Với những lí do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 2010” làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử. Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian từ năm 1997 đến năm 2010 bởi vì ngày 111997 tỉnh Hà Nam chính thức được thành lập trên cơ sở tỉnh Nam Hà cũ còn năm 2010 là năm tỉnh hoàn thành kế hoạch 5 năm phát triển KT – XH (2006 2010). Nghiên cứu đề tài này tôi cũng mong muốn được góp công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển của tỉnh Hà Nam, đồng thời đề tài này phục vụ tốt cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường phổ thông trung học trên địa bàn tỉnh Hà Nam.2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀĐóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nên việc nghiên cứu về nông nghiệp và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trở thành vấn đề được quan tâm trong nhiều công trình nghiên cứu. Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau: “Giáo trình kinh tế nông nghiệp” của Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng, NXB Thống Kê (2002) và “Địa lý kinh tế xã hội đại cương” của Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, NXB ĐHSP Hà Nội (2005). Hai công trình này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản trong kinh tế nông nghiệp như: đặc điểm và các nhân tố tác động đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp; các vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững, sự phân bố địa lý của sản xuất nông nghiệp; vai trò, các điều kiện và đặc điểm phát triển của nông nghiệp ở các nước, các vùng khác nhau trên thế giới và ở Việt Nam... Đó là những cơ sở quan trọng giúp tác giả đưa ra được những phân tích, nhận định quan trọng trong quá trình nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Nam. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam “Môt số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 – 2020”, nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội (2001); GS.TS Nguyễn Kế Tuấn “Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, con đường và bước đi”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội (2006); GS.TS Nguyễn Đình Phan “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, (2002); TS Đặng Kim Sơn “Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, lí luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội (2001)…Những công trình nghiên cứu này đều tập trung vào phân tích những vấn đề lí luận cơ bản, vai trò, yếu tố tác động, sự cần thiết và nội dung của công nghiệp hóa nói chung và công nghiệp hóa nông thôn nói riêng và phương hướng, nội dung, giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp… Các luận văn Thạc sĩ về đề tài công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn như:“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1996 2010” của Cao Thị Hoa, luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch Sử, Trường ĐHSP Hà Nội (2011). Trong luận văn này tác giả đã tìm hiểu tình hình nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh trước năm 1996; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1996 – 2010 và tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Yên Phong. Hay đề tài “Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa (1991 2007)” của Đào Thị Diệu, luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, ĐHSP Hà Nội (2008). Trong luận văn này tác giả đã khái quát huyện Nga Sơn, nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn trước năm 1991; quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn (1991 2000) và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn (2001 2007) từ đó nêu ra vai trò và những tồn tại trong quá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ THỊ THU THẢO CÔNG NGHIỆP HÓA , HIỆN ĐAI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN
1997 - 2010Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
LUẬN VĂN SƠ BỘ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thị Hồng Điệp
Hà Nội, 2015
Trang 2Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở vật chất kĩ thuậtDiện tích
Đồng bằng sông HồngTổng sản phẩm quốc dânGiá trị sản xuất
Hợp tác xãKhu công nghiệpKhoa học kĩ thuậtKinh tế - xã hộiLương thực thực phẩmSản lượng
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ủy ban nhân dân
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lịch sử phát triển của xã hội loài người không tách rời với lịch sử pháttriển sản xuất để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Mộttrong những ngành sản xuất quan trọng và sớm nhất của loài người là sản xuấtnông nghiệp Từ trước tới nay sản xuất nông nghiệp luôn là ngành sản xuấtgiữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội toàn nhân loại bởi nôngnghiệp không chỉ cung cấp lương thực thực phẩm cho con người; cung cấpnguyên liệu cho công nghiệp; cung cấp khối lượng hàng hóa lớn để xuất khẩumang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước mà nông nghiệp còn tạo ra nhiềuviệc làm, thu hút lao động; tạo ra nguồn vốn nhằm đầu tư ban đầu cho cácngành kinh tế khác; nông nghiệp và nông thôn là thị trường lớn của các ngànhkinh tế khác và nông nghiệp cũng trực tiếp tham gia vào giữ gìn cân bằng sinhthái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên môi trường…
Sớm nhận thấy được tầm quan trọng đặc biệt của nông nghiệp đối với sự
ổn định và phát triển của đất nước nên từ những năm 60 của thế kỉ XX vấn đềcông nghiệp hóa trong đó có việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn đã đượcĐảng và Nhà nước đề ra Đặc biệt bước vào thời kì đổi mới công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã được Đảng và Nhà nước coi là mộttrong những nhiệm vụ hàng đầu giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trìnhcông nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Trong quá trình thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn nền nông nghiệp nước ta đã thu được những thànhtựu khá nổi bật: nông nghiệp nước ta phát triển tương đối ổn định và vữngchắc; sản lượng lương thực tăng cả về số lượng và chất lượng; nông - lâm -ngư nghiệp đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu theo xu hướng mở rộngnền kinh tế hàng hóa Đặc biệt nông nghiệp đã hình thành bức tranh rõ nét về
Trang 4sự phân hóa lãnh thổ và tạo ra những vùng sản xuất chuyên môn hóa, bộ mặtnông thôn có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại Tuy nhiên nền nông nghiệpnước ta vẫn còn những tồn tại và hạn chế như: Tốc độ tăng trưởng GDP củanông nghiệp còn chưa cao trong khi tốc độ giảm tỉ trọng trong ngành nôngnghiệp trong tổng GDP lại có xu hướng chậm lại; nông nghiệp còn phụ thuộcnhiều vào điều kiện tự nhiên; chất lượng hàng nông sản còn thấp…Vì vậynhiệm vụ đặt ra là cần phải phân tích sâu sắc thực trạng kinh tế nông nghiệpnông thôn từ đó đề ra những giải pháp để đẩy nhanh quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Nằm trong nội địa vùng đồng bằng sông Hồng, Hà Nam có những lợi thế
về đất đai khí hậu để phát triển nông nghiệp Quán triệt chủ trương của Đảng
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tỉnh Hà Nam đãđưa ra nhiều nghị quyết để thực hiện chủ trương của Đảng trong đó quantrọng nhất là chủ trương về xây dựng nông thôn mới Chính vì vậy, trongnhững năm qua sản xuất nông nghiệp tỉnh Hà Nam đã đạt được những thànhtựu đáng kể nhờ đó mà đời sống ở nông thôn từng bước được nâng cao gópphần quan trọng vào việc thúc đẩy kinh tế của tỉnh ngày càng phát triển Tuynhiên trong quá trình thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn của Đảng, nông nghiệp tỉnh Hà Nam vẫn bộc lộkhông ít hạn chế như: Sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, năng suất lao động thấp,chưa khai hết tiềm năng của vùng…Bộ mặt nông thôn mặc dù đã có nhiềuthay đổi nhưng vẫn còn khá lạc hậu, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, thu nhập củangười nông dân còn thấp, tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt tệ nạn xãhội xâm nhập ngày càng nhiều vào nông thôn…
Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đề tàiluận văn viết về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nhiềukhía cạnh khác nhau nhưng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn ở tỉnh Hà Nam thì chưa có công trình nào nghiên cứu một
Trang 5cách hệ thống và toàn diện.
Với những lí do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010”
làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian từ năm 1997đến năm 2010 bởi vì ngày 1-1-1997 tỉnh Hà Nam chính thức được thành lậptrên cơ sở tỉnh Nam Hà cũ còn năm 2010 là năm tỉnh hoàn thành kế hoạch 5năm phát triển KT – XH (2006 - 2010) Nghiên cứu đề tài này tôi cũng mongmuốn được góp công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển của tỉnh HàNam, đồng thời đề tài này phục vụ tốt cho công tác giảng dạy lịch sử địaphương trong các trường phổ thông trung học trên địa bàn tỉnh Hà Nam
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nướcnên việc nghiên cứu về nông nghiệp và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn trở thành vấn đề được quan tâm trong nhiều công trìnhnghiên cứu Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:
- “Giáo trình kinh tế nông nghiệp” của Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng, NXB Thống Kê (2002) và “Địa lý kinh tế - xã hội đại cương” của Nguyễn Minh
Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, NXB ĐHSP Hà Nội (2005) Haicông trình này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản trong kinh tế nông nghiệp như:đặc điểm và các nhân tố tác động đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp; cácvấn đề phát triển nông nghiệp bền vững, sự phân bố địa lý của sản xuất nôngnghiệp; vai trò, các điều kiện và đặc điểm phát triển của nông nghiệp ở các nước,các vùng khác nhau trên thế giới và ở Việt Nam Đó là những cơ sở quan trọnggiúp tác giả đưa ra được những phân tích, nhận định quan trọng trong quá trìnhnghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Nam
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam “Môt số vấn đề về
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 – 2020”, nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội (2001); GS.TS
Trang 6Nguyễn Kế Tuấn “Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt
Nam, con đường và bước đi”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội (2006);
GS.TS Nguyễn Đình Phan “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng”, Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, (2002); TS Đặng Kim Sơn “Công nghiệp
hóa từ nông nghiệp, lí luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam”, Nhà
xuất bản Nông nghiệp Hà Nội (2001)…Những công trình nghiên cứu này đềutập trung vào phân tích những vấn đề lí luận cơ bản, vai trò, yếu tố tác động, sựcần thiết và nội dung của công nghiệp hóa nói chung và công nghiệp hóa nôngthôn nói riêng và phương hướng, nội dung, giải pháp thực hiện chuyển đổi cơcấu nông nghiệp…
- Các luận văn Thạc sĩ về đề tài công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn như:“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1996 - 2010” của Cao Thị
Hoa, luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch Sử, Trường ĐHSP Hà Nội (2011) Trongluận văn này tác giả đã tìm hiểu tình hình nông nghiệp, nông thôn ở huyện YênPhong tỉnh Bắc Ninh trước năm 1996; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1996 – 2010 vàtác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyệnYên Phong tỉnh Bắc Ninh từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Yên Phong Hay đề
tài “Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện
Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa (1991 - 2007)” của Đào Thị Diệu, luận văn Thạc sĩ
khoa học Lịch sử, ĐHSP Hà Nội (2008) Trong luận văn này tác giả đã kháiquát huyện Nga Sơn, nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn trước năm 1991; quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn (1991 -2000) và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn Nga Sơn (2001 - 2007) từ đó nêu ra vai trò và những tồn tại trong quá
Trang 7trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
- Về phía tỉnh Hà Nam, có đề tài “Kinh tế Hà Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa” của Đỗ Văn Dũng, luận văn Thạc sĩ khoa học Địa Lý, Trường
ĐHSP Hà Nội (2009) Trong luận văn này tác giả đã nêu ra cơ sở lí luận vàthực tiễn về phát triển kinh tế và công nghiệp hóa; thực trạng phát triển kinh
tế Hà Nam thời kì 1997 – 2008 và định hướng giải pháp phát triển kinh tế Hà
Nam trong thời kì công nghiệp hóa Và “Báo cáo quy hoạch phát triển nông
nghiệp tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010 – 2015 và định hướng đến năm 2020”
của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam (2011), Báo cáo này đã trình bầy tổngquan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam; thực trạng sản xuấtnông nghiệp giai đoạn 2000 – 2010 và quy hoạch tổng thể phát triển nôngnghiệp đến năm 2020
Các công trình trên nhìn chung đã nghiên cứu luận giải những cơ sở lýluận và thực tiễn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trêntừng khía cạnh và mức độ khác nhau, giúp tôi có được những quan điểm nhậnthức chung về lý luận và tài liệu cần thiết để kế thừa trong quá trình thực hiện
luận văn của mình Tuy vậy, vấn đề “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010” cho đến nay vẫn chưa
có một luận văn, công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở hệ thống hóa và làm sáng
tỏ những vấn đề lí luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn Luận văn phân tích thực trạng, đề ra phương hướng, mục tiêu và nhữnggiải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn ở tỉnh Hà Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 8- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn
- Phân tích đánh giá thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn và tác động của nó đến quá trình phát triển kinh tế xã hội ởtỉnh Hà Nam
- Xây dựng được quan điểm phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh
Hà Nam, đồng thời đưa ra phương hướng, mục tiêu, đề xuất và các biện phápphù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương vào sự phát triển chung của cảnước nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn của tỉnh đến năm 2015
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn tập trung nghiên cứu là: “Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian trên địa bàn tỉnh Hà Nam
- Về thời gian từ năm 1997 đến năm 2010 (Năm 1997 tỉnh Hà Namđược tách ra từ tỉnh Nam Hà cũ và năm 2010 là năm tỉnh hoàn thành kế hoạchphát triển KT – XH 5 năm (2006 - 2010))
- Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là vấn đề rấtrộng lớn và phức tạp, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vàonhững nội dung cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn;xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn; phát triển nguồn nhân lực;phát triển các làng nghề…trong khoảng thời gian 1997 đến năm 2010
5 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Nguồn tư liệu
- Nguồn tài liệu đầu tiên là các sách viết về vùng đất phủ Lý Nhân xưa
Trang 9cũng như tỉnh Hà Nam hiện nay Các sách viết về phủ Lý Nhân xưa sẽ giúpdựng lại lịch sử phát triển của vùng đất Hà Nam trước năm 1997 Các sáchviết về Hà Nam từ sau năm 1997 đến nay được khai thác để tạo cơ sở lý luận vàthực tiễn cho đề tài.
