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh
b) Khái niệm cơ cấu thu nhập
Cơ cấu thu nhập là phần trăm các nguồn thu nhập của một hộ dân với các hoạt động trong các ngành nghề khác nhau như nông nghiệp thì hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản , về phi nông nghiệp coa hoạt động trong nhà
nước, xí nghiệp, hoạt động buôn bán, thủ công nghiệp
Trang 187
2.1.7 Khái niệm chung về lao động
Trong giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin viết: “lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người”
Trong bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết: “lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội”
Hai khái niệm này cơ bản giống nhau và khái quát được một cách toàn diện các hoạt động lao động phong phú của con người
Hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức quan trọng Trong lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người luôn tác động vào các vật chất của tự nhiên, biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của con người Trong quá trình đó, con người ngày càng phát hiện được những đặc tính, những quy luật của thế giới tự nhiên, từ đó họ cũng không ngừng thay đổi phương thức tác động vào thế giới tự nhiên, cải tiến các thao tác và công cụ lao động sao cho hoạt động của họ ngày càng hiệu quả hơn Như vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau trong quá trình con người phát triển hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại Trong lao động con người không chỉ nâng cao được trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên mà còn cả những kiến thức về xã hội và nhân cách đạo đức Lao động là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển xã hội
2.1.8 Cơ sở lý luận về việc làm và thất nghiệp
2.1.8.1 Khái niệm về việc làm
Theo bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 thì việc làm được định
nghĩa như sau: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Có hai cách phân loại việc làm:
Phân theo mức độ sử dụng thời gian lao động
Việc làm đầy đủ: là sự thỏa mãn nhu cầu việc làm của bất cứ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân Hay nói cách khác việc làm đầy đủ
là trạng thái mà mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc thì đều có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn Tuy nhiên, việc xác định số người có việc làm theo khái niệm này vẫn chưa phản ánh được chính xác trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm Thực
tế, nhiều người lao động đang có việc làm nhưng chỉ làm nửa ngày hoặc việc
Trang 198
có năng suất, thu nhập thấp Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh : mức
độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập Mọi việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động phải sử dụng đủ thời gian lao động theo luật định (8 tiếng/ngày), đồng thời, việc này phải mang lại thu nhập không thấp hơn mức lương tối thiểu của người lao động Vậy những người làm việc đủ thời gian quy định và có thu nhập lớn hơn mức thu nhập tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ
Thiếu việc làm: là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao động sử dụng hết thời gian lao động của mình, tạo thu nhập cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu Theo quan niệm của tổ chức lao động thế giới, thiếu việc làm được chia ra làm 2 dạng:
Thiếu việc làm vô hình: là những người có đầy đủ việc làm, làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng lại có thu nhập thấp do tay nghề kém, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém khiến năng suất thấp, thường có nhu cầu tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn
Thiếu việc làm hữu hình: là những người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc và luôn sẵn sàng để làm việc
Thất nghiệp: là hiện tượng những người trong độ tuổi lao động tại thời điểm điều tra ở trong tình trạng không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc Vấn đề về thất nghiệp sẽ được tìm hiểu kỹ hơn trong phần tiếp theo của bài nghiên cứu
Phân theo vị trí lao động của người lao động
Việc làm chính: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật
Việc làm phụ: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian sau công việc chính
2.1.8.2 Thất nghiệp
Thất nghiệp là hiện tượng một bộ phận của lực lượng lao động không có việc làm và đang tích cực tìm việc làm Như vậy, những người không có nhu cầu làm việc hoặc không tìm việc làm là những người không thuộc lực lượng lao động
Thất nghiệp là vấn đề bức xúc mà tất cả các quốc gia đều phải đương đầu Thất nghiệp ảnh hưởng rộng lớn đến tất cả các vấn đề kinh tế và xã hội Trước hết, thất nghiệp ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, làm giảm thu nhập và
Trang 209
