TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN THỊ MINH TRÚC PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TRONG SẢN XUẤT LÖA CỦA NÔNG H
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ MINH TRÚC
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TRONG SẢN XUẤT LÖA CỦA NÔNG
HỘ TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Mã số ngành: 52340201
01 - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ MINH TRÚC MSSV:4105710
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TRONG SẢN XUẤT LÖA CỦA NÔNG
HỘ TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Mã số ngành: 52340201
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS PHAN ĐÌNH KHÔI
01 - 2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ - -
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho em học tập nghiên cứu; cảm ơn quý thầy cô khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho em sau này
Trong quá trình thu thập số liệu, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị, cô chú tại các Sở, Ban ngành tỉnh Đồng Tháp như Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Cục Thống kê, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư và các UBND xã Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy Phan Đình Khôi đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này
Với thời gian thực hiện đề tài trong thời gian ngắn, mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô, giúp em bổ sung, hoàn thiện kiến thức hơn
Cuối lời, em xin kính chúc quý thầy cô nhiều sức khỏe, luôn nhiệt huyết giảng
dạy để tiếp tục truyền đạt kiến thức cho chúng em và thế hệ mai sau
Trân trọng!
Ngày 15 tháng 05 năm 2014 Sinh viên thực hiện
NGUYỄN THỊ MINH TRÖC
Trang 4LỜI CAM ĐOAN - -
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày 15 tháng 05 năm 2014 Sinh viên thực hiện
NGUYỄN THỊ MINH TRÖC
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
- -
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014 Giáo viên hướng dẫn
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
- -
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014 Giáo viên phản biện
Trang 7DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
-
Bảng 2.1: Tổng hợp các biến và dấu kỳ vọng các hệ số trong mô hình 17
Bảng 4.1: Thông tin cơ bản của nông hộ 29
Bảng 4.2: Trình độ học vấn của chủ hộ tỉnh Đồng Tháp 31
Bảng 4.3: Kết quả sản xuất năm 2013 33
Bảng 4.4: Thu nhập và tiết kiệm của nông hộ 34
Bảng 4.5: Lý do không vay vốn của nông hộ 36
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng của mô hình 42
DANH MỤC HÌNH Trang -
Hình 4.1: Phân loại nông hộ 30
Hình 4.2: Chi phí sản xuất lúa của nông hộ 33
Hình 4.3: Tình hình vay vốn của nông hộ tỉnh Đồng Tháp 35
Hình 4.4: Mục đích vay vốn của nông hộ 35
Hình 4.5: Tình hình phổ biến thông tin BHNN tại Đồng Tháp 37
Hình 4.6: Nguồn cung cấp thông tin BHNN 37
Hình 4.7: Tình hình tham gia BHNN của nông hộ tại tỉnh Đồng Tháp 36
Hình 4.8: Lý do tham gia BHNN của nông hộ 36
Hình 4.9: Lý do không tham gia BHNN của nông hộ 39
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt
BHNN Bảo hiểm nông nghiệp
BVTV Bảo vệ thực vật
Trang 8MỤC LỤC
Trang
-
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Cấu trúc bài viết 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.2 Lược khảo tài liệu 12
2.3 Phương pháp nghiên cứu 15
Chương 3: GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 21
3.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 21
3.2 Tình hình tham gia Bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất láu của nông hộ tỉnh Đồng Tháp 26
Chương 4: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BHNN TRONG SẢN XUẤT LÖA CỦA NÔNG HỘ TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP 29
4.1 Đặc điểm nông hộ tỉnh Đồng Tháp 29
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định Bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa của nông hộ tỉnh Đồng Tháp 40
4.3 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của Bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa của nông hộ 44
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 1 53
PHỤ LỤC 2 63
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong hai vựa lúa của cả nước với tổng diện tích khoảng 4 triệu hecta, chiếm khoảng 12% tổng diện tích lãnh thổ Việt Nam ĐBSCL là khu vực có tiềm năng rất lớn để phát triển nền nông nghiệp hiện đại của đất nước Hơn thế nữa, ĐBSCL đóng góp khoảng 55% trong tổng diện tích sản xuất nông nghiệp và khoảng 65% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp quốc gia Trong đó, sản xuất lúa gạo đạt 56% trong tổng sản lượng và gần 90% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của quốc gia (Nguồn: tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê, 2012) Tuy nhiên, những năm qua dù cho năng suất và sản lượng lúa liên tục tăng cao nhưng cuộc sống của người nông dân trồng lúa vẫn còn chịu nhiều rủi ro, thiệt thòi, đời sống chậm cải thiện, khó đạt mục tiêu xây dựng nông thôn mới Khó khăn lớn nhất của nông dân ĐBSCL là sản xuất và thu hoạch còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Vào mùa mưa vùng trũng bị ngập úng, nhiều lúa non bị chết, mùa khô nhiều nơi khô hạn và bị nước mặn xâm nhập, độc canh cây lúa còn phổ biến, sâu bệnh đe dọa thường xuyên trên đồng ruộng Ðiều kiện phơi sấy không bảo đảm cho nên nông dân phải chịu rất nhiều rủi ro khi thu hoạch các vụ lúa trong mùa mưa Những biến đổi khí hậu càng làm cho nông dân vùng ĐBSCL khó khăn hơn trong sản xuất và thu hoạch lúa Việc tiêu thụ lúa sau thu hoạch lại hoàn toàn phụ thuộc vào giá cả trên thị trường, người
Trang 10nông dân không có quyền quyết định giá bán và tình trạng được mùa rớt giá của người nông dân kéo dài từ vụ này sang vụ khác, năm này qua năm khác Chính vì thế, với mục tiêu hình thành trợ lực cho sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, hỗ trợ cho quá trình xây dựng nông thôn mới, Bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) ra đời là hình thức giúp người nông dân giảm bớt khó khăn khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh
Bảo hiểm nông nghiệp là một trong những chính sách hỗ trợ cho người sản xuất lúa nhằm chủ động khắc phục, bù đắp thiệt hại do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, an ninh lương thực Tuy nhiên, việc tham gia bảo hiểm nông nghiệp cho cây lúa của các nông hộ tại tỉnh Đồng Tháp vẫn chưa thật sự đạt kết quả như mong đợi Các hộ nông dân vẫn còn e ngại khi tham gia loại hình bảo hiểm này, tỷ lệ hộ nông dân bình thường tham gia bảo hiểm rất thấp, chủ yếu vẫn là các hộ nghèo và cận nghèo tham gia Do đó, đề tài
”Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa của nông hộ tại tỉnh Đồng Tháp” là cần thiết để tìm
hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia Bảo hiểm nông nghiệp cho cây lúa của nông hộ, đồng thời đề ra các giải pháp cụ thể để chương trình thí điểm BHNN thực sự đi vào cuộc sống của mọi nhà nông
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tình hình tham gia Bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia Bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa của nông hộ tại tỉnh Đồng Tháp nhằm đề xuất giải pháp giúp chương trình thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp đạt hiệu quả cao hơn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài được hình thành nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:
(1) Đánh giá thực trạng tham gia BHNN trong sản xuất lúa của nông hộ;
(2) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN trong sản xuất lúa của nông hộ;
Trang 11(3) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận với BHNN trong sản xuất lúa của nông hộ
- Thời gian thu số liệu từ tháng 2/2014 đến tháng 3/2014
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014
1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nông hộ sản xuất lúa ở tỉnh Đồng Tháp bao gồm những hộ không tham gia BHNN và có tham gia BHNN trong sản xuất lúa Bên cạnh đó, nghiên cứu còn thu thập thông tin từ các phòng nông nghiệp của các huyện chọn thu mẫu, các cán bộ tham gia trực tiếp vào chương trình thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