- Nguồn tài liệu thứ hai tạo cơ sở lý luận cho đề tài chính là công trìnhcủa các tác giả đề cập đến vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệpnông thôn
- Nguồn tài liệu chính để chúng tôi thực hiện đề tài là các số liệu thống
kê, các báo cáo năm, các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam có liênquan đến vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đượckhai thác để sử dụng cho đề tài Bên cạnh đó, tôi sẽ thực hiện khảo sát, điền dã
để thu thập thêm tư liệu thực tế cho đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi sử dụng các phương pháp duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp lôgic Bên cạnh đó, tôi còn sửdụng phương pháp sưu tầm tài liệu, chỉnh lí tài liệu, phân loại tài liệu; phươngpháp khảo sát, điều tra thực tế, phỏng vấn Đồng thời để luận văn được tìmhiểu một cách hệ thống toàn diện tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, phântích, tổng hợp, đánh giá…
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn tập hợp, hệ thống hóa và xử lý các tư liệu, nhất là các chỉ sốliên quan trực tiếp đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn ở tỉnh Hà Nam trong hơn 10 năm; những tác động của công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến KT - XH tỉnh Hà Nam
Đây là tài liệu tham khảo có ích đối với những người quan tâm đến quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đồng thời, nghiêncứu đề tài này tôi cũng mong muốn được góp công sức nhỏ bé của mìnhvào sự phát triển của tỉnh Hà Nam và đề tài có thể sử dụng làm tài liệu để
Trang 10giảng dạy lịch sử địa phương trong các nhà trường phổ thông trên địa bàn tỉnh
Hà Nam
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Đề tài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh
Hà Nam giai đoạn 1997- 2010” ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ
lục, nội dung luận văn có ba chương
Chương I: Tình hình nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hà Nam trước
năm 1997
Chương II: Tỉnh Hà Nam thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước giai đoạn 1997 - 2010
Chương III: Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nông nghiệp
nông thôn tới sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010
NỘI DUNGChương I TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở TỈNH HÀ NAM
TRƯỚC NĂM 1997
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 11* Vị trí địa lý
Là một tỉnh thuộc vùng ĐBSH, Hà Nam nằm ở tọa độ địa lý từ 20021’
Bắc – 21045’ Bắc, 105045’ Đông – 106010’ Đông Phía Bắc và Tây Bắc giápthành phố Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên, tỉnh Thái Bình, phía Namgiáp tỉnh Nam Định, phía Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình và phía Tây giáp tỉnhHòa Bình Vị trí địa lý này tạo nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế củatỉnh, nhất là trong khả năng thu hút đầu tư Đi từ trung tâm thành phố Phủ Lýdọc theo quốc lộ 1A lên phía Bắc là thủ đô Hà Nội, xuôi về phía Nam khoảng
34 km là thành phố Ninh Bình, theo quốc lộ 21 về phía Đông Nam là thànhphố Nam Định Tỉnh Hà Nam bao gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện vàthành phố: Thành phố Phủ Lý, huyện Kim Bảng, huyện Lý Nhân, huyệnThanh Liêm, huyện Bình Lục, huyện Duy Tiên với 116 xã, phường, thị trấn
Với vị trí này Hà Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế quan trọng đối vớivùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng ĐBSH Hà Nội được mở rộng, tỉnh
Hà Nam trở thành cửa ngõ phía Nam của thủ đô đồng thời nằm trên trục giaothông huyết mạch là quốc lộ 1A và đường cao tốc Pháp Vân – Ninh Bình.Trong dọc tuyến hành lang giao thông xuyên Á (Hà Nội – TP Hồ Chí Minh –Mộc Bài) thì Hà Nam là một vị trí trên tuyến Do đó, Hà Nam sẽ giữ một vaitrò tích cực trong việc hỗ trợ cùng với Hà Nội trở thành những đầu mút quantrọng của các tuyến giao thông trên, có cơ hội tìm kiếm các đối tác và thịtrường xuất khẩu hàng hoá, nhất là các sản phẩm nông nghiệp có thế mạnhcủa địa phương Đồng thời vị trí này cũng tạo cơ hội để Hà Nam có thể tranhthủ kêu gọi và thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp
* Địa hình
Hà Nam là tỉnh thuộc vùng ĐBSH nhưng địa hình lại có những nét độcđáo của một tỉnh bán sơn địa Địa hình vừa mang đặc điểm chung của vùng đồngbằng châu thổ với nền địa hình chủ yếu là đồng bằng Bên cạnh đó, địa hình của
Hà Nam lại mang những đặc điểm địa hình của một tỉnh đồng bằng giáp núi
Trang 12Phía Đông là vùng đồng bằng hình thành do sự bồi đắp của những consông lớn, chiếm khoảng 85 - 90% diện tích của tỉnh Vùng đồng bằng có địahình tương đối bằng phẳng với diện tích khoảng 22.000 ha, tập trung ở huyệnDuy Tiên và một phần huyện Kim Bảng Vùng trũng thấp có độ cao 0,4 –0,9m, diện tích khoảng 43.000 ha, thường xuyên bị ngập nước (được coi nhưmột phần cái “rốn nước” của vùng ĐBSH), tập trung ở các huyện Bình Lục,Lý Nhân và các xã phía Đông huyện Thanh Liêm Với địa hình khá bằngphẳng, chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, có nhiều vùng trũng thuận lợi cho thâmcanh lúa nước, nuôi trồng thủy sản.
Phía Tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa, chiếm khoảng 10 – 15%diện tích của tỉnh, chạy dọc theo ranh giới giáp với tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình,tập trung ở hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng Ngoài ra, còn bắt gặp cácnúi sót nằm rải rác ở hai huyện Duy Tiên và Bình Lục Đây là vùng có nhiềuthuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc
* Tài nguyên đất
Mặc dù là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồngnhưng Hà Nam lại có thổ nhưỡng khá đa dạng với 8 nhóm đất chính: nhómđất phù sa, nhóm đất glây, nhóm đất biến đổi, nhóm đất cát, nhóm đất thanbùn, nhóm đất xám, nhóm đất đỏ và nhóm đất tầng mỏng Sự đa dạng đó làkết quả tác động tổng hợp của các nhân tố tự nhiên và hoạt động sản xuất củacon người
Vùng đồng bằng có 5 nhóm đất: nhóm đất phù sa, nhóm đất glây, nhómđất biến đổi, nhóm đất cát và nhóm đất than bùn, trong đó nhóm đất phù sachiếm diện tích lớn nhất (chiếm 50,2% tổng diện tích tự nhiên và 84,7% diệntích đất nông nghiệp) Hầu hết các nhóm đất vùng đồng bằng có thành phần
cơ giới biến đổi từ cát pha đến thịt nặng pha sét, có độ xốp tầng mặt thíchhợp Các loại đất hầu hết là chua với PH (KCl) từ 3,8 – 4,8 (trừ đất phù sa ítchua phân bố ven các con sông) Nhìn chung, các loại đất thường nghèo chất
Trang 13dinh dưỡng như mùn, đạm, lân, kali Theo nghiên cứu, những loại đất úngtrũng có thể thay đổi theo chiều hướng tốt nhờ có hệ thống thủy lợi tưới, tiêutốt và chủ động Các nhóm đất của vùng đồng bằng thuận lợi cho canh tác lúanước, rau màu và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như đỗ tương, lạc, dâu,mía và một số loại cây ăn quả.