mức sống của dân cư, hạn chế tăng sản lượng quốc dân Thời kỳ thất nghiệp cao là thời kỳ sản lượng thực tế nhỏ hơn sản lượng tiềm năng, nền kinh tế không đạt được sản lượng tối ưu Thiếu việc làm và thu nhập thấp ở nông thôn tác động tiêu cực và lâu dài đến phát triển kinh tế xã hội Thu nhập thấp làm cho người dân không được đảm bảo sự chăm sóc về dinh dưỡng và y tế, ảnh hưởng đến sức khoẻ và giống nòi, hạn chế trong việc học tập và rèn luyện nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng lao động từ đó lao động với năng suất thấp, không có khả năng sáng tạo trong việc tự kiếm việc làm lại dẫn tới thu nhập thấp, đó là cái vòng luẩn quẩn khó phá bỏ Thiếu việc làm và thu nhập thấp còn dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội, ảnh hưởng tới trật tự an toàn xã hội Các
tệ nạn xã hội phát triển, an ninh sản xuất không bảo đảm lại kìm hãm việc thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển các ngành nghề mới Cái vòng luẩn quẩn đó luôn néo giữ nông thôn trong vòng nghèo nàn và lạc hậu
Các loại thất nghiệp
Thất nghiệp tạm thời phát sinh ra do sự di chuyển không ngừng con người giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống Do sự di chuyển mà một số người tự nguyện thất nghiệp Trình độ phát triển kinh tế xã hội càng cao thì mức độ cơ động và linh hoạt của lực lượng lao động càng cao Con người có thể chuyển từ công việc này sang công việc khác
dễ dàng hơn, hoặc chuyển từ vùng này sang lao động và sinh sống ở vùng khác Vì thế thất nghiệp tạm thời có xu hướng ngày càng tăng
Thất nghiệp cơ cấu xảy ra do sự mất cân đối giữa cung và cầu đối với công nhân về chuyên môn kỹ thuật, về chuyên ngành mà người lao động được đào tạo so với nhu cầu của xã hội
Thất nghiệp chu kỳ phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp Nó gắn với giai đoạn suy thoái và đóng cửa chu kỳ kinh doanh Trên thế giới, thất nghiệp chu kỳ vẫn diễn ra gắn với các cuộc khủng hoảng kinh tế, khi sản xuất đình trệ và công nhân không có việc làm, bị sa thải hàng loạt Trong những thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nhiều công nhân không có việc làm lại trở về sống ở nông thôn, tạo thêm sức ép về việc làm và thu nhập cho lao động nông thôn
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là mức mà ở đó các thị trường lao động khác biệt ở trạng thái cân bằng, ở một số thị trường thì cầu quá mức (hoặc nhiều việc không có người làm), trong khi đó ở những thị trường khác thì cung quá mức (hay thất nghiệp) Gộp lại, tất cả các nhân tố hoạt động để sức ép đối với tiền lương và giá cả trên tất cả các thị trường đều cân bằng
Trang 2110
Thất nghiệp tuyệt đối là những người trong năm hoàn toàn không có việc làm nhưng vẫn đang tích cực tìm việc làm, hiện tượng thất nghiệp tuyệt đối chủ yếu xảy ra đối với lao động ở thành thị
Thất nghiệp tương đối (hay còn gọi là bán thất nghiệp) là những người
có việc làm không đủ so với nhu cầu làm việc của họ Thất nghiệp tương đối
là hiện tượng xảy ra cả ở nông thôn và thành thị Ở thành thị, những người thất nghiệp tương đối thường là những người lao động chưa qua đào tạo nên họ không có việc làm ổn định, hoặc họ là những người kinh doanh nhỏ nhưng không có khả năng về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh nên cũng dẫn tới thiếu việc làm Tuy nhiên, hiện tượng thất nghiệp tương đối xảy ra với lao động nông thôn là phổ biến
Ngoài ra, các nhà kinh tế còn đưa ra khái niệm thất nghiệp giả tạo Thất nghiệp giả tạo là hiện tượng năng suất biên của lao động bằng không Hay nói cách khác là tỷ suất thay thế kỹ thuật cận biên bằng không Nghĩa là khi thêm một đơn vị lao động vào quá trình sản xuất hay bớt đi một đơn vị lao động thì sản lượng vẫn không thay đổi (trong khi vốn và các yếu tố khác giữ nguyên) Hiện tượng này xảy ra phổ biến ở các nước đang phát triển, và xuất hiện ở tất
cả các ngành Tuy nhiên, thất nghiệp giả tạo là hiện tượng rất khó lượng hoá, việc nghiên cứu về thất nghiệp giả tạo chủ yếu có ý nghĩa trong việc tìm ra các biện pháp bố trí và sử dụng lao động sao cho hợp lý và có hiệu quả hơn
2.1.9 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
2.1.9.1 Đặc điểm của lao động bị thu hồi đất do các dự án đầu tư xây dựng
Đặc điểm của người lao động bị thu hồi đất là một yếu tố khiến cho việc giải quyết việc làm trở nên cần thiết Với những người lao động bị thu hồi đất, đất đai chính là tư liệu sản xuất, đã nơi giúp họ tạo ra được thu nhập, là điều kiện cần để họ có thể sinh tồn Người lao động khi bị thu hồi đất, không còn đất để tham gia vào hoạt động sản xuất cũng tựa như họ mất đi quyền lợi của chính mình
Ngoài ra, những lao động sau khi bị thu hồi đất họ rất khó chuyển đổi nghề nghiệp Để kiếm được việc làm, họ cần phải cạnh tranh với số lượng lao động được đào tạo bởi các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề khá nhiều Biết được sự bất lợi của mình thế nhưng nhiều lao động lại không cố gắng khắc phục những yếu kém, mà trở nên buông xuôi, không muốn nỗ lực trong việc nâng cao trình độ kiến thức với mong muốn tìm được công việc mới tốt hơn Ngoài ra, một phần lao động bị thu hồi đất đã quá tuổi để có thể dễ dàng làm
Trang 2211
quen với công việc mới (khoảng 35 tuổi) Cùng với tâm lý lo sợ rủi ro, thất bại, lối tư duy “ăn chắc, mặc bền”, sản xuất nhỏ lẻ manh mún càng làm cho cơ hội tìm việc của họ trở nên khó khăn hơn