1.4 CẤU TRÖC BÀI VIẾT
Bài nghiên cứu làm rõ các vấn đề như mục tiêu nghiên cứu đã định và trình bày theo 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN trong sản xuất lúa của nông hộ tỉnh Đồng Tháp
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các vấn đề liên quan đến bảo hiểm nông nghiệp
2.1.1.1 Sơ lược về bảo hiểm nông nghiệp
Nông nghiệp luôn chứa đựng nhiều rủi ro, không giống như bất kỳ ngành công nghiệp nào, bởi nông nghiệp phải chịu sự thay đổi của thiên nhiên ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Trong các nước đang phát triển, rủi ro về năng suất là phổ biến do đa số những người nông dân nghèo thì có rất ít phương tiện hiện đại, nguồn lực kinh tế bị hạn chế, nên họ bị ảnh hưởng rất nhiều khi xảy ra mất mùa, năng suất thấp Bảo hiểm nông nghiệp là một công cụ cũng như một cơ chế hiệu quả hơn để đối phó với các vấn đề của nền nông nghiệp, đồng thời bảo hiểm nông nghiệp làm giảm các chi phí trực tiếp cũng như gián tiếp cho nền kinh
tế quốc dân (Jain, 2004)
Trong bài nghiên cứu Mức phí sẵn lòng trả cho bảo hiểm giá lúa của các nông hộ ở Cần Thơ của Phạm Lê Thông (2013), tác giả chỉ ra rằng nông dân thường phải đương đầu với những rủi ro làm giảm năng suất và thu nhập nên nông dân phảm áp dụng những chiến lược để đối phó với những rủi ro này Những chiến lược này rất đa dạng và BHNN là công cụ thị trường quan trọng mà nông dân thường sử dụng để bảo vệ năng suất và doanh thu khỏi những rủi ro, từ
đó ổn định thu nhập và kế sinh nhai trong ngắn hạn, để có thể đầu tư vào những hoạt động sinh lợi cao hơn nhưng cũng rủi ro hơn cũng như ứng dụng những kỹ thuật mới vào sản xuất trong dài hạn Sự tham gia của nông dân là yếu tố quan trọng đảm bảo sự tồn tại của các chương trình bảo hiểm Theo Ellis (1993), nông dân dựa trên sự đánh giá của mình về khả năng xảy ra các sự kiện bất định và những thiệt hại có thể có của những sự kiện này để đưa ra quyết định tham gia gia bảo hiểm nhằm tối đa hóa hữu dụng
Tương tự như quan điểm trên, Mahul (2011) cho rằng bảo hiểm nông nghiệp là một công cụ mà nông dân và các bên có liên quan khác có thể sử dụng
Trang 13để quản lý rủi ro quá lớn, vượt khỏi tầm kiểm soát của mình Một phần rủi ro sẽ được chuyển giao cho một bên khác và đồng thời những người muốn chuyển giao rủi ro sẽ phải trả một khoản phí gọi là phí bảo hiểm Bảo hiểm nông nghiệp (bao gồm cây trồng, vật nuôi) có thể cung cấp các lợi ích to lớn cho các hộ nông dân Khi có sự thay đổi bất thường của thời tiết thì bảo hiểm được thiết kế để bảo
vệ doanh thu, thu nhập bị thua lỗ của nông dân giúp họ tránh được việc phải bán tài sản sinh kế và phải tiêu dùng hết các khoản tiế kiệm của gia đình Ngoài ra, bảo hiểm nông nghiệp hỗ trợ người nông dân trong việc tiếp cận các cơ hội mới bằng cách cải thiện khả năng của mình để vay vốn giúp họ có thể tiến hành các
mô hình canh tác mới mà có thể đạt lợi nhuận cao hơn và an toàn hơn Tác giả phân loại bảo hiểm cây trồng như sau:
- Bảo hiểm truyền thống: bao gồm Bảo hiểm một loại cây trồng cụ thể và Bảo hiểm nhiều loại cây trồng Ưu điểm của nhóm bảo hiểm này là cách thức tham gia cũng như quy tắc bồi thường đơn giản, có lịch sử phát triển từ lâu nên phổ biến trên thị trường và đáp ứng được như cầu đảm bảo thu nhập và sản xuất cho nông dân Tuy nhiên, nhóm bảo hiểm này không phù hợp với các nguy cơ, rủi ro phức tạp (như sâu hại, hạn hán, ), dễ xảy ra rủi ro đạo đức và tốn nhiều chi phí giám định tổn thất trong hệ thống quy mô canh tác nhỏ
- Bảo hiểm theo chỉ số: bao gồm Bảo hiểm chỉ số năng suất phân theo khu vực và Bảo hiểm chỉ số thời tiết Nhóm bảo hiểm này hình thành nhămg khắc phục các nhược điểm của nhóm bảo hiểm truyền thống vì tránh được rủi ro đạo đức, có thể áp dụng cho các nguy cơ thảm họa ảnh hưởng trên diện tích rộng lớn, thông tin minh bạch, khách quan (giải quyết dựa vào dữ liệu khí tượng MET) nên chi phí giám định thấp và dễ dàng để tái bảo hiểm Nhưng nhược điểm của nhóm này là các dữ liệu về lịch sử năng suất của địa phương thường không có sẵn và không đáng tin cậy; công việc thiết lập các thước đo chỉ số là kỹ thuật phức tạp
và cần cơ sở dữ liệu khí tượng, nông học, mô hình canh tác tương đối chuẩn Còn theo Nguyễn Quốc Nghi (2011) bảo hiểm nông nghiệp là công cụ tài chính cần thiết, góp phần quan trọng duy trì sự phát triển ổn định của sản xuất nông nghiệp Ở Việt Nam, hiện nay, bảo hiểm nông nghiệp có ba dòng sản phẩm chính là:
Trang 14- Bảo hiểm truyền thống: Tính trên giá trị thu hoạch của từng cây trồng, vật nuôi, thiệt hại bao nhiêu thì công ty bảo hiểm sẽ trả cho nông dân bấy nhiêu;
- Bảo hiểm theo chỉ số thời tiết: Thực hiện bảo hiểm theo chỉ số lũ lụt hoặc chỉ số khô hạn;
- Bảo hiểm theo chỉ số sản lượng: Căn cứ vào phần chênh lệch giữa sản lượng trên lý thuyết và sản lượng thu hoạch thực tế để bồi thường
2.1.1.2 Giới thiệu Chương trình thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp
Vùng ĐBSCL còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, nhất là nông dân, bởi với gần một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3-4 tháng mỗi năm, cùng với thiên tai, dịch bệnh trên cây lúa, thủy sản xảy ra hàng năm,…
Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01-3-2011 thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 đối với 7 tỉnh vùng ĐBSCL Trong đó, thực hiện bảo hiểm đối với cây lúa tại 2 địa phương là An Giang và Đồng Tháp, thực hiện bảo hiểm đối với nuôi trồng thủy sản cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm chân trắng tại các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu và Cà Mau Thời gian thực hiện từ ngày 01-7-2011 đến hết năm 2013 Mục đích của thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp nhằm hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính
do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần bảo đảm ổn định an sinh xã hội nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp
Các mức hỗ trợ gồm: hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp; hỗ trợ 80% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp; hỗ trợ 60% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân không thuộc diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp; hỗ trợ 20% phí bảo hiểm cho tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp
Theo Hội nghị đánh giá kết quả sau 2 năm triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) tại 21/63 tỉnh, thành phố được chọn làm thí điểm bảo
Trang 15hiểm về cây trồng, vật nuôi và thủy sản theo Quyết định 315 của Thủ tướng Chính phủ, sau thời gian triển khai, kết quả đạt được lớn nhất mà các tỉnh, thành được chọn làm thí điểm đều khẳng định là việc bảo hiểm nông nghiệp là đúng đắn và rất cần thiết nhằm hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp, chủ động khắc phục và bù đắp những thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai dịch bệnh gây
ra góp phần bảo đảm ổn định an sinh xã hộ nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Với mục tiêu đó nên các tỉnh, thành đã tập trung tổ chức chỉ đạo, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc và làm tốt công tác tuyên truyền nên bước đầu đã thu được kết quả đáng ghi nhận
Tuy nhiên, những khó khăn trong quá trình triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp mà các tỉnh, thành thường gặp phải đó là bảo hiểm nông nghiêp là loại hình bảo hiểm mới rất phức tạp, lần đầu tiên làm thí điểm nên chưa có kinh nghiệm Phạm vi, đối tượng, địa bàn bảo hiểm nông nghiệp là khá rộng, mặt khác
do tính chất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam là sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa tập trung Diễn biến thời tiết khí hậu, thiên tai, dịch bệnh thời gian qua rất phức tạp, tình hình giá cả thị trường, vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi nhiều biến động làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp Nhiều nơi người dân chưa mặn mà với việc việc tham gia bảo hiểm cây trồng vật nuôi hoặc một số hộ dân, tổ chức sản xuất nông nghiệp còn tham gia mang tính chất thăm dò, thậm trí có trường hợp lựa chọn đối tượng được bảo hiểm có rủi ro cao để tham gia