Vùng đất đồi núi gồm 3 nhóm đất: nhóm đất xám, nhóm đất đỏ vànhóm đất tầng mỏng, trong đó nhóm đất xám có diện tích lớn nhất (chiếm2,4% tổng diện tích tự nhiên và 4.1% diện tích đất nông nghiệp) Đất vùng đồinúi được hình thành do quá trình phong hóa trên các loại đá, nhìn chung thànhphần N, P và tỷ lệ mùn thấp, độ chua cao Tuy độ dốc không lớn nhưng tầngđất mỏng và có lẫn nhiều sỏi sạn Đất vùng đồi núi thích hợp cho việc pháttriển của nhiều loại cây trồng thuộc vùng núi và trung du như: các cây côngnghiệp (chè, lạc, mía…), rừng (thông, mỡ, bạch đàn…), cây lương thực (nhưlúa đồi, sắn, khoai…), các cây ăn quả, cây dược liệu
Hạn chế nổi bật là sự thiếu nước trong mùa khô, ngập úng trong mùamưa bão, độ phì của đất thấp và đang có xu hướng biến đổi không có lợi chocây trồng, đòi hỏi phải tìm ra những giải pháp hữu hiệu trong chuyển dịch cơcấu cây trồng và sử dụng hợp lí quỹ đất
* Khí hậu
Mặt tự nhiên, vị trí địa lý đã quy định tính chất nhiệt đới ẩm gió mùacủa khí hậu, là cơ sở để phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, đặc biệt thuậnlợi cho việc phát triển nông - lâm - ngư nghiệp
Hà Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh hơn nhiều
so với điều kiện trung bình cùng vĩ tuyến Hà Nam có nền nhiệt độ khá cao:nhiệt độ trung bình khoảng từ 23 – 240C, tổng nhiệt độ hoạt động cả năm vàokhoảng 8.500 – 8.6000C Nhiệt độ phân bố không đều trong năm Trong năm
có từ 8 – 9 tháng nhiệt độ trung bình trên 200C và chỉ có 3 tháng nhiệt độtrung bình nhỏ hơn 200C nhưng không có tháng nào nhiệt độ nhỏ hơn 160C
Trang 14Tổng số giờ nắng trong năm vào khoảng 1.300 – 1.500 giờ/năm Bức
xạ mặt trời khá phong phú với khoảng 110 – 120 kcal/cm2/năm Lượng mưatrung bình nhiều năm khoảng 1.900 mm, song lượng mưa phân bố không đềutheo mùa, tập trung vào mùa mưa Mùa mưa (từ tháng V – tháng X) chiếmkhoảng 85% lượng mưa cả năm với lượng mưa trung bình vào khoảng1.600mm, đôi khi có các trận bão đổ bộ gây ngập úng Mùa khô (từ tháng XI– tháng IV năm sau) có lượng mưa không đáng kể, chiếm khoảng 15% lượngmưa cả năm, chịu ảnh hưởng của không khí lạnh, cuối mùa thường có mưaphùn Độ ẩm không khí trung bình vào khoảng 85%, không có tháng nào có
độ ẩm trung bình dưới 77%
Hà Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hoạt động gió mùa Vào mùađông, hướng gió chính là hướng gió bắc, đông và đông bắc thổi với tốc độ giótrung bình vào khoảng 2 – 3m/s Vào mùa hạ, hướng gió thịnh hành là hướngnam, tây nam và đông nam với tốc độ gió lớn nhất trong cơn bão có thể đạttới 40m/s
Với đặc điểm khí hậu trên rất thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệpsinh thái đa dạng với nhiều loài động thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới Mùa hạnắng và mưa nhiều, có nhiệt độ và độ ẩm cao thích hợp với các cây trồng vậtnuôi nhiệt đới Mùa đông lại thích hợp với các loại cây vụ đông có giá trị hànghóa và xuất khẩu cao như cà chua, dưa chuột,… Tuy nhiên, độ ẩm không khí caocũng làm cho dịch bệnh dễ phát sinh và lan tràn Hơn nữa, mưa lớn, tập trungtrong điều kiện có nhiều vùng trũng khó thoát nước nên dễ gây ngập úng
Trang 15qua lãnh thổ Hà Nam là: sông Hồng, sông Đáy, sông Châu và các con sông docon người đào như sông Nhuệ, sông Sắt,… Các con sông này hàng năm cungcấp một lượng lớn phù sa cho đồng bằng do các con sông đều có hàm lượngphù sa tương đối cao như sông Hồng đạt 2 – 3 kg/m3, thuận lợi trồng cây hoamàu, tiêu úng chống hạn Các con sông này còn có giá trị về mặt giao thông,nguồn cung cấp nước cho các nhà máy nước, các ngành công nghiệp, hoáchất, sản xuất chế biến thực phẩm Tuy nhiên, do có hệ thống đê nên phù sakhông được bồi đắp thường xuyên cho đồng bằng Độ cao tuyệt đối nhiều nơi
ở bãi sông lại cao hơn nhiều so với trong đê do được bồi đắp phù sa hàngnăm, trong khi đó trong đê nhiều nơi trở thành vùng chiêm trũng Vì thế,trong quá trình phát triển kinh tế cần khai thác triệt để hợp lý các mặt thuậnlợi của sông ngòi, phát triển các công trình thuỷ nông, thuỷ lợi… Đồng thờicần có biện pháp ứng phó kịp thời khi có hạn hán, ngập lụt, trong khi sôngĐáy đôi khi bị ô nhiễm nặng cũng ảnh hưởng đến khả năng cung cấp nướccho các nhà máy nước cũng như các nhà máy nước chuyên dùng ở các cơ sởsản xuất công nghiệp
Nguồn nước ngầm của Hà Nam tồn tại trong nhiều tầng, có chất lượngtương đối tốt, lại có các dòng chảy ngầm chuyển qua lãnh thổ giúp cho HàNam luôn được bổ sung nước ngầm từ các vùng khác, đủ để đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, nguồn nước ngầm của Hà Nam lại đang
bị nhiễm asen nên hiện tại sử dụng kém
* Sinh vật
Hà Nam không có rừng nguyên sinh, chủ yếu là rừng trồng Tổng diệntích đất lâm nghiệp của tỉnh là 6.395 ha chiếm khoảng 7,4% diện tích đất tựnhiên, tập trung chủ yếu ở hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm Phần lớndiện tích rừng ở Hà Nam là rừng phòng hộ với 5.158 ha chiếm 6% diện tíchđất tự nhiên và 80,7% diện tích rừng của cả tỉnh Nhìn chung, tài nguyên rừngcủa tỉnh có giá trị kinh tế không lớn Hệ động vật chủ yếu là các vật nuôi
Trang 16Trong khi đó, các cây hoa màu thường được trồng ở vùng phù sa mới, vensông,… Lúa phần lớn được trồng ở vùng đồng bằng còn các loại cây ăn quảtrồng không tập trung mà nằm rải rác ở các vườn tạp, các thung lũng,…
* Tài nguyên khoáng sản
Hà Nam khá giàu về tài nguyên đá vôi, đất sét làm nguyên liệu cho sảnxuất xi măng, vôi, sản xuất bột nhẹ, làm vật liệu xây dựng; các loại đá quý cóvân màu phục vụ xây dựng, trang trí nội thất và làm đồ mỹ nghệ; các mỏ sétlàm gạch ngói, gốm sứ, xi măng và một số mỏ than bùn mỏ Phần lớn các tàinguyên khoáng sản này phân bố ở các huyện phía tây của tỉnh như Kim Bảng
và Thanh Liêm
Đá vôi ở Hà Nam có tổng trữ lượng khoảng 7,4 tỷ m3 với chất lượng khátốt, trong đó đá vôi có chất lượng cho sản xuất xi măng với trữ lượng vàokhoảng gần 1 tỷ tấn, cho phép xây dựng các nhà máy xi măng có công suấtlớn Nhìn chung, đá vôi có màu xám trắng, chất lượng tốt và ổn định, đủ tiêuchuẩn nguyên liệu cho sản xuất xi măng mác cao Đá vôi phân bố tập trungchủ yếu ở hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng với các mỏ lớn như Bút Sơn,Kiện Khê Hiện nay có nhiều cơ sở đang khai thác có hiệu quả như nhà máy
xi măng Bút Sơn, xi măng Kiện Khê, Sản phẩm của các cơ sở sản xuất này
đã có mặt trên nhiều công trình xây dựng trọng điểm quốc gia và của các địaphương trên cả nước Ngoài ra, nguồn đá vôi còn phục vụ cho nhu cầu xâydựng, giao thông và thủy lợi
Đá quý ở Hà Nam gồm các loại đá có vân hồng, tím nhạt, thường có các
vỉa dài 30 – 40 m, cao 60 m, tập trung ở Thanh Liêm và Kim Bảng Đá vânmây, da báo có nhiều ở huyện Thanh Liêm Đá trắng tập trung ở Thung Mơ,Quèn Cả thuộc huyện Kim Bảng Phần lớn các mỏ đá quý có trữ lượng lớn,nằm ở vị trí thuận lợi cho khai thác chế biến và vận chuyển sản phẩm tới thịtrường tiêu thụ
Trang 17Đất sét ở Hà Nam có tổng trữ lượng lên tới gần 400 triệu tấn, trong đó đất
sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng có 331 triệu tấn với chất lượng khá tốt.Đất sét làm gạch ngói có khoảng 62 triệu tấn Các mỏ sét tập trung ở huyệnKim Bảng, Thanh Liêm và Duy Tiên lại được phân bố dọc theo phía tây quốc
lộ 1A nên thuận lợi cho khai thác và chế biến Các mỏ lớn như mỏ Ba Sao, KhảPhong, Bồng Lạng,…
Khoáng sản nhiên liệu chính của vùng chủ yếu là than bùn với trữ lượng
trên 11 triệu m3, tập trung ở Ba Sao và hồ Liên Sơn thuộc huyện Kim Bảng.Than bùn ở Hà Nam có chất lượng rất tốt có thể làm chất đốt hoặc phân bón
vi sinh
Ngoài ra, Hà Nam còn có nguồn cát đen rất dồi dào tại các bãi ven sôngHồng (dài gần 10 km), bãi sông Đáy, sông Nhuệ, hàng năm cung cấp cho tỉnhlân cận hàng triệu m3
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
* Dân cư và nguồn lao động
Về dân cư: Hà Nam có quy mô dân số nhỏ và khá ổn định Đến năm
2010 dân số Hà Nam có 786.520 người, chiếm 0,91% dân số cả nước Nhưvậy, so với năm 2000 thì đến năm 2010 dân số Hà Nam đã giảm đi 6.707người, trung bình mỗi năm giảm đi gần 610 người [61;19] Đây là mức giảmdân số và quy mô dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế của tỉnh, thuận lợicho việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động, là độnglực góp phần thúc đẩy kinh tế Hà Nam ngày càng phát triển
Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của Hà Nam đang có xu hướng giảm theothời gian do ở đây thực hiện tốt các chính sách dân số Tỷ lệ gia tăng tự nhiêngiảm từ 1,17% (năm 2000) xuống còn 0,79% (năm 2010) [61;19] Với tỷ lệgia tăng dân số tự nhiên như trên, Hà Nam đã có mức tăng dân số thấp hơn
Trang 18mức tăng trung bình cả nước Các huyện có mức giảm tốc độ tăng dân số khánhất là Thanh Liêm, Duy Tiên, thành phố Phủ Lý và đó cũng là nơi có tỷ lệgia tăng dân số thấp.