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều người lao động sống ỷ lại vào những khoản tiền trợ cấp đền bù đất Phần lớn số tiền đền bù được người dân sử dụng vào việc sửa sang, xây dựng nhà ở, mua sắm phương tiện đi lại, việc học tập của con cháu Tuy nhiên, rất ít gia đình dành tiền đền bù đầu tư cho việc học nghề của con cháu, cũng như số gia đình đầu tư vào việc mở rộng sản xuất kinh doanh không nhiều Nhiều người biết ăn tiêu chứ không biết cách tạo việc làm như thế nào Một số người chỉ thích tìm những công việc nhàn hạ, ít bận rộn, không phải chịu nhiều áp lực Vì vậy, cần có những chính sách tạo việc làm và
hỗ trợ cho người lao động
Ngoài ra, việc thu hồi đất có một số ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân như ô nhiễm môi trường gây bất bình, lo lắng về sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng Đồng thời, nó góp phần không nhỏ đến sự du nhập của các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc Bởi với những người lao động bị thu hồi đất sau khi bị mất việc làm trở nên vô công rỗi nghề Hàng ngày, họ chỉ biết tìm cách để hưởng thụ khoản tiền lớn đền bù đất mà Nhà nước đã giao cho Chính vì vậy, họ là những người dễ bị lôi kéo vào các vấn đề của xã hội, là một trong các tác nhân gây nên những bất ổn của xã hội Cuối cùng, phần lớn người dân bị thu hồi đất cảm thấy chưa thật hài lòng với chính sách đền bù giải tỏa mặt bằng và hỗ trợ chuyển đổi việc làm, nguyên nhân là do việc thu hồi đất kéo dài nhiều đợt dẫn đến việc tiền đền bù nhận được lẻ tẻ gây khó khăn cho việc đầu tư, ổn định, phát triển sản xuất Nhưng
lý do cơ bản nhất là tồn tại tình trạng thiếu công bằng trong công tác đền bù
2.1.9.2 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
Tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất là một nhân tố quan trọng cho
sự phát triển kinh tế của đất nước Sự phát triển này phụ thuộc vào nhiều nhân
tố như tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ, trong đó việc sử dụng lao động là một nhân tố quan trọng, nhất là đối với một nước nông nghiệp đang phát triển như Việt Nam Hiện nay, chúng ta đang có nhiều dự án phát triển, dẫn đến việc tồn tại một lượng lớn người lao động sau khi bị thu hồi đất không có việc làm Việc để không một lực lượng lớn lao động không sử dụng đến gây lãng phí tổn thất lớn cho xã hội, nhất là đối với một đất nước đang trên đà phát triển như Việt Nam Chính vì vậy, tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất là
Trang 2312
hoạt động đóng vai trò quan trọng đối với xã hội, doanh nghiệp và bản thân chính người lao động
Đối với xã hội
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, quốc gia nào cũng muốn thoát ra khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu để chuyển sang nền kinh tế công nghiệp, nhằm có được năng suất sản xuất tăng, đời sống của con người nâng cao, từ đó mới có thể đưa được nền kinh tế của xã hội phát triển Sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế tác động không nhỏ đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động Khi đất nước càng ngày càng áp dụng nhiều công nghệ khoa học kỹ thuật mới nhằm tạo ra các hoạt động sản xuất mới, máy móc thay thế cho lao động, khi đó tình trạng thất nghiệp sẽ xảy ra Việc tạo việc làm là một yếu tố cần thiết nhằm giảm tình trạng thất nghiệp, giúp giảm gánh nặng cho xã hội trong việc ổn định cuộc sống cho người lao động Đồng thời, tạo việc làm còn giúp cho chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao, hạn chế được những vấn đề tiêu cực do những người lao động dư thừa trong xã hội gây nên, đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo và giúp giải quyết được các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội
Tác động đối với các doanh nghiệp
Bên cạnh đó, tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất còn giúp duy trì sự tồn tại và phát triển cho các doanh nghiệp Lao động là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy sản xuất, càng nhiều lao động thì lượng sản phẩm được tạo ra càng tăng, từ đó giúp các doanh nghiệp có thể phát triển và lớn mạnh Nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít, quá trình sản xuất chủ yếu sử dụng nhiều lao động hơn máy móc Đồng thời, dù công nghệ có ngày càng tiến bộ, nhưng máy móc cũng không thể tự hoạt động, mà phải dựa trên sự điều khiển của con người Vì vậy, trên thực tế, đối với các nước đang phát triển, các doanh nghiệp luôn luôn cần tuyển các lao động có tay nghề, trình độ cao Tuy nhiên, hiện nay, số lượng lao động tuy đông, nhưng không đáp ứng được đủ yêu cầu do các nhà tuyển dụng đề ra Do đó, vẫn còn tồn tại việc các doanh nghiệp luôn trong tình trạng thiếu người, nhưng lượng lao động
dư thừa vẫn tiếp tục tăng
Đối với người lao động bị thu hồi đất
Tạo việc làm cho người lao động bị thu đất chính là biện pháp cải thiện giúp người lao động sớm ổn định được đời sống cũng như góp phần nâng cao thu nhập cho bản thân cũng như gia đình của lao động Khi đó, ý thức của người lao động trong việc nâng cao trình độ, nhận thức tăng lên, biết đầu tư
Trang 24và việc làm của người lao động bị thu hồi đất thì sẽ tạo ra sự mất ổn định trong