Định hướng công việc trong thời gian tới mà Ban chỉ đạo BHNN Trung ương đưa ra để các tỉnh thành triển khai là tiếp tục nghiên cứu đề xuất các chính sách cho những năm sau về bảo hiểm nông nghiệp Rà soát, ban hành các quy trình trồng lúa, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản cho phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp tại địa phương Tăng cường các hình thức tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho người dân về bảo hiểm nông nghiệp để nâng cao số hộ dân tham gia đợt bảo hiểm thí điểm này Đồng thời tiếp tục tổ chức triển khai ký kết hợp đồng bảo hiểm cho người dân đảm bảo đúng đối tượng, chính sách, phạm vi, quy tắc bảo hiểm Thực hiện tốt việc giải quyết bồi thường, tuân thủ quy định,
Trang 16phòng ngừa trục lợi bảo hiểm Các hợp đồng bảo hiểm thí điểm tại các hộ dân được ký kết đến ngày 31/12/2013 và sẽ tổng kết đánh giá trước ngày 30/6/2014
Sau khi triển khai chương trình thí điểm, không ít các nhà nghiên cứu, chuyên gia cũng như các nhà chuyên trách nêu ra các ý kiến về Chương trình bảo hiểm nông nghiệp thí điểm của nước ta Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ, “Bảo hiểm nông nghiệp là một trong những chính sách ưu tiên, nhằm tạo ra một công cụ dự phòng rủi ro ưu việt trong điều kiện ngành nông nghiệp nước ta nhiều thiên tai, dịch bệnh, nhưng dự phòng rủi ro của người nông dân lại mỏng” Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng cho rằng, “việc triển khai thí điểm bảo hiểm trong nông nghiệp cũng còn chậm và chưa đồng đều giữa các địa phương Số hộ dân tham gia chưa nhiều, diện tích tham gia bảo hiểm chưa lớn, số lượng vật nuôi thủy sản tham gia bảo hiểm chiếm tỷ lệ thấp” Ông Christopher Coe, Giám đốc
Tư vấn tái bảo hiểm nông nghiệp Đông Nam Á của Aon Benfield cũng cùng quan điểm trên, ông cho rằng “bảo hiểm nông nghiệp giúp ổn định tài chính cho người dân và đào tạo cho họ kỹ năng quản lý rủi ro tốt hơn” nhưng ông nhấn mạnh “Việt Nam phải đối mặt không ít thách thức để xây dựng một chương trình bảo hiểm nông nghiệp thành công Thách thức lớn nhất là tâm lý người nông dân chưa có thói quen mua bảo hiểm, dẫn đến việc tuyên truyền, vận động tham gia bảo hiểm gặp khó; sự phân tán của những đối tượng được bảo hiểm trên toàn quốc cũng gây khó cho việc thu phí và chi trả bồi thường”
Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia chương trình bảo hiểm này,
Bộ trưởng Vương Đình Huệ cho rằng: “Các doanh nghiệp phải nỗ lực hơn nữa để thúc đẩy chương trình Tuy đây là một lĩnh vực phi lợi nhuận, nhưng về lâu dài
sẽ là cơ hội cho các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển các loại công cụ tài chính
vi mô, cơ hội để các doanh nghiệp mở rộng thị trường, phát triển đưa vào thị trường các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp khác”
3.1.2 Tìm hiểu về nông hộ
3.1.2.1 Định nghĩa
Theo Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 Việt Nam, hộ gia đình là hộ mà
các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh
Trang 17doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này
Giáo sư Frank Ellis (1993) đưa ra một số định nghĩa về nông dân, nông
hộ Theo ông các đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là:
Thứ nhất, đất đai: Với người nông dân, ruộng đất chính là một yếu tố hơn
hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai
Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc
tính kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản
Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người nông dân làm công việc của gia
đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy, nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận
Tóm lại, trong kinh tế, nông hộ được quan niệm trên nhiều khía cạnh:
- Nông hộ là hộ gia đình sống ở nông thôn, tham gia trong các ngành nghề sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản) và phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ) ở các mức độ khác nhau Thành viên cùng chung sống dưới một mái nhà, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình
- Nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông thôn không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông thôn càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ ở vùng nông thôn nước ta trong tình hình hiện nay
Nông hộ được phân loại dựa vào các tiêu chí sau:
Trang 18- Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có:
+ Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường
Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hoá lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để
có thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào: Khả năng
mở rộng diện tích đất đai, có thị trường lao động để họ mua nhằm lấy lãi, có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập và có thị trường sản phẩm
để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình
+ Hộ nông dân sản xuất hàng hoá chủ yếu: loại hộ này có mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động
- Theo tính chất của ngành sản xuất hộ gồm có:
+ Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp
+ Hộ chuyên nông: là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt, may, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp
+ Hộ kiêm nông: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính
+ Hộ buôn bán: ở nơi đông dân cư, có quầy hàng hoặc buôn bán ở chợ
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hoá Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp tăng lên
2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của nông hộ
Nông hộ là đơn vị tái sản xuất chứa đựng các yếu tố hay các nguồn lực của quá trình tái sản xuất (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật), là đơn vị sản xuất tự thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên việc phân bổ các nguồn lực vào các ngành sản xuất để thực hiện tốt các chức năng của nó Trong quá trình đó, nó có mối liên hệ
Trang 19chặt chẽ với các đơn vị khác và với hệ thống kinh tế quốc dân Khai thác đầy đủ những khả năng và tiềm lực của hộ nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân
Nông hộ là tế bào kinh tế - xã hội, là hình thức tổ chức cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tồn tại từ lâu đời ở các nước nông nghiệp Nông hộ bao gồm chủ yếu cha mẹ và con cái, có hộ còn có cả ông bà và cháu chắt
Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống Về kinh tế các thành viên trong nông hộ gắn với nhau trong quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm Các thành viên trong nông hộ có chung mục tiêu và lợi ích
là lao động nhằm đáp ứng nhu cầu và thoát khỏi đói nghèo, phát triển kinh tế để ngày càng giàu có
Trong mỗi nông hộ thường cha hay mẹ là chủ hộ, vừa là người tổ chức phân công lao động vừa trực tiếp lao động Các thành viên trong gia đình cùng lao động, gần gũi nhau, hiểu nhau về khả năng, đặc điểm của mỗi người nên tạo điều kiện cho việc phân công hợp tác được hợp lý
Kinh tế hộ gia đình phần lớn sản xuất với qui mô nhỏ, tự cấp, tự túc, do ruộng đất giao cho các hộ manh mún, bình quân ruộng đất trên đầu người thấp, chưa thích ứng với kinh tế thị trường Trình độ học vấn, trình độ tay nghề của người lao động thấp, việc tổ chức sản xuất, kinh doanh của các hộ gia đình chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên chất lượng sản xuất, kinh doanh chưa cao và thiếu bền vững Chất lượng sản phẩm hàng hoá của các hộ gia đình chưa cao, chủ yếu dưới dạng thô, tiêu thụ khó khăn, chưa nắm bắt được thị trường, nên còn thụ động, hiệu quả thấp
Thách thức khác đối với nông dân nước ta nói chung và kinh tế hộ nói riêng trong tiến trình hội nhập ngày một sâu vào kinh tế thế giới là chênh lệch lớn về
năng suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp Bên cạnh đó, hộ
nông dân thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối khắc nghiệt của quy luật