Mật độ dân số của Hà Nam năm 2010 là 914 người/km2, cao gấp 3,8 lầnmật độ dân số cả nước Tuy nhiên, dân số lại phân bố không đều theo lãnhthổ, có sự chênh lệch về mật độ giữa các huyện, thành phố; giữa thành thị vànông thôn; giữa các địa phương Thành phố Phủ lý có mật độ dân số cao nhấtvới 2.543 người/km2, tiếp đến là huyện Lý Nhân với 1.050 người/km2, huyện
có mật độ dân số thấp nhất là huyện Kim Bảng với 675 người/km2
Về nguồn lao động: Do tỉ lệ sinh cao trong những năm trước đây nguồn
lao động của tỉnh có quy mô lớn và tốc độ tăng nhanh Nếu năm 2000, tổng sốlao động đang làm việc là 388.903 người, chiếm 48,2% tổng dân số thì đếnnăm 2010, tổng số lao động đang làm việc đã tăng lên 452.990 người, chiếm57,6% tổng dân số [61;20]
Lao động có việc làm của tỉnh Hà Nam vẫn tập trung chủ yếu trongngành nông - lâm - ngư nghiệp với trên 59,3% tổng lao động có việc làm,nhưng đang có xu hướng giảm: từ 78,0% năm 2000 đã giảm xuống còn 59,3%năm 2010 Số lượng lao động trong độ tuổi có khả năng lao động nhưng chưa
có việc làm còn trên 11.500 người
Năng suất lao động tăng nhanh trong thời gian vừa qua Tuy nhiên, năngsuất lao động trong ngành nông nghiệp vẫn thấp Mặc dù là ngành chiếm tỷtrọng lớn nhất về số lao động có việc làm nhưng ngành nông - lâm - ngư nghiệplại có năng suất lao động thấp nhất với 20,2 triệu đồng/lao động/năm 2010 Phần đông lao động có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp thu và áp dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ Trình độ của người lao động ngày càngđược nâng cao với tỷ lệ lao động được đào tạo tăng nhanh từ 16% năm 2000
đã tăng lên 35% năm 2010 Có khoảng 12.000 người có trình độ từ cao đẳng,đại học và trên đại học Số lao động có trình độ trung cấp là khoảng 13.000
Trang 19người và có khoảng 10.400 người có trình độ sơ cấp và công nhân kĩ thuật Sốlao động đã qua đào tạo nghề là khoảng 100.000 người, trong đó số người đã
có chứng chỉ nghề là khoảng 42.000 người
Về trình độ dân trí, Hà Nam đã được công nhận là tỉnh phổ cập giáo dục
trung học cơ sở, bình quân số năm đến trường của một lao động là 8,1 năm
Tỷ lệ Lao động qua đào tạo tăng từ 16% năm 2000 lên 35% năm 2010, điều
đó tạo điều kiện cho người lao động nhanh chóng tiếp thu được các tiến bộkhoa học kỹ thuật; bước đầu đã hình thành ý thức, phương thức sản xuất tậptrung, chuyên môn hóa, sản xuất hàng hóa chất lượng cao phù hợp với yêucầu thị trường Bên cạnh trình độ của người lao động ngày càng được nângcao, một trong những đặc điểm nổi trội dân cư và nguồn lao động Hà Nam làtruyền thống lao động cần cù, sáng tạo, có truyền thống sản xuất trong nôngnghiệp Đây được coi là nguồn lực quan trọng đối với quá trình phát triểnnông - lâm - ngư nghiệp của Hà Nam theo hướng bền vững
Như vậy, lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ tương đối cao trong cơcấu lao động, lao động chưa qua đào tạo, lao động nông nhàn chiếm tỷ lệ khálớn Tuy nhiên, lực lượng lao động khá dồi dào là một trong những nguồn lựcquan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt trong sản xuất nôngnghiệp - một ngành sử dụng nhiều lao động
* Khoa học kĩ thuật và tiến bộ công nghệ trong nông nghiệp
Khoa học công nghệ đã góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế
-xã hội của tỉnh nói chung và của ngành nông nghiệp nói riêng đặc biệt trong việcnâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của các mặt hàng nông nghiệp.Ngành nông nghiệp đã phối hợp với các viện, trường, cơ quan nghiêncứu lựa chọn và đưa vào sản xuất những giống cây trồng, vật nuôi cho năngsuất cao, khả năng kháng bệnh tốt, ứng dụng công nghệ sau thu hoạch (nhất làgiống lúa, ngô, cây ăn quả, giống lợn, các loại đặc sản xuất khẩu ); chú trọngcông tác tuyên truyền tập huấn, chuyển giao công nghệ cho hộ nông dân
Trang 20Tổng kết, phổ biến, nhân rộng những mô hình sản xuất - kinh doanh có hiệuquả trên địa bàn của tỉnh Triển khai các chương trình quốc gia về khoa họccông nghệ như: chương trình công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông,lâm, ngư nghiệp.
Tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học, quy trình công nghệ mới vàosản xuất nông nghiệp, tập trung nghiên cứu các giống cây lương thực, câycông nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm có năng suất cao, chuyển giao kỹthuật nông nghiệp cho các hộ nông dân: ngành nông nghiệp đã thực hiệnthành công chương trình tự sản xuất giống lúa lai F1 (Tạp giao 4) và diện tíchngày càng được mở rộng Là tỉnh đứng thứ hai toàn quốc về sản xuất giốnglúa lai F1 Chuyển đổi thành công 1.695 ha vùng ruộng trũng cấy lúa kémhiệu quả sang sản xuất đa canh, tích cực đưa các giống con nuôi mới vào sảnxuất chăn nuôi như: tôm càng xanh, cá chép 3 màu, lợn siêu nạc, bò lai sind,ngan Pháp, gà Tam Hoàng, gà Quế Lâm Đặc biệt đã sản xuất thành công cáchim trắng trong môi trường nước ngọt tỉnh Hà Nam
* Cơ sở vật chất kĩ thuật - cơ sở hạ tầng
Hệ thống thuỷ lợi, đê điều: Trên địa bàn toàn tỉnh có tổng cộng 452 trạm
bơm, trong đó có 58 trạm bơm với 353 máy bơm do các công ty quản lý và
394 trạm bơm với 610 máy bơm do các HTX quản lý, hệ thống thủy lợi, thủynông đã căn bản hoàn chỉnh [61;23]
Nhìn chung hệ thống thủy lợi của tỉnh được đầu tư xây dựng từ lâu (hệthống sông Nhuệ từ thời Pháp thuộc, hệ thống Bắc Nam Hà từ những năm
1960 - 1970) nên đến nay hầu hết các công trình đã xuống cấp, công suấtgiảm Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hộicủa tỉnh, từ năm 2007 đến nay, tỉnh đã và đang đầu tư hàng nghìn tỷ đồng đểxây dựng bổ xung, cải tạo nâng cấp công trình thủy lợi lớn như: hệ thống thủylợi Tắc Giang - Phủ Lý, trạm bơm Lạc Tràng II, nạo vét hệ thống kênh cấp I,cấp II, đầu tư hệ thống kè sông Hồng, sông Đáy, nâng cấp hệ thống đê trong
Trang 21tỉnh Chính vì vậy, trong nhiều năm qua, mặc dù tình hình thời tiết có nhiềubất thuận như hạn hán, mưa bão xảy ra nhưng vấn đề tưới tiêu phục vụ sảnxuất nông nghiệp vẫn được đáp ứng tốt, đã hạn chế được thấp nhất thiệt hại
do thiên tai gây ra
Cơ sở chế biến: Hệ thống cơ sở chế biến trên địa bàn tỉnh nhìn chung
còn nhỏ lẻ, thủ công, mới chủ yếu là các cơ sở chế biến thức ăn gia súc, giacầm với quy mô nhỏ và trung bình
Việc đầu tư, xây dựng các cơ sở chế biến đã góp phần nâng cao giá trịhàng nông sản, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Hiện nay,nhiều HTX và các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh cũng đã đứng ra xây dựngnhiều cơ sở chế biến, hiện đã xây dựng được hơn 100 cơ sở chế biến thức ăngia súc, gia cầm
Nhìn chung, hiệu quả sản suất của các nhà máy chế biến còn thấp, thờigian nhà máy không hoạt động chiếm tỷ lệ cao, sản phẩm sản xuất ra phần lớn
ở dạng nguyên liệu thô, chất lượng và giá trị không cao, chưa đáp ứng đượcyêu cầu sản phẩm cũng như thị hiếu thị trường ngày càng đa dạng, khắt khe
cả về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Yếu tố này càng làm chậmhơn khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của tỉnh
Hệ thống giao thông vận tải: Hà Nam là tỉnh có hệ thống giao thông phát
triển từ rất sớm và trong những năm qua hệ thống đường giao thông đã đượccủng cố và phát triển, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế và nâng cao đờisống vật chất tinh thần cho nhân dân địa phương và là đầu mối giao thông vậntải quan trọng của quốc gia
Về đường bộ: Hà Nam hiện có khoảng 14.500 km đường bộ với mật độđường là 0,62 km/km2 Các tuyến đường quan trọng có thể kể tới như: đườngquốc lộ 1A, quốc lộ 21A, quốc lộ 38 Đường sắt: Hà Nam có khoảng 44 kmđường sắt trong đó có 34 km đường sắt thuộc tuyến đường sắt Bắc - Nam chạyqua Hà Nam và 10 km đường chuyên dùng với 3 ga chính thuận lợi cho việc
Trang 22vận chuyển hàng hóa, hành khách Đường sông: Hà Nam có khoảng 300 kmđường sông với các con sông lớn như: sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ,…
Hệ thống cung cấp điện: Điện lực là cơ sở hạ tầng quan trọng đối với
phát triển nền KT - XH nói chung cũng như đối với phát triển sản xuất vànâng cao đời sống nhân dân trong tỉnh Cho đến nay mạng lưới truyền tảiđiện, phân phối điện đã được xây dựng, mở rộng đến hầu hết các thôn xã Giáđiện nông thôn khá ổn định Tốc độ tăng bình quân điện thương phẩm đạttrung bình 15%/năm đã chứng tỏ mức độ điện khí hóa ở Hà Nam ngày càngtăng trưởng mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu của sản xuất và nhu cầu tiêu dùng củadân cư Hiện tại và trong thời gian tới, Hà Nam đang tiếp tục cải tạo, nâng cấpmạng lưới điện đạt tiêu chuẩn quốc gia và xây dựng một số hệ thống các côngtrình mới đáp ứng nhu cầu điện cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
* Vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư cho phát triển KT - XH luôn đóng vai trò quan trọngtrong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển Trong giai đoạn 2005 – 2010tổng số vốn đầu tư cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp là 1.411, 8 tỷ đồng
Để sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, Hà Nam đã lựa chọn đúng chươngtrình và dự án ưu tiên đầu tư, đảm bảo các tiêu chí: phù hợp với định hướngphát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đạt hiệu quả cao và an toàn môitrường; nâng cao thu nhập dân cư, tạo thêm nhiều việc làm cho người laođộng; đầu tư vào các địa bàn khó khăn, ngành nghề cần khuyến khích đầu tư;khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương
Xác định phát huy nội lực là yếu tố quyết định, thu hút đầu tư là yếu tốquan trọng, Hà Nam đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư theo phương
châm “tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư”
* Chính sách phát triển nông nghiệp
Cùng với các chính sách của Đảng và Nhà nước, các nghị quyết của tỉnh
ủy, UBND tỉnh cũng đã có tác động rất mạnh mẽ đến bộ mặt kinh tế của tỉnh,
Trang 23về lâu dài các đường lối chính sách này đóng vai trò quyết định đến sự pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam Có thể kể đến các nghị quyết của các
kì đại hội Đảng bộ tỉnh XV, XVI, XVII Điển hình là Nghị quyết số
03/NQ-TU ngày 21/5/2001 của Tỉnh ủy, Kế hoạch số 365/KH-UB ngày 12/6/2001của UBND tỉnh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển ngànhnghề, dịch vụ ở nông thôn với những chương trình, dự án cụ thể mà trọng tâm
là 10 chương trình kinh tế trọng điểm Trong đó có chương trình chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trũng; chương trình sản xuất giống lúa chấtlượng cao; chương trình chăn nuôi lợn hướng nạc xuất khẩu; chương trìnhsind hóa đàn bò; chương trình nuôi bò sữa và chương trình trồng dâu, nuôitằm nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa;quyết định 8290/QĐ – UB ngày 1 - 8 - 2003 về đầu tư xây dựng và quản lícụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp…
Ngoài ra để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng nămtỉnh Hà Nam đã xây dựng chính sách hỗ trợ các vùng trọng điểm sản xuấtlương thực của tỉnh các giống lúa có năng suất cao, phân bón…trị giá hàngchục tỷ đồng để sản xuất Có chính sách trợ cước, trợ giá mua sản phẩm hànghoá cho nông dân
Qua phân tích các nhân tố ảnh hưởng, có thể đánh giá Hà Nam có nhiềutiềm năng và lợi thế để phát triển nông nghiệp nhưng cũng gặp không ít khókhăn và thách thức:
Thuận lợi: Là cửa ngõ phía Nam của thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nên chịu “tác động cộng hưởng” và “tác động lantỏa”, có cơ hội để hòa nhập và bứt phá trong phát triển kinh tế Tạo cho Hà Namkhả năng, cơ hội và nguồn lực lớn hơn trong việc khai thác, phát huy các nguồnnội lực cũng như thu hút ngoại lực để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng CNH, thuận lợi cho giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế của tỉnh nóichung và ngành nông nghiệp nói riêng ở hiện tại cũng như trong tương lai; với
Trang 24địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ, khí hậu nhiệt đới có mộtmùa đông lạnh tạo thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, đưa vụđông trở thành vụ chính trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo đủ cung cấpnguyên liệu cho ngành chế biến nông - lâm - ngư nghiệp Đồng thời, hệ thốngsông ngòi phong phú có thể đủ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và sinhhoạt Bên cạnh đó, nguồn lao động trong nông nghiệp, nông thôn dồi dào, cơ cấudân số trẻ có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, nên có khả năngứng dụng nhanh những tiến bộ của KHKT vào sản xuất nông nghiệp; CSHT,CSVCKT phục vụ sản xuất nông nghiệp đang ngày càng được đầu tư và hoànthiện hơn, góp phần nâng cao giá trị hàng nông sản của tỉnh, tạo nhiều cơ hộimới cho ngành nông nghiệp khi gia nhập vào thị trường trong nước và quốc tế.Hơn nữa, chính sách khuyến khích đầu tư của tỉnh đã được bổ sung, sửa đổi với
cơ chế thông thoáng, thuận tiện và những ưu đãi hơn so với các quy định chung
là điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư vào Hà Nam, đồng thời là độnglực lớn tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh
Bên cạnh những lợi thế có được, tỉnh Hà Nam cũng gặp không ít những
khó khăn và thách thức trong quá trình phát triển nông nghiệp: Nằm ở cửa ngõ
phía Nam của thủ đô và gần vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đã đặt cho HàNam thời cơ nhưng cũng không ít thách thức trong cạnh tranh thu hút đầu tư, thuhút lao động có chất lượng cao và tiêu thụ sản phẩm Năng suất lao động cònthấp trong khi yêu cầu đầu tư phát triển và đổi mới công nghệ lại cao, công tácqui hoạch còn hạn chế; là tỉnh có một phần địa hình phía Đông Nam thấptrũng nên thường xảy ra ngập lụt khi có mưa lớn vào mùa mưa và một phầnphía Tây, Tây Nam địa hình không bằng phẳng, nhiều núi đá thường bị hạn
về mùa khô vì thế ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi.Đồng thời, trình độ dân trí của người dân còn thấp, việc quản lý kinh tế vàtiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạn chế Nguồn lao động mặc
dù dồi dào song trình độ kĩ thật còn thấp, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo
Trang 25còn cao Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp chưa tạo được sự hấp dẫn đối vớicác nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước Vì vậy, khả năng thu hútvốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp còn rất thấp, mới chủ yếu là vốn Nhànước và vốn tự có của nông dân, mô hình liên kết “4 nhà” vẫn chưa đạt hiệuquả cao Hơn nữa, các mặt hàng nông nghiệp có nhiều tiến bộ nhưng qui môcòn nhỏ, chưa đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế nên giá trị xuất khẩu chưaxứng với tiềm năng vì nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế Trình độkhoa học công nghệ, trang thiết bị kĩ thuật và trình độ chuyên môn quản lícòn hạn chế so với mặt bằng cả nước.
1.2 Tình hình nông nghiệp nông thôn tỉnh Hà Nam trước năm 1997
1.2.1 Sản xuất nông nghiệp tỉnh Hà Nam trước năm 1997
Ngày 01- 08 - 1986, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra chỉ thị số 47 - CT/TU
về phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng đại hội Đảng cáccấp và Đại hôi lần thứ VI của Đảng Thực hiện chỉ thị số 47, Tỉnh ủy lãnh
đạo các cấp, các ngành tập trung đầu tư “Phát triển nông nghiệp toàn diện”,
trọng tâm là chương trình lương thực, thực phẩm theo hướng mở rộng diệntích, luân canh tăng vụ, tích cực thâm canh, tăng năng suất cây trồng; ápdụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, đưa các giống lúa, ngô cónăng suất cao, phù hợp với thổ nhưỡng của địa phương vào gieo trồng Nhờvậy năm 1986, mặc dù có nhiều khó khăn về vật tư, thời tiết nhưng năngsuất nông nghiệp vẫn giành thắng lợi trên nhiều mặt
Để khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tể rừng, Tỉnh ủy đã chỉ đạo Ủy bannhân dân tỉnh giao đất, giao rừng cho nhân dân, gắn lợi ích của người làm nghềrừng với trách nhiệm bảo vệ và làm giàu vốn rừng nên nhiều hộ gia đình đã đầu
tư vốn trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế.Chính vì vậy, trong 5 năm (1986 - 1990), diện tích canh tác, năng suất và sảnlượng lương thực đều tăng Năng suất lúa tăng bình quân 12,1%/năm Sản lượnglương thực đạt 970 nghìn tấn/năm Chăn nuôi phát triển, khắc phục tình trạng thiếu
Trang 26sức kéo và đảm bảo cung cấp lương thực phục vụ đời sống và xuất khẩu [27;45]Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn 1986 - 1990 phát triểnchưa toàn diện, kết quả chưa ổn định và thiếu vững chắc Tiềm năng laođộng, đất đai vùng đồi núi và cơ sở vật chất, kĩ thuật chưa được khai thác,phát huy hiệu quả Nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, chưachuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa Sản xuất màu tăng chậm Một số câycông nghiệp và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp giảmsút Sản xuất lâm nghiêp, ngư nghiệp chưa chú trọng đúng mức, chưa gắnnông nghiệp với công nghiệp chế biến.