xã hội, làm chậm tiến trình công nghiệp hóa Việc dựa lao động dư thừa sau khi bị thu hồi đất, sử dụng đúng chỗ, đúng cách giúp chúng ta có thể tăng năng suất sản xuất, tạo sự đi lên về kinh tế
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sử dụng phần mềm SPSS để hỗ trợ trong việc phân tích
số liệu
Mô hình hồi qui tuyến tính được sử dụng để xác định các nhân tố tác
động đến thu nhập hàng tháng của các hộ gia đình vùng dự án Để đánh giá mức độ tác động các dự án đến thu nhập của các hộ gia đình, nghiên cứu sử dụng hai mô hình hồi quy trước và sau dự án, để so sánh kết quả
Thông qua kết quả tham khảo một số nghiên cứu khoa học sau, tác giả thiết lập được mô hình nghiên cứu:
Luận văn Thạc sĩ “Phân tích ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ờ ĐBSCL” của Huỳnh Thị Đan Xuân năm
2009, khi nghiên cứu về tác động đến thu nhập đã sử dụng biến phụ thuộc Y
là tổng thu nhập của nông hộ Xuân đã đưa vào mô hình các biến độc lập: Trình độ học vấn của chủ hộ; Tổng diện tích; Vay vốn; Tỷ lệ lao động; Ảnh hưởng dịch cúm gia cầm; Chỉ sô thể hiện sự đa dạng thu nhập SID; Thu nhập
từ chăn nuôi gia cầm; Thu nhập từ chăn nuôi khác; Thu nhập từ phi nông nghiệp Kết quả nghiên cứu đạt được các biến có ý nghĩa thống kê: Tổng diện tích của hộ; Vay vốn; Kiểm dịch; Thu nhập từ chăn nuôi gia cầm; thu nhập từ chăn nuôi khác; thu nhập từ phi nông nghiệp
Bài báo khoa học “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh năm 2011 khi phân tích tác động đến thu nhập đã sử dụng biến phụ thuộc Y là thu nhập bình quân/người/tháng Nghi và Trịnh sử dụng các biến độc lập để đưa vào mô hình gồm: Trình độ học vấn của chủ hộ; Trình độ học
Trang 2514
vấn trung bình của lao động (chạy riêng để so sánh với biến trình độ học vấn của chủ hộ); Số nhân khẩu trong hộ; Số hoạt động tạo thu nhập; Độ tuổi của lao động; Tiếp cận chính sách hỗ trợ; Tham gia hội đoàn thể và biến Vay vốn Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có biến Tham gia hội đoàn thể và biến Vay vốn là không có ý nghĩa thống kê
Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh và Bùi Văn Trịnh năm 2011, trong bài báo khoa học “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long”, khi phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập sử dụng biến phụ thuộc Y là thu nhập bình quân/người/tháng Nhóm nghiên cứu này đưa vào mô hình các biến độc lập: Số nhân khẩu trong hộ; Kinh nghiệm làm việc của chủ hộ; Trình độ học vấn của chủ hộ; Số hoạt động tạo ra thu nhập; Độ tuổi của lao động Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các biến đưa vào mô hình đều có ý nghĩa thống kê
Ngoài ra, tác giả còn tham khảo các nghiên cứu là Luận văn đại học của Huỳnh Vạn Nhựt Anh năm 2013, “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trong vùng dự án trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ” và Luận văn Đại học của Phạm Việt Tiến năm 2013 “Đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại tỉnh Bạc Liêu” Hai nghiên cứu này sử dụng biến phụ thuộc Y là tổng thu nhập của hộ Bên cạnh các biến độc lập tương tự các nghiên cứu trên, hai nghiên cứu này quan tâm đến Nghề nghiệp của chủ hộ; Số lao động của hộ; Ảnh hưởng của dự án; Đào tạo nghề cho lao động
Cơ sở chọn biến: bên cạnh tham khảo các nghiên cứu khoa học có liên
quan, tác giả còn tham khảo ý kiến của các cán bộ địa phương thông qua bảng câu hỏi điều tra thử và ý kiến của giáo viên hướng dẫn để đi đến mô hình nghiên cứu sau:
Mô hình phân tích trước dự án có dạng:
Y= B 0 + B 1 X 1 + B 2 X 2 + B 3 X 3 + B 4 X 4 + B 5 D 5 + B 6 D 6 + ε (1)
Trong đó: Biến phụ thuộc Y là thu nhập trung bình hàng tháng của hộ
(triệu đồng/người/tháng) Các biến X 1 , X 2 , X 3 , X 4 , D 5 , D 6 là các biến độc lập
(biến giải thích)
Trang 2615
Bảng 2.1: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính trước dự án
TUOITAC X 1 Tuổi trung bình của các lao động trong
HOCVAN X 2 Số năm chủ hộ đã học tính đến thời
DIENTICH X 3 Tổng diện tích đất bị thu hồi (1.000m2
-/+
Biến giả, tình hình vay vốn của hộ, nhận giá trị là 1 nếu có vay vốn, nhận giá trị là 0 nếu không vay vốn
-/+
Mô hình phân tích sau dự án có dạng:
Y = B 0 + B 1 X 1 + B 2 X 2 + B 3 X 3 + B 4 X 4 + B 5 D 5 + B 6 D 6 + B 7 D 7 + B 8 D 8 + B 9 D 9 +
ε (2)
Trong đó: Biến phụ thuộc Y là thu nhập trung bình hàng tháng của hộ
(triệu đồng/người/tháng) Các biến X 1 , X 2 , X 3 , X 4 , D 5 , D 6 , D 7 , D 8 , D 9 là các biến độc lập
Trang 2716
Bảng 2.2: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính sau dự án
TUOITAC X 1 Tuổi trung bình của các lao động trong hộ
(năm tuổi) -/+ HOCVAN X 2
Số năm chủ hộ đã học tính đến thời điểm nghiên cứu (năm) + DIENTICH X 3 Tổn diện tích đất bị thu hồi (1.000m2
) + NHANKHAU X 4 Số nhân khẩu trong gia đình -
+
TIEUCUC D 7
Biến giả, ảnh hưởng của dự án, nhận giá trị
là 1 nếu là ảnh hưởng tiêu cực (giảm thu nhập), nhận giá trị là 0 nếu là không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng tích cực
-
TINHTRANG D 8
Biến giả, trình trạng của dự án, nhận giá trị
là 1 nếu là dự án treo hoặc hủy, nhận giá trị là 0 nếu là dự án đã hoàn thành hoặc đang tiến hành