thị trường Trong kinh tế thị trường, việc tìm ra cây gì, con gì để cho sản xuất
hàng hóa lớn đã khó, thì việc tiếp cận đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp mấy năm gần đây cũng đang khó khăn không kém Đã thế, thị trường đầu vào của sản xuất nông nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân, giá lên
Trang 20cao liên tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc mua giá thấp với khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những nhà cung cấp tin cậy và ổn định, và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn phương án
tối ưu
Các khó khăn trong khâu sơ chế và chế biến sau thu hoạch cũng tạo ra một cản trở lớn đối với kinh tế hộ nông dân Phần lớn các hộ nông dân đều thiếu kỹ thuật và khả năng sơ chế nông sản sau thu hoạch, thiếu thông tin thị trường, chi phí giao dịch cao Nên phần lớn nông sản chưa nâng được thêm giá trị kinh tế đáng kể trong các khâu tiếp theo của quy trình sản xuất đến tay người tiêu dùng,
kể cả mẫu mã, tiếp thị và tiêu thụ, xuất khẩu Nhiều hộ nông dân đang rất cần đến những sự trợ giúp có tính chất cộng đồng, hiệp hội ngành hàng hay hợp tác trong các khâu, nhất là đầu vào và đầu ra của sản xuất, nhưng các hợp tác xã hiện nay trong nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ, do chưa hoạt động thật hiệu quả và thiết thực Cuối cùng là quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang làm giảm dần diện tích đất sản xuất của người nông dân Tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi, trong lúc chưa chuẩn bị kịp các điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp làm cuộc sống của nông hộ gặp nhiều khó khăn
2.2 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
Khi thảo luận về vấn đề Thực trạng của Bảo hiểm nông nghiệp, tác giả
Nguyễn Quốc Nghi (2011) phân tích các nguyên nhân làm hoạt động bảo hiểm nông nghiệp không mang lại hiệu quả trong bài viết Giải pháp phát triển thị
trường bảo hiểm nông nghiệp Đặc điểm quy mô diện tích/nông hộ không lớn
gây khó khăn cho việc triển khai đại trà bảo hiểm nông nghiệp Ngoài ra, các yếu
tố như kỹ thuật canh tác theo kinh nghiệm, trình độ nguồn nhân lực nông thôn và
sự thiếu hụt thông tin thị trường, tài chính cũng góp phần gây khó khăn cho thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam Tương tự như tác giả Nguyễn Quốc Nghi, bài nghiên cứu Giải pháp góp phần phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở nước ta của Lê Khương Ninh (2013) cũng chỉ ra các nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển của thị trường bảo hiểm nông nghiệp Ba nguyên nhân chính khiến thị trường bảo hiểm nông nghiệp kém phát triển là rủi ro hệ thống trong sản xuất nông nghiệp, thông tin bất đối xứng dẫn đến hiện tượng lựa chọn sai lầm, động cơ lệch lạc của đối tượng được bảo hiểm (nông hộ) và trợ cấp của
Trang 21Chính phủ dẫn đến tâm lý ỷ lại, làm cho động cơ của nông hộ càng trở nên lệch lạc hơn
Bên cạnh các phân tích của hai tác giả trên, bài nghiên cứu Agricuture and
rural development discussion paper của tác giả Mahul (2011) có cách nhìn rộng hơn và khái quát hơn về vấn đề hiệu quả của bảo hiểm nông nghiệp Trong bài viết, tác giả đưa ra một số bài học về bảo hiểm cây trồng ở các nước phát triển Đầu tiên, chính sách bảo hiểm MPCI (Multiple Peril Crop Insurance) không có lợi thế trở thành một chính sách chuẩn vì không có sự phân biệt giữa các loại cây trồng được bảo hiểm, có vấn đề lớn về rủi ro đạo đức, chi phí hoạt động cao vì cần nhiều trợ cấp Tuy nhiên, sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số năng suất phân theo khu vực lại là một sản phẩm tương đối tốt hơn, mặc dù không phổ biến Loại hình bảo hiểm theo chỉ số thời tiết là một phát triển mới cho các ứng dụng nông nghiệp Nhưng loại hình bảo hiểm theo chỉ số không phổ biến trong các nước có thu nhập cao và bị chi phối bởi thị trường Một bài học mà tác giả đưa ra liên quan đến sự can thiệp của chính phủ Mức độ trợ cấp của chính phủ càng cao thì càng không bền vững trong tình hình tài khóa hạn chế của nền kinh tế Cuối cùng, sự thành công hay thất bại của các chương tình bảo hiểm cây trồng đều có liên quan đến nền kinh tế - chính trị của đất nước, tình hình phát triển nông nghiệp, sự phức tạp của các rủi ro gây thiệt hại và năng lực quản lý của tổ chức bảo hiểm
Còn về vấn đề yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp của nông dân, nhóm tác giả J.Qulggin, G.Kafwgiannis và J.Stanton (1993) sử dụng mô hình sản xuất Cobb - Douglas để phân tích sự ảnh hưởng của việc tham gia bảo hiểm cây trồng đến năng suất của hai nhóm nông hộ có tham gia và không tham gia bảo hiểm có cùng các điểm tương đồng về điều kiện sản xuất trong bài Crop Insurance and Crop Production: An empirical study of moral hazard and adverse selection Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách bảo hiểm cây trồng có tác dụng khích lệ sự gia tăng sản xuất, bằng chứng là năng suất của nhóm nông hộ có tham gia bảo hiểm cây trồng cao hơn so với nhóm không tham gia bảo hiểm Trong bài nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm mùa vụ của nông dân (2003) của nhóm tác giả Bruce J.Sherrick, Peter J.Barry, Paul N.Ellinger và Gary D.Schnitkey phân tích quyết định mua
Trang 22bảo hiểm mùa vụ của nông dân cũng như sự lựa chọn của họ đối với các sản phẩm thay thế bằng mô hình ước lượng hai bước Trong bài viết, tác giả đánh giá
sự ảnh hưởng của việc nhận thức rủi ro, quản lý rủi ro cũng như sự khác biệt trong cấu trúc nhân khẩu học của nông hộ Khả năng sử dụng bảo hiểm nông nghiệp cao hơn khi nông hộ nhận thức được nguy cơ về sản lượng Ngoài ra, các yếu tố như quy mô canh tác, độ tuổi, khả năng nhận thức nguy cơ và tầm quan trọng của việc quản lý rủi ro hay các biến cấu trúc, nhân khẩu học được xác định
có tác động đến sự lựa chọn giữa bảo hiểm nông nghiệp và các sản phẩm thay thế trong quá trình quản lý rủi ro của nông hộ
Cùng đề cập đến vấn đề quyết định tham gia BHNN, bài viết Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm mùa vụ của nông dân phía bắc Illinoi (2006) của hai tác giả Matthew G Ginder và Aslihan D Spaulding có sự phân tích cụ thể hơn các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia của nông hộ Tác giả tiến hành cuộc khảo sát trong một khu vực ở phía bắc vùng Illinoi vào năm 2005 nhằm làm rõ hai vấn đề lớn sau đây Đầu tiên, người tham gia được hỏi “Ai là người ảnh hưởng nhất đến quyết định mua bảo hiểm cây trồng của họ?” Đa số trả lời rằng họ thường ra quyết định mua bảo hiểm cây trồng một cách độc lập và chỉ có khoảng 25% các quyết định bị ảnh hưởng bởi các chương trình giảm giá đặc biệt của các công ty bảo hiểm hoặc các chương trình hỗ trợ từ chính phủ Vấn đề lớn còn lại được tác giả làm rõ thông qua câu hỏi “Các yếu tố nào quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm ?” Qua khảo sát cho thấy đáp viên cho rằng giá của hợp đồng bảo hiểm quan trọng hơn so với xác suất nhận được một khoản tiền thanh toán Các yếu tố như trợ cấp chính phủ, diễn biến thời tiết cũng được quan tâm nhiều
Còn trong bài nghiên cứu Mức phí sẵn lòng trả cho bảo hiểm giá lúa của các nông hộ ở Cần Thơ của Phạm Lê Thông (2013) đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất tham gia chương trình bảo hiểm được đề nghị Khả năng tham gia của các nông hộ phụ thuộc chủ yếu vào mức phí được đề nghị; mức phí này càng cao thì khả năng tham gia càng thấp Ngoài ra, diện tích và kinh nghiệm trồng lúa của nông dân là hai yếu tố quan trọng quyết định đến việc tham gia bảo hiểm của họ
Trang 23Tóm lại, trong bài nghiên cứu này cần làm rõ các vấn đề như sau: loại hình bảo hiểm nào đang chiếm tỷ lệ lớn tại địa bàn nghiên cứu; các chính sách trợ cấp của Chính phủ có giúp người nông dân tiệp cận với bảo hiểm nông nghiệp, nguyên nhân nào làm cho chính sách bảo hiểm nông nghiệp không đạt hiệu quả cao và các yếu tố như quy mô canh tác, kinh nghiệm, trình độ học vấn, có thực
sự ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp của nông hộ tỉnh Đồng Tháp không?