Sang giai đoạn 1991 – 1996, các cấp ủy Đảng tập trung phát triển nôngnghiệp toàn diện, tiếp tục thực hiện chương trình lương thực – thực phẩm củatỉnh Do có sự chỉ đạo chủ động, sáng tạo của Tỉnh ủy, sự nỗ lực của chínhquyền và nhân dân, sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới, sản xuất lươngthực và thực phẩm giành thắng lợi lớn; bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới.Nhằm đổi mới quản lý HTX nông nghiệp, đầu năm 1992, Ban Thường
vụ Tỉnh ủy đề ra chủ trương cho phép thí điểm đổi mới tổ chức quản lý HTXnông nghiệp Với chủ trương này hợp tác xã Phả Phong, Kim Bảng đượcchọn là xã thí điểm
Cùng với việc đổi mới quản lý hợp tác xã, Tỉnh ủy chỉ đạo các địa phươngtích cực làm thủy lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện cho hộnông dân vay vốn phát triển sản xuất Năm 1993 mặt trận nông nghiệp đạt kếtquả toàn diện Chăn nuôi phát triển đa dạng, phong phú và đi vào chất lượng,hiệu quả Giá trị sản lượng chăn nuôi tăng cao so với thời kỳ trước Nuôi trồng
và chế biến thủy sản, hải sản là một trong những hướng chuyển dịch cơ cấutrong nông nghiệp và có hiệu quả rõ rệt Các hộ gia đình nhận đấu thầu, nhậnkhoán ao, hồ, đầm nuôi thả cá, tôm đã chủ động đầu tư cải tạo lại ao, hồ tổ chứcsản xuất kinh doanh ổn định, lâu dài Các địa phương đẩy mạnh thực hiện chínhsách giao đất, giao rừng cho hộ xã viên, thực hiện phủ xanh đất trống, đồi trọc
Trang 27Chế độ khoán hợp lý, cùng những chính sách khuyến khích của Nhà nước, gắntrồng cây phân tán với cải tạo vườn tạp đã mang lại lợi ích thiết thực Các tiểuvùng cây ăn quả, cây cảnh hàng hóa đang hình thành, mở rộng Hàng năm kinh
tế lâm nghiệp đã cung cấp hàng trăm ngàn mét khối gỗ, củi, hàng vạn tấn quả.Như vậy, sau 2 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VII), cơ cấukinh tế nông – lâm – ngư nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa
và nâng cao hiệu quả kinh tế Duy trì và đẩy mạnh phong trào thâm canh câytrồng, con nuôi, tạo tốc độ phát triển cao trong nông nghiệp, từng bước xóa dầnthế độc canh cây lúa, thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi.Theo số liệu thống kê của cục Thống kê Hà Nam năm 1996 giá trị sản xuấtnông nghiệp của toàn tỉnh là 1.164, 2 tỷ đồng trong đó trồng trọt là 871,7 tỷ,chăn nuôi là 279,8 tỷ, dịch vụ là 11, 5 tỷ Diện tích gieo trồng cây lương thực cóhạt trong toàn tỉnh là 79.869 ha trong đó lúa là 70.973 ha và ngô là 8.896 ha.Diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh là 70.973 ha (sản lượng 287.665 tấn, năng suất40,5 tạ/ha) trong đó lúa đông xuân là 35.735 ha (sản lượng 189.641 tấn, năngsuất 53,1 tạ/ha), lúa mùa 35.238 ha (sản lượng 98.024 tấn, năng suất 27,8 tạ/ha).Diện tích gieo trồng cây thực phẩm là 6.762 ha…Cũng trong năm 1996 số lượngtrong ngành chăn nuôi cũng khá tốt: trâu 10,1 nghìn con, bò 23,8 nghìn con, lợn229.0 nghìn con, gia cầm 1.788 nghìn con và sản lượng thịt hơi gia súc và giacầm xuất chuồng là 19.256.0 tấn…[9;103-119]
Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cònchậm so với yêu cầu Nội dung chuyển đổi, đổi mới HTX nông nghiệp sang hìnhthức mới còn lúng túng, hệ thống dịch vụ nông nghiệp chưa đáp ứng được yêucầu của nông thôn theo cơ chế mới Việc xử lý đất dự trữ và cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất còn chậm, chưa đáp ứng được mong đợi của nhân dân
1.2.2 Nông thôn tỉnh Hà Nam trước năm 1997
Hà Nam trước đây là một tỉnh có điều kiện tự nhiên không thuận lợi chophát triển sản xuất nông nghiệp, lại bị tàn phá nặng nề của chiến tranh, cùngnhững khó khăn phát sinh qua mỗi lần thay đổi địa giới hành chính Tình hình
Trang 28khó khăn trên có thể nhìn thấy từ một số chỉ tiêu thống kê KT - XH của tỉnh nhưsau: GDP bình quân đầu người dưới 2,1 triệu đồng, thu ngân sách nhà nước trênđịa bàn dưới 70 tỷ đồng Đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, bộmặt nông thôn Hà Nam chưa có sự thay đổi theo hướng mới.
Trong lĩnh vưc giáo dục: Theo số liệu thống kê của cục thống kê Hà Nam
thì năm 1996 – 1997 Hà Nam có 1.095 lớp mẫu giáo, 2.705 lớp tiểu học, 1.440lớp trung học cơ sở và 242 lớp trung hoc phổ thông Cũng theo số liệu thống kêcủa Cục thống kê tỉnh thì trong năm 1996 - 1997 cả tỉnh có 1.225 giáo viên mẫugiáo, 3.122 giáo viên tiểu học, 2.346 giáo viên trung học cơ sở và 494 giáo viêntrung học phổ thông [9;151] Mặc dù, số lượng các lớp học, số giáo viên còn ítnhưng cũng đã phần nào đáp ứng về nâng cao trình độ dân trí cho người dân.Đặc biệt, năm học 1987 – 1988, trường PTTH Biên Hòa được Nhà nước tặngHuân chương lao động hạng II Chất lượng dạy và học ngày càng được nângcao Số học sinh giỏi ngành phổ thông tăng từ 5% lên 10% Năm học 1992 -
1993 có 63 học sinh đạt giải quốc gia, trong đó có em Ngô Quang Long (huyệnLý Nhân) đạt giải khuyến khích môn Vật Lý tại kỳ thi học sinh giỏi quốc tế
Đối với lĩnh vực y tế: Theo số lệu thống kê năm 1996 cả tỉnh có 139 cơ
sở y tế, 2.059 giường bệnh, 1.621 cán bộ y tế Qua số liệu này có thể thấy HàNam mặc dù là một tỉnh còn nghèo nhưng cũng đã xây dựng được mạng lưới
y tế khá tốt nhằm phục vụ nhân dân Mặc dù những số liệu ở trên còn khiêmtốn cả về cơ sở vật chất và đội ngũ bác sĩ
Công tác quốc phòng được củng cố, an ninh chính trị được giữ vững, trật
tự an toàn xã hội có tiến bộ Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận
và các đoàn thể nhân dân từng bước được đổi mới
Bưu chính viễn thông: Năm 1996 toàn tỉnh có 3.119 thuê bao cố định,
chưa có thuê bao di động Hệ thống bưu biện cấp cơ sở còn nghèo nàn chưađáp ứng tốt nhu cầu cho nhân dân đặc biệt là các thôn xã ở xa trung tâm
Về đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn cũng còn hạn chế: Tính từ năm
học 1995 - 1996 trước khi tái lập tỉnh, trên địa bàn tỉnh chỉ có 5 cơ sở đào tạo
Trang 29nghề với qui mô rất nhỏ, gồm 2 trường trung cấp và 3 trường công nhân kĩ thuật,với tổng số 238 giáo viên và 2.763 học viên [9;49] Trong những năm này dođiều kiện kinh tế tỉnh nhà còn khó khăn nên tỉnh cũng chưa có những chính sáchhấp dẫn để thu hút những người có trình độ cao đẳng, đại học về phục vụ chongành nông nghiệp tỉnh nhà nên nông nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế.
Trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn còn nhiều hạn chế: Hệ
thống cung cấp điện cho nông thôn, các công trình thủy lợi cũng chưa có điều kiệnđầu tư nâng cấp và xây dựng mới Đặc biệt trong giai đoạn này Tỉnh cũng chưa cóchính sách khuyến khích rộng rãi xây dựng giao thông nông thôn mà sau khi táilập tỉnh chính sách này mới được triển khai rộng rãi nên đường giao thông nôngthôn chủ yếu là đường đất, đá rất khó khăn cho đi lai và sản xuất nông nghiệp.Hơn nữa, trong giai đoạn trước năm 1997 đất nước ta còn khó khăn, tỉnh Hà Namcũng chưa nhận được nhiều vốn từ ngân sách của nhà nước Chính vì vậy, tỉnhcũng không có điều kiện áp dụng cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hóa, sinh họchóa trong nông nghiệp nên bộ mặt nông thôn chưa có sự thay đổi
Sự phát triển của làng nghề đặc biệt là làng nghề truyền thống và nhữnglàng nghề mới là một trong những nhân tố quan trọng làm thay đổi bộ mặtnông thôn của Tỉnh Nhưng trong những năm trước khi tái lập tỉnh nhữnglàng nghề ở Hà Nam còn ít về số lượng chủ yếu là những làng nghề truyềnthống phục vụ nhu cầu trong tỉnh mà chưa có các làng nghề mới, chưa cónhững làng nghề với những sản phẩm có khả năng xuất khẩu ra nước ngoàinên thu nhập của người dân trong các làng nghề còn thấp
Đặc biệt, do những khó khăn của cả nước nói chung và của tỉnh Hà Namnói riêng nên các vấn đề như nước sạch nông thôn, môi trường nông thôn và nhà
ở dân cư chưa được quan tâm đúng mức Người dân nông thôn chủ yếu dùngnước giếng, ao hồ, nước mưa không đảm bảo vệ sinh nên gây nhiều dịch bệnh.Còn rác thải thì chưa được thu gom mà thải ra các khu vực xung quanh khu dân
cư gây ô nhiễm môi trường nặng nề trong những năm sau đó Nhà ở của dân cư,
số lượng nhà ở kiên cố chưa nhiều vẫn còn nhiều nhà tạm, nhà không an toàn
Trang 30Đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiệntuy nhiên vẫn còn những hạn chế như: Công tác xóa đói giảm nghèo chưamang lại hiệu quả cao, bảo hiểm y tế cho nông dân chưa chú trọng Hơn nữacác cơ sở văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, các dịch vụ y tế…chưa đápứng yêu cầu Đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, tệ nạn xãhội chưa được đẩy lùi.