-
VAYVON D 9
Biến giả, tình hình vay vốn của hộ, nhận giá trị là 1 nếu có vay vốn, nhận giá trị là 0 nếu không vay vốn
-/+
Mô hình hồi quy Binary Logistic
Hồi quy Binary Logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước lượng xác suất một sự kiện sẽ xảy ra với những thông tin của biến độc lập mà
ta có được Mô hình hồi quy Binary Logistic nhằm xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến việc làm của lao động
Thông qua kết quả tham khảo một số nghiên cứu khoa học sau, tác giả thiết lập được mô hình nghiên cứu:
Trang 2817
Trần Nhật Phương Diễm (2010) với đề tài “Đánh giá lực lượng lao động nông thôn và đề xuất giải pháp đào tạo nghề lao động nông thôn vùng ven thành phố Cần Thơ” (Trường hợp nghiên cứu tại 3 quận/huyện Ô Môn – Bình Thủy – Phong Điền) đã đề xuất mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến học nghề của lao động Theo đó, biến phụ thuộc Y là tình trạng học nghề của lao động Các biến độc lập được đưa vào mô hình: Tuổi của người lao động, Giới tình của người lao động; Trình độ học vấn; Số nhân khẩu; Tỉ lệ số người có việc làm trong hộ; Đất sản xuất; Thu nhập của hộ gia đình mà người lao động đang sinh sống; Vay vốn; Miễn đóng học phí; Hỗ trợ tiền ăn trong thời gian học nghề tại địa phương; Hỗ trợ dụng cụ sau khi học nghề; Cung cấp thông tin việc làm sau khi học nghề Kết quả nghiên cứu kết luận các biến sau có ý nghĩa thông kế: Tuổi; Trình đọ học vấn; Số nhân khẩu; Tỉ lệ người có việc làm trong học; Đất sản xuất; Thu nhập/người; Vay vốn ngân hàng; Miễn đóng học phí; Hỗ trợ tiền ăn; Cho dụng cụ; Cung cấp thông tin việc làm
Nguyễn Phương Linh (2011) với đề tài “Đánh giá lực lượng lao động nông thôn và đề xuất giả pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng ngoại thành thành phố Cần Thơ” đề xuất một mô hình với biến phụ thuộc như trên Các biến độc lập được Linh đưa vào mô hình nghiên cứu: Tuổi của người lao động; Giới tính; Trình độ; Đất canh tác; Số thành viên; Tỷ lệ người phụ thuộc; Thu nhập của hộ Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các biến đều có ý nghĩa
Hà Thị Oanh (2012) trong đề tài “Thực trạng lao động và ảnh hưởng của đào tạo nghề đến việc làm và thu nhập của người dân nông thôn tỉnh Đồng Tháp” có phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm sau khi học nghề nông thôn tại vùng nông thôn tỉnh Đồng Tháp Biến phụ thuộc Y là làm việc đúng nghề đã học hay không Còn các biến độc lập được sử dụng gồm: Tuổi; Giới tính; Trình độ học vấn; Trình độ chuyên môn kỹ thuật của giáo viên; Nội dung chương trình học; Mối liên kết giữa nơi đào tạo và nơi sử dụng lao động; Loại hộ; Đất sản xuất Kết quả của nghiên cứu kết luận rằng các biến sau có tác động: Trình độ học vấn; Trình độ chuyên môn kỹ thuật của giáo viên dạy nghề; Mối liên kết; Loại hộ
Lê Huyền Lan (2013) với đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của các dự án đầu
tư xây dựng đến việc làm của người dân bị thu hồi đất trên địa bàn quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ”, khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc cải thiện việc làm của lao động kết luận các yếu tố sau có ảnh hưởng đến việc làm của người lao động: Trình độ học vấn; Số nhân khẩu; Số tiền bồi thường; Mức thu nhập hiện tại so với trước khi thu hồi đất; Đào tạo nghề; Nơi làm việc
Trang 2918
Cơ sở chọn biến: bên canh tham khảo các nghiên cứu khoa học có liên
quan, tác giả còn tham khảo ý kiến của các cán bộ địa phương thông qua bảng câu hỏi điều tra thử và ý kiến của giáo viên hướng dẫn để đi đến mô hình nghiên cứu sau:
Bảng 2.3: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình 1
Biến số Diễn giải Kỳ vọng TUOITAC X1 Tuổi tác của chủ hộ (năm tuổi) + GIOITINH
X2
Biến giả, giới tính của lao động, nhận giá trị là 1 nếu là nam, nhận giá trị là 0 nếu là nữ
X5
Số tiền bồi thường nhận được sau khi gia đình bị thu hồi đất (triệu đồng) + TNTHAYDOI
X6 Mức độ tăng/giảm của thu nhập hiện tại so với trước khi thu hồi đất (%) + VIECLAM
X7
Biến giả, tình hình việc làm trước khi thu hồi đất, nhận giá trị là 1 nếu đã có việc làm, nhận giá trị là 0 nếu chưa có việc làm
+
DAOTAONGHE X8
Biến giả, lao động được đào tạo nghề sau thu hồi đất, nhận giá trị là 1 nếu có được đào tạo, nhận giá trị là 0 nếu không được đào tạo
+
Trang 30Bảng 2.4: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình 2
Tên biến Ký
hiệu
Diễn giải Kỳ
vọng TUOITAC X1 Tuổi tác của chủ hộ (năm tuổi) - GIOITINH
X2
Biến giả, giới tính của lao động, nhận giá trị là 1 nếu là nam, nhận giá trị là 0 nếu là nữ
X5 Số tiền bồi thường nhận được sau khi gia đình bị thu hồi đất (triệu đồng) - TNTHAYDOI
X6 Mức độ tăng/giảm của thu nhập hiện tại
so với trước khi thu hồi đất (%) - NOILAMVIEC
X7
Biến giả, nơi làm việc lúc trước của lao động, nhận giá trị là 1 nếu là tại nhà, nhân giá trị là 0 nếu là nơi khác
-
DAOTAONGHE X9
Biến giả, lao động được đào tạo nghề sau thu hồi đất, nhận giá trị là 1 nếu có được đào tạo, nhận giá trị là 0 nếu không được đào tạo
-
Trang 3120