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Số liệu thứ cấp
Được thu thập từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp, Phòng Nông nghiệp tại ba huyện thu mẫu là Tháp Mười, Châu Thành và Tân Hồng Thu thập thông tin từ các số liệu công bố trên các báo, tạp chí chuyên ngành
2.3.1.2 Số liệu sơ cấp
Đề tài thu thập số liệu sơ cấp thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các nông hộ trồng lúa trên địa bàn nghiên cứu thuộc ba huyện thu mẫu là Tháp Mười, Châu Thành và Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp với cỡ mẫu là 300 mẫu bao gồm cả những nông hộ có tham gia và không tham gia Bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa (100 mẫu/huyện)
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả là việc mô tả dữ liệu bằng các phép tính và các chỉ số thống kê thông thường (số trung bình, số trung vị, số lớn nhất, số nhỏ nhất, tần suất, ) để đánh giá tình hình tham gia BHNN trong sản xuất lúa của nông hộ tỉnh Đồng Tháp
Tiếp theo, sử dụng mô hình Binary Logistic để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN trong sản xuất lúa của nông hộ tỉnh Đồng Tháp Mô hình Binary Logistic hay Logit nghiên cứu mối tương quan giữa một
(hay nhiều) yếu tố nguy cơ (risk factor) và đối tượng phân tích (outcome) để ước
tính độ tương quan của các yếu tố nguy cơ và đối tượng phân tích Các phương
Trang 24pháp phân tích như hồi qui tuyến tích không áp dụng được vì biến phụ thuộc không phải là biến liên tục mà là biến nhị phân
Cuối cùng, sử dụng các kết quả phân tích ở các mục tiêu 1 và 2 làm cơ sở
đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận BHNN trong sản xuất lúa của nông hộ
Mô hình Binary Logistic được xây dựng như sau:
Y = β 0 + ∑ β j X i
Ta có: Yi = 1 nếu hộ tham gia BHNN
Yi = 0 nếu hộ không tham gia BHNN
Trong đó: Y là biến nhị phân, thể hiện quyết định tham gia Bảo hiểm cây lúa của nông hộ và được đo lường bằng hai giá trị 1 và 0 (1 là nông hộ quyết định tham gia Bảo hiểm cây lúa và 0 là nông hộ quyết định không tham gia Bảo hiểm cây lúa) Các biến Xi là các biến độc lập
Trang 25Bảng 2.1 Tổng hợp các biến và dấu kỳ vọng các hệ số trong mô hình
STT Ký hiệu biến Diễn giải Kỳ vọng dấu
1 Gioitinh Giới tính của chủ hộ (1=Nam;
2 Hocvan Trình độ học vấn của chủ hộ thể
3 Kinhnghiem Số năm kinh nghiệm tham gia sản
xuất nông nghiệp của chủ hộ (năm) -
4 Solaodong Số lao động gia đình tham gia vào
5 Xavien Chủ hộ có là thành viên của cơ quan
nhà nước không (1=có; 0=không) +
6 Doituong Hộ có thuộc đối tượng hộ nghèo và
cận nghèo không (1=có; 0=không) +
7 Dientich Tổng diện tích trồng lúa của hộ
9 Kienthuc Hộ có được cung cấp các kiến thức
sản xuất không (1=có; 0=không) +
10 Thunhapkhac
Các khoản thu nhập khác không phải từ sản xuất lúa của hộ (triệu đồng/năm)
-
11 Chitieu Tổng chi tiêu của hộ trong năm
12 Sanluong Tổng sản lượng lúa mà hộ thu được
13 Tietkiem Hộ có tỷ lệ tiết kiệm bao nhiêu so
Nguồn: Tác giả
Trang 26Giải thích ý nghĩa của biến:
Giới tính (gioitinh): Nếu chủ hộ là nam thì xác suất tham gia BHNN sẽ cao hơn vì ở nông thôn, nam giới thường theo dõi và nắm bắt thông tin tốt hơn nữ giới Do vậy, họ có thể nhận thức rõ hơn ý nghĩa của dịch vụ bảo hiểm và khả năng tham gia sẽ cao hơn (Phạm Lê Thông, 2013) Điều này cũng có thể giải thích dựa vào kết luận nghiên cứu của Lê Tấn Nghiêm (2010), do phụ nữ ít dành thời gian tham gia vào hoạt động nông nghiệp (chỉ chiếm 26,51%) mà thường tìm kiếm thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp như bán hàng, may mặc do
đó các vấn đề liên quan đến sản xuất nông nghiệp như bảo hiểm nông nghiệp không được nữ giới quan tâm nhiều Hệ số β1 kỳ vọng mang dấu dương
Trình độ học vấn (hocvan): Trình độ học vấn càng cao thì việc tiếp thu và chấp nhận tham gia vào các chương trình mới trong quá trình sản xuất sẽ cao hơn nên yếu tố này được kỳ vọng sẽ tác động cùng chiều đến xác suất tham gia BHNN của nông hộ
Số năm kinh nghiệm (kinhnghiem): Số năm kinh nghiệm được kỳ vọng sẽ tác động nghịch biến đến quyết định tham gia chương trình BHNN Dự đoán này được giải thích dựa theo kết quả trong nghiên cứu của Phạm Lê Thông (2013), những nông dân trồng lúa lâu năm có thể đã thiết lập được các mối quan hệ mật thiết với các thương lái và các cơ sở thu mua, chế biến Điều này đã giúp họ ổn định được việc tiêu thụ sản phẩm của mình Mặt khác, những nông dân có nhiều kinh nghiệm có khả năng điều chỉnh hợp lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình khi xảy ra rủi ro nên họ có thể tự bảo hiểm cho mình và không sẵn lòng tham gia bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro Số lao động gia đình (solaodong): Có càng nhiều nguồn lực gia đình tham gia vào sản xuất thì sẽ đặt gánh nặng lên kết quả sản xuất vì đây là nguồn thu nhập chính của gia đình nên để tránh các rủi ro làm ảnh hưởng đến nguồn thu này thì hộ sẽ quan tâm đến các chính sách bảo hiểm
Xã viên (xavien): Khi chủ hộ có tham gia vào các cơ quan nhà nước thì sẽ
dễ dàng tiếp thu và làm theo các chính sách của địa phương hơn nên sẽ làm tăng động cơ tham gia BHNN của hộ
Trang 27Đối tượng ưu tiên (doituong): Gia đình thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo thì
sẽ tham gia nhiều hơn vì đây là chương trình hướng đến những đối tượng này nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định cho họ để họ tiếp tục tham gia sản xuất
Diện tích sản xuất (dientich): Hệ số β7 được kỳ vọng dấu dương vì diện tích càng lớn thì đáp viên có xu hướng tham gia BHNN nhiều hơn vì những hộ có diện tích đất lớn có thể sản xuất ra mức sản lượng lớn Do đó, sự biến động của giá lúa hay bất kỳ yếu tố nào cũng sẽ ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của hộ Để phòng ngừa rủi ro, các nông hộ sẵn sàng tham gia bảo hiểm để ổn định thu nhập của mình
Vay vốn (vayvon): Khi hộ có vay vốn thì càng gặp khó khăn hơn nếu bị mất mùa, năng suất sụt giảm nên tham gia BHNN là một giải pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả
Kiến thức sản xuất (kienthuc): Các hộ được cung cấp các kiến thức sản xuất thì càng muốn tham gia BHNN nhiều hơn vì họ hiểu được các nguy cơ, rủi ro mà
họ có thể gặp phải trong sản xuất và để hạn chế những bất lợi đó thì họ sẽ tham gia BHNN
Thu nhập khác (thunhapkhac) và Tổng chi tiêu (chitieu): Hai biến độc lập
sẽ tác động đến quyết định tham gia BHNN một cách đối lập nhau Nếu hộ càng
có nhiều thu nhập khác thì sẽ không muốn tham gia BHNN vì nếu thu nhập từ sản xuất lúa có sụt giảm thì họ vẫn còn nguồn thu khác để đảm bảo cuộc sống, trong khi đó những họ có chi tiêu càng lớn thì càng muốn tham gia BHNN vì gánh nặng trên thu nhập là rất lớn Một kết quả trong nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi (2011) lý giải nguyên nhân nông hộ e ngại khi quyết định tham gia BHNN, trong khi ngành nông nghiệp thì phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, nhiều khi được mùa lại mất giá Cũng vì người nông dân không thể tính toán được kết quả thu về bao nhiêu nên họ sẽ không mạo hiểm chấp nhận trả thêm một khoản phí không nhỏ cho bảo hiểm
Sản lượng (sanluong) và Tiết kiệm (tietkiem): Hệ số của hai biến được kỳ vọng mang dấu âm vì nếu sản lượng và lợi nhuận mà họ nhận được đã cao thì họ không muốn tham gia BHNN Với các khoản thu cũng như khoản tiết kiệm của mình thì họ có đủ khả năng để đảm bảo cuộc sống của mình khi có rủi ro xảy ra
Trang 28Từ các dự đoán về tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc, ta có thể tóm tắt lại như sau yếu tố học vấn và kinh nghiệm của chủ hộ đối lập nhau trong sự tác động đến quyết định tham gia BHNN Trong khi yếu tố học vấn tác động tích cực đến khả năng tham gia bảo hiểm thì kinh nghiệm lại làm giảm xác suất tham gia của họ Các biến số lao động gia đình, sản lượng lúa, tổng chi tiêu gia đình của hộ tác động đồng biến với khả năng tham gia Tuy nhiên, những hộ
có thu nhập khác và tỷ lệ tiết kiệm càng cao thì càng không sẵn lòng tham gia bảo hiểm Ngoài các biến định lượng trên, tác giả còn đưa các biến giả như giới tính, xã viên, đối tượng hộ và vay vốn vào mô hình Trong các biến giả, có biến giới tính và xã viên tác động cùng chiều với xác suất tham gia bảo hiểm của hộ,
các biến còn lại được dự đoán sẽ làm giảm khả năng tham gia
Trang 29CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Đồng Tháp là một tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở đầu nguồn sông Tiền, phía Bắc giáp Long An, phía Tây Bắc giáp tỉnh Preyveng – Campuchia, phía Nam giáp An Giang và Cần Thơ Tổng diện tích tự nhiên 3.238
km2 (có 2/3 diện tích tự nhiên thuộc khu vực Đồng Tháp Mười), với 9 huyện và 2 thị xã (Cao Lãnh và Sa Đéc), trung tâm tỉnh lỵ đặt tại Cao Lãnh
Đồng Tháp có đường biên giới quốc gia với Campuchia dài khoảng 50 km từ Hồng Ngự đến Tân Hồng, với 4 cửa khẩu (Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước) Hệ thống đường quốc lộ 30, 80, 45 cùng với quốc lộ N1, N2 gắn kết Đồng Tháp với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình Đồng Tháp được chia thành 2 vùng lớn: vùng phía Bắc sông Tiền (có diện tích tự nhiên 250.731 ha, thuộc khu vực Đồng Tháp Mười, địa hình tương đối bằng phẳng, hướng dốc Tây Bắc – Đông Nam); vùng phía Nam sông Tiền (có diện tích tự nhiên 73.074 ha, nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, địa
hình có dạng lòng máng, hướng dốc từ hai bên sông vào giữa)
3.1.1.3 Khí hậu
Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng nhất trên địa giới toàn tỉnh, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 82,5%, số giờ nắng trung bình 6,8 giờ/ngày Lượng mưa trung bình từ 1.170 – 1.520 mm, tập trung vào mùa mưa, chiếm 90 – 95% lượng mưa cả năm Đặc điểm khí hậu này tương đối thuận lợi
cho phát triển nông nghiệp toàn diện
Trang 303.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
a Tài nguyên đất
Đồng Tháp có 4 nhóm đất chính: nhóm đất phù sa (có diện tích 191.769 ha, chiếm 59,06% diện tích đất tự nhiên Đây là nhóm đất thuộc đã trải qua lịch sử canh tác lâu dài, phân bố khắp 10 huyện thị (trừ huyện Tân Hồng); nhóm đất phèn (có diện tích 84.382 ha, chiếm 25,99% diện tích tự nhiên, phân bố khắp 10 huyện, thị (trừ thị xã Cao Lãnh); đất xám (có diện tích 28.150 ha, chiếm 8,67% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu trên địa hình cao ở huyện Tân Hồng và huyện Hồng Ngự); nhóm đất cát (có diện tích 120 ha, chiếm 0,04% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở Động Cát và Gò Tháp, huyện Tháp Mười)
Đất đai của Đồng Tháp có kết cấu mặt bằng kém bền vững lại tương đối thấp, nên làm mặt bằng xây dựng đòi hỏi kinh phí cao, nhưng rất phù hợp cho sản xuất lượng thực
b Tài nguyên rừng
Trước đây đa số các diện tích ẩm, lầy thấp ở Đồng Tháp Mười được bao phủ bởi rừng rậm, cây tràm được coi là đặc thù của Đồng Tháp Mười Do khai thác không hợp lý đã làm giảm đến mức báo động, gây nên mất cân bằng sinh thái Ngày nay, nguồn rừng chỉ còn quy mô nhỏ, diện tích rừng tràm còn dưới 10.000 ha Động vật, thực vật rừng rất đa dạng có rắn, rùa, cá, tôm, trăn, cò, cồng cộc, đặc biệt là sếu cổ trụi
Theo số liệu thống kê năm 1999, diện tích rừng của tỉnh có: rừng tràm 8.912 ha (phân bổ chủ yếu ở huyện Tam Nông, Tháp Mười, Cao Lãnh); rừng bạch đàn 144 ha (ở huyện Tân Hồng Phân theo công dụng có: rừng đặc dụng 2.821 ha (phân bổ ở Vườn Quốc Gia Tràm Chim, Khu di tích Xẻo Quýt, Gò Tháp), rừng phòng hộ 2.287 ha, rừng sản xuất 3.951 ha Phân theo thành phần kinh tế: Nhà nước 5.851 ha, tập thể và tư nhân 3.208 ha Số lượng cây phân tán được tăng dần qua các năm, bình quân mỗi năm trồng mới khoảng 3 triệu cây, đến 2002 toàn tỉnh đạt khoảng 64 triệu cây phân tán các loại
c Tài nguyên khoáng sản
Trang 31Đồng Tháp là tỉnh rất nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu có: cát xây dựng các loại, phân bố ở ven sông, cồn hoặc các cù lao, là mặt hàng chiến lược của tỉnh trong xây dựng; sét gạch ngói: có trong phù sa cổ, trầm tích biển, trầm tích sông, trầm tích đầm lầy, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh với trữ lượng lớn; sét cao lanh có nguồn trầm tích sông, phân bố ở các huyện phía bắc tỉnh; than bùn: có nguồn gốc trầm tích từ thế kỷ thứ IV, phân bố ở huyện Tam Nông, Tháp Mười với trữ lượng khoảng 2 triệu m3