Tiểu kết chương I
Với việc phân tích những điều kiện tự nhiên và KT – XH của tỉnh Hà Nam
ở trên ta có thể nhận thấy Hà Nam không phải là một trong những tỉnh có nhiềuthế mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn của cả nước như diện tích nhỏ,nhiều vùng trũng hay bị mất mùa do lũ lụt, trình độ dân trí của người dân cònthấp, việc quản lý kinh tế và tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạnchế, nguồn lao động mặc dù dồi dào song trình độ kĩ thật còn thấp, tỷ lệ laođộng chưa qua đào tạo còn cao… nhưng đây không phải là những vấn đề quákhó khăn với Hà Nam Nếu như Hà Nam biết phát huy những lợi thế và khắcphục khó khăn thì Hà Nam sẽ đạt được nhiều thành tựu trong quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trước khi tái lập tỉnh năm 1997, Hà Nam gặp nhiều khó khăn trong sảnxuất nông nghiệp cũng như trong xây dựng nông thôn như: Năng suất và sảnlượng các mặt hàng nông nghiệp còn thấp, chất lượng chưa cao Sản xuấtnông nghiệp vẫn mang tính thuần nông, cơ cấu ngành nông nghiệp chưa có sựchuyển dịch theo hướng hiện đại, chưa có mặt hàng mang tính hàng hóa, chưa
áp dụng một cách sâu rộng cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hóa, sinh họchóa vào sản xuất Bộ mặt nông thôn vẫn lạc hậu biểu hiện: Cơ sở hạ tầngđiện, đường, trường, trạm ở nông thôn vẫn nghèo nàn, những chính sáchkhuyến nông chưa nhiều, công tác xóa đói giảm nghèo chưa hiệu quả, phongtrào văn nghệ, thể thao ở nông thôn chưa được quan tâm đúng mức…
Trang 31Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp và nông thôn Hà Nam trước năm 1997 ởmột khía cạnh nào đó đã đáp ứng được nhu cầu sống, sinh hoạt cho nông dânnhưng vẫn còn khiêm tốn và nhiều hạn chế Điều này đã được tỉnh Hà Nam tậptrung khắc phục và cải thiện từ khi tái lập tỉnh và đã gặt hái được nhiều thành tựuquan trọng trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Chương II TỈNH HÀ NAM THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CỦA ĐẢNG
VÀ NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 1997 – 2010
2.1 Chủ trương đường lối của Đảng và tỉnh ủy Hà Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
2.1.1 Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là một bộ phận của công nghiệphóa nông thôn Nội dung chủ yếu của nó là đưa máy móc thiết bị và phương phápsản xuất công nghiệp cùng với các hình thức tổ chức sản xuất kiểu công nghiệpvào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhằm khai thác triệt để lợi thế của mỗi ngành,trên cơ sở đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu.Nội dung này được cụ thể hóa trên các mặt cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa,sinh học hóa trong các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, thúc đẩy nhanhquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Đồng thời làm tan rã dần nôngnghiệp chậm phát triển và nông nghiệp truyền thống
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là quá trình thay đổi căn bảnphương thức hoạt động, cơ cấu kinh tế của nông thôn và thay đổi căn bản tầnglớp gắn liền với sản xuất nông nghiệp là nông dân Hay thực chất của CNH,HĐH nông thôn là xây dựng nông thôn mới có nông nghiệp hiện đại, côngnghệ kỹ thuật cao, dịch vụ phát triển theo hướng văn minh, hiệu quả Quan hệ
Trang 32sản xuất tiên tiến phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, cơ
sở hạ tầng nông thôn hoàn thiện, đời sống vật chất, tinh thần của người dânkhông ngừng được nâng cao
Sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn ở nước ta phụ thuộc rất lớn vào việc xác định đúng đắn nội dung cụthể cho từng thời kỳ cụ thể Theo tinh thần của Hội nghị lần thứ năm Ban chấphành Trung ương Đảng (khóa IX) thì CNH, HĐH nông nghiệp, nông thônnước ta hiện nay đến năm 2010 cần giải quyết tốt những nội dung sau:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại
- Thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hóa và sinh học hóa trongsản xuất nông nghiệp
- Phát triển công nghiệp nông thôn trong đó chú trọng phát triển cáclàng nghề truyền thống và làng nghề mới
- Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp nông thôn
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, KT – XH nông thôn, đưa nông thônphát triển ngày càng văn minh hiện đại
2.1.2 Chủ trương đường lối của Trung ương Đảng
Quá trình hoàn thiện và phát triển đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn là quá trình đổi mới tư duy, tổng kết kinh nghiệm thựctiễn Việt Nam, nhất là từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12 - 1986) là Đại hội
mở đầu công cuộc đổi mới ở nước ta Đại hội đề ra ba chương trình kinh tếbao gồm: lương thực, thực phẩm; hàng hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu.Đồng thời xác định những vấn đề chủ yếu về chính sách phát triển nôngnghiệp, nông thôn, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chínhsách đất đai Đặc biệt Nghị quyết số 10 NQ/TW ngày 5 - 4 - 1988 của Bộ
Chính trị về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” là quyết sách có tác
dụng trực tiếp và sâu sắc tạo ra những chuyển biến căn bản và sâu rộng trong
Trang 33quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn nước ta Tiếp theo là Nghị quyếthội nghị Trung ương 6 khóa VI ngày 29 - 3 - 1989 là bước phát triển tất yếu,điều chỉnh một bước quan hệ sản xuất, giao cho người nông dân quyền quản lýnhiều hơn đối với các tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) xác định phát triển
toàn diện kinh tế nông thôn gắn với công nghiệp chế biến, xây dựng nông thônmới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình KT - XH Hình thành
cơ cấu hợp lý về nông, lâm, ngư nghiệp phù hợp với sinh thái từng vùng gắn pháttriển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với phát triển ngành nghề tiểu thủ côngnghiệp và công nghiệp chế biến, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạtầng xã hội nông thôn Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII(1993) ra Nghị quyết tiếp tục đổi mới và phát triển KT - XH nông thôn Luật đấtđai năm 1993 đã xác định người nông dân có 5 quyền liên quan đến đất đai đượctrao quyền sử dụng lâu dài Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII(1 - 1994) đã khẳng định phải hết sức quan tâm đến CNH, HĐH nông thôn pháttriển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm,thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Đặc biệt Đảng
ta đã ra Nghị quyết Trung ương 7 về CNH, HĐH đất nước “CNH, HĐH là một
quá trình lịch sử lâu dài, là sự nghiêp của toàn dân, đòi hỏi mọi người, mọi nhà, thành phần kinh tế, tổ chức xã hội phải nỗ lực phấn đấu mới giành được kết quả thắng lợi Vì vậy, trong giai đoạn 1991 – 2000, giai đoạn đầu của quá trình CNH, HĐH nhiệm vụ trọng tâm là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đó là con đường phát triển đúng đắn, là sự chuyển giai đoạn để đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên giàu mạnh và văn minh” [31;60]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), năm 1996 công cuộc đổi
mới đã tiến hành được 10 năm và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về mọimặt Đất nước thoát khỏi khủng hoảng KT - XH, cải thiện một bước đời sống vật
Trang 34chất của đông đảo nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninhđược củng cố Đồng thời, thành tựu 10 năm đổi mới đã tạo được nhiều tiền đềcần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đánh giá tổng quát 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII Báo cáo Chính trị khẳng định đất nước
đã vượt qua một giai đoạn thử thách gay go và đạt những thắng lợi nổi bậttrên nhiều mặt Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 – 1995 đãhoàn thành về cơ bản
Đại hội nêu rõ: Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn;phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biếnnông, lâm, thủy sản, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấuhợp lý về cây trồng, vật nuôi, sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt vềchất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực; thực hiện thủy lợi hóa, điện khíhóa, cơ giới hóa, hóa học hóa, sinh học hóa…từng bước hình thành nông thônmới, văn minh, hiện đại
Để thúc đẩy quá trình đổi mới trong nông nghiệp lên một bước mới, năm
1998, Bộ chính trị có Nghị quyết 06 khẳng định sự tồn tại tất yếu lâu dài của nềnkinh tế nhiều thành phần, chỉ rõ vai trò quan trọng của kinh tế hộ, xác lập vị trícủa kinh tế trang trại Đồng thời vạch hướng đầu tư cho nông nghiệp về khoa học– công nghệ, mở rộng quyền sử dụng đất, phát triển thị trường nông sản
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4 - 2001) đã xác định:
Mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Độnglực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liênminh giữa công nhân với nông dân và trí thức, do Đảng lãnh đạo, kết hợp hàihòa giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội Phát huy sức mạnh đại đoàn kếttoàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
Trang 35văn hóa xã hội ở tất cả các cấp, các ngành, thu hút trí tuệ và sức lực của toàndân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đường lối kinh tế của Đảng được đại hội thông qua là: Đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đưa nước ta trởthành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xâydựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao
độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập quốc tế
để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với pháttriển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất tinh thần của người dân, thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp pháttriển KT - XH với tăng cường quốc phòng - an ninh
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4 - 2006) đã đề ra phương
hướng về nông nghiệp, nông thôn: Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân; chuyểndịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị giatăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khíhóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và côngnghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh phùhợp với từng vùng và từng địa phương
Tại Đại hội X, trong định hướng phát triển kinh tế đất nước, Báo cáo của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khẳng định:“Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong
sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân… Hiện nay và trong những năm tới, vấn đề nông nghiệp nông thôn và nông dân có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, phải luôn coi trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hướng xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao… Tốc độ phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn không thấp hơn mức bình quân của cả nước Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới”