Sau khi tiến hành phân tích hai mô hình hồi quy, tổng hợp kết quả phân tích giúp ta có thể đánh giá được yếu tố nào có ảnh hưởng tích cực đến việc làm và yếu tố nào khiến cho tình trạng việc làm của lao động xấu đi Từ đó, có cái nhìn toàn diện hơn về ảnh hưởng của các dự án đầu tư xây dựng đến việc làm của lao động sau thu hồi đất, góp phần đề ra những giải pháp phù hợp
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như Sở Kế hoạch đầu tư, Cục Thống kê, qua các sách báo, internet…
2.3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp các hộ dân đang sinh sống trong khu vực có dự án đầu tư và các nhà quản lý của các
dự án liên quan
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Phương pháp này được áp dụng để thực hiện đề tài vì những hạn chế về thời gian và chi phí khi thực hiện nghiên cứu Bởi do một số hộ dân bị giải tỏa trắng đã di chuyển đi nơi khác sinh sống nên việc tìm kiếm họ là rất khó khăn.Vì vậy việc tiếp cận chủ hộ cũng gặp khó khăn hơn Nên chọn mẫu thuận tiện sẽ giúp người phỏng vấn dễ tiếp xúc với đối tượng được phỏng vấn Từ
đó, tiết kiệm đáng kể chi phí khi thực hiện nghiên cứu
Tuy nhiên, do phương pháp chọn mẫu thuận tiện là một phương pháp chọn mẫu phi xác suất nên dẫn đến tính đại diện của kết quả nghiên cứu không tốt như các cách chọn mẫu theo xác suất khác do không chọn được những người dân mang những đặc tính đặc trưng của tổng thể
Để hạn chế ảnh hưởng của việc lấy mẫu thuận tiện, khi thu thập số liệu, tác giả sẽ thu mẫu ở những địa điểm tập trung nhiều hộ dân bị ảnh hưởng bởi
dự án ở nhiều nhiều dự án khác nhau Bảng 2.5 thể hiện cơ cấu mẫu theo địa bàn nghiên cứu
Trang 32Phương pháp phỏng vấn
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Đề tài sử dụng phần mềm SPSS và Excel để tiến hành phân tích số liệu thu thập thông qua bảng câu hỏi được soạn sẵn và các số liệu thứ cấp Phương pháp phân tích được chọn ứng với từng mục tiêu cụ thể như sau:
- Mục tiêu 1: Tìm hiểu tổng quan về thực trạng dự án đầu tư và tiến độ thực hiện các dự án bằng cách sử dụng số liệu thứ cấp kết hợp với việc so sánh các số tương đối, số tuyệt đối theo thời gian để có cái nhìn khái quát về tình hình dự án đầu tư
- Mục tiêu 2: Sử dụng các chỉ tiêu về tài chính và tiến độ kết hợp phân tích kết quả khảo sát một số dự án đại diện trên địa bàn nghiên cứu để đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư
- Mục tiêu 3 và 4:
+ Sử dụng phương pháp tần suất và phương pháp mô tả trong thống kê
để biết sơ lược về đối tượng người dân được phỏng vấn
+ Sử dụng một số công cụ kiểm định trong thống kế để kiểm định, kiểm tra các giả thiết được đặt ra
+ Dùng hàm hồi quy tuyến tính để xác định mức độ ảnh hưởng của dự án đến thu nhập của người dân trong vùng dự án
+ Dùng hàm hồi quy Binary Logistic để xác định ảnh hưởng của dự án đến khả năng cải thiện việc làm của người dân trong vùng dự án
- Mục tiêu 5: Đề xuất một số giải pháp nâng cao tiến độ dự án cũng như hiệu quả dự án xuất phát từ những phân tích ở các mục tiêu trên
Trang 3322
2.3.3 Sơ lược lý thuyết các phương pháp nghiên cứu
2.3.3.1 Phương pháp so sánh số tuyệt đối
Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế
∆y = -
- : chỉ tiêu năm trước
- : chỉ tiêu năm sau
- ∆y: phần chênh lệch tăng giảm của các chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp này sử dụng để so sánh số liệu của năm sau so với năm trước của chỉ tiêu xem có biến động không và tìm ra nguyên nhân biến động của các chỉ tiêu kinh tế Từ đó có cách đánh giá chính xác các hoạt động phân
tích (Mai Văn Nam, 2008)
2.3.3.2 Phương pháp so sánh số tương đối
Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế
∆y = ( - / ) * 100
- : chỉ tiêu năm trước
- : chỉ tiêu năm sau
- ∆y: biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp này nhằm làm rõ tình hình biến động của các chỉ tiêu trong thời gian nghiên cứu Việc so sánh tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giữa các năm cho thấy được sự tác động có liên quan đến các hoạt động trong phân tích Từ đó có sự nhận diện rõ các hoạt động trong nghiên cứu (Mai Văn Nam, 2008)
2.3.3.3 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê là tổng hợp các phương pháp lý thuyết và ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế bằng cách rút ra những kết luận dựa trên những số liệu và thông tin thu thập được
Thống kê mô tả là một trong hai chức năng chính của thống kê (thống kê
mô tả và thống kê ứng dụng) Thống kê mô tả là tập hợp tất cả các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu
Trang 3423
Phương pháp tần số: sử dụng bảng phân phối tần số là bảng tóm tắt dữ liệu được xếp thành từng yếu tố khác nhau, dựa trên những tần số xuất hiện của các đối tượng trong cơ sở dữ liệu để so sánh tỷ lệ, phản ánh số liệu
Giá trị trung bình (Mean): bằng tổng tất cả các giá trị biến quan sát chia cho số quan sát
Phương sai: là trung bình giữa bình phương các độ lệch giữa các biến và trung bình của các biến đó
Độ lệch chuẩn là căn bậc hai của phương sai (Mai Văn Nam, 2008)
2.3.3.4 Phương pháp kiểm định giả thiết
Kiểm định giả thiết là dựa vào các thông tin mẫu để đưa ra kết luận bác