d Tài nguyên nước
Nước mặt: Đồng Tháp Mười ở đầu nguồn sông Cửu Long, có nguồn nước mặt khá dồi dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn Ngoài ra còn
có hai nhánh sông Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ ra sông Tiền ở Hồng Ngự Phía Nam còn có sông Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng, sông Sa Đéc… hệ thống kênh rạch chằng chịt
Nước ngầm: Đồng Tháp có nhiều vỉa nước ngầm ở các độ sâu khác nhau, nguồn này hết sức dồi dào, mới chỉ khai thác, sử dụng phục vụ sinh hoạt đô thị
và nông thôn, chưa đưa vào dùng cho công nghiệp
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Theo Báo cáo Tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2013 của Cục thống
kê Đồng Tháp, Đồng Tháp bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2013, năm giữa của kỳ kế hoạch 2011-2015 trong điều kiện kinh tế của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung còn gặp nhiều khó khăn, thách thức Kinh tế thế giới chưa thực sự thoát khỏi suy thoái, khủng hoảng nợ công ở một số nước Châu
Âu chưa chấm dứt, tăng trưởng kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới đều bị suy giảm, trong nước lạm phát tuy đã giảm xuống nhưng sản phẩm sản xuất tiêu thụ khó khăn, đời sống một bộ phận dân cư, nhất là những người có thu nhập thấp còn gặp nhiều khó khăn
Sản xuất Nông – lâm – thủy sản tuy gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm cùng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh luôn thường trực, nhưng
sản xuất khu vực nông - lâm - thủy sản của tỉnh tiếp tục phát triển Diện tích
gieo trồng của tỉnh trong năm 2013 đạt 571.765 ha tăng 10,87% so với năm
2012 (tăng 56.058 ha), trong đó, diện tích gieo trồng lúa chiếm 541.772 ha, tăng
Trang 3211,10% (tăng 54.148 ha), với sản lượng lúa trong năm đạt 3.326.947 tấn cao nhất từ trước tới nay, tăng 9,02% (hay tăng 275.184 tấn) so với năm 2012 Sản lượng lúa của tỉnh năm 2013 so với năm 2012 tăng chủ yếu là do tăng diện tích lúa vụ Thu đông, trong khi diện tích vụ Đông xuân và vụ Hè thu giảm nhẹ Các loại cây trồng hàng năm khác diện tích và sản lượng đều có sự biến động cả về diện tích và sản lượng Nguyên nhân giảm sản lượng của các loại hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày khác là do có giá tiêu thụ sản phẩm không ổn định
vì vậy người nông dân chủ yếu gieo trồng các loại cây này theo nhu cầu của thị trường, khi nhu cầu giảm thì họ sẽ chuyển qua gieo trồng các loại cây trồng khác Bên cạnh đó, diện tích cây lâu năm toàn tỉnh và diện tích cây ăn quả hiện
có giảm so với năm 2012 (giảm 290 ha) Nhìn chung do giá cả sản phẩm bấp bênh nên diện tích các loại cây ăn quả có xu hướng giảm, người nông dân thường chạy theo phong trào tự phát phá vườn để trồng mới các loại cây ăn quả đang có giá cao hoặc chuyển qua trồng màu hay lúa, ngoài ra cũng còn một số diện tích cây ăn trái do già cỗi hay bị sâu bệnh cũng được người dân chặt bỏ để thay thế bằng các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn
Thực trạng chăn nuôi của tỉnh trong năm cũng gặp nhiều khó khăn đặc biệt
là chăn nuôi heo do giá cả nằm ở mức thấp trong thời gian dài Hiện nay thời tiết đang trong giai đoạn dễ bùng phát các loại dịch bệnh, các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát giết mổ mua bán gia súc, gia cầm nhằm hạn chế thấp nhất khả năng phát sinh dịch bệnh trên địa bàn
Trong năm 2013 ngành thủy sản gặp rất nhiều khó khăn, cộng với việc vào đầu năm 2013 Chính phủ Hoa Kỳ đã áp mức thuế chống bán phá giá đối với cá tra, cá ba sa Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ, thuế suất đánh vào mặt hàng này tăng lên hàng chục lần vì vậy tình hình càng khó khăn thêm Xuất khẩu khó khăn nên tình hình tiêu thụ cá trong nước cũng không khả quan, để đảm bảo ổn định trong việc cung cấp nguyên liệu chế biến hầu hết các doanh nghiệp đều chủ động diện tích nuôi cá nguyên liệu bằng việc tự nuôi toàn bộ hoặc giao cho các
hộ nuôi gia công, vì vậy có một số doanh nghiệp có thể tự chủ tới 70% nguyên liệu sản xuất Do tỷ lệ sản phẩm từ nuôi trồng đến chế biến bán khá cao nên giá thành sản xuất của các doanh nghiệp này có sức cạnh tranh rất lớn trên thị trường Đây cũng là nguyên nhân lý giải cho việc các doanh nghiệp này xuất
Trang 33khẩu giá thấp vào các thị trường nước ngoài trong một thời gian dài Tuy nhiên nếu tình trạng này kéo dài quá lâu sẽ làm thiệt hại đến lợi ích doanh nghiệp và người nuôi trồng đồng thời làm xấu đi hình ảnh sản phẩm con cá tra Việt Nam trên thế giới Giá cá duy trì ở mức thấp trong khi chi phí nuôi không giảm (chi phí giống, thức ăn, chi phí vốn ), do vậy lợi nhuận từ nuôi cá đạt thấp thậm chí
bị lỗ Mặt khác ngành nuôi trồng thủy sản còn tiềm ẩn nhiều bất ổn cho người nuôi trồng do công tác qui hoạch vùng nuôi còn yếu và chưa thực hiện nghiêm; liên kết giữa người nuôi và nhà chế biến chưa chặt chẽ; giữa các nhà chế biến còn có sự canh tranh khốc liệt trên thị trường tiêu thụ nước ngoài mà chưa có sự hợp tác, liên kết Trong nước điệp khúc sản lượng tăng thì giá lại giảm luôn thường trực Khi giá cá tăng và khan hiếm nguồn cung tuy trước mắt có lợi cho người nuôi trồng nhưng lại gây nhiều khó khăn cho các nhà máy chế biến, nhất
là các nhà máy đã ký hợp đồng tiêu thụ trong khi không có đủ nguồn nguyên liệu để sản xuất và do đó phải buộc giảm sản lượng sản xuất trong các chu kỳ sản xuất tới Ngược lại, khi nguồn cung dư thừa đến lượt người nuôi trồng chịu thiệt
Do tình hình tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn, giá bán sản phẩm nông sản có những lúc xấp xỉ với giá thành, đã làm giảm thu nhập, giảm sức mua của người nông dân Trên thị trường quốc tế, nhu cầu của thị trường thế giới đối với một số sản phẩm chủ lực Việt Nam bị giảm xuống Sản xuất công nghiệp của tỉnh chưa thật sự bền vững vì còn dựa phần lớn vào chế biến Thủy sản và các sản phẩm phục vụ nuôi trồng thủy sản Sự liên kết giữa nhà nuôi trồng và nhà chế biến không tốt dẫn đến tình trạng mất ổn định giá Thủy sản, điều này không chỉ ảnh hưởng riêng sự phát triển của ngành Thủy sản mà còn gây khủng hoảng sản xuất Công nghiệp tạo ra các đợt biến động về giá cả và sản lượng tình hình khó khăn kéo dài đã làm giảm mức độ đầu tư cho sản xuất của các nhà đầu tư vào nền kinh tế tỉnh Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế trong những năm tới, và sẽ gây ảnh hưởng lâu dài lên nền sản xuất của tỉnh Bên cạnh đó, công tác quản lý qui hoạch, thực hiện qui hoạch chưa chặt chẽ vẫn là thách thức cho sự phát triển của các ngành sản xuất, đặc biệt là lĩnh vực nuôi trồng và chế biến Thủy sản
Vấn đề tiếp theo cần quan tâm là lực lượng lao động tuy nhiều, nhưng ý
Trang 34thức kỷ luật lao động chưa cao, trình độ tay nghề còn thấp đã làm cho khả năng thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài tỉnh còn nhiều hạn chế Ước tính dân số trung bình tỉnh Đồng Tháp năm 2013 là 1.679.510 người, trong đó có 842.306 nữ, 837.204 nam; Số người sống ở thành thị là 298.246 người, số người sống ở nông thôn là 1.381.264 người Tỷ lệ sinh 1,425%; Tỷ lệ chết 0,445%; Tỷ lệ tăng
tự nhiên 0,980% Mặc dù đã triển khai nhiều công tác đào tạo nghề, xóa đói giảm nghèo nhưng số hộ cận nghèo của tỉnh vẫn còn lớn, nguy cơ tái nghèo của các hộ này vẫn còn cao nhất là trong tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới như hiện nay
3.2 THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TRONG SẢN XUẤT LÖA CỦA NÔNG HỘ TỈNH ĐỒNG THÁP
Qua Báo cáo tổng kết thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ, giai đoạn 2011 – 2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho thấy kết quả thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011 –
2013 từ vụ Đông xuân 2011 – 2012 đến vụ Đông xuân 2013 – 2014 như sau tổng diện tích tham gia bảo hiểm là 10.525,53 ha với tổng lượt hộ tham gia bảo hiểm
là 17.289 lượt Trong đó, hộ nghèo và cận nghèo tham gia 15.446 lượt (89,34%), các hộ thường tham gia chiếm tỷ trọng rất ít Tổng phí bảo hiểm thu được trong năm 2013 là 9.700.214.012 đồng, trong đó tổng hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là 80%
Nhìn chung, chính sách thí điểm bảo hiểm nông nghiệp bước đầu đã được người dân quan tâm, thấy được lợi ích khi tham gia bảo hiểm, chia sẻ rủi ro khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra Công tác giải quyết bồi thường bảo hiểm nông nghiệp cho các hộ dân bị thiệt hại được cải thiện, thủ tục giải quyết bồi thường được thực hiện nhanh hơn, đảm bảo đúng thủ tục và trình tự giải quyết bồi thường theo quy định Mô hình ”Doanh nghiệp kinh doanh vật tư nông nghiệp tham gia thực hiện chương trình thí điểm bảo hiểm” để hỗ trợ một phần phí bảo hiểm khi nông dân sử dụng vật tư nông nghiệp của doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả Với mô hình này số lượng các đối tượng cũng như diện tích tham gia tăng lên đáng kể.Các doanh nghiệp tham gia sẽ được hưởng một số chính sách khi tham gia chương trình như: Được chính quyền tại địa phương xem xét chọn làm đối tác trong thực hiện các chương trình về xây dựng phát triển nông thôn, nông dân;
Trang 35Được tạo điều kiện, cùng đồng hành phối hợp với Ban Chỉ Đạo thực hiện chương thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trong suốt giai đoạn thí điểm; Được hưởng ưu đãi trong các chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp từ địa phương đến trung ương (mua vật tư nông nghiệp được hỗ trợ phí bảo hiểm); Đại diện nông dân ký hợp đồng bảo hiểm được doanh nghiệp tham gia hỗ trợ chi phí bảo hiểm
Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận trên thì vẫn còn tồn tại một số khó khăn, yếu điểm Đầu tiên, công tác giải quyết bồi thường chưa được thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời, nên nông dân còn e ngại khi tham gia loại hình bảo hiểm này Cụ thể, về bồi thường sụt giảm năng suất, người dân bị thiệt hại phải chờ thu hoạch xong, các đơn vị chức năng điều tra công bố năng suất bình quân của xã hoặc của ấp thì Công ty bảo hiểm mới tính toán đề bồi thường cho người dân, cả một thời gian dài chờ đợi gây khó khăn cho nông dân trong việc xoay sở vốn để đầu tư tiếp cho vụ sau Mức hỗ trợ phí bảo hiểm đối với các hộ dân không thuộc diện nghèo và cận nghèo chưa phù hợp Một số đối tượng dịch bệnh gây hại làm giảm năng suất như chuột, ốc bưu vàng, bệnh lem lép hạt, nhện gié chưa được xem là đối tượng gây hại được bảo hiểm trên cây lúa Ngoài ra, chưa có cơ chế chính sách hỗ trợ để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia mô hình ”Doanh nghiệp kinh doanh vật tư nông nghiệp tham gia thực hiện chương trình thí điểm bảo hiểm” để doanh nghiệp tham gia mô hình được lâu dài Và công tác tuyên truyền chưa đa dạng, chưa thật sự sâu rộng, chỉ mang tính bề nổi, chưa được phát huy lâu dài Cán bộ tuyên truyền chưa được đào tạo chuyên sâu
về bảo hiểm cây lúa để có thể tư vấn rõ ràng cho người nông dân và chưa nắm bắt được tâm lý, ước muốn của nông hộ tại địa phương
Những khó khăn trong quá trình triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp
mà các tỉnh, thành thường gặp phải đó là bảo hiểm nông nghiêp là loại hình bảo hiểm mới rất phức tạp, lần đầu tiên làm thí điểm nên chưa có kinh nghiệm Phạm
vi, đối tượng, địa bàn bảo hiểm nông nghiệp là khá rộng, mặt khác do tính chất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói chung, tỉnh Đồng Tháp nói riêng là sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa tập trung Diễn biến thời tiết khí hậu, thiên tai, dịch bệnh thời gian qua rất phức tạp, tình hình giá cả thị trường, vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi nhiều biến động làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp Ở nhiều địa phương trong tỉnh, người dân chưa mặn mà