Trang 36[34;190].Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã nhấn mạnh:
Thành công của Đại hội X của Đảng cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân và toànquân ta tiến lên tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức tiếp tục đổi mới mạnh mẽ,toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền vững hơn
Như vậy, quá trình hoàn thiện và phát triển đường lối, chủ trương củaĐảng về CNH, HĐH nông thôn nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đã đivào cuộc sống, tạo chuyển biến cơ bản tình hình đất nước và đã đạt được nhữngthành tự to lớn có ý nghĩa lịch sử
2.1.3 Chủ trương đường lối của tỉnh ủy Hà Nam
Ngày 12 - 01 - 1997, Ban Chấp hành lâm thời Đảng tỉnh đã ra Nghị quyết số
01 – NQ/TU về “Những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt” trong đó nhiệm vụ được đưa lên hàng đầu là “Đẩy mạnh các hoạt động phục vụ sản xuất nông nghiệp
như tu bổ đê kè, làm thủy lợi nội đồng, nạo vét kênh mương… phấn đấu giành vụ chiêm xuân thắng lợi với năng suất và tổng sản lượng cao nhất”[2;297]
Giao thông vận tải có bước phát triển mạnh, nhất là xây dựng và cải tạođường giao thông nông thôn Đảng bộ xác định: Xây dựng mạng lưới giao thôngnông thôn là góp phần phục vụ yêu cầu phát triển KT - XH, giữ gìn an ninh chínhtrị, củng cố quốc phòng, đáp ứng nhu cầu đổi mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngày 12 - 03 - 1997, Ban
Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 04 - CT/TU “Về việc tiếp tục đẩy mạnh xây
dựng đường giao thông nông thôn” trong 2 năm (1997 - 1998) Ban Thường vụ
Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, các sở, ban, ngành, đoàn thể từtỉnh đến cơ sở lãnh đạo, vận động nhân dân tập trung nhân tài, vật lực, hoàn chỉnh
hệ thống giao thông nông thôn Các cấp chính quyền từ huyện đến thôn xóm căn
cứ vào Nghị quyết của cấp ủy địa phương xây dựng kế hoạch triển khai làm
đường giao thông, nông thôn theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra, dân quản lý, dân sử dụng” Ngày 13 - 3 - 1997, Ủy ban nhân dân
tỉnh đã ra Quyết định số 127/QD – UB thành lập Ban chỉ đạo xây dựng đường
Trang 37giao thông nông thôn tỉnh Hà Nam do đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnhlàm trưởng ban Ngày 26 - 03 - 1997, tại thị xã Phủ Lý Tỉnh ủy, Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân đã long trọng phát động đợt thi đua toàn tỉnh ra quân làm
đường giao thông nông thôn Với nhận thức “Đường mở đến đâu, dân giàu đến
đấy”, ngay sau lễ phát động toàn tỉnh đã rầm rộ ra quân làm đường giao thông
nông thôn
Sau một thời gian chuẩn bị thực hiện sự hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng
từ ngày 02 đến ngày 05 - 07 - 1998, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lầnthứ XV đã được tiến hành tại nhà Văn hóa trung tâm tỉnh Đại hội thảo luận vàthống nhất đề ra phương hướng phát triển KT - XH đến năm 2000 trong đó
“Tiếp tục tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, theo hướng thâm canh, tăng vụ, tăng nhanh nông sản hàng hóa Đảm bảo vững chắc lương thực cho người và các nhu cầu khác”[2;323]
Ngày 07 – 05 – 1998, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra chỉ thị số 10 – CT/TU
“Về việc tăng cường quản lý sử dụng đất đai” Đến năm 2000 toàn tỉnh cơ bản
hoàn thành đo đạc, hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtnông nghiệp đến hộ nông dân
Để khắc phục tình trạng ruộng đất giao manh mún, phân tán ở nhiều nơi
ngày 04 - 05 - 2000, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Chỉ thị số 15 – CT/TU “Về
việc chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, nhằm khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất” Chỉ thị nêu rõ cần phải tuyên truyền rõ lợi ích của việc
chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp; khuyến khích các hộ nông dân bàn bạc dânchủ tự nguyện, tự giác thực hiện chuyển đổi, dồn điền đổi thửa phấn đấu để mỗi
hộ không nên quá 5 thửa đất nông nghiệp, những nơi có điều kiện làm trang trạithì mỗi hộ nên có 1 đến 2 thửa tạo thế cho nông nghiệp phát triển
Tiếp tục thực hiện Nghị Quyết trung ương 5 (khóa VII) về đổi mới quản lýtrong các HTX theo Luật Hợp tác xã, các ngành các cấp của tỉnh đã nghiên cứuđánh giá thực trạng 106 hợp tác xã trong toàn tỉnh Trên cơ sơ đó Ban Chấp hành
Trang 38Đảng bộ tỉnh ra Nghị quyết số 01 – NQ/TU ngày 14 - 11 - 1998 về “Chuyển đổi
và đổi mới tổ chức quản lý các hợp tác xã nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã”.
Cuối năm 1999 các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành chuyển đổi đổimới tổ chức quản lý theo Luật Hợp tác xã HTX từng bước hoạt động có hiệuquả, hỗ trợ tích cực cho kinh tế hộ phát triển Các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệpđáp ứng ngày càng tốt hơn các khâu phục vụ kinh tế hộ phát triển
Bên cạnh việc tăng cường quản lý ruộng đất, dồn điền đổi thửa, chuyển đổihợp tác xã theo Luật, Đảng bộ còn chỉ đạo đưa nhanh tiến bộ khoa học mới vàosản xuất nông nghiệp Ngành nông nghiệp tích cực thực hiện các mô hình trìnhdiễn khảo nghiệm như: cải tạo vườn tạp, nạc hóa đàn lợn, cải tạo đàn dê, sản xuấtlúa lai, tưới tiêu khoa học tạo ra những cơ sở thực tiễn và khoa học cho việcchuyển dịch cơ cấu cây trồng, cơ cấu vật nuôi theo hướng tăng hiệu quả kinh tếtrên một đơn vị diện tích canh tác
Trong công tác phát triển nông thôn, Đảng bộ đã chỉ đạo ngành nông nghiệpđánh giá thực trạng để đề ra giải pháp phát triển kinh tế trang trại làm cơ sở hoànthành quy hoạch phát triển kinh tế trang trại trong toàn tỉnh
Phong trào xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn được duy trì và phát triển,huy động các nguồn lực trong nhân dân, xây dựng các công trình như đường giaothông, trường học, trạm y tế, mạng lưới điện… Tỉnh Hà Nam là tỉnh đi đầu trong
việc thực hiện có hiệu quả cơ chế “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để xây
dựng đường giao thông nông thôn
Công tác khoa học, công nghệ được quan tâm chỉ đạo theo tinh thần Nghịquyết Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) vềđịnh hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 Trong 3 năm (1998 - 2000)toàn tỉnh đã triển khai nghiên cứu ứng dụng 52 dự án, đề tài khoa học công nghệ.Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật công nghệ được đẩy mạnh, nhất là trong sảnxuất nông nghiệp, tạo động lực thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển
Trang 39Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam XVI đã được tiến hành từ ngày 15đến ngày 17 – 12 – 2000, tại Nhà văn hóa trung tâm tỉnh Về phương hướng 5
năm (2001 – 2005), Đại hội xác định:“Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông
nghiệp toàn diện, theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và đa dạng sản phẩm hàng hóa… Củng cố, nâng cao hiệu quả các HTX dịch vụ nông nghiệp, phi nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã Tích cực giải quyết vấn đề bức xúc về việc làm, xóa đói, giảm nghèo cải thiện đời sống nhân dân ”[2;372]
Chỉ thị số 15 – CT/TU được thực hiện đồng thời với Nghị quyết số 03
-NQ/TU ngày 21 – 5 – 2001 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển ngành nghề dịch vụ nông thôn” đã tạo
bước chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển nông nghiệp của tỉnh
Nhằm đẩy mạnh Nghị quyết 03 - NQ/TU, Nghị quyết về phát triển KT- XHcủa tỉnh năm 2004 của Hội đồng nhân dân tỉnh đã đề ra chỉ tiêu xây dựng cánhđồng đạt 50 triệu đồng/ha/năm Tiếp đó ngày 29 - 09 - 2004, Ban Thường vụTỉnh ủy ra chỉ thị số 19 - CT/TU (về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảngđối với phong trào xây dựng cánh đồng đạt 50 triệu đồng/ha/năm, hộ nông dânđạt 50 triệu đồng/năm)
Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm chủ trương của Đảng, Nghị quyết ĐạiHội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàlàng nghề, gắn phát triển kinh tế với củng cố an ninh quốc phòng, ngày 02 - 05 -
2003, Ban Chấp hành Đảng bộ ra Nghị quyết số 08 - NQ/TU “Về đẩy mạnh phát
triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp”
Nghị quyết số 06 - NQ/TW, ngày 10 - 11 - 1998 về một số vấn đề phát triểnnông nghiệp và nông thôn của Bộ Chính trị (khóa VIII) yêu cầu phải nhanhchóng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, bồi dưỡng sức dân, xây dựng giaicấp nông dân vững mạnh; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về đẩy mạnh hóaCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2001- 2010; Chỉ thị số 02 - CT/TU,ngày 06 - 03- 2002 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của
Trang 40các cấp ủy Đảng đối với công tác xây dựng và quản lý quy hoạch giao thôngnông thôn… đã tạo thế và lực cho phong trào và trong việc thực hiện mục tiêuchất lượng đường là xây dựng đúng quy hoạch, đảm bảo bền vững cho tương lai,đường huyện, xã kết cấu nhựa hoặc bê tông, đường thôn xóm kết cấu bê tông,đường ra đồng rải đá cấp phối.
Từ ngày 19 đến 21 - 12 - 2005, tại Nhà văn hóa trung tâm tỉnh đã diễn raĐại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII Đại hội nhấn mạnh trongnông nghiệp cần quan tâm tới phát triển nông nghiệp, đời sống nông dân và nôngthôn, trong đó cần chú trọng tận dụng lợi thế gần thủ đô Hà Nội để phát triển cáccây trồng, vật nuôi chất lượng cao, đi liền với công nghiệp chế biến thực phẩm đểcung cấp cho thị trường rộng lớn
Sau khi Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X ban hành, Tỉnh uỷ đã ban hànhChương trình hành động số 45-CTr/TU ngày 09 tháng 10 năm 2008 về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn; Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số190/KH-UBND ngày 19 tháng 2 năm 2009 về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn Đồng thời, UBND đã ra quyết định“Về việc thành lập văn phòng điều
phối chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010 - 2020”; “Đề án xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới tỉnh
Hà Nam giai đoạn 2009 - 2011” và “Báo cáo tình hình thực hiện Đề án xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới, định hướng, giải pháp thực hiện năm 2010” của Sở NN&PTNT…
Trên cơ sở nhiệm vụ được phân công, các Sở ngành, các huyện, thành phốtrong tỉnh đã xây dựng kế hoạch cụ thể chi tiết đối với từng lĩnh vực Tổ chứcquán triệt để triển khai, phân công cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo các Sở, ngành,đơn vị theo dõi kiểm tra đôn đốc thực hiện; đồng thời làm tốt công tác tuyêntruyền nội dung của Nghị quyết, Chương trình để người dân nông thôn hiểu rõý nghĩa, mục đích và tích cực hưởng ứng cùng các cấp uỷ Đảng, chính quyềnthực hiện thắng lợi các nội dung của Nghị quyết Bên cạnh việc ban hành các