bỏ hay chấp nhận về các giả thiết đó của thống kê Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu chấp nhận hay bác bỏ giả thiết phải hiểu theo nghĩa xác suất
Có hai loại sai lầm trong kiểm định giả thiết:
Sai lầm loại 1: Giả thiết H0 đúng nhưng qua kiểm định ta lại kết luận giả thiết sai, và do vậy bác bỏ giả thiết H0 ở mức ý nghĩa α nào đó Có nghĩa là ta bác bỏ giả thiết đúng
Sai lầm loại 2: Giả thiết H0 sai nhưng qua kiểm định, ta lại kết luận giả thiết đúng, và do vậy chấp nhận giả thiết H0 ở mức ý nghĩa α nào đó Có nghĩa
là ta chấp nhận một giả thiết sai
Tùy theo quan điểm và tính chất mà người ta cho sai lầm loại 1 hoặc loại
2 là nghiêm trọng hơn Tuy nhiên, thông thường thì người ta sẽ cho rằng sai lầm lại 1 là nghiêm trọng hơn mà thống kê cần tránh
Quy trình tổng quát trong kiểm định giả thiết:
Bước 1: Xây dựng giả thiết Ta bắt đầu kiểm định giả thiết với một giả định về một vài tham số tổng thể và sử dụng dữ liệu mẫu để kiểm tra tính logic của giả định đó
Bước 2: Chọn mức ý nghĩa mong muốn Khả năng phạm sai lầm loại 1 như đã trình bày được gọi là mức ý nghĩa và được ký hiệu là α Trên thực tế,
có 3 mức ý nghĩa thường dung nhất là 0,10; 0,05 và 0,01 tương ứng với độ tin cậy là 0,90; 0,95 và 0,99, phụ thuộc vào tính chủ quan của người nghiên cứu Bước 3: Tính trị số thống kê hay giá trị thực tế của kiểm định Trong bước này, dựa vào các lý thuyết thống kê mà chúng ta lựa chọn công thức phù hợp để qui phân phối mẫu về phân phối nào đó Giá trị thực tế của kiểm định
là cơ sở để quyết định chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết không
Trang 3524
Bước 4: Rút ra kết luận liên quan đến giả thiết không Tương ứng với mức ý nghĩa α và phân phối được xác định ở bước 3 ta tìm giá trị lý thuyết của kiểm định, thông thường là ta tra bảng hoặc sử dụng phần mềm máy tính để tìm được Sau đó chúng ta so sánh giữa giá trị thực tế và giá trị lý thuyết của kiểm định để có kết luận phù hợp với giả thuyết không
Bước 5: Kết luận Tùy thuộc vào nội dung nghiên cứu chúng ta sẽ đưa ra
kết luận phù hợp với giả thuyết không (Mai Văn Nam, 2008)
2.3.3.5 Phương pháp hồi tuyến tính
a) Khái niệm
Mục đích của phương pháp hồi qui tương quan là ước lượng mức độ liên
hệ (tương quan) giữa các biến độc lập (biến giải thích) đến biến phụ thuộc (biến được giải thích) Phương pháp này được ứng dụng trong kinh tế và kinh doanh để phân tích mối liên hệ giữa hai hay nhiều biến ngẫu nhiên
Phương trình hồi qui đa biến có dạng:
Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 +…+ βnXn
Trong đó:
Y là biến phụ thuộc
Xi là các biến độc lập, i= 1, 2, 3,…, n
β0, β1, β2, …, βn là các tham số hồi qui
Kết quả tính toán có các thông số cơ bản như sau:
Multiple R (Multiple correlation coefficient): hệ số tương quan bội Nói lên mối quan hệ chặt chẽ giữa biến phụ thuộc Y và các biến độc lập X Khi càng lớn, mối liên hệ càng chặt chẽ
Hệ số xác định (Multiple coefficient of determination): tỷ lệ % biến động của Y được giải thích bởi các biến Xi
Adjusted R Square: hệ số xác định đã điều chỉnh, dùng để trắc nghiệm xem có nên thêm vào một biến độc lập nữa không Khi thêm vào một biến mà
R tăng lên thì ta quyết định thêm biến đó vào phương trình hồi qui
P value (probability value): giá trị P là mức ý nghĩa α nhỏ nhất mà ở đó bắt đầu bác bỏ giả thuyết H0
Residual: phần dư của mô hình
SS (sum of squares): tổng bình phương
df: độ tự do
Trang 3625
Number of obs: số lượng các quan sát (số lượng mẫu)
* Phương pháp ước lượng thường dùng nhất trong việc khảo sát các mô hình tuyến tính là phương pháp bình phương bé nhất – ordinary least squares (OLS) (Mai Văn Nam, 2008)
b) Các lỗi thường gặp của một mô hình hồi qui tuyến tính:
- Phương sai sai số thay đổi
- Tự tương quan
- Đa cộng tuyến
- Bỏ sót biến
2.3.3.6 Phương pháp mô hình hồi quy Binary logistic
Mô hình hồi quy Binary Logistic sử dụng biến phụ thuộc Y ở dạng nhị phân để ước lượng xác suất một sự kiện sẽ xảy ra với những thông tin biến độc lập có được Biến Y nhận 2 giá trị là 0 và 1, với 0 là sự kiện không xảy ra và 1
là sự kiện xảy ra
Mô hình hồi quy Binary Logistic có dạng như sau:
[
] Với: P(Y=1) là xác suất để sự kiện xảy ra
P(Y=0) là xác suất để sự kiện không xảy ra
β2 cho biết khi Xi tăng 1 đơn vị thì loge của tỷ lệ [P(Y=1)/P(Y=0)] tăng
β2 đơn vị Đồng thời do Pi đồng biến với vế trái của phương trình nên khi hệ
số β2 mang dấu dương thì tăng Xi sẽ làm tăng khả năng Y nhận giá trị 1 trong khi hệ số âm làm giảm khả năng này
Tỷ số của xác suất để sự kiện xảy ra và xác suất để sự kiện không xảy ra được gọi là tỷ số odds Tỷ số đó có dạng:
Trong đó: Zi = β1+ β2Xi
Mức độ phù hợp của mô hình hồi quy Binary Logistic được đo lường bằng chỉ tiêu -2LL (viết tắt của -2 log likelihood) -2LL càng nhỏ càng thể hiện mức độ phù hợp của mô hình càng cao Ngoài ra, ta có thể kiểm định ý nghĩa của các hệ số bằng kiểm định Wald
Trang 3726
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ ĐỊA BÀN
NGHIÊN CỨU – QUẬN NINH KIỀU 3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lí
Về tọa độ địa lí, thành phố Cần Thơ nằm trong giới hạn105o13’38” đến
105o50’35” kinh độ Đông và 9o55’08” đến 10o19’38” vĩ độ Bắc, trung tâm thành phố Cần Thơ cách thành phố Hồ Chí Minh 170km
Thành phố Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm vùng ĐBSCL, trải dài trên 55km dọc bờ Tây sông Hậu, phía Bắc giáp An Giang, phía Nam giáp Hậu Giang, phía Tây giáp Kiên Giang, phía Đông giáp Vĩnh Long và Đồng Tháp
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Cần Thơ
Hình 3.1 Bản đồ hành chính Thành phố Cần Thơ Thành phố Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm vùng ĐBSCL, trải dài trên 55km dọc bờ Tây sông Hậu, phía Bắc giáp An Giang, phía Nam giáp Hậu Giang, phía Tây giáp Kiên Giang, phía Đông giáp Vĩnh Long và Đồng Tháp
Trang 383.1.2 Lịch sử hình thành
Năm 1739, vùng đất Cần Thơ được khai phá và chính thức có mặt trên
dư đồ Việt Nam với tên gọi là Trấn Giang Cùng phát triển với những thăng trầm của lịch sử dân tộc Việt Nam, vùng đất Trấn Giang đã trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính
- Thời Nhà Nguyễn, Cần Thơ là đất cũ của tỉnh An Giang
- Thời Pháp thuộc, Cần Thơ được tách ra thành lập tỉnh, một thời được mệnh danh là Tây Đô, và là trung tâm của vùng Tây Nam Bộ
- Đến Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Cần Thơ đổi thành tỉnh Phong Dinh
- Sau năm 1975, tỉnh Phong Dinh, tỉnh Ba Xuyên và tỉnh Chương Thiện hợp nhất để thành lập tỉnh Hậu Giang, trong đó thành phố Cần Thơ là tỉnh lỵ
- Cuối năm 1991, tỉnh Hậu Giang lại chia thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng Thành phố Cần Thơ là tỉnh lỵ tỉnh Cần Thơ
- Ngày 26/11/2003, Quốc Hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11, tỉnh Cần Thơ được chia thành thành phố Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang
3.1.3 Khí hậu
Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28°C,
số giờ nắng trung bình cả năm khoảng 2.249,2h, lượng mưa trung bình năm đạt 1600 mm Độ ẩm trung bình năm giao động từ 82% - 87% Do chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lợi thế về nền nhiệt độ, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm
Trang 3928
3.1.4 Đất đai và sông ngòi
Tổng diện tích đất tự nhiên 140.894,92 ha chiếm 3,47% diện tích vùng ĐBSCL; trong đó đất nông nghiệp là 115.091,52 ha chiếm 81,69%; Đất phi nông nghiệp 25.607,9 ha chiếm 18,18%; Đất chưa sử dụng 195,5 ha chiếm 0,14%
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của thành phố Cần Thơ
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Cần Thơ, 2012
Thành phố Cần Thơ nằm toàn bộ trên đất có nguồn gốc phù sa sông Mê Kông bồi đắp và được bồi lắng thường xuyên qua nguồn nước có phù sa của dòng sông Hậu Địa chất trong thành phố được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50 mét có hai loại trầm tích là Holocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù
sa cổ)
Địa hình nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông, ngư nghiệp, với độ cao trung bình khoảng 1 – 2 mét dốc từ đất giồng ven sông Hậu, và sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng tức là từ phía đông bắc sang phía tây nam Bên cạnh đó, thành phố còn có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lập Thành phố Cần Thơ có 3 dạng địa hình chính là địa hình ven sông Hậu hình thành dải đất cao là đê tự nhiên và các cù lao ven sông Hậu
Ngoài ra do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá chằng chịt Vùng tứ giác Long Xuyên, thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp hàng năm Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng triều cùng lũ cuối vụ
Trang 40Về số đơn vị hành chính quận Ninh Kiều có 13 phường: An Bình, An
Cư, An Hòa, An Hội, An Khánh, An Lạc, An Nghiệp, An Phú, Cái Khế, Hưng Lợi, Tân An, Thới Bình, Xuân Khánh
Bảng 3.2: Thông tin các đơn vị hành chính thành phố Cần Thơ năm 2012
Ðơn vị hành chính
cấp Huyện
Diện tích (km2)
Dân số
2012 (người)
Mật độ dân số (người/km2
)
Số đơn vị hành chính
Quận Ninh Kiều 29,20 252.189 8.637 13 phường Quận Bình Thủy 70,59 117.809 1.669 8 phường Quận Cái Răng 62,53 89.453 2.750 7 phường Quận Ô Môn 125,41 133.297 1.063 7 phường Quận Thốt Nốt 117,87 163.259 1.385 9 phường Huyện Phong Điền 119,48 100.641 324 1 thị trấn và 6 xã Huyện Cờ Đỏ 310,48 125.367 404 1 thị trấn và 9 xã Huyện Thới Lai 255,66 122.815 479 1 thị trấn và 12 xã Huyện Vĩnh Thạnh 297,59 115.330 388 2 thị trấn và 9 xã
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Cần Thơ, 2012
3.2.2 Dân số
Tính đến năm 2011, dân số toàn Thành phố Cần Thơ đạt gần 1.200.300 người, mật độ dân số đạt 852 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 791.800 người, dân số sống tại nông thôn đạt 408.500 người Dân số nam đạt 600.100 người, trong khi đó nữ đạt 600.200 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,2% (Tổng cục Thống Kê Việt Nam, 2011)
Dân số trung bình của thành phố Cần Thơ năm 2012 là 1.220.160 người tăng 10.968 người, trong đó nam là 606.713 người chiếm 49,72% tăng 0,02%
so với năm 2011, nữ là 613.447 người chiếm 50,28% giảm 0,02% so với năm 2011.Cơ cấu dân số nữ ở năm 2011 và năm 2012 đều cao hơn cơ cấu dân số nam Cơ cấu dân số trẻ trong xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa